MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng lỗi lạc, người lãnh đạo vĩ đại của cách mạng Việt Nam và của dân tộc Việt Nam. Người là hiện thân của những giá trị văn hoá rực rỡ nhất, đẹp đẽ nhất, kết tinh của những tinh hoa văn hoá dân tộc và nhân loại. Cả cuộc đời người là sự phấn đấu quên mình để cho dân tộc, nhân loại được sống trong hoà bình, tự do, hạnh phúc. Người đã để lại không chỉ cho dân tộc Việt Nam mà cả cho nhân dân thế giới một hệ thống giá trị tư tưởng. Trong đó tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là một tư tưởng lớn và cơ bản. Tư tưởng đại đoàn kết của Người đã được Đảng ta vận dụng và phát triển trong quá trình cách mạng Việt Nam. Đó là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh và động lực lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc luôn là một nhân tố quyết định làm nên thắng lợi của cách mạng nước ta, là điều kiện tiên quyết để chuyển hoá sức mạnh của dân tộc ta từ sức mạnh tinh thần tiềm ẩn thành sức mạnh vật chất tự giác và có tổ chức, là một công cụ sắc bén để nhân dân ta phát huy được sức mạnh tổng hợp vĩ đại của mình trong cuộc đấu tranh dành độc lập, tự do cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong mỗi giai đoạn cách mạng đoàn kết dân tộc là để phát huy lòng yêu nước, nhiệt tình cách mạng, ý trí đấu tranh, sự hy sinh và cống hiến của mỗi người và góp phần tạo nên thắng lợi vĩ đại của toàn bộ sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hội nghị lần thứ VII ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (12003) đã đưa ra nghị quyết cụ thể hoá tư tưởng chiến lược Hồ Chí Minh và Đảng ta về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong thời kì mới. Hội nghị đã khẳng định: Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chính trị hệ trọng, có quan hệ đến sự phát triển của đất nước, đến đời sống thiết thân về chính trị, kinh tế, xã hội của các tầng lớp nhân dân, vừa có tính thời sự cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài hệ trọng nhưng rất nhạy cảm, cần được giải quyết một cách khách quan khoa học. Vì vậy, việc nghiên cứu vận và phát triển tư tưởng đại đoàn kết dân tộc là việc làm cần thiết đặc biệt nghiên cứu quá trình thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Qua đó thấy được vai trò lãnh đạo của Đảng, tính tích cực, sáng tạo của Đảng trong thực tiễn lịch sử. Từ đó khẳng định giá trị mà nhân dân ta đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng mà đứng đầu là Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Là một sinh viên khoa Giáo dục chính trị em rất mong muốn được tìm hiểu và làm rõ vấn đề này. Do vậy em chọn đề tài: “Đảng Cộng sản Việt Nam với việc vận dụng và phát triển tư tưởng đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh trong hai cuộc kháng chiến 1945 1975 làm khoá luận tốt nghiệp.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng lỗi lạc, người lãnh đạo vĩ đạicủa cách mạng Việt Nam và của dân tộc Việt Nam Người là hiện thâncủa những giá trị văn hoá rực rỡ nhất, đẹp đẽ nhất, kết tinh của nhữngtinh hoa văn hoá dân tộc và nhân loại Cả cuộc đời người là sự phấn đấuquên mình để cho dân tộc, nhân loại được sống trong hoà bình, tự do,hạnh phúc Người đã để lại không chỉ cho dân tộc Việt Nam mà cả chonhân dân thế giới một hệ thống giá trị tư tưởng Trong đó tư tưởng HồChí Minh về đại đoàn kết dân tộc là một tư tưởng lớn và cơ bản
Tư tưởng đại đoàn kết của Người đã được Đảng ta vận dụng vàphát triển trong quá trình cách mạng Việt Nam Đó là đường lối chiếnlược, là nguồn sức mạnh và động lực lớn để xây dựng và bảo vệ Tổquốc Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc luôn là một nhân tố quyết định làmnên thắng lợi của cách mạng nước ta, là điều kiện tiên quyết để chuyểnhoá sức mạnh của dân tộc ta từ sức mạnh tinh thần tiềm ẩn thành sứcmạnh vật chất tự giác và có tổ chức, là một công cụ sắc bén để nhân dân
ta phát huy được sức mạnh tổng hợp vĩ đại của mình trong cuộc đấutranh dành độc lập, tự do cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc
Trong mỗi giai đoạn cách mạng đoàn kết dân tộc là để phát huylòng yêu nước, nhiệt tình cách mạng, ý trí đấu tranh, sự hy sinh và cốnghiến của mỗi người và góp phần tạo nên thắng lợi vĩ đại của toàn bộ sựnghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng
Hội nghị lần thứ VII ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX(1/2003) đã đưa ra nghị quyết cụ thể hoá tư tưởng chiến lược Hồ Chí
Trang 2Minh và Đảng ta về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong thời
kì mới Hội nghị đã khẳng định: Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chính trị
hệ trọng, có quan hệ đến sự phát triển của đất nước, đến đời sống thiếtthân về chính trị, kinh tế, xã hội của các tầng lớp nhân dân, vừa có tínhthời sự cấp bách, vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài hệ trọng nhưng rấtnhạy cảm, cần được giải quyết một cách khách quan khoa học
Vì vậy, việc nghiên cứu vận và phát triển tư tưởng đại đoàn kếtdân tộc là việc làm cần thiết đặc biệt nghiên cứu quá trình thực hiệnchiến lược đại đoàn kết dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp
và chống Mỹ Qua đó thấy được vai trò lãnh đạo của Đảng, tính tích cực,sáng tạo của Đảng trong thực tiễn lịch sử Từ đó khẳng định giá trị mànhân dân ta đã đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng mà đứng đầu là ChủTịch Hồ Chí Minh
Là một sinh viên khoa Giáo dục chính trị em rất mong muốn đượctìm hiểu và làm rõ vấn đề này Do vậy em chọn đề tài: “Đảng Cộng sảnViệt Nam với việc vận dụng và phát triển tư tưởng đại đoàn kết dân tộc
Hồ Chí Minh trong hai cuộc kháng chiến 1945- 1975 làm khoá luận tốtnghiệp
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Chiến lược đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh là một nhân tố hếtsức quan trọng làm nên thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam Vìvậy, trên thực tế vấn đề này đã được nhiều công trình, bài viết đề cập tớinhiều góc độ, khía cạnh khác nhau Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhànước và Mặt trận có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu chiến lược đạiđoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh như: Trường Chinh, Lê Duẩn, VõNguyên Giáp…
Trang 3Các nhà khoa học cũng có nhiều công trình nghiên cứu về tưtưởng đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh, về chiến lược đại đoàn kết củaĐảng, của mặt trận dân tộc thống nhất: Phùng Hữu Phú: “Chiến lược đại
đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh” (NXB CTQG, Hà Nội, 1995); “Đại đoàn kết Hồ Chí Minh” (NXB CTQG, Hà Nội, 1995) Hoàng Thị Điều; “Chiến lược đoàn kết đại đoàn kết là thượng sách giữ nước” (NXB Quân đội nhân dân, 2003) Đỗ Trình; “Mặt trận đại đoàn kết, đại hoà hợp dân tộc
di sản quốc bảo của Hồ Chí Minh” (NXB Quân đội nhân dân, 2003)
Nguyễn Văn Khoan; “Phát huy hơn nữa sức mạnh của khối đại đoàn kếttoàn dân vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ vănminh” (Trương Quang Được – Tạp chí Cộng sản số 16/8/2001)…
Nhiều bài viết nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của vấn đềnày được đăng trên các tạp chí chuyên nghành: nghiên cứu lịch sử; lịch
sử Đảng; Tạp chí Cộng sản… Các bài viết đều đã khẳng định vai trò củakhối đoàn kết dân tộc trong cách mạng Việt Nam, nhiều bài viết đã chỉ
ra những thành công và hạn chế của khối đại đoàn kết dân tộc Tuynhiên các công trình, tác phẩm, bài viết chưa đề cập một cách trực tiếpđến vấn đề Đảng Cộng sản Việt Nam với việc vận dụng và phát triển tưtưởng đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh trong hai cuộc kháng chiến1945- 1975
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Luận văn góp phần làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kếtdân tộc Sự vận dụng và phát triển tư tưởng đó của Đảng trong quá trìnhlãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt nhấn mạnh trong hai cuộc khángchiến chống Pháp và chống Mỹ Khẳng định sự cần thiết phải phát huyhơn nữa sức mạnh của khối đại đoàn kết trong tình hình hiện nay
Trang 4Nhiệm vụ:
Trình bày khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dântộc Khái quát sự vận dụng và phát triển tư tưởng đại đoàn kết Hồ ChíMinh trong đấu tranh dành chính quyền Đồng thời phân tích nhữngđường lối, chủ trương, biện pháp cũng như kết đạt được trong quá trìnhthực hiện chủ trương, giải pháp đó trong hai cuộc kháng chiến 1945-1975
4 Cơ sở và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở nghiên cứu
- Quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
- Các văn kiện của Đảng, Mặt trận
- Các bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước ta
- Những công trình nghiên cứu của các nhà hoạt động chính trị,khoa học
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp lịch sử và lô gíc, Phương pháp phântích tổng hợp, phương pháp so sánh
5 Ý nghĩa khoá luận
Quá trình nghiên cứu khoá luận này là cơ sở để ta đi sâu nghiêncứu chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dântộc Đồng thời thấy đươc sự vận dụng và phát triển tư tưởng đại đoàn kết
Hồ Chí Minh của Đảng trong giai đoạn đã qua Trên cơ sở đạt đượckhẳng định tính tất yếu của việc vận dụng và phát triển hơn nữa tư tưởngđại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
Quá trình thực hiện khoá luận giúp cho tác giả có ý thức trântrọng giá trị lịch sử mà nhân dân ta đã đoàn kết, hợp lực tạo nên, đồngthời đây cũng là bước tập dượt làm quen với công trình nghiên cứu khoa
Trang 5học Nó giúp cho tác giả củng cố kiến thức cơ bản, tích luỹ kiến thứccũng như phương pháp tiếp cận một vấn đề cụ thể đặt ra
Khóa luận bảo vệ thành công sẽ là tài liệu tham khảo cho những aiquan tâm nghiên cứu vấn đề này
6 Kết cấu khoá luận
Khoá luận gồm có:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung: Gồm hai chương
Chương I: Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh
Chương II: Đảng cộng sản Việt Nam với việc vận dụng và pháttriển tư tưởng đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh trong hai cuộckháng chiến 1945- 1975
- Phần kết luận
- Tài liệu tham khảo
Trang 7NỘI DUNG Chương 1
TƯ TƯỞNG ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC HỒ CHÍ MINH
1.1Cơ sở hình thành
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ
sở kế thừa và phát triển ở một trình độ mới truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam.
Trong hệ giá trị tinh thần của người Việt Nam yêu nước là một giá trịtrụ cột Giá trị ấy từ lâu đã thấm sâu vào tâm thức mỗi người dân Việt Namnhư một tình cảm tự nhiên bởi nó được hun đúc, gạn lọc trong suốt chiềudài lịch sử dựng nước và giữ nước Tình yêu quê hương đất nước thể hiện ở
sự gắn bó giữa những người có cùng nguồn tộc, tổ tiên, cùng chia sẻ ngọtbùi, đau thương, cùng gắn bó máu thịt với mảnh đất quê hương thể hiện ở
sự giữ gìn và tăng cường tình đoàn kết cộng đồng qua những câu ca dao,tục ngữ như:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gươngNgười trong một nướcphải thương nhau cùng”
“Thương người như thể thương thân” hay
“Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
Truyền thống tốt đẹp ấy xuất phát từ lòng yêu thương con ngườicủa nhân dân ta, tình yêu thương bắt đầu từ những người thân trong giađình và mở rộng ra là tình yêu quê hương đất nước, giữ gìn và làm giàuthêm đất mẹ Tình cảm ấy, tình thương ấy mỗi người dân Việt Nam đều coi
là lẽ sống của mình Vì vậy, mỗi cá nhân đều gắn chặt mình với cộng đồng,quốc gia, dân tộc và hình thành nên sự cố kết cộng đồng một cách tự nhiên
Trang 8Lịch sử Việt Nam đã có hàng ngàn năm dựng nước đầy gian khổnhưng rất vinh quang Thiên nhiên nước ta tươi đẹp hùng vĩ nhưng cũng rấtkhắc nghiệt Quá trình cải tạo và chinh phục thiên nhiên là quá trình laođộng vất vả chống ngập lụt, hạn hán, bão táp…Thiên nhiên là kẻ thù nguyhiểm và thử thách đầu tiên trong cuộc sống của nhân dân ta Hơn nước ta ởvào vị trí địa lý quan trọng của vùng Đông Nam á là địa bàn chiến lượcquan trọng cả về kinh tế và quân sự Vì vậy mà trong mấy ngàn năm dựngnước và giữ nước: “Dân tộc ta đã phải tiến hành 18 cuộc kháng chiến bảo
vệ Tổ quốc cùng với hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng.Họa mất nước có khi kéo dài hàng chục, hàng trăm năm Thời gian chốnggiặc ngoại xâm cộng lại trên 12 thế kỷ”
Trước sự đe dọa của thiên tai, nhân dân ta phải đoàn kết hợp quầnnhau lại mới đủ sức mạnh để khai phá đất hoang thành đồng ruộng, lập xómlàng đắp đê chống lũ lụt, khơi kênh ngòi chống úng hạn… công cuộc laođộng gian khổ và yêu cầu hợp quần đó tạo nên sự gắn bó mật thiết giữa conngười với thiên nhiên, giữa người với người ở cùng một làng, một nước Đểchiến thắng giặc ngoại xâm thường có lực lượng vật chất mạnh hơn ta rấtnhiều lần nhân dân ta càng phải đoàn kết nhau lại thành một khối thốngnhất Đoàn kết thống nhất vì sự sống còn của dân tộc vì độc lập, tự do của
Tổ quốc là nguồn gốc sức mạnh của nhân dân ta, được nhân dân ta chântrọng giữ gìn, bổ sung và phát triển từ đời này sang đời khác
Vì vậy, ngay từ rất sớm Hồ Chí Minh đã được tiếp thu truyền thốngyêu nước, đoàn kết cộng đồng là một bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam
là nguồn gốc sức mạnh bản lĩnh của dân tộc Việt Nam, Người đã rút ra mộtkết luận: “dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quýbáu của dân tộc ta Từ xưa đến nay mỗi khi Tổ Quốc bị xâm lăng, thì tinhthần ấy lại sôi nổi nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn nó
Trang 9lướt qua mọi nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm lũ bán nước và cướpnước”.Người đã khẳng định “giặc chiếm trời, giặc chiếm đất nhưng khôngchiếm được lòng nồng nàn yêu nước của nhân dân ta”
Hồ Chí Minh đã tiếp thu và phút huy một cách rực rỡ những truyềnthống tốt đẹp của dân tộc ta Chính truyền thống truyền thống tốt đẹp vàquật khởi của dân tộc đã thôi thúc người con yêu nước Nguyễn Ái Quốc ra
đi tìm đường cứu nước Người ra đi tìm đường cứu nước với khát vọngcháy bỏng: “tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn đến tột bậc, là làm saocho nước nhà được độc lập,dân ta được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn
áo mặc ai cũng được học hành”
Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kế tcộng đồng của dân tộcViệt nam là cơ sở đầu tiên, sâu xa hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạiđoàn kết dân tộc Cơ sở đặc biệt quan trọng góp phần hình thành tư tưởngđại đoàn kết dân tộc Hồ chí Minh đó là chủ nghĩa Mác- Lênin
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh được hình thành dựa trên quan điểm của chủ nghĩ Mác- Lênin coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng
Tư tưởng của chủ nghĩa Mác –Lênin về vai trò của quần chúng quanđiểm coi quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng.Chủ nghĩa Mác- Lênin đã khẳng định rằng quần chúng nhân dân bao giờcũng là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng, đóng vai trò quyết địnhthắng lợi của các cuộc cách mạng Trong các cuộc cách mạng vĩ đại làmthay đổi hình thái kinh tế- xã hội, quần chúng nhân dân tham gia đông đảo,tích cực thì cách mạng mới có thể giành được thắng lợi Cách mạng là ngàyhội của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp riêng của một số cá nhân.Lênin viết trong tác phẩm nhà nước và cách mạng: “Những cuộc cáchmạng là những đầu tầu của lịch sử Mác đã từng nói như vậy Cách mạng là
Trang 10ngày hội của những người áp bức và bóc lột không lúc nào quần chúngnhân dân lại có thể tỏ ra là người sáng tạo ra trật tự xã hội mới được tíchcực như trong thời kỳ cách mạng Trong những thời kỳ như thế cứ theonhãn quan hẹp hòi tiểu tư sản, theo quan điểm tiệm tiến mà nói thì quầnchúng có thể làm nên những thành công”.
Trong tác phẩm tuyên ngôn của Đảng cộng sản (1848) Mác-Ăngghensau khi phân tích quá trình hình thành, phát triển của chủ nghĩa tư bản Cácông đã chứng minh sự ra đời, phát sinh phát triển của chủ nghĩa tư bản làmột tất yếu lịch sử đồng thời chỉ ra những mâu thuẫn của phương thức sảnxuất tư bản chủ nghĩa, đối kháng giai cấp giữa giai cấp tư sản và giai cấp vôsản trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Từ đó Mác- Ăngghen đãchỉ ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: xóa bỏ chế độ tư bản chủnghĩa Xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân,nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèonàn, lạc hậu, xây dựng xã hội mới- xã hội cộng sản văn minh
Trong tác phẩm này Mác cũng chỉ ra rằng cuộc đấu tranh của giai cấp
vô sản chống lại giai cấp tư sản trước hết diễn ra trên mảnh đất dân tộc ởmỗi nước, giai cấp công nhân phải thủ tiêu sự thống trị của giai cấp tư sảnbằng cách đoàn kết tất cả các lực lượng tiến bộ xung quanh mình và nguyêntắc sách lược của Đảng cộng sản phải ủng hộ cho mọi phong trào chống chế
độ đương thời, tìm mọi cách tập hợp lực lượng dân chủ, trong đó nhữngngười cộng sản phải giữ tính độc lập của mình.và ở những nước chưa hoànthành cách mạng dân chủ tư sản thì Đảng cộng sản phải đấu tranh chung vớigiai cấp tư sản để chống lại chế độ phong kiến.Trong trường hợp đó giaicấp vô sản phải nắm vũ khí, để khi chiến thắng chế độ phong kiến thì tiếnhành đấu tranh chống lại giai cấp tư sản Mác-Ăngghen cũng chỉ rõ giai cấp
vô sản muốn thực hiện được vai trò lãnh đạo cách mạng phải trở thành giai
Trang 11cấp dân tộc: “Giai cấp vô sản mỗi nước, trước hết phải giành lấy chínhquyền, phải tự xây dựng mình thành một giai cấp dân tộc”{5,tr565} TrongTuyên ngôn Đảng cộng sản Mác -Ăngghen cũng đã chỉ rõ sự nghiệp giảiphóng giai cấp công nhân chỉ có thể thực hiện được với điều kiện côngnhân tất cả các nước phải liên hiệp phải đoàn kết lại Mác đã nêu ra khẩuhiệu chiến lược: “vô sản tất cả các nước liên hiệp lại”và Lê nin đã kế thừa,phát triển trong thời đại Đế quốc chủ nghĩa: “vô sản tất cả các nước và cácdân tộc bị áp bức, đoàn kết lại”.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng đã khẳng định rằng
sự liên minh giai cấp, trước hết là liên minh giai cấp công nông là hết sứccần thiết đảm bảo cho thắng lợi của giai cấp vô sản: “không có sự cố gắng
tự nguyện tiến tới sự liên minh và sự thống nhất của giai cấp tư sản thìkhông thể chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản được….cuộc đấu tranhcủa giai cấp vô sản là để giành lấy sự đồng tình, ủng hộ của đa số nhân dânlao động”
Tuy nhiên để hoàn thành được sứ mệnh lịch sử, giai cấp công nhânphải thực hiên được những điều kiện hết sức cơ bản phải: Có một chínhđảng vững mạnh của giai cấp công nhân, nắm vững chủ nghĩa Mác-Lênin,
có đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn, có quan hệ mật thiết với quầnchúng, có khả năng tập hợp rộng rãi các giai cấp và tầng lớp và toàn thể dântộc
Chủ nghĩa Mác đã chỉ cho Hồ Chí Minh con đưòng Tự giải phóng
Đó là con đường tập hợp đoàn kết dân tộc đấu tranh chống chủ nghĩa đếquốc thực dân Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc là người yêu nước Việt Nam đầutiên đến với chủ nghĩa Mác- Lênin và là người đầu tiên tìm thấy ở họcthuyết cách mạng đó cái “cần thiết”, “cẩm nang thần kỳ”, là kim chỉ nam, làmặt trời soi sáng con đường giải phóng dân tộc Việt Nam vì vậy khi đọc
Trang 12luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc thuộc địa Người đã sung sướngthốt lên rằng: “Luận cương của Lênin làm cho tôi cảm động, phấnkhởi,sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi mừng đến phát khóc lên Ngồi mộtmình trong buồng tối mà tôi nói to lên như nói trước quần chúng đông đảo.
“ Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây làcon đường giải phóng chúng ta”
Hồ chí Minh đã vận dụng sáng tạo tư tưởng chủ nghĩa Mác- Lênincoi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng vào điều kiện lịch sử cụ thể củaViệt Nam thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiêp giảiphóng dân tộc Người khẳng định: cách mạng là sự nghiệp của quần chúngchứ không phải là việc của một hai người, của một cá nhân anh hùng nào
Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ vai trò của quần chúng nhân dântrong lịch sử, vị chí của khối liên minh công nông, vai trò của Đảng cộngsản, đồng thời đã giải đáp được những vấn đề mà bấy lâu nay Nguyễn ÁiQuốc đang tìm kiếm vì vậy trong tác phẩm Đường Kách Mệnh Ngườikhẳng định: “bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩchân chính nhất, chắc chắn nhất là chủ nghĩa Lênin”{3,tr 267}
Như vậy với hành trang chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết,
cố kết cộng đồng của dân tộc Viêt Nam Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìmđường cứu nước để cuối cùng Người lựa chọn, một học thuyết, một conđường phù hợp với tiêu chuẩn, với giá trị truyền thống của dân tộc Thôngqua quá trình bôn ba tìm đường cứu nước Người đã nhận rõ nhu cầu củadân tộc Việt Nam cũng là của dân tộc và nhân loại toàn thế giới đó là giảiphóng khỏi áp bức dân tộc Như vậy, Người đã từ một người yêu nước trởthành một chiến sĩ cộng sản quốc tế Suốt cuộc đời đấu tranh vì sự nghiệpgiải phóng dân tộc và nhân dân lao động toàn thế giới Vì vậy, Người đã tập
Trang 13hợp được khối đại đoàn kết rộng lớn của những người yêu độc lập, tự do,hòa bình, chính nghĩa trên toàn thế giới.
Hồ Chí Minh đã đúc kết tư tưởng đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh thông qua những kinh nghiệm thành công và thất bại của phong trào cách mạng việt Nam và cách mạng thế giới, Người đã rút ra những bài học cần thiết cho việc hình thành tư tưởng đại đoàn kết dân tộc
Dân tộc Việt Nam có bề dày lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời,
có một nền văn hiến phong phú giàu bản sắc dân tộc, có được tài sản đótrước hết đó là sự tham gia tích cực của nhân dân- cội nguồn của sức mạnhdân tộc, đồng thời có công lao đóng góp của các lãnh tụ vĩ đại Song trong ýthức của mọi người dân của nhiều vua hiền tài giỏi thì dân vẫn là cội rễ củasức mạnh, là nhân tố quyết định sự hưng vong của các triều đại: “vua tôihòa thuận cả nước góp sức”, “muốn mưu việc lớn, tính kế muôn đời chocon cháu thì trên vâng mệnh trời dưới theo ý dân”, “khoan thư sức dân đểlàm kế sâu gốc bền rễ đó là thượng sách giữ nước” và “Nhân dân là thànhđồng của Tổ quốc”
Phát huy truyền thống đó, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta vàogiữa thế kỷ XIX chúng đã biến nước ta thành một nước thuộc địa nửaphong kiến thì sức mạnh đoàn kết của dân tộc Việt Nam đã trỗi dậy mạnh
mẽ chống bọn xâm lược cướp nước và bán nước bảo vệ độc lập tự do củadân tộc Tuy vậy, lần lượt các cuộc kháng chiến theo phương thức thờiphong kiến xưa như phong trào “Cần Vương”; phương sách nhờ viện trợnước ngoài như phong trào “Đông Du”(Phan Bội Châu) như vậy chẳngkhác nào đuổi hổ cửa trước rước beo cửa sau; xu hướng cải lương dần bắttay với địch như phong trào “Duy Tân”(Phan Chu Trinh), nhưng chẳngkhác nào xin giặc rủ lòng thương; phong trào khởi nghĩa nông dân Yên Thế(Hoàng Hoa Thám), nhưng còn mang nặng cốt cách phong kiến, khởi nghĩa
Trang 14Yên Bái …Tất cả các phong trào yêu nước đều lần lượt bị dìm trong biểnmáu, trong thời đại mới, nếu chỉ có tinh thần yêu nước thôi thì không đủ đểđánh thắng các thế lực đế quốc xâm lược Có nhiều nguyên nhân khác nhaudẫn đến thất bại của các phong trào cách mạng, một trong những nguyênnhân đó là người lãnh đạo chưa biết tập hợp lực lượng, chưa phát độngđược phong trào sâu rộng trong quần chúng.
Hồ Chí Minh trân trọng mọi công phu tìm kiếm, khâm phục tâmhuyết của các bậc tiền bối, nhưng có những suy nghĩ phê phán Thấy rõ tất
cả các con đường lựa chọn đều không có hiệu quả Hồ Chí Minh suy nghĩnhiều về những nguyên nhân thất bại ấy, nguyên nhân chính là chưa tìmthấy được một con đượng cách mạng đúng đắn Với lòng yêu tổ quốc, yêunhân dân vô hạn với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ, Nguyễn Ái Quốc- Hồ ChíMinh đã kiên quyết ra đi tìm đường cứu nước
Khi ra đi tìm đường cứu nước, đi tới nhiều châu lục, làm nhiều nghềkhác nhau để kiếm sống, vừa tiến hành khảo sát chủ nghĩa thực dân, đếquốc Điều đó đã mở rộng tầm thức của Người và Người đã rút ra một kếtluận quan trọng: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giốngngười: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột, mà chỉ có một tìnhhữu ái là thật mà thôi, tình hữu ái vô sản” và “chỉ có chủ nghĩa cộng sảnmới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc vànguồn gốc tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết ấm no trên quả đất việc làmcho mọi người và vì mọi người, niềm vui,hòa bình, hạnh phúc”{416}
Người đã nghiên cứu cách mạng tư sản Mỹ, Pháp và Người cho rằngnhững cuộc cách mang này đã mang lại nhưng giá trị nhất định nhưng chỉ là
“cách mạng không đến nơi” Tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của các nướcthuộc địa, Người nhìn thấy sức mạnh tiềm ẩn to lớn và những hạn chế của
Trang 15các dân tộc này Đó là chưa có sự lãnh đạo đúng đắn, chưa có và chưa biết
tổ chức, chưa biết đoàn kết lại
Nghiên cứu cách mạng Pháp (1789) trong tác phẩm Đường KáchMệnh Người đã rút ra bài học kinh nghiệm từ cuộc cách mạng đó, về sứcmạnh của khối đại đoàn kết: “ công nông là gốc của cách mệnh, cách mệnhthì phải có tổ chức…dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũngkhông chống lại” Khi cách mạng tháng Mười Nga thành công Người đãtìm thấy con đường và những bài học quý báu của cuộc cách mạng này:
“Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng, muốn cách mệnh thàng công thìphải dân chúng(công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền …phải hy sinh,phải thống nhất Nói tóm lại phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”.Cách mạng tháng mười Nga thành công bởi vì công nông đã thực sự đoànkết, có đảng cộng sản lãnh đạo với đường lối tập hợp đoàn kết đúng đắn:
“Một là, về phần mình, cách mạng tháng mười Nga được sự ủng hộ tích cựccủa tuyệt đại đa số giai cấp công nhân Nga Hai là, cách mạng tháng MườiNga được sự ủng hộ chắc chắn của nhân dân nghèo và của đa số binh línhkhao khát hòa bình và ruộng đất Ba là, đứng đầu cách mạng tháng Mười,với tư cách là một lực lượng lãnh đạo có đảng Bôn- xê- vích, một đảng từngtrải mạnh mẽ không những về kinh nghiệm và kỉ luật đã được tôi luyện từbao nhiêu năm, mà còn vì những mối liên hệ rộng rãi với quần chúng cầnlao nữa”{5,tr 69}
Thực tiễn cách mạng ở Trung Quốc và Ấn Độ được Hồ Chí Minhđặc biệt chú ý vì hai nước này đã để lại cho Việt Nam nhiều bài học bổ ích
về tập hợp lực lượng đoàn kết dân tộc, giai cấp Đảng phái tôn giáo như: chủtrương “liên nga thân cộng ủng hộ công nông”, “hợp tác quốc cộng” củaTôn Trung Sơn
Trang 16Nguyễn Ái Quốc đã thấy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc.Người đã “khơi dậy tiềm năng bị chôn vùi, phát huy những sức mạnh sẵn
có, làm nẳy nở cái mới cái hay, cái đẹp của cả dân tộc và trong mỗi conngười”{13,tr 2} Người cũng chỉ rõ lực lượng của cách mạng An Nam đó là:
“Công nông là gốc của cách mệnh, học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ làbạn của công nông ” Như vậy người đã chỉ rõ hai động lực chính của cáchmạng là công nông và nông dân đồng thời phải liên minh với giai cấp, tầnglớp khác như tiểu tư sản, trí thức, một bộ phận trung và tiểu địa chủ có lòngyêu nước
Như vậy, thông qua tổng kết lịch sử Việt Nam và kinh nghiệmcách mạng thế giới, thông qua hoạt động thực tiễn của mình Hồ Chí Minh
đã rút ra luận điểm: Cách mạng muốn thành công thì phải có sự đoàn kếtkhông chỉ đoàn kết trong nước mà còn đoàn kết quốc tế Từ đây Hồ ChíMinh đã hình thành nên chiến lược đại đoàn kết dân tộc Việt Nam
Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh không chỉ được hình thành từ yếu tố khách quan nói chung mà nó còn có sự đóng góp của yếu tố chủ quan.
Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước và thanh bạch Ngay từthuở nhỏ Hồ Chí Minh đã được tiếp thu từ cha tư tưởng “yêu nước là áidân” Quê hương Nghệ Tĩnh nơi sinh ra Hồ Chủ Tịch là mảnh đất địa linhnhân kiệt giàu truyền thống cách mạng Với tư chất thông minh tư duy độclập, sáng tạo, ham hiểu biết, nhạy bén với thời cuộc, với khả năng phân tíchkhái quát tổng hợp Hồ Chí Minh đã tiếp nhận mạch ngầm văn hóa truyềnthống và thời đại Những yếu tố này đã hình thành nên tư tưởng đại đoànkết Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng xây dựng đất nước
Trong suốt cuộc đời cách mạng của mình Hồ Chí Minh luôn luônnêu cao tư tưởng đại đoàn kết toàn dân, vì đại nghĩa dân tộc và thường
Trang 17xuyên chăm lo vun đắp cho rừng cây đại đoàn kết ngày càng nảy lộc, đâmchồi, nở hoa kết trái đồng thời với đạo đức trong sáng, tác phong bình dịchân tình nên có sức cảm hóa lớn đối với mọi người không chỉ là tấmgương về đại đoàn kết kêu gọi và vận động mọi người đoàn kết mà Ngườicòn thăm hỏi động viên quan tâm gần gũi tới từng người Người đã cảm hóatập hợp, lôi cuốn nhân dân bằng tấm lòng trung với nước, hiếu với dân bằng
cả cuộc đời cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, bằng bốn phương vô sảnđều là anh em Chính tấm gương đạo đức trong sáng của người đã biếnthành sức mạnh quy tụ mọi người dân yêu nước đấu tranh cho hòa bình-chính nghĩa
Tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh đã trở thành đỉnh cao tư tưởngđại đoàn kết nhân loại Đó là sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, giữa chủquan và khách quan Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc gắn liền với cuộc đờiđấu tranh và hoạt động thực tiễn của Người, được ra đời trên nền tảng vữngchắc cả về lý luận và thực tiễn tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh đã trởthành một đường lối cứu nước của dân tộc ta và đã làm nên những thắng lợi
vẻ vang quyết định vận mệnh của dân tộc Do vậy tư tưởng đại đoàn kết HồChí Minh vẫn mãi trường tồn với thời gian
1.2 Một số nội dung cơ bản tư tưởng đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là một hệ thốngnhững luận điểm, nguyên tắc giáo dục, tập hợp và tổ chức lực lượng cáchmạng tiến bộ nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh dân tộc và sứcmạnh thời đại trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủnghĩa xã hội Nói một cách khác, đó là tư tưởng xây dựng, củng cố mở rộnglực lượng cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giaicấp, giải phóng con người
Trang 18Cụ thể hóa khái niệm trên ta có thể xem xét tư tưởng đại đoàn Hồ ChíMinh ở những vấn đề sau:
1.2.1 Hồ Chí Minh coi đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng.
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng đoàn kết là sức mạnh của dân tộc giúp chodân tộc ấy có thể chiến thắng được mọi kẻ thù mặc dù kẻ thù ấy mạnh hơn
ta rất nhiều lần: “Khi một dân tộc đã đoàn kết và kiên quyết tranh lại quyềnđộc lập thì dân tộc ấy nhất định thắng lơị và dù bao nhiêu đế quốc cũngkhông ngăn cản được thắng lợi ấy {6, tr 146} vì vậy, phải biết tập hợp lựclượng cách mạng xây dựng lực lượng cách mạng, xây dựng sức mạnh dântộc Người đã thấy được sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trong suốtcuộc đời hoạt động cách mạng của mình Hồ Chí Minh luôn coi trọng việcphát huy, mở rộng khối đại đoàn kết của toàn dân tộc trong quá trình cáchmạng Hồ Chí Minh đã nêu ra những luận điểm có tính chân lý: “Đoàn kết làsức mạnh, đoàn kết là thắng lợi” và “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt củathành công”, “Đoàn kết là điểm mẹ, điểm mẹ mà thực hiện tốt thì đẻ ra concháu đều tốt”
Thông qua thực tiễn cách mạng Việt Nam Người đã nhận thấy rằngnếu không đoàn kết lại thành một khối thống nhất thì không thể thắng được
âm mưu vô cùng xảo quyệt của kẻ thù Trong tác phẩm “Bản án chế độ thựcdân pháp”, Người đã vạch rõ âm mưu “ chia để trị” của kẻ thù và khẳngđịnh tính tất yếu khách quan của đại đoàn kết dân tộc để chiến thắng kẻ thù:
“Chủ nghĩa thực dân Pháp không hề thay đổi phương châm “ chia để trị”của nó Chính vì thế mà nước An Nam, một nước chung một dân tộc, mộtdòng máu, chung một tiếng nói đã bị chia năm xẻ bảy Lợi dụng sự xảo trá
sự chia cắt ấy người ta hy vọng làm nguội được tình đoàn kết nghĩa đồngbào trong người An Nam và tạo nên sự xung khắc anh em ruột thịt với
Trang 19nhau”.{3,tr116} Vì vậy, chỉ có đoàn kết mới đánh bại được âm mưu chia rẽcủa kẻ thù Người thấy rằng người việt Nam có “tình đoàn kết, nghĩa đồngbào sâu nặng” vì vậy, cần phải khơi dậy tình đoàn kết nghĩa đồng bào sâunặng tập hợp mọi lực lượng yêu nước trong nhân dân.
Hồ Chí Minh coi đại đoàn kết dân tộc là một đường lối chiến lượccủa cách mạng Việt Nam, là nguồn sức mạnh là động lực của cách mạng.Đại đoàn kết dân tộc theo Người không phải là một thủ đoạn chính trị mà làmột chủ trương chiến lược lâu dài: “Đoàn kết của chúng ta không nhữngrộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài…không phải là một thủ đoạn chính trị… ai
có tài, có đức có lòng phụng sự Tổ quốc thì ta đoàn kết với nhau” {7, tr438} Trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam Người luôn luôn củng cố,
mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc coi đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lốichủ trương của Đảng
Chính vì vậy, Người đã khẳng định cách mạng muốn thắng lợi phảidựa vào sức mình là chính, bằng tinh thần đoàn kết của chính dân tộc mình
Do đó Người luôn luôn tin tưởng vào sức mạnh, tinh thần đoàn kết quậtkhởi của dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam đứng lên: Đem sức ta màgiải phóng cho ta không ỷ lại, chờ đợi vào cách mạng chính quốc
Xuất phát từ sự kế thừa quan điểm giá trị truyền thống cách mạng củaông cha ta “nước lấy dân làm gốc”, “người đẩy thuyền cũng là dân mà lậtthuyền cũng là dân”, “dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dânliệu cũng xong” đồng thời vận dụng quán triệt sâu sắc nguyên lý maxit:cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, nhân dân là người sángtạo ra lịch sử Nên trong bất kỳ hoàn cảnh nào Người cũng nhằm xây dựnglực lượng cách mạng dựa vào quần chúng nhân dân, phát huy nhiệt tìnhcách mạng, ý chí quyết chiến quyết thắng,chí thông minh sáng tạo của nhândân Người khẳng định:” trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân trong
Trang 20thế giới không có gì mạnh bằng sức mạnh của nhân dân”, Người còn chỉrõ: “có lòng dân thì có tất cả mất lòng dân là mất hết”.
Tuy nhiên theo Người mỗi quốc gia dân tộc cũng có những giai cấptầng lớp khác nhau họ có những nhu cầu lợi ích khác nhau Song dù thế nào
họ cũng có những nhu cầu lợi ích chung là lợi ích tối cao của dân tộc vàcũng chính trong mỗi một dân tộc lợi ích tối cao của dân tộc được giảiquyết thì lợi ích cơ bản thiết thân của mỗi con người, mỗi giai cấp cũngđược đảm bảo
Vì vậy, để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc rộng rãi Người luônluôn tìm kiếm, chân trọng, phát huy, những yếu tố tương đồng Người luôncoi mỗi người dân Việt Nam đều là “ con rồng cháu tiên” vì vậy “ai cũng có
ít hay nhiều lòng yêu nước” Chính vì thế để mở rộng khối đại đoàn kết dântộc người yêu cầu Đảng, Nhà nước phải có chủ trương chính sách đúng đắntheo Người: bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền lợi đều vì dân.cách mạng rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều chớ để trong tay bọn
ít người và khi đất nước được độc lập thì “ tất cả quyền bính trong nước làcủa toàn thể nhân dân Việt Nam.Việc nước là việc chung”nên mỗi ngườidân “đều phải gánh vác một phần trách nhiệm”
Vì thế cho nên, trong mỗi giai đoạn cách mạng Hồ Chí Minh luôn cónhững chủ trương chính sách đúng đắn để quy tụ nhân dân lao động thànhmột khối thống nhất, mở rộng khối đại đoàn kết trong bất cứ một cuộc cáchmạng nào cũng phân thành ba tuyến lực lượng: Lực lượng cách mạng, lựclượng phản cách mạng, lực lượng trung gian Sự thành bại của mỗi cuộccách mạng không chỉ phụ thuộc hoàn toàn thực lực cách mạng mặc dù lựclựơng cách mạng luôn là yếu tố quyết định nhưng điều đó còn có nghĩa là
nó còn phụ thuộc vào sự ủng hộ của lực lượng trung gian, sự phân hóa cô
Trang 21lập kẻ thù chủ tịch Hồ Chí Minh có chiến lược khác nhau đối với các lựclượng cách mạng
Với lực lượng cách mạng chủ yếu là công nhân, nông dân, trí thứcphương pháp đại đoàn kết Hồ chí Minh là khai thác phát huy sự thống nhấttương đồng; hạn chế tiến tới xóa bỏ sự khác biệt về mục tiêu, lợi ích giaicấp lấy lợi ích chung làm nên tảng từng bước giải quyết lợi ích riêng
Với lực lượng trung gian: từng bước giải tỏa mặc cảm cho họ, kíchthích lòng yêu nước thu hút họ về phía cách mạng, Người dùng hình tượngnăm ngón tay có ngón dài ngón ngắn, nhưng ngắn dài đều tập hợp lại nơibàn tay Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác nhưng họđều thuộc dòng dõi tổ tiên ta Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ, ta phảinhận rằng đã là con hồng cháu lạc thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc.Đối với đồng bào lầm đường lạc lối ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ,
có đoàn kết thì mới có tương lai, mới chắc chắn có vẻ vang”, khối đoàn kếtđược mở rộng ngay cả đối với những người trước đây đã chống lại chúngta
Với các thế lực thù địch chủ trương cô lập phân hóa chúng đến cao
độ, lôi kéo tranh thủ được những ai có thể tranh thủ được còn những ai đã
lộ rõ mặt phản động thì kiên quyết tiêu diệt
Với chủ trương phương pháp đoàn kết đúng đắn đã quy tụ mọi ngườivào khối đại đoàn kết dân tộc xây dựng nên độc lập thống nhất cho tổ quốc,hướng tới cuộc sống tự do ấm no hạnh phúc cho nhân dân là mẫu số chungcủa sự đoàn kết toàn dân tộc
1.2.2 Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng
Hồ Chí Minh cho rằng, đại đoàn kết dân tộc không chỉ là một mụctiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ
Trang 22hàng đầu của cả dân tộc Bởi vì đại đoàn kết dân tộc chính là sự nghiệp củaquần chúng, do quần chung, vì quần chúng cho nên đoàn kết dân tộc khôngphải là chủ trương xuất phát từ sự cần thiết, từ sự mong muốn, ý chí chủquan của lực lượng lãnh đạo cách mạng mà là một nhu cầu nội tại kháchquan của chính quần chúng trong đấu tranh tự giải phóng mình Tuy nhiênbản thân quần chúng không thể tự mình nhận thức được một cách đầy đủcách mạng một cách tự giác Vì vậy phải có một tổ chức tiền phong giúp họ
đó là Đảng cộng sản theo Người trước hết phải có đảng cách mệnh để trongthì vận động tổ chức quần chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị ápbức và vô sản giai cấp mọi nơi và Đảng có vững thì cách mệnh mới thànhcông cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy
Đảng có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, đoàn kết quần chúng và lôi kéocác tầng lớp nhân dân khác đứng lên làm cách mạng.Vậy Đảng là ai Đảng
là mỗi chúng ta Đảng lớn lên do mỗi chúng ta lớn lên.Vì vậy phải coi trọngcông tác xây dựng chỉnh đốn Đảng phê bình và tự phê bình không chỉ làtrách nhiệm của mỗi đảng viên mà là của mỗi người dân Đồng thời Ngườicũng chỉ ra Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng aicũng phải hiểu ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy Đảng mà không có chủnghĩa cũng như người không có chí khôn, cũng như tàu không có bàn chỉnam Đảng phải theo chủ nghĩa Mác-Lênin
Trong bất cứ giai đoạn nào Đảng cũng phải là một tổ chức cách mạngchân chính tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của thời đại.Vì vậy,Người đã căn dặn “ luôn giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng như giữ gìn conngươi của mắt mình” để Đảng xứng đáng là hạt nhân của khối đại đoàn kếttoàn dân, đảm bảo cho sự nghiệp của giai cấp công nhân và nhân dân ViệtNam giành thắng lợi
Trang 23Đảng phải làm gì để phát huy được tính tiền phong gương mẫu đó là
“đảng viên đi trước làng nước theo sau”, cán bộ là đày tớ, là công bộc củanhân dân mỗi đảng viên cần có những phẩm chất cần, kiệm, liêm, chính, chícông vô tư, phải có chí, dũng, mưu và việc gì có lợi cho dân thì cố gắnglàm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh Để vận động tuyên truyềngiáo dục quần chúng nhân dân đòi hỏi trước hết đó là có đạo đức: “cũngnhư sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải
có gốc không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đức không cóđức thi tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình Hồ Chí Minh làmột tấm gương đạo đức trong sáng về đại đoàn kết dân tộc về đạo đức cáchmạng, cả cuộc đời người hiến dâng cho dân tộc Người nói: “cả cuộc đời tôichỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc củanhân dân” Người là tấm gương mẫu mực trong việc sử dụng có hiệu quảcác hình thức tuyên truyền giáo dục, thuyết phục, vận động quần chúng vớiphong cách bình dị lời nói dễ hiểu, dễ di vào lòng người đã động viên đượcđông đảo quần chúng nhân dân lao động đi theo cách mạng
1.2.3 Trong tư tưởng Hồ Chí Minh đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân
Kế thừa, phát triển biện chứng truyền thống của dân tộc và nguyên lýcủa chủ nghĩa Mác- Lênin nhân dân là đầu tầu của cách mạng, là ngưòi làmnên lịch sử Hồ Chí Minh đã đưa ra khái niệm Nhân dân rất mới mẻ, Ngườiquan niệm Dân, Nhân dân để chỉ “mọi con dân nước Việt”, “mọi con rồngcháu Tiên”, không phân biệt dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, không phânbiệt già, trẻ, gái, trai, giàu, nghèo Người đã nhận thức được vai trò to lớncủa nhân dân: có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy cũnglàm được Không có thì việc gì cũng không xong Dân chúng biết cách giải
Trang 24quyết nhiều vấn đề một cách đơn giản, mau chóng, đầy đủ mà người tàigiỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ mãi không ra
Trong cách mạng chỉ có sự đồng tâm hiệp lực thì cách mạng mớithành công Người nhận thấy nước Việt Nam là một nước: có chung mộtdòng máu, chung một phong tục, chung một lịch sử, chung một truyềnthống, chung một tiếng nói, người Việt Nam co tình đoàn kết nghĩa đồngbào sâu nặng Vì vậy, trong sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà Ngườiluôn chăm lo xây dựng, mở rộng khối đoàn kết dân tộc: “ta đoàn kết là đểđấu tranh cho thống nhất nước nhà Ai có tài, có đức, có lòng phụng sự tổquốc thì ta đoàn kết với họ”
Để thực hiện được khối đại đoàn kết rộng rãi theo Người phải kế thừatruyền thống yêu nước - đoàn kết – nhân nghĩa của dân tộc, phải khoandung độ lượng với con người, ngay cả với những người lầm đường, lạc lối
mà biết hối cải thì ta vẫn biết cách kéo học về phái dân tộc, đoàn kết làkhông kiên định, không khoét sâu cách biệt Người đã chỉ ra: “bất kỳ ai màtán thành hòa bình, thống nhấtđộc lập, dân chủ thì dù những người đó trướcđây có chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”{tập
7 tr 438}
Để thực hiện được khối đại đoàn kết vững chắc rộng rãi toàn dânphải dựa trên nền tảng: lấy liên minh công nông làm nền tảng vững chắc đểđoàn kết các tầng lớp khác trong nhân dân Người chỉ rõ “trong giai đoạnhiện nay, giai cấp công nhân là giai cấp độc nhất và duy nhất! có sứ mệnhlịch sử là lãnh đạo cách mạng đến thắng lợi cuối cùng, bằng cách liên minhvới giai cấp nông dân” Có như thế mới phát triển và củng cố được lựclượng cách mạng và đưa cách mạng đến thắng lợi cuối cùng
Chính tư tưởng coi sự nghiệp cách mạng là của quần chúng nhân dân
vì quần chúng nên Hồ Chí Minh đã huy động được toàn dân đoàn kết thành
Trang 25một khối thống nhất đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng nước nhà, giảiphóng con người giành độc lập tự do cho tổ Quốc.
1.2.4 Đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất có
tổ chức là Mặt trận dân tộc thống nhất.
ở Hồ Chí Minh đại đoàn kết dân tộc không chỉ dừng lại ở quan điểm
tư tưởng, ở những lời kêu gọi mà trở thành một chiến lược cách mạng, trởthành khẩu hiệu hành động của toàn Đảng toàn dân ta Đại đoàn kết dân tộcbiến thành sức mạnh vật chất, thành lực lượng vật chất có tổ chức Đó làMặt trận dân tộc thống nhất, Mặt trận là cơ sở chính trị của chính quyềnnhân dân, thắt chặt mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng: “ Mặt trận dân tộcthống nhất chính là cái cốt vật chất, là điều kiên tiên quyết để chuyển hóasức mạnh tinh thần tiềm ẩn thành sức mạnh vật chất hiện thực của dântộc”{8, tr 23-24}
Trong mỗi thời kì cách mạng Hồ Chí Minh và Đảng ta đã xây dựngmặt trận dân tộc thống nhất với nhiều hình thức, nội dung.tên gọi khác nhaunhư: Hội phản đế đồng minh (1930), Mặt trận dân chủ (1936), Mặt trậnnhân dân phản đế (1939), Mặt trận Việt minh (1941), Mặt trận LiênViệt(1946), Mặt trận dân tộc giải phóng Miền nam Việt Nam (1960), Mặttrận Tổ Quốc Việt Nam (1955), (1976) cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụcủa từng thời kì cách mạng Dù tên gọi khác nhau nhưng chỉ là một tổ chứcchính trị rộng rãi, tập hợp đông đảo các giai tầng, dân tộc, tôn giáo, đảngphái trong và ngoài nước
Thực tiễn lịch sử nước ta đã chứng minh thành công của cách mạngnước ta là nhờ có đoàn kết quần chúng trong các Mặt trận: đoàn kết trongMặt trận Việt Minh, nhân dân ta làm nên cách mạng tháng tám thành công,lập nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa; đoàn kết trong Mặt trận LiênViệt, nhân dân ta kháng chiến thắng lợi, lập nên hòa bình ở Đông Dương;
Trang 26đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhân dân ta giành thắng lợitrong công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và trong sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc; đoàn kết trong Mặt trận dântộc giải phóng Miền Nam Việt Nam, nhân dân ta đánh cho Mỹ cút, đánhcho ngụy nhào; đoàn kết trong Mặt trận Việt Nam (1970) xây dựng xã hộimới- xã hội chủ nghĩa
Hồ Chí Minh đã hy sinh suốt cuộc đời đấu tranh dành độc lập tự docho dân tộc Việt Nam và phấn đấu không mệt mỏi vì sự bình đẳng giữa cácdân tộc, cho phẩm giá của con người Với Người quyền cơ bản và thiêngliêng nhất của con người đó là quyền sồng, quyền tự do và quyền mưu cầuhạnh phúc, quyền bình đẳng giữa con người với con người giữa các dân tộcvới nhau vì vậy ở Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh bạn bè quốc tế đã cảmnhận được điều mới mẻ của ngày mai, cảm nhận sự bình yên mênh môngcủa tình hữu ái quốc tế, tình nhân ái bao la cho dân tộc và nhân loại
Vì vậy, tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh luôn gắn với đại đoànkết quốc tế Đoàn kết bên trong để tạo ra thế và lực vươn ra bên ngoài.Đồng thời đoàn kết quốc tế để tăng sức mạnh bên trong Phương pháp đoànkết Hồ Chí Minh là kiên trì độc lập tự chủ với đoàn kết quốc tế, phấn đấuvun đắp cho tình cảm trong sáng, thủy chung giữa các dân tộc có cùngnguyện ước Nhưng người cũng khẳng định, trước hết phải đem sức ta màgiải phóng cho ta, phải có ý trí tự lực, tự cường thì mới nhận được sự tôntrọng ủng hộ của người khác đồng thời xem việc giúp bạn là tự giúp mình Người đã nêu lên một luận điểm sáng tạo nổi tiếng: “Cách mạng ở các nướcthuộc địa có thể nổ ra và thắng lợi trước cách mạng vô sản chính quốc vàtác động trở lại thúc đẩy phong trào cách mạng chính quốc”
Hồ Chí Minh khẳng định: “ Đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết,thành công thành công đại thành công” Người là hiện thân của khối đại
Trang 27đoàn kết dân tộc, là biểu tượng cao đẹp của tinh thần đại đoàn kết dân tộc.
Cả cuộc đời Người phấn đấu không biết mệt mỏi cho việc xây dựng khốiđại đoàn kết dân tộc mở rộng tình đoàn kết giữa các dân tộc trên thế giới
Tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh đã phát huy được sức mạnh tổng hợpcủa dân tộc được khơi nguồn từ sự nghiệp chính nghĩa vì độc lập tự do vàphát triển của dân tộc Sức mạnh tổng hợp về vật chất và tinh thần của dântộc Việt Nam đã được phát huy cao độ, được nhân lên gấp bội khi kết hợpvới các dân tộc trên thế giới đấu tranh vì hòa bình độc lập dân tộc dân chủ
và tiến bộ xã hội
Thông qua việc học tập, nghiên cứu được giáo dục và giác ngộ tưtưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minhnói riêng Đảng ta đã nhận thức được tầm quan trọng của sức mạnh đoànkết dân tộc và đoàn kết quốc tế Coi đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiếnlược của cách mạng Đảng ta đã vận dụng có hiệu quả tư tưởng đại đoàn kếtdân tộc Hồ Chí Minh trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam
Trang 28Chương 2
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỚI VIỆC VẬN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC HỒ CHÍ MINH TRONG HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN 1945 – 1975.
2.1 Khái quát sự vận dụng và phát triển tư tưởng đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh trong đấu tranh dành chính quyền.
2.1.1 Thời kì 1930 – 1935.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX dưới ách thống trị của thực dânPháp, nhiều phong trào yêu nước đã nổ ra nhưng đều lần lượt bị thất bại.Cách mạng Việt Nam đứng trước sự khủng hoảng sâu sắc về đường lối vàgiai cấp tiền phong lãnh đạo
Trước yêu cầu của lịch sử ngày 3/2/1930 dưới sự chủ trì của Nguyễn
Ái Quốc hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản được triệu tập thành lậpĐảng Cộng sản Việt Nam Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vĩđại trong lịch sử cách mạng nước ta chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối
và giai cấp lãnh đạo Từ đây Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ lãnh đạo cáchmạng Việt Nam, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam cập bến bờ hạnhphúc
Ngay từ khi mới ra đời Đảng đã đề ra chiến lược và sách lược đúngđắn cho cách mạng Việt Nam Trong đó Đảng đặc biệt chú ý đến vấn đề tập
Trang 29hợp lực lượng cách mạng, đoàn kết các giai cấp và tầng lớp tổ chức dưới sựlãnh đạo của Đảng để hợp thành một lực lượng cách mạng to lớn.
Để tập hợp được lực lượng đòi hỏi phải xác định mục tiêu của cáchmạng và mang lại quyền lợi cho những lực lượng cách mạng vì vậy thôngqua cương lĩnh của Đảng Cộng sản, Đảng ta đã xác định: “Chủ trương làm
tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộngsản” Đường lối cách mạng của Đảng đã xác định đó là đánh đổ phong kiếnđem lại ruộng đất cho dân cày, đánh đổ đế quốc Pháp tiến lên chủ nghĩa xãhội Như vậy đường lối cách mạng của Đảng đã gắn lợi ích giai cấp với lợiích dân tộc, giải quyết được lợi ích giai cấp trên cơ sở lợi ích dân tộc và đưađất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội – xã hội với đầy đủ tính ưu việt của nó.Điều này đã đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của đông đảo quần chúngnhân dân lao động, vì vậy được đông đảo quần chúng tin theo Đảng, tintheo cách mạng
Thực hiện mục tiêu trên Đảng đã chủ trương thực hiện liên minh giaicấp rộng rãi để tạo lực lượng cách mạng Sách lược vắn tắt đã chỉ rõ: Đảng
là đội tiền phong của giai cấp vô sản, Đảng phải thu phục được đại bộ phậngiai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng Đảngphải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vững vào hạng dâncày nghèo” {2, tr 3}
Với các giai cấp khác, sách lược chủ trương đoàn kết rộng rãi đồngthời phân hóa lôi kéo họ về phía cách mạng những ai có thể lôi kéo được,còn ai lộ rõ mặt phản cách mạng thì phải kiên quyết đánh đổ: “Đảng phảihết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, thanh niên, Tân Việt,phái Nguyễn An Ninh… còn đối với trung nông, tiểu địa chủ và tư bản AnNam mà chưa lộ rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm
Trang 30cho họ đứng trung lập Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng LậpHiến…) thì phải đánh đổ” {3, tr 3}.
Đồng thời Đảng ta chỉ rõ: “ Đảng lôi kéo tiểu tư sản, trí thức và trungnông về phía giai cấp vô sản; Đảng phải tập hợp hoặc lôi kéo phú nông, tưsản và tư sản bậc trung, đánh đổ các giai cấp phản cách mạng như ĐảngLập Hiến”
Trong khi tranh thủ tập hợp lực lượng rộng rãi, khối đoàn kết Đảng taluôn quán triệt công nông là gốc của cách mạng sách lược vắn tắt đã chỉ rõ:
“Đảng phải làm cho các đoàn thể, thợ thuyền và dân cày (công hội, hợp tácxã) khỏi dưới quyền lực và bọn tư bản quốc gia” và “trong khi liên lạc vớicác giai cấp phải cẩn thận, không khi nào được nhượng một chút lợi ích củacông nông mà đi vào con đường thỏa hiệp” {3, tr 3}
Hội nghị Ban chấp trung ương Đảng tháng 10/1930 đã thông qua
“luận cương chính trị” do Trần Phú khởi thảo đã xác định lực lượng cáchmạng và khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân trong phongtrào cách mạng với nhiệm vụ phản đế và phản phong Luận cương chỉ rõ:
“Vô sản giai cấp ở Đông Dương phần nhiều là dân cày hoặc thủ côngnghiệp mà hóa ra, còn đương mới mẻ chưa thoát khỏi những tư tưởng hẹphòi, những hủ tục phong kiến và ít biết chữ, cho nên sự giác ngộ giai cấp có
bị trở ngại Tuy vậy, giai cấp ấy rất tập trung và mỗi ngày lại thêm đông vàcách bóc lột, áp bức theo lối thuộc địa rất tàn nhẫn, thành thử vô sản giaicấp mau phá sự trở ngại ấy mà nổi lên đấu tranh ngày càng hăng hái đểchống lại tư bản đế quốc Vì vậy, cho nên vô sản giai cấp thành một độnglực chính, rất mạnh của cách mạng Đông Dương, lại là giai cấp lãnh đạodân cày và quần chúng lao khổ làm cách mạng Dân cày…là động lực chínhcủa cách mạng tư sản dân quyền” {9, tr 14, 15}
Trang 31Qua đây Đảng ta đã đánh giá đúng vị trí, vai trò của từng giai cấptrong quá trình tiến hành cách mạng Đảng ta đã đoàn kết các giai cấp vàtầng lớp vì mục tiêu chung do đó lần đầu tiên trong lịch sử hàng chục vạncông nhân và nông dân bị áp bức bóc lột trong cả nước liên minh chặt chẽdưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam vùng dậy đấu tranh chốngách thống trị của đế quốc phong kiến tạo thành cao trào cách mạng 1930 –
1931 Đây là cuộc tổng diễn tập đầu tiên của dân tộc ta
Qua thực tiễn đấu tranh cách mạng Đảng ta nhận thấy rằng do bị ápbức nặng nề của thực dân Pháp nên các đoàn thể cách mạng của quần chúngnhư: công nông, học sinh, binh lính và các đảng phái tiểu tư sản đã kế tiếpnhau ra đời Điều đó chứng tỏ có nhiều lực lượng phản đế yêu cầu kháchquan thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất thật rộng rãi Đáp ứng yêucầu của thực tiễn ngày 18/11/1930 sau hội nghị Trung ương lần thứ nhấtBan thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị về vấn đề thành lập “Hội phản
đế đồng minh” Bản chỉ thị nêu rõ việc đoàn kết toàn dân lại thành một tổchức, lực lượng thật là rộng rãi, lấy công nông làm hai động lực chính đây
là điều kiện tiên quyết dành thắng lợi trong cách mạng giải phóng dân tộc:
“Giai cấp vô sản lãnh đạo cuộc cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương
mà không tổ chức được toàn dân lại thành một lực lượng thật rộng, thật kínthì cuộc cách mạng cũng khó thành công {9, tr 22} Bản chỉ thị phê phánnhững nhận thức sai lầm trong Đảng là tách rời vấn đề dân tộc với vấn đềgiai cấp, nhận thức không đúng vai trò đoàn kết dân tộc, vai trò của hộiphản đế làm cho “Tổ chức cách mạng vẫn đơn thuần công nông và là mộtmàu sắc nhất định như Công hội đỏ, Nông hội đỏ, thanh niên đỏ, phụ nữđỏ… do đó thiếu một tổ chức thật quảng đại quần chúng để hấp thụ các tầnglớp trí thức dân tộc, tư sản dân tộc (họ là tầng lớp trên hay ở vào tầng lớpgiữa cũng vậy) và cho tới những người địa chủ có đầu óc oán ghét đế quốc
Trang 32Pháp, mong muốn quốc gia độc lập, để đưa tất cả những tầng lớp và cánhân đó vào trong hàng ngũ chống đế quốc Pháp để kịp động viên nhất tềnổi dậy” {9, tr 23}.
Bản chỉ thị cũng đã phân tích thái độ chính trị của các giai cấp vànhận thấy: “ một số trung tiểu địa chủ lại có xu hướng cách mạng và ủng hộcách mạng Ngay cả giai cấp tư sản dân tộc tuy không trực tiếp tham giavào phong trào cách mạng nhưng cũng không hề chống đối” Đây là điềukiện để Đảng ta mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc Bản chỉ thị là bước tiếntrong nhận thức của Đảng về đoàn kết dân tộc
2.1.2 Thời kì 1936 – 1939
Trước những chuyển biến của tình hình trong nước và quốc tế, đặcbiệt dưới ánh sáng chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của đại hội VII quốc tếcộng sản tháng 7/1935 xác định nhiệm vụ trước mắt của giai cấp công nhânchưa phải là đấu tranh đánh đổ toàn bộ chủ nghĩa tư bản mà đấu tranhchống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh đế quốc dành độc lập dân tộcdân chủ và hòa bình cho các dân tộc Để thực hiện nhiệm vụ đó cần thựchiện mặt trận dân tộc thống nhất của giai cấp công nhân và thiết lập mặttrận nhân dân rộng rãi chống chủ nghĩa phát xít
Trước tình hình đó Đảng ta đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiếnlược và xác định mục tiêu trước mắt của cách mạng nước ta là: Chống bọnphản động thuộc địa, chống phát xít, chống chiến tranh đòi tự do dân chủ,cơm áo hòa bình ngày 26/7/1936 hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng
họp đã chủ trương thành lập mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương: “Lập
mặt trận phản đế rộng rãi bao gồm các giai cấp, các đảng phái, các đoàn thểchính trị và tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, các dân tộc ở xứ Đông Dương
để cùng nhau đấu tranh đòi điều kiện dân chủ đơn sơ Sau 3/1938 phongtrào đấu tranh dân chủ phát triển mạnh mẽ lan rộng từ Bắc tới Nam trong