Đặc biệt, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã chỉ rõ “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
Trang 1I MỞ ĐẦU
1 Lý do chon đề tài
Đất nước ta đang thời kỳ CNH-HĐH và hội nhập quốc tế, để đáp ứng được yêu cầu cách mạng mới đó đòi hỏi phải có nguồn nhân lực đủ mạnh cả về
số lượng và chất lượng.Vì con người vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy
sự phát triển của xã hội Để làm được điều đó không có con đường nào tốt hơn bằng công tác giáo dục Chính vì vậy Đảng ta đã khẳng định “Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” [1]; Nghị quyết Đại hội XI của Đảng một lần nữa đã tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo đồng thời xác định, định hướng nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo Đặc biệt, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã chỉ rõ
“Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập quốc tế” đã xác định rõ các quan điểm, mục tiêu phát triển giáo dục
và đào tạo trong thời gian tới; các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo; định hướng các mục tiêu, đối tượng cần ưu tiên đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước và đổi mới chính sách, cơ chế tài chính để huy động
sự tham gia đóng góp của xã hội vào phát triển giáo dục và đào tạo, góp phần hoàn thành mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Để tạo hành lang pháp lý cho các nguồn lực của xã hội đầu tư nhiều hơn vào giáo dục, đào tạo và tạo thuận lợi cho các cơ sở giáo dục được hưởng chính sách
ưu đãi xã hội; Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; Nghị định số 59/2014/NĐ-CP sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP cho phù hợp với tình hình thực tiễn Tất cả các chủ trương trên của Đảng nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục và Đào tạo là phát triển con người toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và năng lực nghề nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu kinh tế xã hội
và tiến bộ khoa học công nghệ Mục tiêu đó không thể tiến hành được nếu môi trường gia đình và xã hội không lành mạnh, nếu kinh tế, khoa học công nghệ không phát triển đến một trình độ nào đó Chỉ có sự tham gia trực tiếp hay gián tiếp của gia đình và xã hội mới tạo ra môi trường thuận tiện cho GD, khi đó GD mới có điều kiện thực hiện mục tiêu một các tốt nhất Phải khẳng định rằng phát triển giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, của nhà nước và mỗi cộng đồng, của từng gia đình và mỗi người dân
Trong những năm qua Đảng và nhà nước ta đã không ngừng đầu tư mọi nguồn lực cho GD, tuy nhiên việc đầu tư chưa thể đáp ứng được theo yêu cầu giáo dục đương đại Do đó các điều kiện cần và đủ để đáp ứng cho GD chưa ngang tầm với yêu cầu đặt ra, làm cho công tác GD gặp nhiều khó khăn bất cập, CSVC-TTB thiếu thốn, sự phối hợp vào cuộc của các lực lương khác trong xã hội chưa rõ nét, chưa thường xuyên, cơ bản là trông cậy vào nhà trường là chính,
Trang 2chưa tạo được sức mạnh tổng hợp để đầu tư cho GD dẫn đến chất lượng GD chưa cao, chưa ngang tầm với vị trí “ GD là quốc sách hàng đầu”
Trường MN Bãi Trành nằm trong tình trạng này, do vậy nhà trường có lịch sử phát triển nhiều năm mà CSVC-TTB thiếu thốn, cảnh quan môi trường đơn điệu, chất lượng tuy có tăng lên tuy nhiên tăng chậm và thiếu sự bền vững, chưa tương xứng với điều kiện kinh tế, dân trí, văn hóa mà địa phương hiện có Chính vì vậy tôi đã chọn “ Một số kinh nghiệm trong công tác huy động xã hội hoá giáo dục ở trường mầm non Bãi Trành năm học 2015-2016 và 2016-2017” làm đề tài nghiên cứu với hy vọng huy động được nhiều nguồn lực để phát triển nhà trường, từng bước đáp ứng yêu cầu về nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH và hội nhập quốc tế
2.Mục đích nghiên cứu
Mục đích đề tại hướng tới là huy động các nguồn lực đầu tư cho việc nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục (CSNDGD) trẻ
3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài hướng tới là các giải pháp để huy động sự tham gia của các lực lượng trong xã hội cho nhà trường
4.Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát, điều tra thực trạng, phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê
II NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận
XHHGD là huy động mọi nguồn lực đầu tư khác từ các lực lượng xã hội, các cá nhân cho GD, thực hiện Nhà nước và nhân dân cùng làm để phát triển
GD Công tác GD, đặc biệt là GD thế hệ trẻ được giao cho một thiết chế chuyên biệt- thiết chế GD.Thiết chế này bao gồm hệ thống các ngành học, bậc học mà đơn vị cơ sở là nhà trường Nhà trường giữ vai trò chủ đạo trong công tác XHHGD bên cạnh các lực lượng xã hội với vai trò riêng mang tính đặc thù của từng lực lượng xã hội đó Chúng ta đã biết đầu tư cho GD là đầu tư cho phát triển, vì vậy Đảng và nhà nước ta thường xuyên có những chính sách và giải pháp để thúc đẩy nền GD nước nhà “ Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân xây dựng nền GD quốc dân dưới sự quản lý của nhà nước” [2]; XHHGD còn được chính phủ ta cụ thể hoá bằng “ Phương hướng và chủ trương xã hội hoá công tác GD, y tế, văn hoá”[3] Về phía ngành GD&ĐT cũng đã có những quy định rất cụ thể về công tác XHHGD; "Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp GD, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu GD, xây dựng môi trường GD lành mạnh và an toàn" [4]
Trong giai đoạn hiện nay XHHGD đã phát triển mạnh mẽ nhiều nơi trong
cả nước, đặc biệt là các vùng kinh tế phát triển Điều đó càng chứng tỏ tính đúng đắn của chủ trương này, nó như một giải pháp thực sự có hiệu quả cao trong công tác phát triển GD &ĐT Bởi lẽ chính nội dung đặc thù của XHHGD mang bản chất rõ ràng: “ Bản chất của XHHGD là biến việc GD của một số người
Trang 3thành việc GD của mọi người, là tạo thời cơ để mọi tầng lớp nhân dân tham gia trực tiếp vào việc công tác GD trong một hệ thống điều khiển đựơc” [5] Điều này thể hiện rất rõ đặc điểm của XHHCTGD; Đó là:Việc huy động sức mạnh tổng hợp của các ngành liên quan đến GD vào việc phát triển sự nghiệp GD Sự huy động này được làm thường xuyên theo một cơ chế vận hành xác định, được xây dựng từ cấp trung ương đến địa phương trên cơ sở phát triển chiến lược GD lâu dài cho cả nước cũng như cho mỗi địa phương, địa bàn dân cư nhất định
Việc huy động các lực lượng trong cộng đồng tham gia vào công tác GD trên nhiều lĩnh vực hoạt động, với nhiều hình thức đa dạng; Các lực lượng đó là: Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội cha mẹ học sinh, Hội Khuyến học, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân đặc biệt là gia đình,
họ tộc đang ngày càng đóng vai trò trực tiếp quan trọng trong công tác GD Sự tham gia của các lực lượng này sẽ làm cho GD gắn bó với cộng đồng, do cộng đồng thực hiện và vì lợi ích cộng đồng
XHHGD còn là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực, tài lực trong xã hội, phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực từ nhân dân, tạo điều kiện cho GD phát triển Đây là giải pháp lâu dài vừa có tính thời sự, vừa mang tính chiến lược trong điều kiện nhà nước ta chưa
có đủ kinh phí cần thiết đầu tư cho các hoạt động GD ngang tầm yêu cầu thời đại đặt ra
XHHGD chỉ có thể thực hiện thành công khi có sự lãnh đạo trực tiếp, thường xuyên của Đảng, sự quản lý chặt chẽ của nhà nước và vai trò chủ đạo nòng cốt là của ngành GD Trên thế giới XHHGD được sử dụng bằng thuật ngữ
“ Sự tham gia của cộng đồng vào GD”; Rõ ràng XHHGD là một thuật ngữ được
sử dụng rộng rãi trên thế giới
2 Thực trạng của công tác XHHGD trước khi áp dụng đề tài
2.1 Đặc điểm tình hình
Trường MN Bãi Trành đóng trên địa bàn xã Bãi Trành huyện Như Xuân,
là xã thuộc chương trình 30 a của Chính phủ; Tổng số hộ 1.258, với 5.488 nhân khẩu Nhà trường được thành lập từ năm 1991; Cán bộ quản lý của trường đã 2 lần thay đổi Hiệu trưởng Qua 24 năm xây dựng và trưởng thành trường đã chuyển địa điểm 2 lần, nhà trường đã có nhiều cố gắng trong quản lý chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ Hàng năm chất lượng mũi nhọn của trường luôn đạt được ở mức khá trở lên.Tuy nhiên nhà trường vẫn chưa tạo được ngôi trường thân thiện- xanh- sạch- đẹp.Trong quá trình xây dựng và trưởng thành nhà trường đã chịu những tác động như sau:
2.2.Thuận lợi
Công tác XHHGD của nhà trường đã được Đảng,chính quyền địa phương, Phòng GD&ĐT, UBND huyện quan tâm, bằng việc ra các văn bản hướng dẫn thực hiện XHHGD; Thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra các nhà trường thực hiện công tác XHHGD đúng đường lối của Đảng, nhà nước; Công tác XHHGD đã và đang ngày càng thấm nhuần sâu rộng hơn trong cấp uỷ Đảng, chính quyền và toàn thể nhân dân, nhất là lực lượng cán bộ quản lý nhà trường của các bậc học
Trang 4Đội ngũ CBGVNV cơ bản trẻ, khỏe,100 % đã đạt đạt trình độ chuẩn trở lên, đa số CBGVNV yêu nghề, luôn bám lớp, bám trường, đoàn kết; Môi trường
GD lành mạnh; Các đồng chí trong Ban giám hiệu đều là những người năng động, sáng tạo, tận tụy, tâm huyết, luôn đi đầu trong mọi phong trào thi đua Hàng năm nhà trường đều có giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi cấp huyện, có năm đã có học sinh và giáo viên giỏi cấp tỉnh
2.3 Khó khăn
Sự nhận thức về XHHGD của một bộ phận không nhỏ cán bộ ban ngành đoàn thể và nhân dân ở địa phương chưa thật sự sâu sắc, có khi còn mơ hồ cho rằng XHHGD là nếu có tiền thì ủng hộ một ít, nếu không có thì thôi, tất cả là trách nhiệm của nhà nước và của các nhà trường Một số ít người hiểu đúng về vấn đề XHHGD thì lực bất tòng tâm, vật chất không có; không có điều kiện tham gia hội họp ở những chỗ, những nơi có thể góp ý tuyên truyền được cho
GD Một số cán bộ xã, cán bộ thôn bản có hiểu biết nhất định về XHHGD thì thiếu phương pháp tuyên truyền do năng lực thuyết trình còn hạn chế, nhất là các cán bộ đoàn thể ở xã, ở thôn bản mà ở đó họ là lực lựợng chủ chốt… Tất cả các vấn đề trên đều ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả công tác chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ, nhất là trẻ mầm non vì bậc học mầm non là bậc học còn non trẻ so với các bậc học trên, là bậc học đòi hỏi đầu tư CSVC-TTB phải đồng bộ và tỷ mỉ trong khi nhà nước ta chưa đủ sức đáp ứng được theo yêu cầu đặt ra Đòi hỏi phải có sự đầu tư từ nhiều phía đặc biệt là các nguồn lực từ trong nhân dân, các thành phần kinh tế, các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp…
2.4 Nguyên nhân của những thực trạng trên
Công tác tham mưu và tuyên truyền về XHHGD chưa thường xuyên Các hình thức XHHGD chưa phong phú, đa dạng
Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhân dân địa phương, trong đó
có cả giáo viên, nhân viên của trường chưa thật sự quan tâm đến công tác XHHGD, một bộ phận khác lại nặng tư tưởng trông chờ ỷ lại vào nhà nước; Một số phụ huynh chưa nhận thức đúng đắn vai trò của gia đình trong việc phối hợp với nhà trường để CSGD trẻ…
2.5 Kết quả của thực trạng
CSVC thiếu thốn; 58,7% số phòng học bị xuống cấp mạnh TTB thiếu về
số lượng và thiếu sự đồng bộ, cảnh quan môi trường giáo dục vừa chật hẹp vừa đơn điệu Tỷ lệ trẻ ra lớp so với trẻ có trên địa bàn 61,9%
Tỷ lệ huy động trẻ nhà trẻ đạt 25,2 %; Mẫu giáo dưới 74,9 %
Hàng năm thường có trên 10% trẻ trong địa bàn đi học ở trường lân cận
Tỷ lệ trẻ bán trú đạt 46,7% so với tổng số trẻ ra lớp
Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng về cân nặng 8,2 %
Tỷ lệ trẻ thấp còi về chiều cao năm thấp nhất là 8,5 %
Tỷ lệ trẻ chuyên cần 86,7 % trẻ 5 tuổi là 88,4 %, trẻ dưới 5 tuổi là 81,1 % Trẻ xếp loại Đạt chuẩn kiến thức theo độ tuổi 95,8%
Trẻ đạt loại khá trở lên 48,9 %
Trang 5Sự chênh lệch chất lượng giữa khu chính và các khu lẻ cao
Tỷ lệ GV đạt loại khá trở lên theo chuẩn nghề nghiệp 70,3 %
Chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ năm cao, năm thấp, thiếu tính bền vững
Viên chức hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên 68,8 % Danh hiệu lao động tiên tiến 74,1 % Xuất phát từ thực trạng chung này nhà trường đã áp dụng một
số giải pháp để thực hiện công tác XHHGD tại trường như sau:
3.Các giải pháp thực hiện xã hôi hoá giáo dục
Giải pháp thứ nhất: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nghiên cứu lý luận, nâng cao nhận thức về công tác xã hội hóa giáo dục
Để làm tốt công tác XHHGD cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về xã hội hóa giáo dục Trong nhà trường, tham gia vào công tác
xã hội hóa giáo dục là các tổ chức, các cán bộ, giáo viên, nhân viên Vì vậy, để làm tốt công tác xã hội hóa, nhà trường phổ biến tới cán bộ, giáo, nhân viên một
số văn bản như: Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997- CP “Về phương hướng
và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa”; Nghị định số 73/1999/NĐ-CP, Thông tư số 29 của BGD&ĐT “Quy định về tài trợ cho các cơ
sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân” và một số văn bản hướng dẫn của tỉnh về việc huy động XHHGD giúp CBGV-NV hiểu được các nội dung về công tác xã hội hóa đồng thời giáo viên nhận thức sâu sắc hơn các vấn đề như:
+ Mục đích của công tác XHHGD là để xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi cho các hoạt động giáo dục của nhà trường Công tác này cũng góp phần mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động giáo dục phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn Đây là chính sách lâu dài, là phương châm thực hiện chính sách xã hội của Đảng và nhà nước bởi vì giáo dục là sự nghiệp lâu dài của toàn
xã hội Sự nghiệp giáo dục sẽ không ngừng phát triển mạnh mẽ với nguồn lực to lớn của toàn dân Thực hiện XHHGD cũng chính là huy động cộng đồng cùng tham gia xây dựng và phát triển giáo dục
+ Nguyên tắc tiến hành công tác xã hội hoá giáo dục:
Nguyên tắc về lợi ích hai chiều: Mỗi hoạt động hợp tác, phối hợp đều
phải xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của hai phía: Nhà trường và cộng đồng Cần quán triệt nguyên tắc lợi ích 2 chiều trong việc triển khai các biện pháp cụ thể phải đảm bảo rằng kết quả của việc xã hội hóa giáo dục không chỉ mang lại lợi ích cho giáo dục, cho nhà trường mà còn mang lại lợi ích thiết thực cho những người tham gia, cho cộng đồng, cho địa phương thì biện pháp đó mới khả thi và
có sức sống
Trang 6Nguyên tắc tình cảm, tự nguyện hay nguyên tắc “ đồng thuận”: Nguyên
tắc này coi trọng việc làm sao để người được huy động chia sẻ đồng tâm, nhất trí, tự nguyện và đồng thuận với chủ trương xã hội hóa của nhà trường, không được áp đặt hoặc ép buộc, không được cào bằng, bình quân chủ nghĩa
Nguyên tắc về chức năng nhiệm vụ: Để khai thác, phát huy khuyến khích
các lực lượng xã hội, các tổ chức tham gia vào một hoạt động nào đó phải phát hiện và nhằm đúng chức năng, trách nhiệm của đối tác để thực hiện một cách hợp lý, hiệu quả kế hoạch của nhà trường
Nguyên tắc dân chủ: Tạo môi trường công khai, dân chủ cho mọi tầng
lớp của cộng đồng hiểu giáo dục hơn, hiểu nhà trường hơn, có điều kiện để
“Biết, bàn, làm, kiểm tra” các hoạt động, tạo điều kiện cho mối quan hệ nhà trường - gia đình - xã hội phát triển toàn diện và mang lại hiệu quả thiết thực
Nguyên tắc phù hợp, thích ứng hay nguyên tắc “mềm dẻo”: Phải biết
chọn lựa thời gian thích hợp nhất để đưa ra chủ trương xã hội hóa giáo dục, cần cân nhắc huy động thế nào cho hợp lý
Nguyên tắc kết hợp ngành - lãnh thổ: Chủ trương huy động cộng đồng
và xã hội hoá triển khai trong thực tế rất cần sự phối hợp nhịp nhàng giữa địa phương và ngành giáo dục
Giải pháp thứ hai: Tổ chức các buổi họp phụ huynh có hiệu quả.
Họp phụ huynh là việc làm bắt buộc của các cấp học, nhất là đối với bậc học MN bởi đặc thù của trẻ tuổi MN là chưa thể đủ sức để hiểu và chuyển tải được các vấn đề liên quan tới cha mẹ Chính vì vậy nhà trường đã tiến hành họp phụ huynh 3 lần trong năm học : Đầu năm học, giữa năm học và cuối năm học Nội dung của các lần tổ chức họp xoay quanh vấn đề CSNDGD trẻ của nhà trường; Vấn đề phối hợp của phụ huynh ra sao để kết quả CSNDGD trẻ đạt kết quả cao; Ngược lại nhà trường cần làm như thế nào để giúp phụ huynh yên tâm gửi con đến trường MN mà không phải than phiền lo lắng về sức khoẻ, trí tuệ, tình cảm, đạo đức của con Quá trình họp nhà trường đã cố gắng tập trung vào một số nội dung chính đó là:
Phổ biến kế hoạch tuyển sinh, mục tiêu, nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ Chế độ sinh hoạt của trẻ trong thời gian ở trường, các nội quy cần thiết phải thông báo cho phụ huynh biết và phối hợp với nhà trường Các chỉ tiêu phấn đấu trong năm học cần đạt.Thống nhất một số nội dung, phương pháp trong việc CSNDGD trẻ ở nhà, ở trường và ngoài xã hội
Tuyên truyền về vai trò ý nghĩa của việc cho trẻ đi học MN đúng độ tuổi,
đi học chuyên cần, ý nghĩa sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi mầm non đối với toàn bộ quá trình phát triển sau này của trẻ và đối với sự phát triển chung của xã hội
Trang 7Tập trung tuyên truyền các kiến thức CSNDGD trẻ theo khoa học: Vệ sinh phòng một số bệnh thường gặp ở trẻ, lịch tiêm chủng, chế độ dinh dưỡng, cách cho trẻ ăn khoa học hợp lý, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh cá nhân, một số nội dung dạy trẻ nề nếp vệ sinh văn minh trong học tập, vui chơi, ăn ngủ, giao tiếp bà ứng xử thông thường trong cuộc sống, một số cách xử lý khi trẻ bị tai nạn thương tích, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi vào trường phổ thông …Thông báo các quy định về tư trang, đồ dùng học tập của trẻ khi đến trường
Triển khai các điều kiện cần và đủ để chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ; các khoản đóng góp thỏa thuận( thu hộ và chi hộ) để phục vụ trẻ có tính chất làm thay cha mẹ trẻ; dự toán các khoản, mục cần đầu tư để làm mới, tu sửa nâng cấp về CSVC-TTB; mục đích thu và chi, đối tượng thụ hưởng của từng khoản đều được công bố cụ thể, rõ ràng trước ít nhất là 1 tuần trong tập thể lãnh đạo nhà trường và Ban đại diện cha mẹ học sinh cùng cán bộ giáo viên nhân viên trong đơn vị, sau đó dán công khai ít nhất 1 tuần nữa tại địa điểm tất cả phụ huynh có thể đọc được để nghe phản hồi dư luận; sau đó trình xin chủ trương với địa phương, được địa phương phê duyệt chủ trương sau đó triển khai đến phụ huynh bằng văn bản chi tiết, cụ thể Vấn đề đóng góp XHHGD nhà trường kêu gọi phụ huynh bàn bạc, tự nguyện tham gia ủng hộ theo khả năng từng gia đình, không cào bằng về số lượng, không ép buộc đối tượng, cách thức tham gia theo hướng mở, linh hoạt sao cho phù hợp với khả năng của từng gia đình; có thể là ngày công lao động, hiện vật hoặc tiền mặt, việc đóng góp XHHGD được chia thành nhiều đợt trong năm học để tạo điều kiện cho những gia đình khó khăn cũng có cơ hội tham gia Sau khi được phụ huynh bàn bạc thống nhất, biểu quyết cao thì nhà trường thảo thư kêu gọi gửi đến tất cả phụ huynh, ban ngành, đoàn thể, các cơ quan đóng trên địa bàn, các nhà hảo tâm Đối với phụ huynh việc tham gia ủng hộ sẽ gửi qua giáo viên chủ nhiệm, đối với các cơ quan, nhà hảo tâm bên ngoài nhà trường phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh thành lập đoàn đi vận động ủng hộ, tất cả danh sách tham gia ủng hộ XHHGD đều được ghi tên và ký xác nhận vào danh sách
Trong các cuộc họp giữa năm và cuối năm nhà trường đều có công bố kết quả nuôi dưỡng, học tập, rèn luyện của trẻ ở trường, công khai các khoản đã thu được và các nội dung đã chi để phụ tham gia vào việc quản lý sử dụng các nguồn kinh phí huy động từ XHHGD, nghe phụ huynh trao đổi tình hình sinh hoạt của trẻ ở nhà Làm rõ những nội dung phụ huynh còn băn khoăn thắc mắc, tao ra sự thống nhất cao giữa nhà trường và phụ huynh Biểu dương, cám ơn các
cá nhân, tổ chức đã tham công sức tham gia đóng góp ủng hộ cho trường
Quá trình họp phụ huynh nhà trường luôn dành thời gian hợp lý để phụ huynh tham gia tham luận một số kinh nghiệm xoay quanh các vấn đề sau:
Những biện pháp và kết quả trong sự phối hợp giữa phụ huynh với nhà trường trong việc quản lý, chăm sóc giáo dục trẻ Vai trò tác dụng của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách trrẻ Kinh nghiệm chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ (CSNDGD) trẻ ở gia đình sao cho trẻ ngoan, khoẻ mạnh và
Trang 8thông minh Những khó khăn gặp phải trong việc hiểu và chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ ở gia đình Những đóng góp của phụ huynh về các ưu điểm, nhược điểm của nhà trường Nhờ đó mà phụ huynh có cơ hội nắm rõ hơn, sâu sắc hơn
về quan điểm GD của Đảng và vai trò, vị trí của giáo dục MN, về trách nhiệm của gia đình trong CSNDGD trẻ Từ đây đã tạo điều kiện rất lớn cho nhà trường tiến hành nhiệm vu một cách thuận lợi hơn, kết quả được nâng dần lên
Giải pháp thứ Ba: Làm tốt công tác tham mưu cho cấp uỷ Đảng, chính quyền giúp địa phương xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục MN.
Là một trường MN đóng trên đại bàn miền núi, kinh tế xã hội còn nhiều bất cập, để cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương nắm bắt được tình hình chung, từ đó đề ra định hướng lãnh chỉ đạo công tác GDMN, nhà trường đã báo cáo tổng kết tình hình hoạt động của trường một cách khách quan, nghiêm túc
để thấy được những ưu, nhược điểm của trường đồng thời chỉ ra được những nguyên nhân để phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm.Trên cơ sở mục tiêu
GD của Đảng, Nhà nước nói chung; Kế hoạch phát triển GD từng năm học của tỉnh, của huyện, tình hình thực tế của địa phương, của nhà trường nói riêng, cấp
uỷ Đảng, chính quyền địa phương đã ban hành Nghị quyết, xây dựng chương trình hành động thực hiện kế hoạch phát triển GD xã nhà phù hợp với điều kiện của địa phương Từ đó chương trình hành động của Đảng, chính quyền, đoàn thể, thôn bản, nhà trường đã được xây dựng và thông báo rộng rãi trên các diễn đàn, hội nghị và đặc biệt trên phương tiện thông tin đại chúng của xã; Từ đây phụ huynh, nhân dân, các lực lượng khác trong địa bàn nhanh chóng năm bắt được các mục tiêu,nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện nhiệm vụ chăm sóc nuôi dưỡng gíáo dục trẻ của nhà trường
Khi tham mưu BGH đã cố gắng làm cho địa phương nắm bắt được những việc cần làm trước mắt cũng như lâu dài Những giải pháp tạm thời, giải pháp chiến lược, chọn việc để bắt đầu, nội dung tham mưu cần được đưa vào Nghị quyết Hội đồng nhân xã Khi sơ kết, tổng kết đánh giá các hoạt động của tập thể, cá nhân tôi đã tham mưu cho cấp uỷ Đảng thường xuyên đánh giá chất lượng thực hiện công tác phối hợp về công tác GDMN
Để chuẩn bị tham mưu một vấn đề gì, tôi bao giờ cũng làm việc trước với ban thường vụ Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND, để khi có Nghị quyết ra các lực lượng này là lược lượng tiên phong, sẵn sàng ủng hộ trước, do đó các lực lượng còn lại được củng cố thêm lòng tin để tham gia, chính các cán bộ thôn bản là những tuyên truyền viên đắc lực cho XHHGD, vì họ cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân, hiểu dân, dễ vận động, tuyên truyền hơn
Giải pháp thứ tư: Tuyên truyền cho toàn xã hội nhận thức đúng đắn vai trò có ý nghĩa quyết định của GD đối với sự phát triển của xã hội.
XHHGD được nhiều đơn vị trường học tiến hành, có nơi đã thu được những kết quả tốt, có nơi mới chỉ dùng lại ở lý thuyết, ở Nghị quyết Hội đồng nhân dân mà chưa đi vào cuộc sống Nguyên nhân của XHHGD đều bắt đầu từ nhận thức Do vậy tôi tìm nhiều cách làm cho mọi tầng lớp nhân dân hiểu đúng đắn về công tác XHHGD, hiểu được sự cần thiết phải tham gia, nâng lên tầm ý
Trang 9thức để tự giác, chủ động, làm chủ công việc cần làm và có tình cảm để tham gia Nhận thức này được xây dựng từ thấp lên cao qua các hình thức:
Trò chuyện, trao đổi, tham luận qua các cuộc họp Đảng uỷ, HĐND, UNND, họp ban ngành đoàn thể, họp phụ huynh, khai giảng, sơ kết, tổng kết năm học, hội thi ở trường, ngày tiêm chủng, lễ hội ở thôn bản nhưng quan trọng hơn là tuyên truyền bằng việc làm cụ thể, lợi ích thực tế, tấm gương tốt gần gũi về những tổ chức, cá nhân đã tham gia ủng hộ XHHGD cho trường; Ví
dụ như: Ông Nguyễn Thanh Hùng ủng hộ 1.000.000đ; Ông Lê Quang Thuận ủng hộ 3 cái quạt trần, bà Lê Thị Na ủng hộ 4 chậu cây cảnh; ông Đỗ Ngọc Đoan ủng hộ 3m3 cát; ông Lê Thanh Bình ủng hộ 1 xe trâu phân chuồng, phụ huynh khu lẻ Chôi Trờn ủng hộ 56 ngày công làm sân chơi, Bà Hà Thị Vân ủng
hộ 4 cái ghế gỗ cho trẻ ngồi, phụ huynh các khu khác ủng hộ cây hoa, cảnh và công để cải tạo cảnh quan
Thuyết phục trực tiếp và trong từng hoạt động, thuyết phục bằng tổ chức
và bằng vai trò cá nhân Muốn vận động được cần gắn liền với tính lợi ích, gắn với chức năng nhiệm vụ, về những quy định mang tính pháp luật, về tình cảm và truyền thống, về dòng tộc, họ hàng Để làm được việc này tôi đã cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác về đường lối, chính sách, chế độ, chủ trương, kế hoạch, thực trạng, mục đích yêu cầu, kết quả cần đạt, thuận lợi và khó khăn, kinh phí hiện có và các nguồn lực, nội lực của nhà trường để các lực lượng xã hội hiểu rõ ràng, tường tận.Từ đó tổ chức bàn bạc, chủ động trong quá trình thực hiện và cuối cùng mới có thể kiểm tra, đánh giá được
Giải pháp thứ năm: Vận động các lực lượng xã hội chăm lo cho công tác GD Mầm Non.
Là một trường Mầm non có nhiều điểm lẻ, nằm trên chiều dài gần 8 km, đời sống bấp bênh trong khi nhu cầu công việc và đầu tư trang thiết bị đồ dùng
đồ chơi rất lớn, kinh phí nhà nước cấp thường xuyên không đủ đáp ứng 50% nhu cầu hoạt động.Vì vậy nhà trường đã ký cam kết với các thôn, các ngành đoàn thể
về những hoạt động hỗ trợ cho trường MN
Phối hợp với HĐND, UBND xã để lo xây dựng cơ sở vật chất cho các điểm trường Bí thư chi bộ, thôn trưởng ở thôn nào vận động bà con trong thôn
đó chăm lo công tác bảo vệ cơ sở vật chất, xây dựng các công trình phù trợ như nhà vệ sinh, bể nước, xây tường rào, trồng cây xanh thay tường rào; trồng và chăm sóc cây xanh, hoa cây cảnh, đầu tư mua sắm trang thiết bị bên trong cho các cháu học hành, vui chơi như giá góc, bàn ghế, quạt điện, đường dây điện, ru
mi nê đựng nước uống, thùng, xô chậu, chiếu cho trẻ ngồi học, đồ chơi, máy chiếu, ti vi, đồ chơi
Phối hợp với mặt trận tổ quốc trong công tác tuyên truyền vận động trẻ ra lớp đúng độ tuổi, chú trọng nhất là trẻ 5 tuổi, trẻ nhà trẻ; huy động trẻ tham gia
ăn bán trú, duy trì sĩ số trẻ chuyên cần
Phối hợp với đoàn xã về việc hoạt động đội thiếu niên, nhi đồng ở các thôn, tạo môi trường hoạt động lành mạnh, ấm cúng theo độ tuổi như: Tổ chức cắm trại hè cho các cháu mẫu giáo tham gia văn nghệ chào mừng, tổ chức tốt
Trang 10ngày 01/06, ngày tết trung thu đó là những sân chơi bổ ích cho các cháu tham gia, tạo nên sự thống nhất trong nội dung giáo dục lễ giáo giữa nhà trường, gia đình và xã hội Phối hợp với Hội liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân vận động hội viên có con cháu bỏ học giữa chừng quay lại trường lớp, cùng với nhà trường tuyên truyền kiến thức chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ theo khoa học đến cộng đồng, vận động phụ huynh đưa trẻ ăn ở bán trú tại trường, bán thực phẩm
an toàn cho bếp bán trú, tạo cho trẻ có cơ hội để được hưởng sự chăm sóc giáo dục theo khoa học, giúp trẻ khỏe mạnh, chóng lớn, giảm dần tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng trên địa bàn, tạo cho trẻ có cơ hội tham gia tích cực vào các hoạt động qua đó mà phát triển nhân cách toàn diện
Phối hợp với trạm y tế xã tổ chức cho trẻ khám sức khỏe cho trẻ, giáo viên một năm học 2 lần, phát hiện sớm các bệnh nguy hiểm, điều trị kịp thời, không để hậu quả đáng tiếc xảy ra Tổ chức cho các cháu uống và tiêm vắc xin
đủ liều, đúng lịch, tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh cho các gia đình, cho phụ huynh, cho trẻ
Phối hợp thường xuyên với công an xã, công an thôn để bảo vệ tốt CSVC
ở các điểm trường, đảm bảo an ninh trật tự, ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực có thể tấn công vào trường MN
Phối hợp với dân quan tự vệ, ban đại diện cha mẹ học sinh để phòng chống bão lụt khi cần thiết
Tranh thủ sự ủng hộ của các cơ quan, doanh nghiệp đóng trên địa bàn, các tổ chức, các cá nhân quan tâm đến công tác GDMN để xin hỗ trợ đầu tư mọi mặt cho nhà trường Ví dụ tham mưu với trường cấp 3 cho học sinh lao động san mặt bằng của trường, trường cấp 2 cho học sinh góp cây cọc để rào khuôn viên khu lẻ, phụ huynh tham gia lao động để xây dựng cảnh quan môi trường, làm nhà để xe, ủng hộ cây hoa, cây cảnh cho các lớp trồng, tranh ảnh, sách truyện thiếu nhi, đóng góp đồ chơi cho trẻ chơi, học liệu cho cô giảng bài, kinh phí để mua sắm giá góc, trang trí phòng nhóm… Nhà thầu chỗ trợ vật liệu, thợ xây hỗ trợ công để xây dựng sân khấu, bồn hoa…Các thôn thì ủng hộ đóng góp để kéo đường điện, mua sắm quạt điện, xây nhà vệ sinh, làm sân chơi cho các nhóm lớp ở tại các thôn đó.Tổng tiền mặt huy động được trong 2 năm học đạt gần 243.160.000.000 đ Số tiền so với xã hội tuy không lớn lắm nhưng nếu
để tất cả các việc đó chỉ mình nhà trường là điều không thể làm được Trông vào ngân sách nhà nước cấp thì không có; Mỗi cá nhân, tổ chức, đoàn thể một cách giúp đỡ, góp gió thành bão, tạo được môi trường và tiềm lực rất lớn như một đòn bẩy kích cầu cho công tác CSNDGD trẻ của nhà trường từng bước đi lên Đối với điều kiện một trường MN đóng trên địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhà nước đầu tư thường xuyên không đủ thì đây quả là món quà hết sức lớn lao và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc
Giải pháp thứ năm: Bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ và phân công hợp lý giáo viên chủ nhiệm làm cầu nối thường xuyên giữa trẻ với nhà trường, giữa nhà trường với cộng đồng.