1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp chỉ đạo thực hiện đổi mới dạy học môn toán ở tiểu học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh

23 290 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 347,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Phương pháp dạy học có vai trò rất quan trọng trong việc dạy học ở Tiểu học.Vấn đề này được các nhà giáo dục và xã hội đặc biệt quan tâm, đòi hỏi các nhàquản lý và giáo

Trang 1

A LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phương pháp dạy học có vai trò rất quan trọng trong việc dạy học ở Tiểu học.Vấn đề này được các nhà giáo dục và xã hội đặc biệt quan tâm, đòi hỏi các nhàquản lý và giáo viên các trường Tiểu học phải có biện pháp quản lý giảng dạy phùhợp, không ngừng đổi mới phương pháp dạy học, nhằm hướng cho học sinh vàohoạt động học tập một cách tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo Vì thế phương

pháp dạy học trẻ đúng và phù hợp với đặc điểm tâm lý của trẻ đó là: “ Phát huy tính tích cực, tự giác chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực

tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”[1] Hay nói cách khác đổi mới

phương pháp dạy học (PPDH) là sự kết hợp nhuần nhuyễn, sáng tạo giữa kinhnghiệm của giáo viên với những yếu tố mới của PPDH hiện đại Đổi mới PPDH là

sự kết hợp đồng bộ của các khâu: Bồi dưỡng giáo viên, thiết bị dạy học, đánh giáhọc sinh và quản lý chỉ đạo Với cách nhìn từ phương pháp mới giáo viên có thểthực hiện việc cải tiến PPDH bằng nhiều cách khác nhau Nhiều tiết dạy đạt loạigiỏi ở hội thi giáo viện dạy giỏi, đôi khi chỉ cần một sự sáng tạo nhỏ trong sử dụng

đồ dùng dạy học, khai thác triệt để một khía cạnh trong nội dung sách học, xử lýtinh tế, nhanh nhạy một tình huống sư phạm…

Trong thực tế, thời gian gần đây nhiều giáo viên đã chú ý đến việc đổi mớiPPDH nhưng cũng còn có một số giáo viên chưa thật sự chú ý hoặc có đổi mới thìcũng mới chỉ dừng lại ở mức độ hết sức khiêm tốn và có phần hạn chế [2] Trướcmục tiêu giáo dục và yêu cầu của việc dạy học hiện nay, việc thực hiện đổi mớiPPDH của giáo viên rất cần thiết Vậy làm thế nào để công tác chỉ đạo đổi mớiPPDH môn Toán ở Tiểu học đạt hiệu quả

Là người trực tiếp làm công tác quản lý chỉ đạo chuyên môn trong nhà trườngtiểu học, bản thân không khỏi băn khoăn, trăn trở trước vần đề đặt ra Để góp phầnnâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường nói chung, nâng cao hiệu quả việcđổi mới phương pháp dạy học nói riêng Tôi đã nghiên cứu và áp dụng xin được

đưa ra trao đổi cùng đồng nghiệp “ Một số biện pháp chỉ đạo thực hiện đổi mới PPDH môn Toán ở Tiểu học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh”.

2 Mục đích nghiên cứu

Đưa ra một số biện pháp để chỉ đạo giáo viên áp dụng đổi mới PPDH mônToán ở trường Tiểu học nhằm nâng cao chất lượng dạy học

3 Đối tương nghiên cứu

- Giáo viên và việc áp dụng PPDH Toán của giáo viên ở trường Tiểu học

- Một số hạn chế của giáo viên khi thực hiện đổi mới PPDH

4 Phương pháp nghiên cứu

- Điều tra, phân tích, tổng hợp tìm nguyên nhân - Dùng biện pháp cụ thể áp dụngchỉ đạo giáo viên dạy học theo PP mới phát huy tính tích cực của học sinh

5 những điểm mới của sáng kiến “ Một số biện pháp chỉ đạo thực hiện đổi

mới PPDH môn Toán ở Tiểu học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh”:

Trang 2

Áp dụng đổi mới PPDH môn Toán ở Tiểu học cho dạy học toán cả mô hình dạyhọc truyền thống và cả dạy học theo mô hình mới Việt Nam (VNEN).

2 Cơ sở thực tiễn

Sự khác nhau căn bản của 2 quan điểm dạy học dẫn đến sự khác nhau trongviệc xác định các phương pháp cụ thể cho từng môn học, bài học, từng phần, từngđối tượng học sinh…. 

Thực hiện chương trình dạy học theo quan điểm dạy học lấy người học làmtrung tâm thì hoạt động của thầy và trò tương ứng như sau:

- Người học khai phá tri thức, tự nghiên cứu - Thầy chỉ hướng dẫn và cungcấp thông tin

 Người học tự trả lời các thắc mắc do chính mình đặt ra, tự kiểm tra mình Thầy là trọng tài

 Người học tự hành động, tự kiểm tra, tự điều chỉnh - Thầy làm cố vấn

Để thực hiện được quá trình dạy học theo quan điểm lấy người học làm trung tâmngười thầy giáo phải làm gì?

- Vai trò người thầy trong quá trình dạy học theo quan điểm lấy người học làtrung tâm không thể bị mờ nhạt mà trái lại còn rõ nét hơn, người thầy vẫn là “linhhồn” của giờ học sinh động và sáng tạo Bởi vì, để có thể làm người hướng dẫn,cung cấp thông tin, trọng tài, cố vấn… người thầy phải hiểu biết sâu sắc những kiếnthức cơ bản của môn học mình đảm nhiệm, đồng thời phải tự bổ sung vốn kiến thứccủa mình thường xuyên và có định hướng rõ ràng qua tài liệu, sách báo…

Trang 3

- Người thầy phải nắm vững bản chất và các quy luật của quá trình dạy học

để có thể tìm ra hoặc ứng dụng những phương pháp dạy học phù hợp với đối tượngcủa mình nhất

Một vấn đề quan trọng là, nhiều giáo viên nhận thức được sự cần thiết phảiđổi mới phương pháp nhưng rất khó từ bỏ các phương pháp đã quen dùng Do đó,muốn thực hiện đổi mới phương pháp dạy học thì trước hết là bản thân mỗi giáoviên phải ý thức được để chủ động từ bỏ các phương pháp dạy học truyền thống đãthành thói quen và chuyển hẳn sang các phương pháp mới

II Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

* Để có cơ sở nghiên cứu vấn đề này, tôi đã tìm hiểu thực trạng về hoạt độngđổi mới PPDH tại trường tiểu học và được biết:

1 Thực trạng chung

1.1 Về nhận thức của giáo viên:

Nhận thức của một bộ phận giáo viên về công tác đổi mới phương pháp cònmang tính chất đối phó, thực hiện cho có mà chưa chú trọng đến hiệu quả

Một số giáo viên chưa thực sự quan tâm đến đổi mới phương pháp dạy học, ít

có đầu tư cho bài dạy

1.3 Về kiểm tra đánh giá:

Công tác kiểm tra đánh giá gần đây tuy có nhiều đổi mới nhưng việc kiểm tra,đánh giá đôi khi vẫn còn nặng nề Chủ yếu mới là giáo viên đánh giá học sinh, còncác em tự đánh giá và tự đánh giá lẫn nhau thì cũng có nhưng chưa phải là việc làmthường xuyên

1.4 Về công tác quản lý chỉ đạo:

Công tác quản lý chỉ đạo đổi mới phương pháp đôi khi còn lỏng lẻo, chưađược quan tâm đúng mức

Kinh phí hỗ trợ cho các hoạt động bồi dưỡng đổi mới PPDH còn hạn hẹp.Tài liệu cho giáo viên nghiên cứu về việc đổi mới PPDH còn ít

2 Thực trạng của trường Tiểu học Thị Trấn:

Trình độ giáo viên 100% đạt chuẩn và trên chuẩn, đây là điều kiện thuận lợicho việc tiếp thu việc đổi mới PPDH các môn học Tiểu học nói chung, môn Toánnói riêng

Giáo viên được tập huấn chương trình dạy học của trường học mới Việt Nam,được trang bị về mục tiêu, nội dung chương trình và PPDH các môn học nói chung

và môn Toán Tiểu học nói riêng

Tuy nhiên việc tiếp cận chương trình và mô hình mới chưa thực sự chủ động

và sáng tạo nên một số giáo viên và học sinh còn gặp khó khăn trong dạy - học

Trang 4

Giáo viên mới sử dụng phương pháp, tổ chức cho học sinh hình thành khái niệm

mà chưa rèn được kỹ năng (hầu hết trong quá trình làm các bài tập học sinh đềugặp khó khăn nên hiệu quả học tập chưa cao)

Trong quá trình học tập, một số học sinh còn dè dặt chưa hợp tác, chưa mạnhdạn trong việc thể hiện cá nhân trong nhóm lớp, còn chờ đợi ý kiến của một số bạnđưa ra mới thống nhất…

Học sinh chưa nắm chắc kiến thức về mạch kiến thức học ở lớp dưới hoặccòn nắm bắt kiến thức một cách mơ hồ

Thụ động, lười suy nghĩ, áp dụng máy móc, kém linh hoạt

Kỹ năng thao tác vận dụng toán học còn hạn chế

3 Kết quả của thực trạng:

3.1 Kết quả khảo sát: Trong lần khảo sát chất lượng định kỳ cuối năm học

2015-2016 do nhà trường tự ra đề và đánh giá cho thấy chất lượng học sinh trườngTiểu học Thị Trấn Hà Trung chưa cao cần phải được quan tâm chỉ đạo đổi mớiphương pháp dạy học môn Toán để đưa chất lượng trường giữ vững chuẩn quốc giamức độ 2

Thống kê kết quả kiểm tra môn Toán kỳ II năm học 2015-2016

- Việc đổi mới phương pháp dạy học chưa đồng bộ, mới chỉ thể hiện rõ nét ở

số giáo viên giỏi, phụ trách ở một số lớp

- Công tác kiểm tra đánh giá việc bồi dưỡng PPDH chưa được thường xuyên

và liên tục, còn mang tính hình thức

- Chất lượng dạy học chưa thật sự được nâng cao, chưa đồng nhất ở tất cả cácmôn học

3.3 Vấn đề cấp thiết đặt ra: Vấn đề đặt ra là làm thế nào để các em có kết

quả học tập môn Toán tốt nhất ở cấp Tiểu học, làm nền tảng cho HS học Toán cáccấp học sau này?

Từ thực trạng trên, để hoạt động dạy học trong nhà trường đạt hiệu quả tốt

hơn, tôi đã mạnh dạn đưa ra “Một số biện pháp chỉ đạo thực hiện đổi mới

phương pháp dạy học môn Toán theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh”, áp dụng công tác chỉ đạo thực hiện chuyên môn trong nhà trường năm học

Trang 5

2016-2017 Với mong muốn, công tác dạy và học trong nhà trường nói chung, côngtác dạy và học môn Toán nói riêng đạt hiệu qủa tốt hơn Góp phần nâng cao chấtlượng dạy và học trong các nhà trường.

III Các giải pháp và tổ chức thực hiện nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Toán.

-Qua quá trình quản lý chỉ đạo chuyên môn trong nhà trường, tôi nhận thấyrằng để công tác đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học đạt hiệu quảtôi đã chỉ đạo giáo viên tập trung áp dụng các biện pháp cụ thể sau:

1 Biện pháp 1: Biết phối hợp các phương pháp dạy học và hình thức tổ

Vì vậy, ở mỗi bài dạy cụ thể tôi đã yêu cầu giáo viên phải biết tạo cơ hội đểhọc sinh bộc lộ tốt nhất những năng lực sở trường của cá nhân được thể hiện ở cáchhọc và dung lượng kiến thức đến với học sinh thông qua hệ thống câu hỏi, bàiluyện tập thực hành, sử dụng đồ dùng dạy học…

Tôi chỉ đạo giáo viên sử dụng các hình thức học tập theo định hướng đổi mớiphát huy tính tích cực học tập ở học sinh

* Học cá nhân: (trên lớp) HS hoạt động theo hướng dẫn của giáo viên

Trong lúc học cá nhân từng học sinh có thể hỏi ý kiến, trao đổi với bạn, vớigiáo viên Giáo viên theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra một số học sinh,

* Học theo nhóm: Tùy từng bài giáo viên có thể chia nhóm:

- Nhóm hỗn hợp: Hình thức này thường hoạt động đều trong các tiết học đểcác em giúp đỡ, tương tác, đánh giá lẫn nhau

- Nhóm theo trình độ ( Hay nhóm chuyên sâu): Thường áp dụng vào các tiếtthực hành Giáo viên có thể phụ đạo học sinh yếu: giao bài toán giống và tương tựmẫu; đồng thời bồi dưỡng học sinh khá, giỏi bằng cách: giao bài toán nâng cao haybài có tính sáng tạo, yếu tố sáng tạo

- Ngoài ra còn có thể chia nhóm theo địa bàn dân cư: xếp những học sinhcùng xóm, cùng trục đường để các em có thể giúp đỡ lẫn nhau học tập ngoài giờhọc ở trường ( nhóm bạn cùng tiến)

* Học theo lớp: Tất cả ý kiến của các nhóm được trao đổi, thảo luận rộng rãi

hơn để tìm ra những kết luận hợp lí Tại đây giáo viên sẽ thể hiện rõ vai trò “trọng

Trang 6

tài khoa học” giúp các em phân biệt đúng sai, hợp lí hay chưa hợp lí, nên làm theo

cách nào là phù hợp

Giúp các em làm từ những bài đơn giản, cơ bản đến những bài mang tính khái quát cao Chính từ những việc làm đó góp phần giáo dục các em ý chí vượt

khó, cẩn thận chu đáo khi làm việc, phát triển óc độc lập suy nghĩ, sáng tạo

Ví dụ: a Khi dạy Toán cho học sinh lớp 1 * Khi dạy bài 5 (trang 132 -SGK Toán 1): Điền dấu +, - vào chỗ …. 50 … 10 = 40 30 … 20 = 50 40… 0 = 40 Sau khi học sinh cả lớp thực hiện được yêu cầu của bài tập: điền dấu – vào chỗ … thứ nhất , dấu + vào chỗ … thứ 2 và dấu + hoặc dấu – vào chỗ … thứ 3 để có các phép tính đúng: 50- 10 = 40; 30+ 20 = 50; 40 – 0 = 40 hoặc 40 + 0 = 40 Giáo viên nên có những câu hỏi: vì sao em lại điền dấu – vào chỗ … thứ nhất mà không phải là dấu +?, tương tự như thế giáo viên đặt câu hỏi với các tình huống còn lại để học sinh suy nghĩ và trả lời Hoặc giáo viên có thể lật lại vấn đề bằng câu hỏi vì sao chỗ … thứ 3 lại điền được cả hai dấu + hoặc -? Các chỗ … còn lại không điền được cả hai dấu như thế? * Dạy bài 2 ( trang 172 – Toán 1) Viết số thích hợp vào ô trống: +3 -5

6 9

+2 +2 +3

8 4

Với bài tập này học sinh chỉ cần điền số thích hợp vào ô trống +3 -5

6 9 9 4

+2 +2 +3 8 10 4 6 9

Là đúng và đủ, đạt yêu cầu so với chuẩn kiến thức và kỹ năng Nhưng để tao cơ hội cho học sinh phát triển tư duy ngôn ngữ toán học, giáo viên cần yêu cầu học sinh nhìn vào sơ đồ đặt bài toán tương ứng với sơ đồ đã cho +3

Ví dụ: 6 Nhà An nuôi 6 con thỏ, Bố mua thêm 3 con thỏ nữa Hỏi nhà An có tất cả bao nhiêu con thỏ? - 5

9 Bình có 9 cái kẹo, Bình cho bạn 5 cái

Hỏi Bình còn lại bao nhiêu cái kẹo?

b Khi dạy Toán cho học sinh lớp 2

Dạy bài 3 ( trang 46 – HDH Toán 2 tập 1A) : Tính nhẩm:*

Trang 7

Giáo viên tổ chức cho học sinh nhận xét kết quả của 2 phép tính theo cột dọc

và yêu cầu học sinh phát hiện: vì sao 2 phép tính lại có kết quả bằng nhau?

* Khi dạy bài 64 Số bị chia- số chia- thương ( bài 3 tính nhẩm trang 45 –

c Khi dạy Toán cho học sinh lớp 3

* Dạy bảng nhân: bài tập cuối cùng của mỗi bài học đều có dạng:

Đếm thêm 7 rồi viết số thích hợp vào ô trống: ( trang 56 – HDH Toán 3 tập 1A)

Học sinh đếm rồi lần lượt điền vào 5 ô trống theo thư tự từ trái sang phải là:21; 28; 42; 49; 56; 70 Giáo viên tổ chức cho học sinh phát hiện: Các số trong dãynày chính là tích của 7 với các số tự nhiên liên tiếp từ 1 đến 10 mà trong bảng nhâncác em đã được học và giáo viên dùng kết quả của bài tập này để củng cố bài, kiểmtra việc ghi nhớ bảng nhân sau tiết học như: ( 21 là tích của 7 và bao nhiêu?, 42 làtích của 7 và bao nhiêu? )

Trong chương trình toán 3 học sinh được học phép chia hết và phép chia còn

dư, khi dạy phần nội dung này bắt buộc giáo viên phải tổ chức hướng dẫn để tất cảhọc sinh nắm được kĩ thuật chia, bên cạnh đó học sinh phải hiểu được phép chiacòn dư, số dư bao giờ cũng nhỏ hơn số chia (Nếu số dư lớn hơn hặc bằng số chiathì bước chia liền trước chưa thực hiện xong, cần phải thực hiện lại)

Bài 1: Tính rồi viết theo mẫu: (trang 53 – HDH Toán 3, tập1A)

Trang 8

Bài tập 4: (trang 54 – HDH Toán 3, tập 1A): Trong các phép chia có dư với

số chia là 3, số dư lớn nhất của các phép chia đó là:

Sau khi học sinh tìm được kết quả phép chia còn dư (bài tập 1) và số dư lớnnhất (bài 4), giáo viên khai thác thêm: Phải thêm vào số bị chia mấy đơn vị để phépchia thành phép chia hết? lúc này thương thay đổi thế nào?

Bài 2: (trang 20 – HDH Toán 3 tập 1B) Nêu bài toán rồi giải theo tóm tắt

4 + 1 = 5 ( phần)

Số quả táo của 2 mẹ con là:

9 x 5 = 45 (quả)

Đáp số: 45 quả

d Khi dạy Toán cho học sinh lớp 4

* Dạy bài: Chia một tích cho một số ( Trang 79- HDH Toán 4, tập 1B)

Học sinh tiến hành làm bài thông qua 2 ví dụ a và b rút ra được quy tắc, tôichỉ đạo giáo viên nên đưa ra câu hỏi: “ Khi chia một tích 2 thừa số cho 1 số; 2 thừa

số của tích như thế nào so với số chia thì làm được 3 cách, khi nào làm được 2 cách

và khi nào chỉ làm được một cách?” Khi đó học sinh dễ nhận thấy:

- Khi cả 2 thừa số của tích đều chia hết cho số đó ( 3 cách)

- Khi 1 trong 2 thừa số của tích chia hết cho số đó ( 2 cách)

- Khi không có thừa số nào của tích chia hết cho số đó ( 1 cách)

* Dạy dạng bài: So sánh 2 phân số( Trang 50- HDH Toán 4, tập 2A)

Các em học sinh thường hay :

- Quy đồng mẫu số hoặc tử số

- So sánh phần hơn hoặc phần bù của phân số so với đơn vị

- So sánh với phân số trung gian hoặc đơn vị

- So sánh bằng cách tìm thương của 2 phân số

Trang 9

Tôi hướng dẫn giáo viên có thể gợi ý, định hướng, khuyến khích cho học sinh giải bằng nhiều cách khác nhau ( đối với đối tượng học sinh khá giỏi); tùy theo mỗi dạng bài, mỗi bài cụ thể mà chọn cách so sánh hợp lý:

* Dùng “sơ đồ đoạn thẳng” để so sánh 2 phân số:

Ví dụ 1: So sánh 2 phân số và

Ta có sơ đồ:

- Từ sơ đồ ta thấy > Ví dụ 2: So sánh 2 phân số: và Ta có sơ đồ:

- Từ sơ đồ ta thấy <

* Cũng có thể gợi ý cho học sinh tìm thương của 2 phân số Nếu thương lớn hơn 1 thì số bị chia lớn hơn số chia Nếu thương nhỏ hơn 1 thì số bị chia nhỏ hơn số chia

Ví dụ: So sánh 2 phân số và

Ta thực hiện phép chia như sau: : =

So sánh thương với 1: <1

Thương nhỏ hơn 1 nên <

1.2 Dạy học tự phát hiện - Dạy học hợp tác nhóm

Với quan điểm đổi mới hiện nay, tất cả các PPDH cần phải tập trung vào hoạt động của học sinh Phải tạo điệu kiện cơ hội để học sinh tự tìm tòi khám phá, phát hiện nhưng nội dung mới của bài học Học sinh thông qua cách học tự phát hiện để từng nhóm tạo thói quen làm việc có phương pháp Tùy theo trình độ học sinh, giáo viên hướng dẫn học sinh biết cách phát hiện và giải quyết vấn đề theo các mức độ:

Nhận biết → Hiểu rõ → áp dụng vào thực tiễn → phân tích tổng hợp → nhận định đánh giá Trong từng hoạt động học tập mỗi học sinh phải thật sự làm việc để dần dần hình thành kỹ năng tự phát hiện Dạy học tự phát hiện sẽ hình thành cách học, cách làm việc trí óc hợp lý, khoa học cho học sinh Giáo viên phải

Trang 10

biết nâng cao năng lực chuyên môn và phương pháp tư duy độc lập sáng tạo nhằmđáp ứng yêu cầu tự phát hiện của học sinh.

Dạy học hợp tác nhóm là hình thức tổ chức dạy học có ý nghĩa và tác dụngtích cực Tất cả học sinh đều được làm việc và thực hành luyện tập, biết giúp đỡ lẫnnhau, giải quyết được những vấn đề khó và tìm ra cái mới trong bài học, tạo thái độhọc tập tích cực Đặc biệt bước đầu giúp các em làm quen với phong cách làm việchợp tác Khi tổ chức làm việc nhóm, giáo viên phải nêu rõ nhiệm vụ, chuẩn bịphương tiện đồ dùng học tập đầy đủ như phiếu học tập, mô hình… Xác định rõ nộidung nào, hoạt động nào của bài học cần làm việc nhóm Không tổ chức theo nhómmột cách máy móc, hình thức khi nội dung bài học không phù hợp với điều kiệnlớp học không phù hợp

Ví dụ:

a Dạy kiến thức mới

Một trong nhưng kiến thức trọng tâm của toán 2 là “ Bảng cộng, bảng trừ”

* Dạy bài: 9 cộng với một số

9 + 5 ( trang 31- HDH Toán 2, tập 1A)

Giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện:

Bước 1: Học sinh đọc bài toán

Bước 2: xuất hiện phép tính 9 + 5 = ?

Bước 3: Tìm kết quả của phép tính 9 + 5 = ?

Giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm để tìm kết quả của phép tínhthông qua thao tác trên que tính, các nhóm sẽ tìm ra kết quả bằng các cách khácnhau Học sinh đưa ra:

Cách 1: Tách 5 que tính thành 2 phần: 1 que tính và 4 que tính Lấy 9 quetính gộp với 1 que tính thành 10 que tính, 10 que tính thêm 4 que tính là 14 quetính

Cách 2: Đếm tiếp 9 que tính với 1 que tính là 10 que tính, 10 que tính thêm 1que tính là 11 que tính,…, 13 que tính thêm 1 que tính là 14 que tính

Cách 3: Gộp 9 que tính với 5 que tính rồi đếm lần lượt: 1 que tính, 2 quetính, 3 que tính, …, 14 que tính

Cách 4: Tách 9 que tính thành 2 phần: 5 que tính và 4 que tính; gộp 5 quetính với 5 que tính là 10 que tính, 10 que tính với 4 que tính là 14 que tính

Dù tìm kết quả bằng cách nào thì kết quả cuối cùng vẫn là 14 que tính và họcsinh điền kết quả vào phép tính: 9 + 5 = 14 Tuy nhiên để chuẩn bị cơ sở cho việcthực hiện phép cộng có nhớ ( qua 10) sau này, giáo viên nên giúp học sinh tự nhậnbiết (Thông qua các thao tác với que tính)

Trang 11

Giáo viên dùng bảng phụ xuất hiện bài toán: “ Tổng của 2 số là 70 Hiệu của

Để tìm ra cách giải, giáo viên gợi ý học sinh như sau:

? Có mấy cách để 2 đoạn thẳng biểu thị số lớn và số bé bằng nhau?

? Và lúc này tổng này thay đổi như thế nào?

Cách 1: Cắt đoạn thẳng biểu thị phần hơn của số lớn so với số bé, lúc này

tổng giảm đi 10 đơn vị

Số lớn:

10 70

Số bé:

Bài giảiHai lần số bé là: 70 – 10 = 60

Số bé là: 60 : 2 = 30

Số lớn là: 70 – 30 = 40Hoặc: Số lớn là: 30 + 10 = 40

Cách 2: Vẽ thêm đoạn thẳng biểu thị 10 đơn vị vào số bé, lúc này tổng sẽ

tăng thêm 10 đơn vị

Số lớn:

10 70

Số bé:

Bài giảiHai lần số lớn là: 70 + 10 = 80

Số lớn là: 80 : 2 = 40

Số bé là: 70 – 40 = 30Hoặc: Số bé là: 40 - 10 = 30

* Đối với học sinh khá giỏi, giáo viên có thể hướng dẫn thêm:

Cắt đoạn thẳng biểu thị 10 đơn vị làm 2 phần bằng nhau và chuyển một nửa đoạnthẳng này xuống nối với đoạn thẳng biểu thị số bé thì được 2 đoạn thẳng bằng nhau

Ngày đăng: 10/08/2017, 10:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w