Trong những năm gần đây bậc học mầm non đang tiến hành đổi mớichương trình giáo dục trẻ mầm non trong đó đặc biệt coi trọng việc tổ chức cáchoạt động phù hợp sự phát triển của từng cá nh
Trang 1I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Giáo dục mầm non là giai đoạn đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân,
là bộ phận quan trọng trong sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ thành những con người
có ích, thành những con người mới Một trong ba mục tiêu của cải cách giáo dụccủa nước ta là: Làm tốt việc chăm sóc giáo dục thế hệ trẻ ngay từ thời thơ ấunhằm tạo ra cơ sở quan trọng của con người Việt Nam mới, người lao động làmchủ tập thể, phát triển toàn diện nhân cách Giáo dục mầm non đã góp phần thựchiện mục tiêu trên
Trong những năm gần đây bậc học mầm non đang tiến hành đổi mớichương trình giáo dục trẻ mầm non trong đó đặc biệt coi trọng việc tổ chức cáchoạt động phù hợp sự phát triển của từng cá nhân trẻ, khuyến khích trẻ hoạt độngmột cách chủ động tích cực, hồn nhiên vui tươi, đồng thời tạo điều kiện cho giáoviên phát huy khả năng sáng tạo trong việc lựa chọn và tổ chức các hoạt độngchăm sóc, giáo dục trẻ một cách linh hoạt, thực hiện phương châm “Học màchơi - Chơi mà học” Đáp ứng mục tiêu phát triển của trẻ một cách toàn diện vềmọi mặt Trong quá trình phát triển toàn diện nhân cách con người nói chung vàtrẻ mầm non nói riêng thì ngôn ngữ có một vai trò rất quan trọng đặc biệt khôngthể thiếu được Ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp quan trọng nhất đặc biệt làđối với trẻ nhỏ, đó là phương tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những ngườixung quanh hình thành những cảm xúc tích cực Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻhoà nhập với cộng đồng và trở thành một thành viên của cộng đồng
Đối với trẻ mầm non nói chung và trẻ 24 - 36 tháng tuổi nói riêng qua quansát những giờ hoạt động học và những giờ hoạt động vui chơi, tôi thấy các cháurất thích được giao tiếp, thích được trò chuyện, thích được nói, nhưng vì ngônngữ của trẻ còn hạn chế, các cháu còn sử dụng ngôn ngữ thụ động nhiều, nên tôithấy mình cần tìm nhiều biện pháp tác động để kích thích ngôn ngữ của trẻ pháttriển
Việc phát triển vốn từ, luyện phát âm và dạy trẻ nói đúng ngữ pháp không thể tách rời giữa các môn học cũng như các hoạt động của trẻ Mỗi từcung cấp cho trẻ phải dựa trên một biểu tượng cụ thể, có nghĩa, gắn liền với âmthanh và tình huống sử dụng chúng Nội dung vốn từ cung cấp cho trẻ cũng nhưhình thức ngữ pháp phải phụ thuộc vào khả năng tiếp xúc, hoạt động và nhậnthức của trẻ
Tuy trẻ còn nhỏ nhưng trẻ rất hiếu động, thích tìm tòi, khám phá mọi thứxung quanh Trẻ thường có nhiều thắc mắc trước những đồ vật, hiện tượng mà
Trang 2trẻ nhìn thấy, nghe thấy Trẻ luôn đặt ra rất nhiều câu hỏi như: Ai đấy? Cái gì?Con gì? [1]
Để giải đáp được những thắc mắc hàng ngày, người lớn cần trả lời nhữngcâu hỏi của trẻ rõ ràng, ngắn gọn đồng thời cần cung cấp cho trẻ mnhững hiểubiết về thế giới xung quanh bằng ngôn ngữ giao tiếp mạch lạc Chính vì vậy màmỗi giáo viên khi chăm sóc giáo dục cho trẻ cần chú trọng đến việc phát triểnngôn ngữ cho trẻ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
Chính vì ngôn ngữ có tầm quan trọng rất lớn đối với trẻ nên là một cô giáomầm non trực tiếp dạy trẻ 24-36 tháng tuổi tôi luôn có những suy nghĩ trăn trởlàm sao để dạy các con phát âm chuẩn, chính xác đúng tiếng việt.[3] Vì thế tôi
đã dạy các con thông qua các môn học khác nhau và dạy các con ở mọi lúc mọinơi qua các hoạt động hàng ngày, từ đó trẻ khám phá hiểu biết về mọi sự vật hiệntượng, về thế giới xung quanh trẻ, phát triển tư duy Tôi thấy mình cần phải đisâu tìm hiểu kỹ vấn đề này để từ đó rút ra nhiệm vụ giáo dục cho phù hợp với
yêu cầu phát triển của lứa tuổi Chính vì vậy nên tôi đã chọn đề tài: “Một số giải
pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ độ tuổi 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non Thị trấn Vạn Hà, huyện Thiệu Hóa.” nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo
dục trẻ, giúp trẻ phát triển toàn diện
2 Mục đích nghiên cứu:
Tìm ra một số giải pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ 24-36 thángtuổi
Làm phong phú vốn từ cho trẻ
Giúp trẻ mạnh dạn tự tin trước mọi người
Giúp giáo viên hiểu được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ chotrẻ từ đó có những kế hoạch cụ thể về việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ
3 Đối tượng nghiên cứu:
Tập trung nghiên cứu một số kinh nghiệm, giải pháp phát triển ngôn ngữcho trẻ nhà trẻ lớp D2 trường mầm non Thị trấn Vạn Hà, năm học 2016 – 2017
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp thống kê toán học, xử lý thông tin, tổng kết kinh nghiệm
II NỘI DUNG
1- Cơ sở lý luận:
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt vì nó ra đời và tồn tại cùngvới sự hình thành và phát triển của xã hội loài người, ngôn ngữ dùng để phục vụ
Trang 3mọi thành viên trong xã hội từ việc học tập, lao động đến việc vui chơi giải trí.
Có thể nói rằng trong bất kì lĩnh vực hoạt động nào của con người cũng cần đếnngôn ngữ.[4]
Quá trình phát triển ngôn ngữ là quá trình cung cấp từ ngữ cho trẻ, gópphần làm phong phú ngôn ngữ đẩy mạnh quá trình phát triển trí tuệ và tình cảmđạo đức cho trẻ Có thể nói rằng rèn luyện và phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầmnon là góp phần tích cực vào việc trang bị cho thế hệ mầm non một phương tiệnmạnh mẽ để tiếp thu kinh nghiệm quý báu của thế hệ cha anh, đồng thời tạo điềukiện cho các cháu lĩnh hội các kiến thức, những hiểu biết mới lạ về thế giới xungquanh.[4]
Ngôn ngữ luôn có vai trò to lớn trong sự hình thành và phát triển nhâncách của trẻ. Trong giáo dục trẻ mầm non hiện nay, chúng ta càng thấy rõ vai tròcủa ngôn ngữ đối với việc giúp trẻ trở thành những con người phát triển về mọimặt: đức, trí, thể, mỹ và hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách conngười Vấn đề phát triển ngôn ngữ một cách có hệ thống cho trẻ ngay từ nhỏ lànhiệm vụ vô cùng quan trọng
Rất nhiều phụ huynh khi đưa con tới trường nhập học ở lứa tuổi nhà trẻ
thường nói với các cô giáo: “Con chưa biết nói cô ạ! Bạn này nói ít lắm! Phải làm sao để con nói được nhiều hơn nữa hả cô?”
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, phần lớn các bố mẹ đều bận rộn lotoan cho cuộc sống, thời gian bố mẹ trò chuyện với trẻ để phát triển vốn từ còn
ít Một số cha mẹ của trẻ nhận thức về tầm quan trọng của ngôn ngữ còn hạn chế
Do vậy vốn từ của trẻ em ngày nay phát triển chậm và ít, chủ yếu trẻ được tiếpxúc và phát triển ngôn ngữ thông qua ti vi, phim ảnh… trẻ nhận được sự chỉ bảouốn nắn của người lớn chưa nhiều
Tư duy của trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ là tư duy trực quan, khả năng tri giác vềcác sự vật hiện tượng bắt đầu được hoàn thiện, trẻ hay bắt chước những cử chỉ
và lời nói của người khác Do vậy ngôn ngữ của cô giáo phải rõ ràng và chínhxác và ngay cả người lớn trong nhà cũng là tấm gương để trẻ noi theo[1] Trongthực tế sự chênh lệch về vốn từ của trẻ ở cùng một độ tuổi trong lớp là khá lớn.Qua đó vốn từ của trẻ không phụ thuộc vào điều kiện vật chất, kinh tế của giađình mà trước hết liên quan rất nhiều đến thời gian người thân trò chuyện với trẻnhư thế nào? Bố mẹ có lắng nghe bé kể chuyện về các hoạt động của trẻ ở trườnghay những thắc mắc của trẻ về cuộc sống xung quanh? có thường xuyên kểchuyện cho bé nghe và hướng dẫn bé kể lại không? ngày nghỉ có đưa bé đi chơicông viên hay đi thăm họ hàng hay không? tất cả những điều đó không chỉ làmtăng số lượng vốn từ của trẻ, sự hiểu biết nghĩa của từ, cách dùng từ của trẻ mà
Trang 4còn làm phong phú hiểu biết về thế giới xung quanh và bồi dưỡng xúc cảm chotrẻ.
Bác Hồ đã dạy: “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý
báu của dân tộc, chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó.” Việc rèn luyện và
phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ đặc biệt là lứa tuổi nhà trẻ là viên gạch đầu tiêncủa nền móng giáo dục mầm non là cả một quá trình liên tục và có hệ thống đòihỏi phải kiên trì, cô giáo, bố mẹ là người gương mẫu để trẻ noi theo
2 Thực trạng:
a Đặc điểm chung:
Năm học 2016 – 2017 tôi được Ban Giám hiệu phân công phụ trách nhómtrẻ 24-36 tháng tuổi cùng với 1 cô giáo đều có trình độ trên chuẩn thực hiệnnhiệm vụ chăm sóc giáo dục cho 37 trẻ Trong đó: nữ: 15 cháu; nam: 22 cháu
- 100% trẻ ăn bán trú tại trường
Trước thực trạng dạy trẻ hoạt động ở lớp tôi có những thuận lợi và khókhăn sau
b Thuận lợi
Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, chỉ đạo, giám sát việc giáo viên
tổ chức hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ, luôn tạo điều kiện về cơ sở vật chấttrang thiết bị giảng dạy cho giáo viên Nhà trường đã đầu tư mua sắm trang thiết
bị, đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho hoạt động học tập và vui chơi của trẻ
Bản thân tôi được giảng dạy trong môi trường tương đối đầy đủ về cơ sởvật chất về đồ dùng học tập Bản thân luôn nhiệt tình, tâm huyết với nghề, họchỏi nâng cao tình độ về chuyên môn nghiệp vụ
Thường xuyên được tham gia các lớp chuyên đề của phòng và trường tổchức và được tham dự các tiết dạy của các bạn đồng nghiệp trong cũng nhưngoài trường tổ chức
- Nhóm trẻ được chia theo đúng độ tuổi quy định
Ở lớp nhà trẻ thời gian chăm sóc trẻ chiếm đa số nên việc giáo viên chú ýphát triển vốn từ cho trẻ đôi khi còn gặp nhiều khó khăn
Trang 5Đa số phụ huynh đều bận với công việc nên ít dành thời gian trò chuyệnvới trẻ và nghe trẻ nói
Kinh nghiệm sống của trẻ còn nghèo nàn, trí nhớ còn hạn chế dẫn đến trẻthường dùng từ không chính xác, hay bỏ bớt từ khi nói
Trước khi áp dụng các giải pháp, tôi đã làm một số khảo sát đối với trẻ:
trong giao tiếp 7/37 19 10/37 27 15/37 41 5/37 13
Qua kết quả khảo sát tôi nhận thấy rằng ngôn ngữ của trẻ còn nhiều hạn
chế về câu từ, về cách phát âm Trẻ lần đầu đến trường nên trẻ còn nhút nhát rụt
rè, trầm lắng ít chan hòa với tập thể, trẻ bị chấn thương tâm lý vì thế khi trẻ nóihầu hết toàn bớt âm trong các từ, giao tiếp không đủ câu cho nên nhiều khi giáoviên không hiểu trẻ đang nói về cái gì? Cũng có một số trẻ còn hạn chế khi nóitrẻ chỉ biết chỉ tay vào những thứ mình cần khi cô hỏi Đây cũng là một trongnhững nguyên nhân của việc ngôn ngữ của trẻ còn nghèo nàn
Chính vì vậy tôi đã đưa ra và áp dụng các giải pháp để phát triển ngônngữ cho trẻ độ tuổi 24-36 tháng tuổi ở trường mầm non Thị trấn Vạn Hà, huyệnThiệu Hóa.”
3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
- Giải pháp 1: Giáo viên cần hiểu tâm sinh lý của trẻ.
* Đặc điểm phát âm:
Trẻ đã phát âm được các âm khác nhau Phát âm được các âm của lời nóinhưng vẫn còn ê a Trẻ hay phát âm sai ở những từ khó, những từ có 2- 3 âm tiếtnhư: Lựu - lịu, hươu - hiu, hoa sen - hoa xem, thuyền buồm- thiền bồm
* Đặc điểm vốn từ:
Vốn từ của trẻ còn rất ít Danh từ và động từ ở trẻ chiếm ưu thế Trẻ đã sử dụngchính xác các từ chỉ đồ vật con vật, hành động trong giao tiếp quen thuộc hàngngày Những từ chỉ khái niệm tương đối như: Hôm qua, hôm nay, ngày mai trẻ
sử dụng chưa chính xác Một số trẻ đã biết sử dụng các từ chỉ màu sắc như: màuxanh, màu đỏ, màu vàng Đã biết sử dụng các từ thể hiện sự lễ phép với ngườilớn trong giao tiếp như: Cảm ơn cô, vâng, dạ [3]
Trang 6* Sắp xếp cấu trúc lời nói: Cách diễn đạt nội dung, sự liên kết các câu nói lại
với nhau tạo thành chuỗi lời nói nhằm diễn tả trọn vẹn một ý, một nội dung ngắngọn nào đó để giúp người nghe hiểu được, đối với một số trẻ là đơn giản Nhưngđối với một số trẻ khác nhỏ tháng hơn lại là rất khó, nếu yêu cầu trẻ kể lại mộtcâu chuyện hay tả lại một sự kiện, hiện tượng xảy ra đối với trẻ thì trẻ gặp khókhăn Nên cần phải tập luyện dần dần
*Diễn đạt nội dung nói:
Cách diễn đạt nội dung của trẻ ở lứa tuổi này còn ê a, ậm ừ Đôi khi chưadiễn đạt được ý muốn của mình bằng những câu đơn giản
Còn rụt rè, chưa mạnh dạn tự tin trong khi giao tiếp
* Đặc điểm ngữ pháp:
Trẻ nói được 1 số câu đơn giản, biết thể hiện nhu cầu mong muốn và hiểubiết của mình bằng 1 hay 2 câu
Ví dụ: Cô ơi! Con uống nước, con ăn kẹo
Trẻ đọc được các bài thơ, hát được các bài hát có 3 đến 5 câu ngắn Trẻ cóthể kể lại một đoạn truyện được nghe nhiều lần, có sự gợi ý Tuy nhiên đôi khi
sự sắp xếp các từ trong câu còn chưa hợp lý Trẻ thường sử dụng câu cụt
Ví dụ: Nước, uống nước trong một số trường hợp trẻ dùng từ trong câu còn
chưa chính xác, chủ yếu trẻ sử dụng câu đơn mở rộng
Giải pháp 2: Xây dựng kế hoạch phát triển ngôn ngữ cho trẻ theo từng tháng xuyên suốt trong năm học:
Tháng 9, 10 * Phát triển khả năng nghe hiểu cho trẻ:
Chọn những bài tập luyện tai nghe cho trẻ nhằm phát triểnthính giác, cho trẻ nghe những bài hát, những câu truyện,những bài đồng dao, tạo điều kiện để trẻ tập trung chú ýluyện khả năng chú ý thính giác cho trẻ thông qua các bài tập,trò chơi: Tai ai thính ? Ai đoán giỏi? Cố gắng phát âm đúngkhông phát âm sai vì trẻ hay bắt trước Sửa lỗi phát âm chotrẻ khi trẻ phát âm sai ở mọi lúc mọi nơi trong cái hoạt độnghàng ngày
Tháng 11, 12 * Nghe, nhắc lại các âm, tiếng và câu nhằm phong phú vốn từ
cho trẻ:
Giáo viên cần nói diễn cảm, rõ ràng, giải thích nghĩa của
từ khó giúp cho trẻ hiểu, nhớ và vận dụng được các từ để đặtcâu Để đẩy mạnh sự phát triển, khả năng vận động của cơquan phát âm, cần tập cho trẻ các bài tập luyện cơ quan phát
Trang 7âm thích hợp:
Ví dụ: Con có cái ca, cô cắt quả cà, con cầm cái ca, cùng cười
ha ha…
Có con Ba Ba, đội nhà đi trốn, bì bà bì bõm, bé bắt Ba Ba
Bà bảo bé, bé bế búp bê, bé bồng, bé bế, búp bê ngoan ngoan
Cô tổ chức những trò chơi phát triển vốn từ cho trẻ:
Ví dụ: trò chơi bắt chước tiếng kêu của các con vật, ai nhanh
hơn, thi xem ai giỏi hơn
Tháng 1, 2 Vẫn xuyên suốt 2 nhiệm vụ trên nhưng đi sâu vào vấn đề
luyện trí nhớ cho trẻ qua các bài thơ, đồng dao, bài đồng daođược phổ nhạc như bài: “Con kiến mà leo cành đa, leo phảicành cụt, leo vào leo ra” , đặc biệt là những câu chuyện kểđầy hấp dẫn và lôi cuốn Gợi ý cho trẻ sử dụng những loại câuđơn giản đủ nghĩa
Tháng 3, 4, 5 Xây dựng những trò chơi giúp trẻ nói đúng ngữ pháp, nói
mạch lạc:
Ví dụ: Trẻ nói theo mẫu câu của 1 câu truyện nào đó: “Chiếp
chiếp, cứu tôi với….con xin lỗi mẹ”… cho trẻ chơi từ dễ đếnkhó, các mẫu câu phức tạp dần lên Để củng cố kỹ năng nóiđúng ngữ pháp, pháp triển trí tưởng tượng, sáng tạo của trẻ.Khi đã có một số lượng vốn từ phong phú trẻ sẽ tự tin giaotiếp với mọi người một cách hứng thú hơn
Giải pháp 3: Giáo viên cần giúp trẻ phát triển vốn từ, mạnh dạn, tự tin thông qua các hoạt động học:
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ chính là phát triển khả năng nghe, hiểu ngônngữ, khả năng trình bày có logic có trình tự, chính xác một nội dung nhất định
Để trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp với mọi người với ngôn ngữ mạchlạc, giúp người nghe dễ hiểu thì trước hết cần:
*Thông qua hoạt động “Nhận biết tập nói”
Ở hoạt động nhận biết, trẻ được quan sát hình ảnh mà cô giáo cung cấp Đốitượng này đã được cô giáo chuẩn bị trước, sắp xếp chúng từ đơn giản đến phứctạp dần, khi quan sát cô gợi mở để trẻ nói được điều trẻ đang quan sát, trong khitrẻ trả lời cô hướng dẫn trẻ nói đúng từ, đủ câu, không nói lắp.[3]
Ví dụ: Ở đề tài: “Nhận biết con gà trống”
Mục đích yêu cầu cần đạt được ở đề tài này là:
- Rèn khả năng phát âm, phát triển lời nói cho trẻ
- Trẻ biết và gọi được tên con gà trống
Trang 8- Biết được một số bộ phận của con gà trống: Đầu, mình, chân, đuôi
- Biết và bắt chước được tiếng gáy của con gà trống
- Giáo dục trẻ yêu thương chăm sóc các con vật nuôi trong gia đình
Đồ dùng dạy học cho đề tài này là: hình ảnh về con gà trống, ghi hình cácvận động: đi, chạy, gáy, kiếm mồi để trẻ được quan sát cùng với từng vận động
là kèm theo từ để trẻ hiểu và biết cách sử dụng chúng sau này
Ví dụ: “Gà gáy” trẻ vừa quan sát vừa phát âm được từ “ò ó o” Tôi cho những
trẻ phát âm rõ lời phát âm trước sau đó tập cho những trẻ phát âm chưa rõ, nhữngcháu chậm nói được phát âm nhiều lần, luân phiên nhau
Hình ảnh trẻ làm gà gáy
Ở hoạt động nhận biết, trẻ được phát âm nhiều, được nói nhiều và cũng dễbộc lộ ý tưởng của mình muốn nói, cũng chính trong hoạt động này cô giáo pháthiện ra những cháu phát âm chuẩn, những cháu phát âm chưa chuẩn để sửa saikịp thời
* Thông qua hoạt động kể chuyện, đọc thơ:
Những bài đồng dao, ca dao rất gần gũi, quen thuộc với trẻ, những độngtác kết hợp với lời thơ (lời ca) trẻ vừa đọc, vừa vận động sẽ là cơ hội để bộ máyphát âm được làm việc
Ví dụ: Bài “Kéo cưa lừa xẻ”
Kéo cưa lừa xẻ
Ông thợ nào khỏe
Trang 9Thì ăn cơm vua
Ông thợ nào thua
Thì về bú mẹ
Hai trẻ ngồi đối mặt nhau, chạm chân vào nhau, nắm tay nhau vừa đọc vừalàm động tác kéo cưa, kéo qua kéo lại Trẻ rất thích thú, đang học mà như đangchơi vậy
(Hình ảnh trẻ chơi kéo cưa lừa xẻ)
Bên cạnh hoạt động làm quen các bài thơ, đồng dao, ca dao, giờ kể chuyện
là hoạt động thu hút trẻ vào nội dung câu chuyện, với đồ dùng sinh động, tranhtruyện, rối tay, đặc biệt là một số hình ảnh động của các nhân vật trong giáo ánđiện tử cùng với lời kể diễn cảm của cô giáo đã gây hứng thú cho trẻ ngay từ đầutiết học
Ví dụ: Câu chuyện: Thỏ con không vâng lời
Chuẩn bị:
- Rối tay các nhân vật: Thỏ mẹ, thỏ con, bướm, bác gấu
- Mũ các nhân vật trên để trẻ tham gia diễn kịch
- Giáo án điện tử
Tôi tiến hành như sau:
Tôi kể chuyện lần một, cho trẻ xem qua màn hình
Một hôm thỏ mẹ dặn thỏ con: “Thỏ con của mẹ! con ở nhà chớ đi chơi xa con nhé” “Vâng ạ! Con ở nhà không đi chơi xa.”
Nhưng bươm bướm bay đến, bươm bướm gọi: Thỏ con ơi! Ra vườn chơi
Trang 10đi! ở đây có cỏ , ở đây có hoa thích lắm Thế là thỏ con đi chơi mãi … chơi mãi,
- Kể lần 3 (kể trích dẫn) trẻ xem hình ảnh minh họa trên màn hình
Như vậy, qua các lần kể chuyện cháu đã hiểu được nội dung câu chuyện
* Đàm thoại: Trong quá trình đàm thoại, tôi tập cho trẻ trả lời trọn câu, đủ ýkhông nói thiếu câu
Ví dụ: + Cô vừa kể câu chuyện gì?
+ Tập cho trẻ trả lời: Thưa cô, cô vừa kể chuyện: Thỏ con không vânglời”
+ Trong câu chuyện Thỏ con không vâng lời có những ai?
+ Thỏ mẹ đã dặn Thỏ con điều gì? (không đi chơi xa)
+ Ai đã gọi Thỏ con đi chơi? (bạn bươm bướm)
+ Bạn Thỏ con đã xảy ra chuyện gì khi đi chơi xa? (bị lạc đường)
+ Khi bị lạc thỏ con khóc như thế nào? (Hu hu! gọi Mẹ ơi! Mẹ ơi!) Chotrẻ bắt chước thỏ khóc
Trang 11+ Ai đã giúp Thỏ con về nhà? (bác Gấu)
+ Về đến nhà thỏ con đã nói gì với mẹ (Thỏ xin lỗi mẹ)
Tất cả các câu hỏi đều tập cho trẻ trả lời trọn câu, đủ ý và cho nhiều trẻđược trả lời Sau đó tập cho trẻ kể lại từng đoạn truyện theo tranh Ở đây cô giáogợi ý để trẻ nhớ và kể theo ngôn ngữ diễn đạt của từng trẻ Như vậy khả nănghiểu ý nghĩa lời nói, nắm vững từ và sử dụng chúng theo theo ý mình được hìnhthành
Cuối cùng trẻ tái hiện lại câu chuyện dưới hình thức đóng kịch, tôi cho trẻ
tự phân vai, chọn mũ nhân vật đội vào đầu Cô giáo là người dẫn chuyện, ởnhững đoạn đối thoại, tôi cho trẻ tự đối thoại với nhau theo lời thoại củacác nhân vật trong truyện (có thể trẻ nói không đúng nguyên văn lời thoại trongcâu chuyện) qua ngôn ngữ diễn đạt, khi trẻ đã biết đối thoại theo nội dung câuchuyện điều đó chứng tỏ trẻ đã biết ghi nhớ cốt truyện và biết sử dụng ngôn ngữnói, là phương tiện, lĩnh hội kinh nghiệm tiếp thu kiến thức, biết sử dụng nhiều
từ mới thể hiện sự tương ứng với nội dung câu chuyện Đây cũng là cơ hội đểngôn ngữ giao tiếp được phát triển
* Qua hoạt động âm nhạc
Ở hoạt động âm nhạc trẻ được tiếp xúc với nhiều loại nhạc cụ như: xắc xôtrống, phách tre, sáo và các vật dụng: mũ múa, khăn voan, quạt giấy trẻ đượcnghe những giai điệu vui tươi kết hợp với các hình thức hoạt động (vận độngtheo nhạc một cách nhịp nhàng, vận động minh họa theo lời ca) Để làm đượcnhư vậy là nhờ sự hiểu biết, nhận thức, vốn từ, kỹ năng, đặc biệt là sự giao tiếpbằng ngôn ngữ của trẻ được tích lũy và lĩnh hội, phát triển tính nghệ thuật, giúptrẻ yêu âm nhạc
Qua những giờ học hát, vận động theo nhạc, trẻ biết sử dụng những hìnhảnh đẹp của bài hát
Ví dụ: Hát và vận động bài “Đưa tay lên cao với lấy ông mặt trời”, trẻ biết sử
dụng động tác minh hoạ đơn giản như sau:
Đưa tay lên cao với lấy ông mặt trời (trẻ đưa tay lên cao và vẫy cổ tay) Hai bàn tay chạm vai (trẻ đưa tay chạm vai và lắc hông)
Chân bé nâng thật cao bước đều bước… rồi bé xoay một vòng (trẻ làmđộng tác nâng chân và xoay vòng tròn)