Đối với học sinh Tiểu học việc viết đúng chính tả giúp các em sử dụng một cách thành thạo Tiếng Việt trong các môn học khác, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trư
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THẠCH THÀNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬA LỖI CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH
LỚP 4B TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH MINH 2
Người thực hiện: Đinh Xuân Trường Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thành Minh 2 Thạch Thành- Thanh Hoá
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tiếng Việt
THANH HOÁ, NĂM 2017
Trang 2MỤC LỤC
2.1.4 Đặc điểm cấu trúc nội dung phân môn Chính tả lớp 4 3
2.2.3 Thực trạng sai lỗi chính tả của học sinh lớp 4B trường Tiểu
2.3 Biện pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh lớp 4B trường Tiểu
2.3.1 Điều tra, khảo sát nắm bắt và phân loại nhóm đối tượng học
2.3.2 Dạy phát âm đúng tiếng Việt thông qua các môn học lấy phân
2.3.3 Sửa lỗi chính tả thông qua hệ thống bài tập chính tả 8-13 2.3.4 Củng cố và bổ sung một số mẹo chính tả 13-14 2.3.5 Mở rộng phạm vi đối tượng giao tiếp rèn phát âm chuẩn tiếng
1 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm:
Sinh thời Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Chữ viết cũng là một biểu hiện của nết người Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho các em tính cẩn thận, tính kỉ luật và tính tự trọng đối với
Trang 3mình cũng như đối với thầy và bạn đọc bài của mình.” [1] Câu nói ấy đã thể hiện rõ vị trí vai trò của môn Tiếng Việt nói chung, phân môn Chính tả trong nhà trường Tiểu học nói riêng Phân môn chính tả có vị trí đặc biệt quan trọng ở Tiểu học, giúp học sinh hình thành thói quen viết đúng chính tả, nắm được các quy tắc chính tả và hình thành nên kĩ năng kĩ xảo về chính tả Đối với học sinh Tiểu học việc viết đúng chính tả giúp các em sử dụng một cách thành thạo Tiếng Việt trong các môn học khác, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường hiện nay
Tuy nhiên trong thực tế, chất lượng dạy - học môn Tiếng Việt Tiểu học nói chung, phân môn Chính tả nói riêng ở những vùng khó khăn trong những năm qua vẫn còn là điều trăn trở Hiện tượng học sinh nói, viết không thành chữ thành câu, và đặc biệt là hiện tượng học sinh viết sai lỗi chính tả còn phổ biến Qua nhiều năm dạy học ở Trường Tiểu học Thành Minh 2 tôi thấy chất lượng chữ viết của học sinh còn rất kém Thể hiện ở chỗ viết sai lỗi chính tả nhiều, chữ xấu Những lỗi chính tả ấy không những không được khắc phục sửa chữa mà còn lặp đi lặp lại nhiều năm, từ lớp nhỏ đến lớp lớn Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng vở sạch chữ đẹp của nhà trường nói riêng Chính vì thế qua những lần trưng bày “Vở sạch chữ đẹp” cấp huyện đều thấp hơn so với các trường bạn Trong những năm qua thực hiện chỉ đạo của Phòng giáo dục và đào tạo Thạch Thành về phong trào “ Giữ vở sạch, viết chữ đẹp” nhà trường đã không ngừng đổi mới công tác dạy và học gắn liền với thực tế nhà trường Đặc biệt trong những năm học gần đây nhà trường đã đề
ra nhiều biện pháp đồng bộ để nhằm nâng cao chất lượng chữ viết của học sinh Chú trọng đến việc luyện viết đúng, luyện viết đẹp Tuy chất lượng chữ viết của học sinh đã được nâng lên đáng kể, nhưng vẫn còn bộc lộ một số tồn tại như chất lượng không đồng đều ở các khối lớp, nhiều bài viết của học sinh tuy văn
đã hay, chữ đã đẹp nhưng vẫn còn sai nhiều lỗi chính tả mà học sinh lớp 4B là một điển hình Sở dĩ việc dạy học phân môn Chính tả nói chung và việc sửa lỗi chính tả cho học sinh của nhà trường gặp khó khăn như vậy là do sự khác biệt trong cách phát âm của phương ngữ Mường Thành Minh so với tiếng phổ thông
đã có ảnh hưởng đến khả năng định hướng viết đúng chính tả của học sinh Hệ thống bài tập lựa chọn trong SGK dành cho các vùng phương ngữ chưa thể hiện được tính khoanh vùng Do vậy có tình trạng cả học sinh và giáo viên phải chạy theo luyện tập những lỗi mà bản thân mình ít phạm phải (thậm chí không phạm phải) trong khi đó lỗi mình thường gặp lại không được thực hành, luyện tập thường xuyên Chính vì thế năm học 2016 -2017 được phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 4B tôi không khỏi băn khoăn và dốc tâm, dốc sức vào nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh bằng cách rèn cho học sinh viết đúng chính tả rồi đến viết đẹp
Từ những lý do đó thôi thúc tôi tìm hiểu, nghiên cứu và mạnh dạn áp dụng một số biện pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh lớp 4B Sau đây tôi xin
được chia sẻ “ Một số biện pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh lớp 4B Trường Tiểu học Thành Minh 2”
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu về lỗi chính tả của học sinh lớp 4B Trường Tiểu học
Trang 4Thành Minh 2 thường mắc phải từ đó đề ra biện pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh lớp mình chủ nhiệm và học sinh nhà trường nhằm nâng cao chất lượng và phân môn Chính tả nói riêng dạy và học môn Tiếng Việt nói chung tạo chuyển
biến về phong trào “Giữ vở sạch, viết chữ đẹp.”
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Tôi tập trung nghiên cứu về các vấn đề sau:
- Mục tiêu, nội dung chương trình phân môn Chính tả lớp 4
- Hệ thống bài tập âm vần trong phân môn Chính tả lớp 4
- Lỗi chính tả đặc trưng của học sinh lớp 4B Trường Tiểu học Thành Minh 2
- Biện pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh lớp 4B Trường Tiểu học
Thành Minh 2
1.4 Các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết
- Phương pháp thông kê, xử lý số liệu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thực nghiệm
2 NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lý luận:
2.1.1 Đặc điểm chính tả Tiếng Việt
Về cơ bản chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm, mỗi âm vị được ghi bằng một con chữ Nói cách khác, giữa cách đọc và cách viết chính tả Tiếng Việt là thống nhất với nhau Đọc như thế nào sẽ viết như thế ấy Bởi theo nghĩa
gốc thì “chính tả” tức là “ phép viết đúng” hay “ lối viết hợp với chuẩn” [2]
2.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ Tiếng Mường:
Việt của ngữ hệ Nam Á Tiếng Mường rất gần với tiếng Việt có thể nói một cách khái quát (nhưng không tuyệt đối, khoảng 75%) [3] Do vậy khi phát âm tiếng Mường cơ bản giống tiếng Việt song chỉ mất dấu thanh hoặc chuyển hình thức dấu thành từ sắc => nặng; huyền => ngang VD: lá cờ => lạ cơ; chú => chụ; trường => trương [4]
2.1.3.Đặc điểm cấu trúc nội dung chình trình phân môn chính tả lớp 4
Nội dung chương trình sách giáo khoa phân môn chính tả lớp 4 gồm 2 phần:
- Chính tả đoạn bài: Nhớ – viết, nghe – viết một đoạn trích từ bài tập đọc hoặc từ các văn bản khác có nội dung phù hợp với chủ điểm học tập của mỗi tuần, có độ dài khoảng 80-90 chữ (tiếng)
- Chính tả âm, vần: Nội dung các bài tập chính tả âm vần là luyện viết đúng các từ có âm, vần, thanh dễ viết sai chính tả do ảnh hưởng của cách phát
âm địa phương
- Các cặp âm, vần, thanh dễ lẫn được luyện viết gồm:
+ Âm đầu: l/n; tr/ch; s/x; r/d/gi (dành cho học sinh phương ngữ Bắc Bộ) + Vần: an/ang; , ăn/ăng, ân/âng, en/eng, uôn/uông, iên/iêng, ăt/ăc, uôt/uôc, ut/uc, ưt/ưc, ươt/ươc, iêt/iêc, (dành cho học sinh phương ngữ Nam Bộ)
Trang 5+ Thanh: thanh hỏi/thanh ngã (dành cho học sinh các phương ngữ Bắc Trung
Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ)
+ Về hình thức, các âm, vần, thanh dễ lẫn được luyện viết thông qua những nhiều kiểu bài tập như: điền âm, vần, điền tiếng vào chỗ trống, chọn tiếng thích hợp để điền vào chỗ trống v.v [5]
Từ những nghiên cứu trên cho thấy nội dung chương trình phân môn Chính tả trong sách giáo khoa Tiếng việt 4 hiện hành về cơ bản đã thể hiện được các vùng phương ngữ, song cũng chưa bao quát hết được tất cả các vùng miền
2.2 Thực trạng vấn đề:
2.2.1 Điều kiện nhà trường:
Trường tiểu học Thành Minh 2 đóng trên địa bàn 8 thôn đặc biệt khó khăn của xã Thành Minh với gần 100% là con em dân tộc Mường Điều kiện kinh tế- Văn hóa xã hội còn rất nhiều khó khăn, cơ sở vật chất của nhà trường còn thiếu thốn nghèo nàn Năm học 2016-2017, nhà trường có 12 lớp 11 phòng học không đủ 1 lớp/1 phòng, phòng học chật hẹp, xuống cấp tường lở, mái dột Thiếu tất cả các phòng chức năng, văn phòng Đồ dùng trang thiết bị thiếu, không đủ phục vụ dạy và học Với điều kiện cơ sở vật chất như vậy ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học
2.2.2 Về tình hình lớp 4B
Tổng số học sinh: 30 em
Nam: 14 em
Nữ: 16 em,
Dõn tộc Mường: 30 em = 100%
Con hộ nghèo: 14 em = 46, 7%
Phần lớn gia đình các em làm nghề nông, một số bố mẹ đi làm thuê, làm công nhân ở xa con cái phải gửi ông bà, anh em họ hàng như gia đình em Hiện,
em Viên, em Dương, em Huân Bởi vậy việc học tập ít được quan tâm chủ yếu trông chờ vào dạy dỗ của nhà trường, thầy cô
2.2.3 Thực trạng sai lỗi chính tả của học sinh lớp 4B trường Tiểu học Thành Minh 2 hiện nay:
Sau 4 tuần trực tiếp giảng dạy trên lớp, qua chấm chữa các bài viết chính
tả như: Nghe – viết: Dế Mèn bênh vực kẻ yếu (tuần 1); Nghe – viết: Mười năm cõng bạn đi học (tuần 2); Nghe – viết: Cháu nghe câu chuyện của bà (tuần 3); Nhớ – viết: Truyện cổ nước mình (tuần 4) bài Tập làm văn: Viết thư (tuần 4) của
học sinh tôi nhận thấy học sinh viết sai chính tả khá nhiều, cá biệt có những em còn viết không thành chữ, thành câu như em Dương; em Đình, em Tuấn v.v Bên cạnh đó thông qua dự giờ các lớp 1B; 2B; 3A và trao đổi với giáo viên giảng dạy ở lớp 4A cho thấy các em đều có thực trạng như vậy
Sau đây là kết quả thống kê lỗi số lỗi chính tả trong 30 bài viết Chính tả Tập làm văn của học sinh đầu năm học 2016-2017
HS
Số bài mắc lỗi
Lỗi chính tả
Trang 6Những lỗi chính tả trong bài viết của các em thể hiện ở các dạng cơ bản sau:
- Về thanh điệu; Các em thường nhầm lẫn hỏi/ngã, huyền/ngang,
sắc/nặng, đây cũng là lỗi đặc trưng của học sinh vùng Thanh Hóa nói chung song lại chiếm tỉ lại chiếm tỉ lệ rất ít trong lớp (2-3em) và tần suất xuất hiện
trong bài không nhiều Có thể nhận thấy đây là do các em sơ suất trong việc điền
dấu thanh khi viết bài VD: những > nhửng, mãi > mải, cõng>cỏng, chỗ
->chổ, trường ->trương v.v
- Về phụ âm đầu: Bên cạnh lỗi về thanh điệu, hiện tượng viết sai các âm
(phụ âm đầu ), cũng rất đa dạng Các em mắc các lỗi như không phân biệt được:
tr/ch; s/x; r/d/gi; ng/ngh giống học sinh các vùng miền khác thường hay vấp phải Tuy vậy trong bài viết của các em còn xuất hiện lỗi nhầm lẫn giữa v với ph với số lượng nhiều và lặp lại ở tất các bài viết trên VD; hộp phấn -> hộp vấn, phật tiên-> vật tiên, lẽ phải->lẽ vải, phép lạ -> vép lạ v.v
-Về phần vần: Ngoài các lỗi chung, lỗi phổ biến là các vần khó, học sinh
Tiểu học ở các vùng phương ngữ khác thường hay nhầm lẫn khi nói cũng như
khi viết các tiếng có vần “ưu”, “ươu”, chẳng hạn như: cấp cứu -> cấp kíu; âm mưu -> âm miu; về hưu -> về hiu; hoa lựu -> hoa lịu; con hươu -> con hiêu thì trong số bài viết của học sinh còn gặp một số lỗi như nhầm lẫn giữa ang/ăng; ong/ông; au/âu; ai/ay
VD: cõng->cỗng, ngày->ngài, yêu nhau-> yêu nhâu, mang (theo)-> măng (theo), cháu->chấu, mong->mông, cây bàng ->cây bằng; chong chóng ->chông chống ; máy bay ->mái bai cây cau -> cây câu; v.v Đây là những sai lỗi mà chỉ
có ở học sinh Thành Minh mới có
Ngoài những lỗi kể trên, học sinh còn mắc phải một số lỗi do nhầm lẫn
hoặc quên không ghi dấu phụ như ư -> u; ă -> a hoặc lỗi viết hoa một cách tùy
tiện và đó cũng là những sai sót thông thường của học sinh Tiểu học
Qua bảng thống kê cho thấy tỷ lệ học sinh viết sai lỗi chính tả khá cao ở
cả hai phân môn Chính tả và Tập làm văn Đáng chú ý là số lỗi trong bài Tập làm văn nhiều hơn số lỗi trong bài viết chính tả Sở dĩ là do hoàn cảnh viết khác nhau Hoàn cảnh thứ nhất, lỗi xuất hiện trong giờ viết chính tả - các em được người đọc (GV), để viết lại những điều mình tiếp thu được nên viết đúng hơn Hoàn cảnh thứ hai là lỗi xuất hiện trong giờ viết tập làm văn-hoạt động của học sinh viết chính tả trong hoàn cảnh này là quá trình vừa nghĩ vừa viết, tức là người viết sử dụng tiếng nói bên trong để tư duy và thể hiện những điều được tư duy ra ngôn ngữ viết
Từ thực trạng trên cho thấy học sinh lớp 4B hay nhầm lẫn dẫn đến viết sai
các tiếng, từ có âm đầu v/ph, các tiếng, từ có vần ang/ăng; ong/ông; au/âu; ai/ay Đây là những sai lỗi chính tả mà số lượng học sinh mắc nhiều và thường
lặp lại ở các bài viết sau Hiện tượng phạm lỗi chính tả đã nêu trên chủ yếu do các nguyên nhân sau:
- Vốn sống, vốn từ ngữ của các em còn nghèo nàn Bên cạnh đó môi
trường giao tiếp còn hạn hẹp mới chỉ dừng lại ở chòm xóm, bản làng nên chịu ảnh hưởng của cách phát âm tiếng mẹ đẻ (tiếng Mường) cho nên học sinh
Trang 7thường phát âm không chính xác, không chuẩn, (các em thường đọc sai dẫn đến viết sai)
- Do các em chưa thực sự có kiến thức vững chắc về ngữ âm (Chính âm –
chính tả) chỉ đơn thuần dựa vào cách phát âm của thầy cô, chưa biết dựa vào yếu
tố ngữ nghĩa để viết nên dễ viết sai
- Học sinh ít được thực hành đọc và viết Tiếng Việt nên không thể quen
tay, quen mắt (Mỗi tuần chỉ có 1 tiết chính tả trong đó chính tả âm vần chiếm rất ít thời gian)
- Do nội dung chính tả trong SGK Tiếng Việt lớp 4 chưa có các bài tập
rèn lỗi chính tả mà các em thường mắc
- Về phía giáo viên: Nhiều thầy cô còn quá lệ thuộc, câu nệ trung thành
với bài tập ở SGK, chưa nhận ra hết phần nào là trọng tâm của từng loại chính
tả, chưa quan tâm đến lỗi đặc trưng của học sinh mình mắc phải
2.3 Biện pháp sửa lỗi chính tả cho học sinh lớp 4B Trường Tiểu học thành Minh 2.
Từ thực trạng và đánh giá nêu trên tôi nhận thấy để nâng cao năng lực viết đúng chính tả cho học sinh lớp 4B nói riêng học sinh Trường tiểu học Thành Minh 2 nói chung thì một trong những vấn đề cơ bản cần giải quyết là khắc phục những lỗi do phương ngữ tạo ra Tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ của vấn đề sai lỗi chính tả của học sinh Tức là phải biết học sinh mình yếu, thiếu và thường sai lỗi những gì để đề ra biện pháp sửa lỗi phù hợp Người giáo viên phải như bác sĩ giỏi biết bắt đúng bệnh của bệnh nhân thì chữa bệnh mới khỏi được Sau đây là những biện pháp tôi đã vận dụng và thấy hiệu quả:
2.3.1 Điều tra khảo sát nắm bắt và phân loại nhóm đối tượng học sinh thường mắc lỗi.
Thực tế cho thấy nếu nắm vững đối tượng học sinh, phân loại từng đối tượng là chìa khóa của thành công trong công tác dạy học và giáo dục học sinh Việc sửa lỗi chính tả cho học sinh cũng vậy Ngay từ đầu năm học, từ những buổi học đầu tiên qua quan sát, tiếp xúc, chấm chữa bài cho các em hay trao đổi với các giáo viên bộ môn tôi đã tiến hành phân loại đối tượng học sinh của mình thành từng nhóm theo lỗi chính tả các em thường mắc phải và có biện pháp sửa lỗi phù hợp cho từng nhóm đối tượng đó
Nhóm 1: Những học sinh khi viết thường nhầm lẫn về thanh điệu như nhầm lẫn giữa các thanh Ngã/ hỏi; Huyền/ngang ; sắc/ngang/nặng Nhóm này
chiếm rất ít trong lớp tôi (2-3 em đó là em Dương, em Bùi Phúc, em Xuân) và các em không thường xuyên mắc phải nên khi chấm chữa bài tôi hướng dẫn các
em cách phân biệt và sửa lỗi luôn trong từng bài
Nhóm 2: Những học sinh khi viết thường nhầm lẫn về âm đầu như s/x;
ch/tr; r/d/gi; Đây là lỗi chính tả khá phổ biến đối với học sinh vùng Thanh Hóa song với học sinh lớp 4B Trường Tiểu học Thành Minh 2 thì chiếm rất ít (gồm các học sinh: Đình Phúc, Hiện, Quách Huân, Đình, Dương, Tuyết, Tuấn ) Ngoài việc khai thác triệt để nguồn bài tập rèn luyện trong sách giáo khoa tôi đã củng cố lại cho các em về một số mẹo chính tả mà các em đã được học ở lớp dưới để các em ghi nhớ
Trang 8Nhóm 3: Những học sinh khi viết thường nhầm lẫn về âm đầu v/ph hay
các vần: ang/ăng; ong/ông; au/âu; ai/ay.(gồm các học sinh: Đình Phúc, Lịch,
Trung, Dương, Đình, Tuyết, Tuấn, Huệ, Tâm, Xuân)
Xác định đây là lỗi chính tả mà học sinh của mình thường mắc phải nên tôi coi đây là nhiệm vụ trọng tâm trong việc sửa lỗi chính tả cho học sinh
2.3.2 Dạy phát âm đúng tiếng Việt thông qua các môn học lấy phân môn Tập đọc làm nòng cốt:
Dù là một cộng đồng người Việt Nam nhưng mỗi người một cách phát âm theo phương ngữ khác nhau Chữ viết Tiếng Việt lại là chữ viết ghi âm tương đối hợp lý Ở cấp độ âm tiết, nói chung có sự đối ứng một đối một giữa âm và chữ “phát âm thế nào thì viết thế ấy” Do vậy trong giờ tập đọc tôi luôn chú trọng đến việc luyện đọc đúng cho học sinh của mình Việc đọc đúng không những giúp các em hiểu được nội dung bài đọc, cảm nhận được cái hay, cái đẹp
mà còn giúp các em định hướng để viết đúng Đọc đúng các âm dễ lẫn: đọc đúng là phát âm đúng hệ thống ngữ âm chuẩn Nói cách khác là phải đọc đúng chính âm (Không đọc theo cách phát âm của địa phương mà cách phát âm có sự sai lệch so với âm chuẩn) Phát âm đúng tiếng Việt là yêu cầu cần thiết, đọc đúng đòi hỏi thể hiện chính xác âm vị Để học sinh đọc đúng trong quá trình giảng dạy tôi đã cho các em phát hiện, so sánh, phân biệt, để từ đó các em phát
âm đúng hay đọc đúng các tiếng, từ chứa âm đầu, vần dễ lẫn trong các bài tập đọc và trong giao tiếp
VD1: Để luyện đọc đúng và phân biệt v/ph trong bài:
“ Nếu chúng mình có phép lạ.” (Tiếng Việt 4 tập 1 trang 76)
- Trong quá trình luyện đọc nối tiếp từng đoạn tôi phát hiện thấy các em đọc sai
tiếng phép->vép trong phép lạ Như vậy học sinh đã phát âm sai âm đầu ph thành v nên tôi đã sửa phát âm cho các em bằng cách hướng dẫn các em đánh vần lại tròn vành rõ tiếng: phờ- ép - phép Song đối với những em đọc chậm như
em Đình, em Dương tôi đọc mẫu, kết hợp miêu tả về cách phát âm và yêu cầu các em quan sát miệng vị trí môi khi đọc Bởi lẽ giọng phát âm của giáo viên chính là trực quan sinh động nhất đễ hiểu nhất đối với học sinh Chẳng hạn khi
đọc âm “v” thì đặt hàm răng trước ra phía trước môi dưới (giống như làm răng thỏ), còn khi đọc âm “ph” để hàm răng trước lên môi dưới và đẩy hơi ra (giống
như thỏ thổi bóng)
Trong luyện đọc với phương châm là sai đến đâu sửa ngay đến đó, vừa không tốn thời gian vừa sát với đối tượng học sinh Ngoài việc hướng dẫn cách phát âm chuẩn tôi còn đặc biệt chú ý đến hình thức tổ chức rèn luyện để tránh nhàm chán đơn điệu cho học sinh Có thể dưới hình thức luyện đọc theo nhóm, thông thường tôi sắp xếp những em đọc tốt kèm cặp những em đọc chậm Hay
tổ chức thi giữa các cá nhân, nhóm các em tự phát hiện ra sai lỗi của bạn và nêu cách sửa Tôi rèn cho các em kĩ năng nghe- nhận xét sửa sai giúp bạn và tự sự sai cho mình, các em sử dung các kĩ năng ấy thường xuyên trong các tiết học trở thành thói quen, tạo nề nếp học tập tốt hơn
Cách “tập phát âm” cho đúng này đòi hỏi nhiều thời gian, kiên trì bởi
tiếng địa phương là thói quen trong giao tiếp của các em, Để nâng cao năng lực phát âm chuẩn tiếng Việt tôi còn tích cực rèn luyện cho các em trong các môn
Trang 9học khác, mọi lúc, mọi nơi, kể cả khi ra chơi hoặc các hoạt động tập thể VD: Trong môn toán khi đọc các nội dung bài toán tôi thường ưu tiên những em học sinh đọc còn chậm được đọc nhiều hơn và lưu ý sửa những lỗi phát âm sai cho các em Nếu cả thầy và trò có thành công trong việc giúp nhau đọc đúng chuẩn thì sẽ giúp các em viết đúng chính tả được
Như vậy việc dạy học tốt phân môn tập đọc nói chung và việc luyện đọc đúng chính âm Tiếng Việt là yếu tố quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến việc viết đúng chính tả của các em Ngoài việc luyện tập trên lớp tôi còn định hướng cho phụ huynh các em về việc tạo môi trường giao tiếp bằng tiếng Việt ở gia đình
2.3.3 Sửa lỗi chính tả thông qua hệ thống bài tập chính tả:
Kết quả học tập của học sinh phản ánh chất lượng ngành giáo dục Để học sinh học tốt thì giáo viên phải dạy tốt Như vậy mỗi giáo viên phải tự biến quá trình dạy học của mình thành quá trình học của học sinh, biết dạy cho học sinh cách học và tự học Điều đó đòi hỏi mỗi giáo viên phải có trình độ sư phạm, luôn luôn tìm tòi sáng tạo, có sáng kiến mới trong dạy học, nắm vững nội dung, kiến thức, điều kiện thực tế lớp mình dạy, trang bị cho mình một vốn kiến thức
và phương pháp dạy học nhằm phát huy tính chủ động và sáng tạo của học sinh, khả năng làm việc độc lập và tự giải quyết các tình huống nảy sinh trong cuộc sống Giáo viên cần sớm tiến hành điều tra lỗi chính tả ở địa bàn mình công tác
để có biện pháp sửa sai kịp thời cho học sinh có hiệu quả học tập tốt hơn
Như chúng ta đã biết, học Tiếng Việt nói chung cũng như học Chính tả nói riêng, chủ yếu học bằng con đường thực hành là chính Chỉ có thông qua thực hành, bằng hệ thống bài tập mới có thể củng cố, khắc sâu tri thức, hình thành được các kỹ năng chính tả cần thiết Thực hành là một trong những nguyên tắc dạy chính tả quan trọng nhất giúp học sinh luyện tập để ghi nhớ các trường hợp viết đúng Dạy Chính tả phải trên cơ sở quy tắc chính tả và lỗi chính
tả học sinh thường mắc phải chứ không phải luyện tập chung chung Lỗi nào nhiều thì luyện tập nhiều, lỗi nào ít thì luyện tập ít
- Về chính tả nghe- viết:
Không những thực hiện đúng quy trình của một bài học chính tả mà tôi còn chú ý tới một số vấn đề sau:
+ Giọng đọc mẫu của giáo viên: Tôi xác định giọng đọc mẫu của giáo viên đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động nghe viết của học sinh Nếu giáo viên đọc sai chắc chắn dẫn đến học sinh đọc sai và viết sai Do vậy tôi luôn chuẩn bị tốt bài và tự học tự bồi dưỡng để đọc đúng chuẩn chính âm Tiếng Việt + Tôi đã giảm bớt phần trả lời câu hỏi tìm hiểu nội dung bài viết, dành thời gian cho học sinh đọc kĩ bài chính tả để so sánh phân biệt và luyện viết đúng những tiếng-từ dễ sai
+ Khai thác tối đa dữ liệu trong bài viết: Ngoài việc đảm bảo chuẩn kiến thức kĩ năng trong phân môn Chính tả thì người giáo viên cần biết khai thác tối đa các
dữ liệu có trong mỗi bài học từ đó vận dụng vào đối tượng học sinh mình một
cách phù hợp
+ Phần chấm chữa bài chính tả đòi hỏi đầu tư thời gian và công sức tỉ mỉ thì mới
mang lại hiệu quả cao Do vậy trong quá trình chấm, chữa bài và sửa lỗi cho các
Trang 10em tôi nhận xét trực tiếp, hướng dẫn cách khắc phục cho từng em và động viên khen kịp thời những em tiến bộ dù rất nhỏ
VD: Khi dạy bài nghe- viết: “ Cháu nghe câu chuyện của bà” (Tiếng Việt 4
Tập 1 trang 26) Không những hướng dẫn học sinh viết đúng những tiếng dễ sai như: chiều, trước, rưng rưng, dẫn,… Tôi hướng dẫn các em tìm ra các tiếng, từ :
cháu, sau, đau, mấy, ngày, hàng, mong Và yêu cầu các em trong nhóm thường
mắc lỗi ở những âm vần này tập viết ra vở nháp Sau khi các em viết xong tôi cho các em đối chứng với nhau và nhận xét lẫn nhau tìm ra đáp án đúng Bằng cách là đối chứng giữa cái sai và cái đúng để rút ra bài học
Vd: Sau khi học sinh nhận xét lẫn nhau tôi hướng dẫn kết luận: Hãy gạch chân dưới tiếng-từ viết sai trong các tiếng từ sau:
- cháu/chấu; sau/sâu, đau/đâu, mấy/mái, hàng/hằng, mông/mong.
Qua cách thực hiện này tôi thấy học sinh chủ động tích cực hơn trong sửa lỗi chính tả, đặc biệt giúp các em khắc sâu hơn kiến thức
VD2: Quy trình hướng dẫn chính tả nghe- viết bài: “ Kim tự tháp Ai Cập”
(Tiếng Việt 4 tập 2 trang 5)
- Giáo viên đọc bài chính tả Kim tự tháp Ai Cập (chú ý phát âm rõ các tiếng, từ
học sinh dễ viết sai chính tả: nhằng nhịt, chuyên chở, tảng, hành lang, phòng, phương tiện, nay ) Học sinh theo dõi sách giáo khoa.
- Học sinh đọc thầm lại đoạn văn, trả lời câu hỏi: Đoạn văn nói về điều gì ? ( Ca ngợi Kim tự tháp là một công trình kiến trúc vĩ đại của người Ai Cập cổ đại.)
- Giáo viên đọc cho học sinh viết (bảng lớp hoặc vở nháp) một số từ ngữ có
tiếng dễ viết sai chính tả: nhằng nhịt, chuyên chở, tảng, hành lang, phòng, phương tiện, nay (đây là những tiếng, từ chứa âm, vần học sinh lớp tôi dễ lẫn)
- Phân tích so sánh:
+ Giáo viên nêu vấn đề: Tiếng lang và lăng giống nhau điểm nào ? lang -> lăng khác nhau ở vần ang - >ăng
+ Với những học sinh tiếp thu chậm tôi hướng dẫn các em đánh vần lại từng tiếng, từ VD: a-ngờ-ang -> ă-ngờ-ăng Thực hiện tương tự với các từ - tiếng còn lại
- Nghe viết chính tả:
Giáo viên đọc cho học sinh nghe- viết chính tả theo quy định Khi học sinh viết xong, giáo viên đọc lại bài chính tả cho học sinh soát lại
- Chấm, chữa bài chính tả
+ Giáo viên hướng hẫn học sinh mở sách giáo khoa, tự kiểm tra và sửa lỗi bằng cách ghi tiếng, từ viết sai ra vở nháp
Sau đó đổi chéo vở cho nhau để kiểm tra soát lại
+ Giáo viên tổ chức cho học sinh sửa lỗi ngay tại lớp (Bước này giúp các em khắc sâu được kiến thức và tránh lặp lại ở bài viết sau)
- Về chính tả âm vần:
Như phân tích ở trên hệ thống bài tập chính tả trong sách giáo khoa TiếngViệt 4 hiện hành về cơ bản giúp học sinh sửa được các lỗi chính tả thường gặp như phân biệt tr/ch; s/x; r/d/gi; hay an/ang; ăn/ăng;ân/âng; hỏi/ ngã v.v (dùng cho học sinh nhóm 1-2) Nhưng thực tế giảng dạy tôi thấy những bài tập
giúp học sinh phân biệt v/ph, ong/ông, au/âu, dường như không có Do vậy