Trong khi đó, thực tế cuộc sống hàng ngày lại có liên quan đếndạng toán này với các từ ngữ như: “Vượt quá tốc độ”, “Đi xe máy từ Thanh Hóavào Vinh hết từ 3 - 4 giờ”…Vậy làm thế nào để gi
Trang 1Mục lục
1 Mở đầu……….
1.1 Lí do chọn đề tài………
1.2 Mục đích nghiên cứu………
1.3 Đối tượng nghiên cứu………
1.4 Phương pháp nghiên cứu………
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.3 Các biện pháp cụ thể để tổ chức thực hiện………
2.3.1 Giúp học sinh củng cố cách đổi đơn vị đo thời gian, đơn vị đo độ dài………
2.3.2 Giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản về dạng toán chuyển động đều và hệ thống các công thức cần ghi nhớ ………
2.3.3 Giúp các em vận dụng các kiến thức cơ bản để giải tốt các bài toán chuyển động đều theo từng dạng bài………
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm………
3 Kết luận………
3.1 Kết luận………
3.2 Bài học kinh nghiệm………
Tài liệu tham khảo ……….
01 01 01 02 02 02 02 03 05
05
07
08
18
19
19 20 21
Trang 2Là giáo viên trực tiếp đứng lớp tôi luôn trăn trở tìm ra biện pháp để nângcao hiệu quả dạy - học Qua nhiều năm trực tiếp dạy lớp 5 tôi thấy học sinh gặprất nhiều khó khăn khi học về dạng toán chuyển động đều Các em thường vậndụng một cách máy móc quy tắc và công thức vào để giải bài toán mà khônghiểu hết bản chất của vấn đề Chính vì thế mà khi gặp một dạng toán hơi khácmẫu một chút là các em rất lúng túng và có khi giải sai Lúc này giáo viên cónhiệm vụ đưa nội dung đó đến học sinh bằng những biểu tượng chính xác, đơngiản, dễ hiểu Tức là ngôn ngữ của giáo viên phải phù hợp với đối tượng họcsinh Tiểu học Ở lớp 5, dạng toán chuyển động được đưa vào dạy với thời lượngtương đối ít Trong khi đó, thực tế cuộc sống hàng ngày lại có liên quan đếndạng toán này với các từ ngữ như: “Vượt quá tốc độ”, “Đi xe máy từ Thanh Hóavào Vinh hết từ 3 - 4 giờ”…
Vậy làm thế nào để giúp học sinh lớp 5 học tốt dạng toán chuyển độngđều? Đó là câu hỏi đặt ra cho không ít giáo viên Tiểu học Qua thực tế giảngdạy để nâng cao chất lượng dạy học dạng toán chuyển động đều tôi đã tìm tòi
nghiên cứu và chọn đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tốt dạng toán chuyển động đều” Với hy vọng sáng kiến nhỏ này sẽ nâng cao phần nào
chất lượng học toán về dạng toán chuyển động đều
1.2 Mục đích nghiên cứu.
Góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Toán nói chung và dạy học
Trang 3dạng toán chuyển động đều cho học sinh lớp 5 nói riêng.
Nâng cao kĩ năng dạy học toán cho bản thân, giúp học sinh ngày càngyêu thích môn Toán, giải được các bài toán về dạng toán chuyển động đều và ápdụng linh hoạt vào thực tế cuộc sống
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
Đề tài này tôi sẽ nghiên cứu về một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 họctốt dạng toán chuyển động đều
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu lí luận:
Đọc các loại tài liệu, sách, báo, tạp chí giáo dục có liên quan đến nộidung đề tài
Đọc sách giáo khoa, sách giáo viên, các loại sách tham khảo Toán 5.Phương pháp nghiên cứu thực tế:
Dự giờ trao đổi ý kiến với đồng nghiệp cách dạy dạng toán chuyển độngđều cho học sinh lớp 5
Tổng kết rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.1 Vai trò của việc dạy học toán chuyển động đều trong chương trình Toán lớp 5
Trong chương trình Toán lớp 5, một trong những nội dung mới mà các
em được học đó là toán chuyển động đều Đây là loại toán khó, nhờ các tìnhhuống chuyển động hết sức đa dạng trong đời sống nên nội dung của nó rấtphong phú Đồng thời các bài toán chuyển động đều có rất nhiều kiến thức được
áp dụng trong cuộc sống, chúng cung cấp vốn sống hết sức cần thiết cho họcsinh Khi học dạng toán này các em còn được củng cố nhiều kiến thức, kĩ năngkhác như: Các đại lượng có quan hệ tỉ lệ, kĩ năng tóm tắt bằng sơ đồ đoạnthẳng, kĩ năng tính toán
Trang 42.1.2 Chương trình toán chuyển động đều ở lớp 5.
Trong chương trình Tiểu học, toán chuyển động đều được học ở lớp 5 làloại toán mới, lần đầu tiên học sinh được học Nhưng thời lượng chương trìnhdành cho loại toán này còn quá ít: Gồm 9 tiết: 3 tiết bài mới, 3 tiết luyện tập saumỗi bài mới, 3 tiết luyện tập chung Sau đó phần ôn tập cuối năm một số tiết cóbài toán nội dung chuyển động đều đan xen với các nội dung ôn tập khác
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 2.2.1 Thực trạng khi dạy dạng toán chuyển động đều ở trường Tiểu học.
Từ thực tế những năm thực dạy lớp 5, qua dự giờ tham khảo ý kiến đồngnghiệp, xem bài làm của học sinh về phần toán chuyển động đều Bản thân tôithấy trong quá trình dạy và học dạng toán chuyển động đều giáo viên và họcsinh còn có những tồn tại và vướng mắc sau:
Do thời gian phân bố cho loại toán này còn ít nên học sinh không đượccủng cố, rèn luyện kĩ năng giải loại toán này một cách hệ thống, sâu sắc, việc
mở rộng vốn hiểu biết và phát triển khả năng tư duy, trí thông minh, sự sáng tạocho học sinh còn hạn chế
Học sinh chưa được rèn luyện giải theo dạng bài nên khả năng nhậndạng bài và vận dụng phương pháp giải cho từng dạng bài chưa có Dẫn đến họcsinh lúng túng, chán nản khi gặp dạng toán này
Trên đây là những khó khăn, sai lầm cơ bản mà học sinh thường gặptrong khi giải bài toán chuyển động đều Trong quá trình giải, học sinh dễ bộc lộnhững sai lầm nhưng không phải rành mạch từng vấn đề mà đan xen và baohàm nhau Là giáo viên trực tiếp đứng lớp phải nắm được những khó khăn đócủa học sinh để giúp các em khắc phục và sửa chữa
2.2.2 Khảo sát thực tế:
Tìm hiểu vấn đề giải toán chuyển động đều ở học sinh lớp 5, năm học:
2014 – 2015 ngay sau khi học xong dạng toán chuyển động đều tôi đã khảo sát
ở lớp 5B với đề bài như sau:
Trang 5Bài 1: Viết số đo thích hợp vào ô trống:
Bài 2: Trong cuộc thi chạy, một vận động viên chạy 1500 m hết 4 phút.Tính vận tốc chạy của vận động viên đó với đơn vị đo là m/giây
Bài 3: Một ô tô khởi hành lúc 6 giờ 30 phút với vận tốc 42 km/giờ, đến 17giờ thì ô tô tới địa điểm trả hàng Tính quãng đường ô tô đã đi được, biết rằnglái xe nghỉ ăn trưa 45 phút
Sau khi chấm bài tôi thu được kết quả khảo sát chất lượng của học sinhlớp 5B như sau:
dữ kiện của bài toán Hoặc không chú ý đến sự tương ứng giữa các đơn vị đocủa các đại lượng khi thay vào công thức tính, dẫn đến sai Học sinh còn đổiđơn vị đo sai, tính toán thiếu cẩn thận Là dạng toán khó nên học sinh chưa nắmvững bản chất nên việc xác định dạng toán còn gặp nhiều khó khăn Một số emchưa phân biệt rõ thời điểm gặp nhau và thời gian đi được, điều đó dẫn đến sựnhầm lẫn rất đáng tiếc trong quá trình giải toán Hơn nữa, các em còn nặng vềghi nhớ máy móc và dùng từ diễn đạt lời giải còn hạn chế Điều này khẳng định,không như một số dạng toán giải khác, toán chuyển động đều đòi hỏi học sinhkhông chỉ có ngôn ngữ phong phú, hiểu bài để diễn đạt bài giải một cách tườngminh mà còn phải có tư duy linh hoạt, có khả năng tưởng tượng cao
Để giúp học sinh thực hành tốt bài học dạng toán chuyển động đều, tôi đãtập trung đi sâu tìm hiểu thực trạng và đưa giải pháp nâng cao chất lượng dạy
Trang 6học toán là nhiệm vụ chung của mỗi giáo viên từng ngày, từng giờ lên lớp Từthực trạng trên, để việc giảng dạy đạt hiệu quả cao hơn, tôi đã mạnh dạn đưa ramột số giải pháp khi dạy toán chuyển động đều cho học sinh lớp 5.
Giúp học sinh nắm vững bảng đơn vị đo thời gian, mối liên hệ giữa cácđơn vị đo cơ bản Tôi yêu cầu học sinh nêu các đơn vị đo thời gian đã học vàmối liên hệ của chúng
Trước hết tôi hướng dẫn học sinh tìm tỉ số giữa 2 đơn vị
Tôi qui ước cho học sinh “Tỉ số của 2 đơn vị” là giá trị của đơn vị lớnchia cho đơn vị nhỏ
Ở ví dụ trên tỉ số của 2 đơn vị giờ và phút là 60
Sau đó ta chia số phải đổi cho tỉ số của 2 đơn vị
Trong ví dụ trên ta thực hiện: 30 : 60 = 1
Sau đó ta nhân số phải đổi với tỉ số của 2 đơn vị
Trang 7Ở ví dụ trên ta thực hiện như sau: 3
4 × 60 = 45
Vậy 3
4 giờ = 45 phút
Ví dụ 2: Đổi 3 ngày =… giờ
Tỉ số của 2 đơn vị ngày và giờ bằng 24
Ta thực hiện: 3 × 24 = 72
Vậy 3 ngày = 72 giờ
Hướng dẫn học sinh cách đổi từ km/giờ sang km/phút sang m/phút.
Ví dụ: 120 km/giờ = …… m/phút
Ta làm theo 2 bước như sau:
Bước 1: Thực hiện đổi từ km/giờ sang km/phút
Hướng dẫn học sinh cách đổi từ m/phút sang km/phút sang km/giờ.
Ta tiến hành ngược lại với cách đổi ở trên
Ví dụ : 2000 m/phút =….km/phút =……km/giờ
Tỉ số 2 đơn vị giữa km và m là 1000
Ta có: 2000 : 1000 = 2
Trang 8Thời gian kí hiệu là t; đơn vị thường dùng là: giờ, phút, giây
Trong phần này tôi khắc sâu cho học sinh một số cách tính và công thứcsau:
Muốn tính vận tốc ta lấy quãng đường chia cho thời gian
Công thức: v = s : t (v: vận tốc ; s: quãng đường; t: thời gian)
Muốn tính quãng đường ta lấy vận tốc nhân với thời gian
Công thức: s = v × t (s: quãng đường; v: vận tốc ; t: thời gian)
Muốn tính thời gian ta lấy quãng đường chia cho vận tốc
Công thức: t = s : v (t: thời gian; s: quãng đường; v: vận tốc)Đồng thời tôi giúp học sinh nắm vững mối quan hệ giữa các đại lượngvận tốc, quãng đường, thời gian
Khi đi cùng một vận tốc thì quãng đường có tỉ lệ thuận với thời gian (Quãng đường càng dài thì thời gian đi càng lâu)
Khi đi cùng một thời gian thì quãng đường tỉ lệ thuận với vận tốc
(Quãng đường càng dài thì vận tốc càng lớn)
Khi đi cùng một quãng đường thì thời gian tỉ lệ nghịch với vận tốc)
Trang 9(Thời gian ngắn thì vận tốc nhanh, thời gian dài thì vận tốc chậm.)
2.3.3 Giúp các em vận dụng các kiến thức cơ bản để giải tốt các bài toán chuyển động đều theo từng dạng bài.
Muốn giải được bài toán, trước hết người giáo viên phải dạy cho học sinhbiết nhận dạng cụ thể bài toán sau khi đọc xong đề bài Qua thực tế nhiều nămgiảng dạy lớp 5, để giúp học sinh nhận diện các dạng toán một cánh dễ dàng,chính xác, ghi nhớ bền vững tôi đã chia toán chuyển động đều thành các dạngnhư sau:
Dạng 1: Những bài toán có một chuyển động.
Đây là những bài toán chỉ đơn giản có một động tử tham gia Có bài toáncác yếu tố đề cho đã tường minh học sinh chỉ cần áp dụng công thức để giảinhưng cũng có bài các yếu tố đề cho chưa tường minh, học sinh phải tư duy đểtìm ra bước giải phụ thì mới giải được bài toán
Ví dụ1: Bài toán 1- SGK (trang 138): “Một ô tô đi được quãng đường dài
170 km hết 4 giờ Hỏi trung bình mỗi giờ ô tô đó đi được bao nhiêu ki-
lô-mét?”
Đối với bài toán trên tôi đã gợi cho các em nhớ lại dạng toán “Rút về đơnvị” mà các em đã được học ở lớp 3 Từ đó tôi đưa ra cho học sinh hiểu về vậntốc là: “Vận tốc là quãng đường trung bình mà một chuyển động thực hiện đượctrong một đơn vị thời gian”
Học sinh trình bày bài giải như sau:
Bài giải Trung bình mỗi giờ ô tô đó đi được số ki – lô – mét là:
Ví dụ 2: Bài tập 3 SGK Toán 5 trang 142: Ong mật có thể bay được với
vận tốc 8 km/giờ Tính quãng đường bay được của ong mật trong 15 phút
Trang 10Ở ví dụ này tôi hướng dẫn học sinh như sau:
Trước hết các em cần đọc kĩ yêu cầu của bài
Sau đó phân tích bài toán
Đề bài cho biết gì? Hỏi gì?
Tính vận tốc theo đơn vị nào? (Lưu ý học sinh đơn vị thời gian bài cho làphút, đơn vị vận tốc là km/giờ Vậy phải đổi 15 phút = …giờ
8 × 0,25 = 2 (km)
Đáp số: 2km
Đối với loại toán này giáo viên chỉ đơn giản hướng dẫn làm sao cho họcsinh nắm được công thức tính, biết đâu là vận tốc, quãng đường, thời gian vàbiết được mối quan hệ giữa các đại lượng này với nhau: Khi biết giá trị của haitrong ba đại lượng trên ta có thể tìm được giá trị của đại lượng còn lại, nhưngcần lưu ý đơn vị đo phải đồng nhất với nhau
Ví dụ 3: Bài 3 (VBT- trang 61): “Một xe máy đi từ 8 giờ 15 phút đến 10
giờ được 73,5 km Tính vận tốc của xe máy đó với đơn vị đo là km/giờ”
Với bài toán này tôi đã hướng dẫn học sinh như sau:
Đọc kĩ yêu cầu của đề
Phân tích đề
Đề bài cho biết gì? Hỏi gì?
Để được vận tốc xe máy ta cần biết được những đại lượng nào?
(Quãng đường, thời gian xe máy đi)
Để tính được thời gian xe máy đi ta cần biết những yếu tố nào?
(Thời gian xuất phát, thời gian tới nơi Giúp học sinh nhận ra được: Thời gian đi = Thời gian tới nơi – thời gian xuất phát)
Trang 11Lưu ý đơn vị đo (Bài yêu cầu tính vận tốc của xe máy đó với đơn vị đo
là km/giờ nên thời gian đi phải có đơn vị là giờ)
Sau đó tôi tiếp tục giúp học sinh hiểu rõ hơn quá trình phân tích bài toánbằng sơ đồ sau:
Từ sơ đồ trên, học sinh trình bày được bài giải như sau:
Bài giải Thời gian xe máy đi quãng đường 73,5 km là:
10 giờ – 8 giờ 15 phút = 1 giờ 45 phút
Đổi 1 giờ 45 phút = 1,75 giờ
Vận tốc của xe máy là:
73,5 : 1,75 = 42 (km/giờ)
Đáp số: 42 km/giờ
Ví dụ 4: Bài 4 trang 166 SGK Toán 5: Một ô tô đi từ Hà Nội lúc 6giờ 15
phút và đến Hải Phòng lúc 8 giờ 56 phút Giữa đường ô tô nghỉ 25 phút Vậntốc của ô tô là 45 km/giờ Tính quãng đường từ Hà Nội đến Hải Phòng
Với bài toán này tôi cũng hướng dẫn học sinh cách làm tương tự ví dụtrên
Đọc kĩ bài toán
Phân tích bài toán
Lưu ý học sinh để tính thời gian đi trên đường ngoài 2 yếu tố (thời gianxuất phát, thời gian tới nơi) ở bài toán này còn có thêm yếu tố là thời gian nghỉ,tôi đã giúp học sinh nhận ra rằng:
(Thời gian đi = Thời gian tới nơi – thời gian xuất phát – thời gian nghỉ)
Lưu ý đơn vị đo
Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán bằng sơ đồ sau:
Trang 12Từ đó, học sinh trình bày bài giải như sau:
Bài giải
Thời gian ô tô đi trên đường là:
8 giờ 56 phút – 6 giờ 15 phút – 25 phút = 2 giờ 16 phút = 34
15 giờ Quãng đường từ Hà Nội đến Hải Phòng là:
45 × 34
15 = 102 (km) Đáp số: 102 km
Qua ví dụ trên tôi lưu ý cho học sinh; Nếu xe nghỉ dọc đường thì thờigian đi trên đường bằng thời gian tới nơi trừ thời gian xuất phát trừ thời giannghỉ
Từ các ví dụ trên tôi rút ra cho học sinh kiến thức cần ghi nhớ và cáchgiải chung cho dạng toán này như sau:
Thời gian xuất phát
Thời gian đi trên đườngVận tốc ô tô
Trang 13Dạng 2: Những bài toán về hai chuyển động ngược chiều.
Đây là một dạng toán khó đối với học sinh mà sách giáo khoa lại khôngđưa ra qui tắc, công thức để giải dạng toán này Thông qua cách giải 1 số bàitoán tôi rút ra hệ thống qui tắc và công thức giúp các em dễ vận dụng khi làmbài
Ví dụ 1: Bài 1a SGK Toán 5 trang 145: Quãng đường AB dài 108 km.
Một ô tô đi từ A đến B với vận tốc 54 km/giờ, cùng lúc đó một xe máy đi từ Bđến A với vận tốc 36 km/giờ Hỏi kể từ lúc bắt đầu đi sau mấy giờ 2 ô tô gặp xemáy?
Để giải được bài toán trên tôi hướng dẫn học sinh phân tích đề toán nhưsau:
Bài toán cho biết gì? Bài yêu cầu tìm gì?
Bài toán thuộc dạng toán nào? (Hai chuyển động ngược chiều)
Để tính thời gian gặp nhau ta cần phải biết những đại lượng nào?
(Quãng đường và vận tốc)
Tôi tiếp tục hướng dẫn học sinh: Ở bài toán này có mấy chuyển độngngược chiều? ứng với mấy vận tốc? (2 chuyển động ngược chiều ứng với 2 vậntốc) Vậy trước tiên ta phải tính tổng của 2 vận tốc hay chính là quãng đường ô
tô và xe máy đi được sau mỗi giờ hay tổng của 2 vận tốc Sau đó áp dụng côngthức tính thời gian để tính thời gian 2 xe gặp nhau
Từ đó, học sinh dễ dàng vận dụng công thức để giải bài toán như sau: Bài giải
Sau mỗi giờ cả ô tô và xe máy đi được quãng đường là:
54 + 36 = 90 (km)
Thời gian 2 xe gặp nhau là:
180 : 92 = 2 (giờ)
Đáp số: 2 giờ
Từ ví dụ trên, tôi đã giúp học sinh nhận ra: Quãng đường đi được của hai
xe trong một giờ chính là tổng vận tốc của hai chuyển động Từ đó chứng tỏ