Được phân công dạy lớp 4, qua một thời gian giảng dạy tôi thấy học sinhcủa mình rất cố gắng học tập tất cả các môn học đặc biệt là môn Tiếng Việt.Nhưng trong thực tế khi học đến từ loại
Trang 1MỤC LỤC
1 PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài: 1
1.2 Mục đích nghiên cứu: 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu: 2
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2
2.1 Cơ sở lý luận 2
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3
2.2.1 Thuận lợi: 4
2.2.2 Khó khăn: 5
2.3 Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5
2.3.1 Biện pháp 1 5
2.3.2 Biện pháp 2 11
2.3.3 Biện pháp 3 11
2.3.4 Biện pháp 4 16
2.4 Kết quả thực hiện 18
3 KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 19
Trang 21 PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài:
Mục tiêu giáo dục Tiểu học là giáo dục toàn diện cho trẻ từ 6 đến 11 tuổi
có những hiểu biết cơ bản về: Khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và chămsóc sức khoẻ ban đầu Thực hiện chủ trương dạy đủ môn ở trường Tiểu học,ngành giáo dục đã không ngừng đổi mới phương pháp dạy học trong tất cảcác môn học nói chung Mỗi môn học đều góp phần hình thành và phát triểnnhân cách của trẻ, cung cấp cho các em những tri thức cần thiết để phục vụcho cuộc sống, học tập và sinh hoạt sao cho tốt nhất và có hiệu quả cao
Môn Tiếng Việt rất quan trọng đối với học sinh cấp bậc tiểu học nóichung, ở lớp tôi nói riêng Nếu học tốt phân môn này nó sẽ giúp các em họctốt hơn các phân môn của phân môn Tiếng Việt như: Nó sẽ giúp thêm chomôn Tập làm văn, câu sẽ trau chuốt hơn, diễn đạt bằng ngôn ngữ rõ ràngmạch lạc, biết sàng lọc để đưa hình ảnh hay vào trong bài Nó còn giúp chophân môn chính tả như viết đúng, ít lỗi hơn Trong phân môn kể chuyện, các
em sẽ biết cách kể hay, hấp dẫn người nghe hơn Học tốt phân môn này nócòn giúp cho việc học và nắm bắt kiến thức các môn học khác một cách dểdàng hơn
Được phân công dạy lớp 4, qua một thời gian giảng dạy tôi thấy học sinhcủa mình rất cố gắng học tập tất cả các môn học đặc biệt là môn Tiếng Việt.Nhưng trong thực tế khi học đến từ loại Tiếng Việt thì nhiều em còn lúngtúng Với suy nghĩ "Làm thế nào để học sinh nắm chắc kiến thức này và tự tin
trong học tập?" nên tôi đã quyết định chọn đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 hiểu và phân biệt nhanh từ loại Tiếng Việt ”.
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Tôi thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này nhằm mục đích sau:
- Để giúp cho chúng ta thấy rõ vị trí quan trọng của từ loại Tiếng Việt
- Để giúp học sinh tiếp thu bài giảng một cách nhẹ nhàng, khắc sâu kiếnthức về từ loại
- Phân loại được từng đối tượng học sinh để có biện pháp dạy học phùhợp, giúp học sinh xác định đúng từ loại Tiếng Việt
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
- Học sinh lớp 4A trường Tiểu học Hoằng Anh
Trang 3- Biện phỏp giỳp học sinh lớp 4 hiểu và phõn biệt nhanh từ loại TiếngViệt.
1.4 Phương phỏp nghiờn cứu:
Để tiến hành nghiờn cứu đề tài này, tụi sử dụng cỏc phương phỏp nghiờncứu sau:
1 Đọc và tra cứu tài liệu
2 Điều tra khảo sỏt thực tế thu thập thụng tin
3 Mụ tả, phõn loại và so sỏnh tư liệu
4 Phương phỏp nghiờn cứu xõy dựng cơ sở lý thuyết
5 Phương phỏp thống kờ xử lý số liệu
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lý luận.
Mục tiờu của mụn Tiếng Việt ở Tiểu học là: Hỡnh thành và phỏt triển ởhọc sinh cỏc kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, núi, đọc, viết) để học tập vàgiao tiếp trong cỏc mụi trường hoạt động của lứa tuổi Thụng qua việc dạyhọc Tiếng Việt, gúp phần rốn luyện cỏc thao tỏc của tư duy, cung cấp cho họcsinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xóhội, tự nhiờn và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài.Bồi dưỡng tỡnh yờu Tiếng Việt và hỡnh thành thúi quen giữ gỡn sự trongsỏng, giàu đẹp của Tiếng Việt, gúp phần hỡnh thành nhõn cỏch con người ViệtNam trong xó hội chủ nghĩa Cỏc kiến thức về từ loại trong phõn mụn Luyện
từ và cõu đóng vai trò rất lớn trong việc thực hiện các mục tiêu đó
Theo tỏc giả Diệp Quang Ban và Hoàng Văn Thung thỡ “Danh từ, động
từ, tớnh từ, là ba từ loại cơ bản, chiếm số lượng lớn nhất và thể hiện tương đốiđầy đủ và rừ rệt nhất cỏc tiờu chuẩn phõn loại.” (Ngữ phỏp Tiếng Việt –trang 77)
Đặc trưng ngữ phỏp của danh từ là ý nghĩa thực thể (ý nghĩa chỉ sự vật,chỉ khỏi niệm về sự vật và những gỡ được “sự vật húa”), nú tồn tại trong thựctại, được nhận thức và được phản ỏnh trong tư duy của người bản ngữ như là
những sự vật Danh từ cú khả năng kết hợp với đại từ chỉ định: này, kia, ấy,
nọ, v.v…Danh từ cũn cú khả năng kết hợp trực tiếp hay giỏn tiếp với số từ.
Trang 4Trong mối quan hệ với động từ, tính từ danh từ thường làm chủ ngữ và nếu
làm vị ngữ thì danh từ phải kết hợp với từ “là” đứng trước nó.
Động từ là những từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá trình Ý nghĩa quátrình thể hiện trực tiếp đặc trưng vận động của thực thể Đó là ý nghĩa hànhđộng Ý nghĩa trạng thái được khái quát hóa trong mối liên hệ với vận độngcủa thực thể trong thời gian và không gian Về khả năng kết hợp, động từ
thường có các phụ từ đi kèm như: hãy, đừng, chớ và với lắm, quá; không kết hợp được với rất, hơi.
Tính từ là lớp từ chỉ ý nghĩa đặc trưng (đặc trưng của thực thể hay đặctrưng của quá trình) Ý nghĩa đặc trưng được biểu hiện trong tính từ thường
có tính chất đối lập phân cực (thành cặp trái nghĩa) hoặc có tính chất mức độ(so sánh và miêu tả theo thang độ) Tính từ có khả năng kết hợp với phụ từ,
nhưng không kết hợp được với hãy, đừng, chớ (đối lập với động từ) Tính từ
cũng có thể kết hợp với thực từ đi kèm (để bổ nghĩa cho tính từ) Chức năngchính của tính từ là làm vị ngữ trong câu, nhưng tính từ cũng được dùng kèmvới danh từ hoặc động từ để bổ nghĩa cho danh từ hay động từ
Trên cơ sở lí luận về ba từ loại cơ bản mà tác giả Diệp Quang Ban vàHoàng Văn Thung cung cấp, tôi nhận thấy khi dạy cho các em cần chú trọng
cả nội dung, ý nghĩa và các dấu hiệu hình thức của từng từ loại, đồng thời rútcho được “mẹo” nhỏ giúp học sinh dễ dàng nhận ra danh từ, động từ, tính từ
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Ở trong trường Tiểu học môn Tiếng Việt giữ vai trò đặc biệt quan trọng,
nó góp phần đắc lực vào việc thực hiện mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ ở Tiểu họctheo đặc trưng bộ môn của mình Việc dạy Tiếng Việt trong nhà trường nhằmtạo cho học sinh năng lực sử dụng Tiếng Việt giao tiếp và học tập Thông quaviệc học Tiếng Việt, nhà trường rèn luyện cho các em năng lực tư duy,phương pháp suy nghĩ, giáo dục các em những tư tưởng lành mạnh, trongsáng, góp phần hình thành nhân cách cho học sinh
Môn Tiếng Việt ở Tiểu học bao gồm nhiều phân môn Mỗi phân môn đều
có nhiệm vụ riêng song mục đích cuối cùng của chúng ta là cung cấp cho họcsinh những kiến thức phổ thông về ngôn ngữ Trên cơ sở đó rèn luyện kỹnăng nghe, nói, đọc, viết nhằm giúp học sinh vận dụng các từ đã học vào phân
môn tập làm văn vốn rất hạn chế bởi việc hiểu nghĩa từ loại chưa chính xác.
Trang 5Trong quá trình thực tế trực tiếp giảng dạy tôi thấy học sinh trường tiểu
học nói chung, học sinh lớp 4A nói riêng, việc xác định từ loại Tiếng Việt và vận dụng từ loại Tiếng Việt vào các kỹ năng nói, viết vẫn con nhiều hạn chế
do một số nguyên nhân sau:
- Do không phân định đúng ranh giới của từ mà học sinh xác định từ loạisai
- Nhiều em không nắm vững khái niệm "từ loại" nên không hiểu đúngyêu cầu của bài tập
- Khi xác định từ loại học sinh còn gặp khó khăn trong những trường hợp
mà nghĩa của từ hoặc dấu hiệu hình thức không rõ ràng
- Thời gian luyện tập, số tiết luyện tập về từ loại Tiếng Việt ở chươngtrình lớp 4 còn chưa nhiều
Sau đây là bảng thống kê kết quả của học sinh lớp 4A năm học 2016 –
2017 (tháng 9/2016) làm một số bài tập về thực hành từ loại Tiếng việt cótrong chương trình hiện hành khi chưa thực hiện đề tài này
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được đầu tư đồng bộ, đầy đủ
- Phần lớn phụ huynh đã quan tâm đến việc học tập của con cái
- Đa phần học sinh có trí nhớ tốt, có khả năng tiếp thu nhanh và tích cực,chịu khó trong học tập
2.2.2 Khó khăn:
- Do trình độ dân trí còn chưa cao, đặc biệt là kiến thức về từ loại của các
bậc phụ huynh còn nhiều hạn chế
Trang 6- Thời gian luyện tập, số tiết luyện tập về từ loại Tiếng Việt ở chương
trình lớp 4 còn chưa nhiều
- Đa số học sinh hiểu nghĩa từ loại chưa chính xác dẫn đến các kỹ năng
nói, viết vẫn con nhiều hạn chế
2.3 Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
2.3.1 Biện pháp 1 Giúp học sinh nắm chắc lí thuyết về từ loại
Từ loại là những lớp từ có cùng bản chất ngữ pháp đượcphân chia theo ý nghĩa khái quát, theo khả năng kết hợp vớicác từ ngữ khác và thực hiện những chức năng ngữ pháp nhấtđịnh ở trong câu (Đinh Văn Đức - Ngữ pháp Tiếng Việt - Từloại)
Từ loại là khái niệm chỉ sự phân loại từ nhằm mục đích ngữpháp,theo bản chất ngữ pháp của từ (Lê Biên - Từ loại TiếngViệt hiện đại) Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt - 2008 (trang1327) định nghĩa “Từ loại là phạm trù ngữ pháp bao gồm các
từ có chung đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa khái quát như:danh từ, động từ, tính từ,…”
Ghi nhớ :
- Dựa vào sự giống nhau về đặc điểm ngữ pháp, các từ được phân rathành từng loại, gọi là từ loại
- Từ loại là các loại từ có chung đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa khái quát
- Các từ loại cơ bản của Tiếng Việt gồm : Danh từ, động từ, tính từ, đại
Chỉ t/c chung không kèm mức độ
Chỉ t/c ở mức độ cao nhất
ĐT chỉ hoạt động
ĐT chỉ trạng thái
DT
chung riêngDT
Trang 7- Chỉ hiện tượng: gió, bão, nắng, mưa
- Chỉ đơn vị: cơn, cân, mét, mẫu, lít,…
a.2 Muốn biết một từ có phải là danh từ không thì cần phải thử xem:
- Thêm vào trước nó một từ chỉ số lượng (một, hai, vài, những,các ) xem
có được không, nếu được thì đó là một danh từ
Ví dụ: + Hai học sinh; vài cái ghế, những cái bàn, chiếc xe đạp…
( học sinh, cái ghế, cái bàn, xe đạp là danh từ)
- Thêm vào sau nó một từ chỉ trỏ (này, ấy, kia, đó, nọ ) xem có đượckhông nếu được thì đó là một danh từ
Ví dụ: Học sinh ấy;cái ghế đó; cái bàn kia; xe đạp đó …
( học sinh, cái ghế, cái bàn, xe đạp là danh từ).
a.3 Danh từ có nhiều loại: Phân biệt danh từ chung với danh từ riêng:.
* Danh từ chung: là tên gọi chung của một loại sự vật
VD: công nhân, thành phố, cây cối, bàn ghế, bút chì
a.3.1 Nhóm danh chung.
Thường chỉ nhiều sự vật gần nhau hoặc giống nhau một số đặc điểm nàođó
Gần nhau: Sách vở, nhà cửa, chim chuột…
Giống nhau: Phố xá, làng xóm, chim chóc, chùa chiền, thuyền bè…
* Khả năng kết hợp.
- Có khả năng kết hợp với với từ tất cả, tất thảy, cả….
VD: Tất cả bàn ghế đã kê ngay ngắn
- Có khả năng kết hợp với danh từ chỉ đơn vị
VD: Một / đàn / cò trắng đang bay lượn trên cánh đồng
- Có khả năng kết hợp với từ chỉ số lượng
VD: Ba bà cháu rất yêu thương nhau
a.3.2 Nhóm danh từ chỉ loại - danh từ chỉ đơn vị.
Danh từ chỉ loại.
Trang 8Mang ý nghĩa mờ nhạt không biểu thị sự vật hiện tượng nào: con, cây,cục, cái, bức, chiếc, hòn, tấm….chúng thương đứng trước danh từ chungđể cótác dụng loại biệt hóa, cá thể hóa cho danh từ chung đó.
- Danh từ chỉ vật có bề mặt mỏng, liên quan đến tri thức
VD: Cuốn sách, cuốn vở, cuốn truyện, cuốn lịch, cuốn từ điển…
Danh từ chỉ đơn vị.
Thường dùng để xác định ý nghĩa đo lường, tính toán của sự vật như: cân, mét, mẫu, lít…
* Khả năng kết hợp
- Khả năng kết hợp với từ chỉ số lượng
Không có khả năng kết hợp với danh từ chỉ loại vì nó đứng ở vị trí của danh từ chỉ loại Nếu có kết hợp được thì nó chuyển sang danh từ chỉ sự vật.VD: Cái cân thịt ( - )
Một cái cân ( + ) cân là danh từ chỉ sự vật
Danh từ chỉ đơn vị được chia làm 2 nhóm:
+ Danh từ chỉ đơn vị chính xác
Trang 9VD : Mét, xăngtimet, mẫu, sào, đồng, xu, yến, tạ, tấn…
+ Danh từ chỉ đơn vị không chính xác
VD: Bầy, đoàn, toán, lũ, bọn…
Danh từ chỉ chất liệu.
Thường dùng để biểu thị chất liệu: dầu, mỡ, thịt, xăng, nước mắm, xì dầu…
* Khả năng kết hợp:
- Khả năng kết hợp với những từ như tất cả, tất thảy…
VD: Tất cả xì dầu được mua hôm nay là 3 chai
- Có khả năng kết hợp với cái chỉ xuất.
VD : Đem cái bình ấy đến phòng học lớp 4A
- Không có khả năng kết hợp với từ chỉ số lượng
VD: Tất cả các bạn học sinh đều có mặt đầy đủ
- Có khả năng kết hợp với từ chỉ số lượng
VD : Lớp ta có 25 học sinh
- Có khả năng kết hợp với cái chỉ xuất
VD: Cái con người ấy, ai cầu mà chi
Danh từ chỉ động, thực vật.
* Ý nghĩa: Thường chỉ loài vật hoặc thực vật
* Khả năng kết hợp:
- Có khả năng kết hợp với từ tất cả…
VD: Tất cả chú chim chích bông đã bay đi mất
- Có khả năng kết hợp với từ chỉ số lượng:
VD: Ba con lợn rừng Tám cây chanh
- Có khả năng kết hợp với cái chỉ xuất
Trang 10VD: Cái cây cam này ít quả quá.
Cái con chim này không chịu hót.
Danh từ chỉ khái niệm.
Ý nghĩa: Chỉ những sự vật mà ta nhận ra được bằng suy nghĩ chứ không
phải bằng các giác quan
VD: Niềm vui, đạo đức, thái độ, nhiệm vụ…
* Danh từ riêng: là tên gọi riêng của một loại sự vật.
VD: Bác Hồ, Kim Đồng, núi Trường Sơn, Thanh Hóa,…
Trong câu, danh từ (đứng một mình hoặc kèm theo các từ phụ thuộc)
có thể làm nhiều chức vụ khác nhau: Làm chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ 3.3.1.2 Động từ:
a.1 Động từ là những từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật.
VD: - Chỉ hoạt động của người: ngồi, vẽ, ngủ, chạy, đi, viết…
- Chỉ trạng thái của sự vật: lượn, đổ, bay, phi,…
- Đặc điểm ngữ pháp nổi bật nhất của động từ chỉ trạng thái là:
nếu như động từ chỉ hoạt động, hành động có thể kết hợp với từ xong ở phía sau (ăn xong, đọc xong , ) thì động từ chỉ trạng thái không kết hợp với xong
ở phía sau (không nói: còn xong, hết xong, kính trọng xong, )
a.2 Trong Tiếng Việt có một số loại động từ chỉ trạng thái sau:
+ Động từ chỉ trạng thái tồn tại (hoặc trạng thái không tồn tại): còn, hết, có,
+ Động từ chỉ trạng thái biến hoá: thành, hoá,
+ Động từ chỉ trạng thái tiếp thụ: được, bị, phải, chịu,
+ Động từ chỉ trạng thái so sánh: bằng, thua, hơn, là,
- Một số động từ sau đây cũng được coi là động từ chỉ trạng thái: nằm, ngồi, ngủ, thức, nghỉ ngơi, suy nghĩ, đi, đứng, lăn, lê, vui, buồn, hồi hộp, băn khoăn, lo lắng, Các từ này có một số đặc điểm sau:
+ Một số từ chuyển nghĩa thì được coi là động từ chỉ trạng thái (trạng tháitồn tại)
VD: Bác đã đi rồi sao Bác ơi! (Tố Hữu )
Bác ấy đứng tuổi rồi.
+ Một số từ mang đặc điểm ngữ pháp của tính từ (kết hợp được với các từchỉ mức độ )
Trang 11+ Một số từ vừa được coi là động từ chỉ hành động, lại vừa được coi làđộng từ chỉ trạng thái.
- Các động từ sau đây cũng được coi là động từ chỉ trạng thái (trạng thái
tâm lí ) : yêu, ghét, kính trọng, chán, thèm, hiểu, Các từ này mang đặc điểm
ngữ pháp của tính từ, có tính chất trung gian giữa động từ và tính từ
- Có một số động từ chỉ hành động được sử dụng như một động từ chỉ trạngthái
VD: Trên tường treo một bức tranh rất đẹp.
- Động từ chỉ trạng thái mang một số đặc điểm về ngữ pháp và ngữ nghĩa
giống như tính từ Vì vậy, chúng có thể làm vị ngữ trong câu kể: Ai thế nào ? 3.3.1.3 Tính từ:
c.1 Tính từ là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất của sự vật, hoạt động, trạng thái.
Ví dụ: - xanh, đỏ, xanh biếc, đỏ thắm (chỉ màu sắc)
- vuông, tròn, thon (chỉ hình thể)
- to, nhỏ,dài, ngắn (chỉ kích thước)
- nặng, nhẹ, nhiều, ít (chỉ khối lượng, dung lượng)
- tốt, xấu, thông minh (chỉ phẩm chất)
c.2 Có hai loại tính từ:
* Tính từ chỉ tính chất chung, không có mức độ Ví dụ: xanh, đỏ, dài,tốt
* Tính từ chỉ tính chất có xác định mức độ hoặc có tác dụng gợi tả hìnhảnh, cảm xúc
Ví dụ: xanh biếc, gầy nhom, chi chít
c.3 Phân biệt từ chỉ đặc điểm, từ chỉ tính chất, từ chỉ trạng thái :
- Từ chỉ đặc điểm :
VD : + Từ chỉ đặc điểm bên ngoài: cao, thấp, rộng , hẹp, xanh, đỏ,
+ Từ chỉ đặc điểm bên trong: tốt ,ngoan, chăm chỉ, bền bỉ,
- Từ chỉ tính chất:
VD: tốt, xấu, ngoan, hư, nặng, nhẹ, sâu sắc, nông cạn, suôn sẻ, hiệu
quả, thiết thực,
Như vậy, đối với học sinh Tiểu học, khi phân biệt (một cách tương đối) từ
chỉ đặc điểm và từ chỉ tính chất, giáo viên có thể tạm thời cho rằng: Từ chỉ đặc điểm thiên về nêu các đặc điểm bên ngoài, còn từ chỉ tính chất thiên về