Vì vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của thiên tai đến giá cả hàng hóa và sản lượng của các quốc gia trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng là một nhu cầu cần thiết nhằm giúp các
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN KHẮC HIẾU
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ LẠM PHÁT
TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 62310105
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP.HCM, Năm 2017
Trang 2Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học kinh tế TP HCM
Người hướng dẫn khoa học : TS Nguyễn Hoàng Bảo; TS Phạm Thị Thu Trà Phản biện 1 : Phản biện 2 : Phản biện 3 : Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường họp tại: Vào hồi giờ ngày tháng năm 2017
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Đại học kinh tế TP HCM
Trang 3DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
1 Nguyễn Khắc Hiếu và Nguyễn Hoàng Bảo (2016), "Tác động của thiên tai đến giá
cả hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ tại Việt Nam: Tiếp cận theo mô hình SVAR", Tạp
chí Phát triển Kinh tế 27(7), 51-69
2 Nguyễn Hoàng Bảo và Nguyễn Khắc Hiếu (2016), Tác động của thiên tai đến giá
cả tiêu dùng Việt Nam giai đoạn 2004-2014, Hội thảo “Lựa chọn tốt hơn cho kinh
tế Việt Nam: Từ lý thuyết đến thực tiễn”, Trường Đại học Kinh tế Tp.HCM
3 Nguyễn Khắc Hiếu và Nguyễn Hoàng Bảo (2016), "Tác động của thiên tai đối với
tăng trưởng kinh tế Việt Nam: Tiếp cận theo mô hình VAR", Tạp chí Phát triển Kinh tế 27(2), 35-52
4 Nguyễn Khắc Hiếu và Nguyễn Hoàng Bảo (2015), "Tác động của thiên tai đến thu
nhập đầu người tại Việt Nam: Tình huống bão Durian", Tạp chí Phát triển Kinh tế
26(7), 64-86
5 Nguyen Khac Hieu (2014), The impact of natural disaster on income per capita of Vietnamese: The case of Durian typhoon, International Conference on GTSD 2014,
HCMUTE
6 Nguyễn Khắc Hiếu và Nguyễn Thị Anh Vân (2014), "Dự báo lạm phát tại Việt
Nam bằng mô hình mạng thần kinh nhân tạo", Tạp chí Phát triển Kinh tế, 286,
15-35
7 Nguyễn Khắc Hiếu (2014), “Dự báo lạm phát sáu tháng cuối năm 2014”, Tạp chí
Kinh tế và dự báo, 16, 16-18
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1.1 Bối cảnh nghiên cứu
sự, 2014) từ đó có thể dẫn đến mất cân bằng cung cầu đối với một số thị trường hàng hóa hoặc mất cân bằng tổng cung, tổng cầu đối với toàn bộ nền kinh tế Mất cân bằng cung cầu sẽ ảnh hưởng đến sản lượng và giá cả của nền kinh tế Ngoài ra, giá cả hàng hóa và sản lượng là hai biến số quan trọng mà nhà nước cần kiểm soát nhằm vận hành nền kinh tế ổn định và phát triển Vì vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của thiên tai đến giá cả hàng hóa và sản lượng của các quốc gia trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng là một nhu cầu cần thiết nhằm giúp các nhà hoạch định có được những chính sách tốt để đối phó với những biến động kinh tế do thiên tai gây ra
Tại Việt Nam, những đề tài nghiên cứu về tác động của thiên tai đến các hoạt động kinh tế chủ yếu tập trung trả lời câu hỏi nhân quả1 Các đề tài không tập trung nhiều đến khía cạnh dự báo Từ đó dẫn đến việc thiếu những căn cứ khoa học trong việc
dự báo những tác động trong tương lai của thiên tai và thiếu các căn cứ khoa học trong việc ra các quyết định chính sách Từ bối cảnh thực tiễn trên, đề tài này nhằm lượng hóa tác động của thiên tai đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại Việt Nam,
1 Thiên tai có tác động đến các biến số kinh tế không?
Trang 5từ đó đề xuất những mô hình kinh tế lượng nhằm dự báo tác động của thiên tai đối với tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại Việt Nam Đồng thời đề tài cũng đưa ra một
số hàm ý chính sách nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của thiên tai
1.1.2 Bối cảnh lý thuyết
Về mặt lý thuyết, thiên tai có thể ảnh hưởng đến các biến số kinh tế cả trong ngắn hạn và trong dài hạn Trong ngắn hạn, những tác động của thiên tai đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát có thể được giải thích bằng mô hình tổng cung-tổng cầu
(Keynes, 1936) và mô hình cân bằng bên trong, cân bằng bên ngoài IB-EB (Salter, 1959) Trong dài hạn, những tác động của thiên tai đến tăng trưởng có thể được giải thích bằng mô hình tăng trưởng kinh tế của Solow (1956)
Nhiều nhà kinh tế học khác nhau đã có những nghiên cứu thực nghiệm khác nhau nhằm kiểm định lại sự hợp lý của các mô hình lý thuyết trên trong việc giải thích các tác động của thiên tai Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan sẽ được trình bày chi tiết trong phần 2.3 Từ việc lược khảo các nghiên cứu ta thấy, số công trình nghiên cứu ảnh hưởng của thiên tai đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam không nhiều, một số kết quả nghiên cứu chưa thống nhất với nhau Tác giả vẫn chưa tìm thấy một nghiên cứu nào tại Việt Nam nghiên cứu ảnh hưởng của thiên tai đối với tăng trưởng kinh tế trong dài hạn2 Ngoài ra, tác giả cũng chưa tìm thấy đề tài nào nghiên cứu ảnh hưởng của thiên tai đối với lạm phát tại Việt Nam Từ những lý do trên, tác quyết định thực hiện ba mục tiêu nghiên cứu nhằm lấp đầy các khe hở nghiên cứu đã tìm được
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được phân làm ba mục tiêu chính là: (1) phân tích tác động của thiên tai đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, (2) phân tích tác động của thiên tai đến lạm phát tại Việt Nam, (3) đánh giá tác động của thiên tai đối với thu nhập bình quân đầu người tại Việt Nam
2 Lý do có thể là do trong dài hạn có những hạn chế về mặt dữ liệu và những hạn chế về mặt phương pháp Ngoài ra, trong dài hạn ta khó có thể tách được các tác động nhiễu dẫn đến kết quả nghiên cứu sẽ ít có ý nghĩa thống kê
Trang 61.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, đối tượng nghiên cứu được giới hạn là thiên tai và những tác động của thiên tai đối với một số biến số kinh tế tại Việt Nam Thuật ngữ thiên tai sẽ được định nghĩa chi tiết trong mục 2.1 của đề tài Đối với phạm vi nghiên cứu, tác giả giới hạn việc nghiên cứu thiên tai chỉ tại Việt Nam mà không nghiên cứu thiên tai các các quốc gia khác trên thế giới với mục đích là các hàm ý chính sách đi kèm với kết quả nghiên cứu sẽ sát với thực tiễn của Việt Nam hơn
1.4 Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu
Đề tài sử dụng hai phương pháp định lượng là kiểm soát tích hợp (Synthetic Control) và phương pháp tự hồi quy vectơ có cấu trúc (SVAR) Dữ liệu cho nghiên cứu gồm hai phần chính đó là dữ liệu về thiên tai và dữ liệu về các biến số kinh tế
Dữ liệu về các biến số kinh tế trong nghiên cứu được thu thập chủ yếu từ ba nguồn
đó là Tổng cục Thống kê, Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB)
Dữ liệu về thiên tai được thu thập từ Tổng cục Thống kê, CRED và DESINVENTAR
1.5 Ý nghĩa đề tài
Về mặt lý thuyết, đề tài đã kiểm chứng lại sự phù hợp của mô hình tổng cung-tổng
cầu (Keynes, 1936), mô hình IB-EB (Salter, 1959) và mô hình tăng trưởng kinh tế
Solow (1956) trong việc lý giải tác động của thiên tai đối với tăng trưởng kinh tế và lạm phát, đặc biệt là trong bối cảnh một quốc gia cụ thể như Việt Nam
Về mặt thực nghiệm, đề tài đã lượng hóa được những tác động của thiên tai và đưa
ra các mô hình dự báo tác động thiên tai đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát Các kết quả trên có thể giúp các nhà hoạch định chính sách có thêm những bằng chứng thực nghiệm về những tác động của thiên tai Đó là những cơ sở khoa học để các nhà hoạch định chính sách có được những quyết định phù hợp khi thiên tai xảy ra từ
đó có thể giảm nhẹ được những tác động tiêu cực của thiên tai cũng như có thể dự báo được các kịch bản kinh tế trong tình huống có thiên tai
Trang 7CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các khái niệm liên quan
Phần này sẽ trình bày khái niệm về thiên tai, tăng trưởng kinh tế, lạm phát và thu nhập bình quân đầu người Theo Trung Tâm Phòng Tránh Và Giảm Nhẹ Thiên Tai
DMC (2017), “Thiên tai (Natural disaster) là quá trình hay hiện tượng tự nhiên có
thể gây chết người, thương tích hoặc các tác động khác tới sức khỏe, gây thiệt hại
về tài sản, sinh kế và các dịch vụ, làm gián đoạn các hoạt động kinh tế - xã hội, hoặc gây thiệt hại về môi trường.” Các hiện tượng tự nhiên được gọi là thiên tai
gồm có: bão, áp thấp nhiệt đới, lũ, lũ quét, ngập lụt, mưa lớn, lốc, sét, sạt lở đất, nước dâng, động đất, sóng thần, hạn hán, nắng nóng, rét hại, mưa đá, sụt lún đất và xâm nhập mặn
Theo Howitt và Weil (2008) trong cuốn The New Palgrave Dictionary of
Economics thì tăng trưởng kinh tế được định nghĩa sự gia tăng mức sống của một
quốc gia trong một khoảng thời gian (“Economic growth is the increase in a
country's standard of living over time”) Khái niệm lạm phát được sử dụng trong
nghiên cứu này chính là việc tăng giá cả hàng hóa (bao gồm cả dịch vụ) trong rổ hàng hóa tiêu dùng được thu thập bởi Tổng cục Thống kê để tính ra chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Theo Tổng cục Thống kê (2016a), thu nhập bình quân đầu người theo tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ dân cư cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng
2.2 Các mô hình lý thuyết liên quan
Mô hình Solow và tác động của thiên tai trong dài hạn
Trong mô hình Solow (1956), có ba thông số chính ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh
tế trong dài hạn đó là: gA đại diện cho tiến bộ cộng nghệ, gK đại diện cho tăng trưởng nguồn vốn và gL đại diện cho tăng trưởng lao động Mankiw và cộng sự (1992) đã bổ sung thêm yếu tố vốn nhân lực (H) vào mô hình Solow (1956) để phát triển thành mô hình tăng trưởng nội sinh Tăng trưởng vốn nhân lực được ký hiệu là
Trang 8gH Khi thiên tai xảy ra, nó sẽ ảnh hưởng đến gA, gK, gH và gL từ đó dẫn đến ảnh hưởng đối với tăng trưởng kinh tế trong dài hạn của một quốc gia
Mô hình tổng cung-tổng cầu
Khi thiên tai xảy ra tổng cung của nền kinh tế sẽ giảm do những tác động của thiên tai đến công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ Tổng cầu thì ít bị ảnh hưởng sau thiên tai Theo mô hình tổng cung-tổng cầu (Keynes, 1936), nền kinh tế sẽ bị giảm sản lượng và giá cả hàng hóa gia tăng khi thiên tai xảy ra Với việc sử dụng mô hình tổng cung-tổng cầu ta đã giải thích được tác động ngắn hạn của thiên tai đối với tăng trưởng kinh tế và giá cả hàng hóa tại Việt Nam
Mô hình IB-EB
Theo Salter (1959), một nền kinh tế mở và nhỏ có hai loại hàng hóa chính đó là hàng hóa ngoại thương (Tradable goods) và hàng hóa phi ngoại thương (Non tradable goods) Cân bằng bên ngoài (EB) là cân bằng cung cầu đạt được đối với hàng hóa ngoại thương Cân bằng bên trong (IB) là trạng thái cân bằng đối với hàng hóa phi ngoại thương Kết hợp cân bằng bên ngoài và cân bằng bên trong ta có được điểm hạnh phúc (bliss point) tại đó nền kinh tế không có lạm phát, thất nghiệp bằng với thất nghiệp tự nhiên và cán cân ngoại thương cân bằng (không thặng dư, không thâm hụt) Khi thiên tai xảy ra làm cho nền kinh tế mất cân bằng hay nền kinh tế rởi vào trạng thái lạm phát và thâm hụt ngân sách Điều này giải thích cho việc tăng giá
cả hàng hóa tiêu dùng sau thiên tai
2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan
2.3.1 Tác động thiên tai đến tăng trưởng kinh tế
Kết quả các nghiên cứu thực nghiệm tác động của thiên tai đến tăng trưởng kinh tế được tóm tắt trong bảng sau đây
Trang 9Bảng 2.1: Kết quả lược khảo tác động của thiên tai lên tăng trưởng kinh tế
cứu
Phương pháp nghiên cứu
Phân tích thống kê trước và sau thiên tai
Thiên tai có tác động làm tăng 0,4% GDP
Decon
(2004)
Dữ liệu của 350 hộ gia đình ở vùng nông thôn Ethiopia từ 1989-1997
Fixed effects,
(Hausman &
Taylor, 1981) và GMM
Nếu lượng mưa giảm 10% thì tăng trưởng kinh tế sẽ giảm 1%
Thiên tai có liên quan đến khí hậu làm giảm 0,2% GDP đầu người
Noy (2009) Dữ liệu bảng của 109
Noy và Vũ
Băng Tâm
(2010)
Dữ liệu bảng của 6 vùng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn từ 1995-2006
Phương pháp generalized method
of moments (GMM)
Thiên tai thiệt hại nhiều
về tài sản thì sẽ làm tăng sản lượng đầu ra
Hạn hán có ảnh hưởng tiêu cực trong khi lũ lụt
có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng
Strobl
(2012)
Dữ liệu của 409 hạt nằm trong 19 bang ven biển của Mỹ từ 1975-2005
Phương pháp Least Squares Dummy Variable (LSDV)
Bão làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế 0,45%
Phương pháp GMM Đối với những nước
đang phát triển bão có ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển nông nghiệp
Hồi quy dữ liệu lớn (meta-regression analysis)
Thiên tai có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng trong ngắn hạn
Doyle và
Noy (2015)
Dữ liệu chuỗi thời gian theo quý của New Zealand từ Q4-1992 đến Q1-2013
Phương pháp tự hồi quy vector có biến ngoại sinh (VARX)
Động đất làm giảm sản lượng đầu ra và chỉ số giá tiêu dùng tại New Zealand
Trang 10Bài báo Mẫu / Dữ liệu nghiên
cứu
Phương pháp nghiên cứu
Kết quả tác động trong dài hạn
fixed-Thiên tai gây ra thiệt hại lớn về người làm giảm tăng trưởng kinh
Phương pháp Synthetic Control
Thiên tai không ảnh hưởng đến sản lượng đầu ra cả trong ngắn hạn và dài hạn
Động đất làm giảm GDP bình quân đầu người tại Ý
Nguồn: tổng hợp của tác giả
2.3.2 Tác động thiên tai đến giá cả hàng hóa
Nghiên cứu điển hình trong nhánh nghiên cứu này là công trình của Cavallo và cộng sự (2014) Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù hàng hóa bị thiếu hụt 32% ở Chile và 17% ở Nhật Bản sau thiên tai nhưng giá cả hàng hóa vẫn không tăng Ngược lại, nghiên cứu của Benson (1997) về bão Kira xảy ra vào tháng 1 năm 1993
ở Fiji cho thấy, bão làm tăng 6,8% giá cả lương thực, thực phẩm tại đây Cuối cùng, bão Katrina làm tăng giá cả hàng hóa 1,4% so với mức giá trị trung bình trước bão (Gagnon and Lopez-Salido, 2014)
2.3.3 Tác động thiên tai đến thu nhập và chi tiêu hộ gia đình
Đầu tiên, Paxson (1992) nghiên cứu tác động của mưa, lũ lên thu nhập hộ gia đình tại Thái Lan Tiếp theo, Datt và Hoogeween (2003) nghiên cứu ảnh hưởng của hiện tượng El Nino3 lên thu nhập bình quân đầu người tại Philippines Kết quả cho thấy, thiên tai làm giảm thu nhập bình quân đầu người tại hai quốc gia trên Tại Mỹ,
3
Là hiện tượng nước biển ở phía đông Thái Bình Dương có nhiệt độ cao hơn bất thường so với nhiệt độ trung bình Điều này làm cho một lượng lớn hơi nước bốc hơi và dẫn đến mưa lớn và lũ lụt ở một số quốc gia Ngược lại, một số quốc gia khác lại rơi vào cảnh hạn hán như: Úc, Philippines, Indonesia, Thái Lan và Việt Nam
Trang 11Masozera và cộng sự (2007) cho rằng bão Katrina ảnh hưởng nghiêm trọng đến thu nhập người dân New Orleans bất kể họ có thu nhập cao hay thấp Tương tự,
Coffman và Noy (2011) khẳng định bão Iniki có ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập
cá nhân, làm giảm 12% dân số và giảm 15% việc làm của đảo Ngoài ảnh hưởng đến thu nhập, thiên tai còn có tác động đến tốc độ tăng thu nhập (Fuente, 2010) và bất bình đẳng trong phân bố thu nhập (Yamamura, 2015)
Tại Việt Nam, Vũ Băng Tâm và Eric Iksoon Im (2014) khẳng định, thiên tai không
có tác động đến thu nhập bình quân đầu người, nhưng có tác động đồng biến lên đầu tư nhà ở và hoạt động nội thương tại Việt Nam Ngược lại, Arouri và cộng sự (2015) khẳng định thiên tai có tác động tiêu cực đến thu nhập và chi tiêu hộ gia đình tại Việt Nam Ngoài thu nhập một số tác giả còn nghiên cứu ảnh hưởng của thiên tai đến tiền lương của người dân, điển hình là nghiên cứu của Benerjee (2007); Mueller
và Osgood (2009); Shah và Steinberg (2012) Cuối cùng, Shah và Steinberg (2012)
khẳng định trong năm xảy ra hạn hán công việc và tiền lương của người dân nhận được sẽ ít hơn
Khi thu nhập bị giảm do tác động của thiên tai người dân có xu hướng điều chỉnh chi tiêu của mình Người dân có xu hướng cắt giảm chi tiêu (Arouri và cộng sự, 2015; Khandker, 2007) hoặc chuyển sang tiêu dùng những thực phẩm rẻ tiền hơn và nhiều calo hơn (Hou, 2010) Người dân cũng có xu hướng chuyển qua tiêu dùng những sản phẩm do mình từ làm ra (Lê Đăng Trung, 2013)
2.3.4 Tác động thiên tai đến một số biến số kinh tế, xã hội khác
Tác động của thiên tai đến các biến số kinh tế xã hội khác có thể được tóm tắt trong bảng sau đây:
Bảng 2.2: Kết quả tác động của thiên tai đến các biến số kinh tế, xã hội khác
Thomas và cộng sự
(2010)
23% phúc lợi bị giảm do bão và lũ lụt
Lê Đăng Trung (2013) Sản lượng lúa gạo bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhưng thu
Trang 12nhập từ nông nghiệp thì không bị ảnh hưởng từ bão Damrey
Thiên tai làm tăng tỷ lệ nghèo tại Peru
Cuaresma (2009) Thiên tai liên quan đến địa chất như động đất và lở tuyết
làm giảm vốn con người ở các quốc gia
Noy và Nualsri (2011) Tại các quốc gia phát triển chính phủ chi tiêu nhiều hơn
sau thiên tai, trong khi tại các quốc gia đang phát triển chính phủ lại chi tiêu ít hơn sau thiên tai
Carter và cộng sự
(2007)
Những hộ gia định có thu nhập thấp ít có khả năng phục hồi các tài sản bị thiệt hại sau thiên tai và thời gian phục hồi lâu hơn những hộ gia đình có thu nhập cao hơn
Jakobsen (2012) Bão Mitch không có ảnh hưởng đến các tài sản sản xuất
(Productive assets) nhưng có ảnh hưởng làm giảm các tài sản phi sản xuất (Non-productive assets)
Bão nhỏ (low-severity storm) có ảnh hưởng tích cực đến
tỷ lệ sinh trong khi bão lớn (high-severity storm) có ảnh hưởng tiêu cực đến tỷ lệ sinh
Jensen (2000) Những thay đổi đột ngột về lượng mưa làm giảm tỷ lệ đi