1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định thực hiện đầu tư FDI vào ASEAN của doanh nghiệp việt nam

102 332 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Với mục tiêu nghiên cứu tác động của các nhân tố: Corruption, Business, IPRS, SHRS, GDP, Population, Bilateral, Tax, RDI, Firms, MTB, MAP, Forex, Profits, Regional, Purpose đến qu

Trang 1

KHƯƠNG THỊ PHƯƠNG THẢO

NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THỰC HIỆN ĐẦU TƯ FDI VÀO ASEAN CỦA CÁC DOANH

NGHIỆP VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh - Năm 2016

Trang 2

KHƯƠNG THỊ PHƯƠNG THẢO

NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THỰC HIỆN ĐẦU TƯ FDI VÀO ASEAN CỦA CÁC DOANH

NGHIỆP VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn “ Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định thực hiện đầu tư

FDI vào ASEAN của doanh nghiệp Việt Nam” là công trình nghiên cứu của chính

tác giả, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lê Thị Lanh Các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu khác

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2016

Khương Thị Phương Thảo

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

TÓM TẮT

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4 Phạm vi nghiên cứu 2

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.6 Đóng góp của luận văn 3

1.7 Cấu trúc nội dung nghiên cứu 3

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 4

2.1 Khái niệm và các hình thức của FDI 4

2.2 Vai trò của FDI 6

2.3 Đặc điểm của FDI 8

2.3.1 Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước 8

2.3.2 Chu kỳ sản phẩm 8

2.3.3 Ảnh hưởng của FDI làm mở rộng vốn đầu tư mới của quốc gia 9

2.3.4 Ảnh hưởng của FDI tăng năng suất sản xuất thông qua đầu tư vốn theo chiều sâu 10

Trang 5

2.4.2 Học thuyết về lợi thế độc quyền, Stephen Hymer 13

2.4.3 Học thuyết nội bộ hoá (Internalization), Buckley và Casson 13

2.4.4 Lý thuyết về các bước phát triển của đầu tư (Investment Development Path - IDP), Dunning 14

2.5 Các nghiên cứu trước đây 18

2.5.1 Nghiên cứu nước ngoài 18

2.5.2 Nghiên cứu trong nước 24

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 26

3.1 Mô hình nghiên cứu 26

3.2 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu 33

3.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 33

3.2.2 Phương pháp xử lý dữ liệu 34

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

4.1 Thống kê tổng quát 39

4.2 Kiểm định và kết quả hồi quy 35

4.2.1 Nhóm phương trình hồi quy xem xét các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam vào các nước Asean 35

4.2.2 Nhóm phương trình hồi quy xem xét ảnh hưởng riêng của lợi nhuận doanh nghiệp Việt Nam trong mối liên hệ với biến động tỷ giá chéo giữa các quốc gia tới quyết định quyết định đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam vào các nước Asean 47

4.2.3 Nhóm phương trình hồi quy xem xét ảnh hưởng riêng của biến động giá chứng khoán doanh nghiệp Việt Nam trong mối liên hệ với quyết định quyết định đầu tư vào các nước Asean 54

Trang 6

5.1 Kết luận 58

5.2 Hạn chế của đề tài 60

5.3 Nghiên cứu đề xuất 61

Trang 7

ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian

Nations)

SUR: Phương trình hồi quy có vẻ không liên quan ( Seemingly Unrelated

Regressions)

FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( Foreign Direct Investment)

M&A: Mua bán và sáp nhập (Mergers and Acquisitions )

TTCK: Thị trường chứng khoán

MNC: Công ty đa quốc gia( Multinational Corporation)

DN: Doanh nghiệp

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Danh sách 29 doanh nghiệp Việt Nam được thu thập số liệu 31

Bảng 3.2 Danh sách 9 quốc gia trong khu vực ASEAN được thu thập số liệu 32

Bảng 3.3 Tóm tắt biến 35

Bảng 4.1 Thống kê tổng quát nhóm biến vĩ mô các quốc gia ASEAN 39

Bảng 4.2 Thống kê tổng quát nhóm biến liên quan DN Việt Nam quyết định đầu tư mới FDI hay M&A 40

Bảng 4.3 Thống kê tổng quát về nhóm biến M&A, đầu tư, mục đích và kinh nghiệm 41 Bảng 4.4 Tương quan các biến 33

Bảng 4.5 Kết quả phương trinh hồi quy 1 35

Bảng 4.6 Kết quả phương trinh hồi quy 2 38

Bảng 4.7 Kết quả phương trinh hồi quy 3 40

Bảng 4.8 Kết quả phương trinh hồi quy 4 43

Bảng 4.9 Kết quả phương trinh hồi quy 5 45

Bảng 4.10 Kết quả phương trinh hồi quy 6 47

Bảng 4.11 Kết quả phương trinh hồi quy 7 49

Bảng 4.12 Kết quả phương trinh hồi quy 8 52

Bảng 4.13 Kết quả phương trinh hồi quy 9 54

Bảng 4.14 Kết quả phương trinh hồi quy 10 56

Trang 9

MỞ ĐẦU

Với mục tiêu nghiên cứu tác động của các nhân tố: Corruption, Business, IPRS, SHRS, GDP, Population, Bilateral, Tax, RDI, Firms, MTB, MAP, Forex, Profits, Regional, Purpose đến quyết định thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các công ty được niêm yết trên TTCK Việt Nam thông qua kiểm định bằng mô hình SUR Tác giả tiến hành đánh giá các mức độ ảnh hưởng của các biến trong mô hình từ các quốc gia ASEAN nhận đầu tư Tác giả đã lấy dữ liệu nghiên cứ trong giai đoạn 2008 – 2015 của các công ty Việt Nam được niêm yết trên ASEAN Exchanges và kết hợp số liệu trên sàn chứng khoán trong nước

Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố Corruption, Business, Regional và Purpose giải thích tốt nhất sự tác động lên quyết định lựa chọn đầu tư trực tiếp

ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam

Từ khóa: FDI, đầu tư ra nước ngoài, đầu tư khu vực ASEAN

Trang 10

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Trong xu thế phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế toàn cầu, các hoạt động đầu tư đã không còn bị giới hạn trong lãnh thổ mỗi quốc gia mà được mở rộng trên thị trường thế giới thông qua các thương vụ đầu tư ra nước ngoài như: M&A, đầu tư trực tiếp FDI mới,… Theo số liệu thông kê của Worldbank, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI năm 2009 là 1.361 nghìn tỷ đô la Mỹ, năm 2015 là 2.04 nghìn tỷ đô la Mỹ.Đối với tổng giá trị các thương vụ M&A toàn cầu, năm 2008 đạt xấp xỉ 3 nghìn tỷ

đô la Mỹ, năm 2015 tổng giá trị tăng lên đáng kể và đạt mức 4.31 nghìn tỷ đô la Mỹ Những số liệu nêu trên phần nào phản ánh được tình hình phát triển với tốc độ rất nhanh của hoạt động đầu tư xuyên quốc gia trên thế giới

Theo Hội nghị các quốc gia về thương mại và sự phát triển, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu đã vượt 1.5 nghìn tỷ đô la Mỹ năm 2011, với một mức ý nghĩa của sự tăng trưởng của những nền kinh tế có sự tăng trưởng mạnh Xu hướng FDI được thể hiện ở sự phát triển trong nền kinh tế toàn cầu được dẫn dắt bởi các chính sách thương mại và đầu tư tự do của các Chính phủ kết hợp với sự phát triển của các nền kinh tế mới nổi Sự đa dạng hóa của những hoạt động ở thị trường nước ngoài là một chiến lược cần thiết của các công ty để tối đa hóa lợi nhuận trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, cho nên việc lựa chọn thực hiện M&A hay đầu tư trực tiếp FDI để

mở rộng kinh doanh cũng là một quyết định rất quan trọng của những nhà quản trị

Việt Nam được đánh giá là là một trong những nền kinh tế có tốc độ phát triển nhanh,

vì thế xu hướng đầu tư của thế giới cũng tác động lớn đến nền kinh tế Việt Nam Năm

2008, Việt Nam đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 104 dự án, ứng với tổng vốn đăng ký 3,147 triệu đô la Mỹ Tổng số dự án đầu tư trực tiếp có tăng lên và đạt 118 dự án trong năm 2015, nhưng tổng vốn đăng ký lại giảm còn 774 triệu đô la Mỹ Xu hướng đầu tư hội nhập với nền kinh tế thế giới đã đặt ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam Thấy được sự cần thiết của việc tìm ra mô hình phù hợp nhằm giúp các tổ chức

Trang 11

và cá nhân đầu tư có thêm cơ sở để có thể đưa ra các chiến lược đầu trực tiếp FDI đạt tối đa hóa lợi ích kinh doanh Từ những ý nêu trên, tác giả quyết định nghiên cứu đề

tài “Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định thực hiện đầu tư FDI vào ASEAN của

các doanh nghiệp Việt Nam”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu tác động của các nhân tố lên quyết định đầu tư trực tiếp FDI của các doanh nghiệp được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2008 - 2015 Từ đó tìm

ra được mô hình phù hợp, giúp các tổ chức và doanh nghiệp đầu tư xác định rõ những nhân tố thích hợp, điểm mạnh và điểm yếu của mình để đưa ra quyết định đầu tư phù hợp nhằm tối đa hóa lợi ích kinh tế với những nguồn lực sẵn

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: các nhân tố: nhân tố vĩ mô ( GDP bình quân, quy mô dân số, thương mại hai chiều, thuế suất, chỉ số đo lường môi trường pháp lý); nhân tố đặc trưng riêng của doanh nghiệp (tổng tài sản, lợi nhuận cổ phiếu, giá trị thị trường…)

1.4 Phạm vi nghiên cứu

Bộ dữ liệu được giới hạn với 29 doanh nghiệp Việt Nam thực hiện đầu tư đến các quốc gia trong khu vực ASEAN trong giai đoạn 2008 -2015

Luận văn sử dụng bài nghiên cứu gốc “ Similarities and differences among

cross-border M&A and greenfield FDI determinants: Evidence from Asia and Oceania” của tác giả Mamoru Nagano (2013)” (Phần Phụ Lục)

So sánh với bài nghiên cứu gốc, các số liệu tác giả thu thập được từ thực tiễn tại Việt Nam có sự khác biệt Cụ thể là trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 2008 –

2015 của 29 doanh nghiệp Việt Nam được lựa chọn không có doanh nghiệp nào thực hiện M&A ra nước ngoài, nên trong bài nghiên cứu này tác giả không thể đánh giá được sự ảnh hưởng của các nhân tố độc lập lên quyết định thực hiện

Trang 12

M&A, chỉ đánh giá được sự tác động lên quyết định thực hiện đầu tư trực tiếp FDI

Câu hỏi nghiên cứu:

Đề tài luận văn này tập trung vào các câu hỏi nghiên cứu sau:

- Trong các nhân tố vĩ mô từ các nước ASEAN được đưa ra để kiểm định, nhân tố nào có ảnh hưởng lớn nhất đến việc thực hiện đầu tư trực tiếp FDI mới?

- Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, những yếu tố đặc trưng nào đóng vai trò quan trọng quyết định đầu tư trực tiếp FDI?

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên những nghiên cứu trước đây về các mô hình SUR, tác giả tiến hành thu thập dữ liệu, phân chia danh mục và xây dựng mô hình nghiên cứu cho đề tài Mặt khác, tác giả cũng áp dụng các phương pháp thống kê, sử dụng các dữ liệu thể hiện các điều kiện kinh tế vĩ mô của quốc gia, đặc điểm đặc trưng của các doanh nghiệp, để phân tích tác động của các nhân tố lên quyết đầu tư trực tiếp FDI 1.6 Đóng góp của luận văn

Luận văn có những đóng góp chính như sau:

- Luận văn góp phần làm sáng tỏ các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trực tiếp FDI mới cũng như mức độ tác động của các nhân tố này

- Luận văn cũng góp phần làm rõ hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài và đưa ra so sánh với mô hình ở các nước khác

1.7 Cấu trúc nội dung nghiên cứu

Chương 1: Giới thiệu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 13

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN

CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

2.1 Khái niệm và các hình thức của FDI

Có nhiều khái niệm khác nhau về FDI:

Theo khái niệm của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 : Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính Phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp Liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này

Theo quan điểm về đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam theo quy định tại khoản

1 điều 2 , Luật đầu tư nước ngoài được sửa đổi bổ sung năm 2000 “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này”

Theo quan điểm của Hoa Kỳ - một trong những nước tiến hành đầu tư và tiếp nhận đầu tư lớn nhất thế giới cho rằng “ Đầu tư trực tiếp nước ngoài là bất kỳ dòng vốn nào thuộc sở hữu đa phần của công dân hoặc công ty của nước đi đầu tư có được từ việc cho vay hoặc dùng để mua sở hữu của doanh nghiệp nước ngoài

Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF, đầu tư trực tiếp nước ngoài được xem như là một khoản đầu tư với những quan hệ, theo đó một tổ chức trong một nền kinh tế (nhà đầu

tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác.Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác đó

Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau : Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất cứ tài sản nào vào quốc gia đó để được

Trang 14

quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình

Hình thức đầu tư FDI phổ biến:

- Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng kinh doanh

Là hình thức đầu tư theo hợp đồng ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên ( các bên hợp doanh) để cùng nhau tiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh doanh ở Việt Nam trên

cơ sở quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên, mà không thành lập một pháp nhân mới Trong quá trình kinh doanh các bên có thể thành lập ban điều phối để theo dõi, giám sát việc thực hiện hợp đồng nhưng ban điều phối không phải là đại diện pháp lý cho các bên hợp doanh

- Doanh nghiệp liên doanh

Doanh nghiệp liên doanh được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng kinh doanh ký giữa các bên Việt Nam với bên hoặc các bên nước ngoài, hoặc giữa doanh nghiệp liên doanh với bên hoặc các bên nước ngoài để hoạt động kinh doanh tại Việt Nam Khác với hợp đồng kinh doanh, doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân mới, mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm đối với bên kia, với doanh nghiệp liên doanh và bên thứ ba trong phạm vi phần góp vốn của mình vào vốn pháp định

- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài, do tổ chức, cá nhân nước ngoài thành lập tại Việt Nam, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh, được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, là một pháp nhân Việt Nam; được thành lập sau khi cơ quan có thẩm quyền về hợp tác và đâu tư Việt Nam cấp giấy phép đầu tư và chứng nhận đăng ký điều lệ doanh nghiệp

- Đầu tư theo hợp đồng BOT (Build - Operate - Transfer, Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao)

Trang 15

Hợp đồng BOT là văn bản ký kết giữa chủ đầu tư với cơ quan quản lý có thẩm quyền

để xây dựng các công trình hạ tầng như: cầu đường, sân bay, bến cảng, nhà máy điện, tại Việt Nam

Hoạt động BOT được thực hiện thông qua 100% vốn nước ngoài hoặc vốn nước ngoài cộng với vốn Chính phủ Việt Nam hoặc của tổ chức, cá nhân Việt Nam Doanh nghiệp được thành lập thực hiện hợp đồng BOT mặc dù hợp đồng dưới hình thức doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài nhưng đối tác cùng thực hiện hợp đồng là các cơ quan quản lý nhà nước ở nước sở tại

- Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và công ty con ( Holding company)

Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và con là một trong những mô hình tổ chức quản lý được thừa nhận rộng rãi ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát triển Dạng này là một công ty sở hữu vốn trong một công ty khác ở mức đủ để kiểm soát hoạt động quản lý và điều hành công ty đó thông qua việc gây ảnh hưởng hoặc lựa chọn thành viên Hội đồng quản trị Nó được thành lập dưới dạng công ty cổ phần

và chỉ giới hạn hoạt động của mình trong việc sở hữu vốn

2.2 Vai trò của FDI

Đối với nước đi đầu tư

Đứng trên góc độ quốc gia

Hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là cách để các quốc gia có thể mở rộng và nâng cao quan hệ hợp tác về nhiều mặt đối với các quốc gia khác mà mình sẽ đầu tư Khi một nước đầu tư sang nước khác một mặt hàng thì nước đó thường có những ưu thế nhất định về mặt hàng như về chất lượng, năng suất và giá cả cùng với chính sách hướng xuất khẩu của nước này; thêm vào đó là sự có một sự sẵn sàng hợp tác chấp nhận sự đầu tư đó của nước sở tại cùng với những nguồn lực thích hợp cho sản phẩm

đó Mặt khác, khi đầu tư FDI nước đi đầu tư có rất nhiều có lợi về kinh tế cũng như chính trị

Trang 16

Thứ nhất, quan hệ hợp tác với nước sở tại được tăng cường và vị thế của nước đi đầu

tư được nâng lên trên trường quốc tế

Thứ hai, mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm, khi trong nước sản phẩm đang thừa mà nước sở tại lại thiếu

Thứ ba, giải quyết công ăn việc làm cho một số lao động, vì khi đầu tư sang nước khác, thì nước đó phải cần có những người hướng dẫn, hay còn gọi là các chuyên gia trong lĩnh vực này Đồng thời tránh được việc phải khai thác các nguồn lực trong nước, như tài nguyên thiên nhiên hay ô nhiễm môi trường

Thứ tư, đó là vấn đề chính trị, các nhà đầu tư nước ngoài có thể lợi dụng những kẻ hở của pháp luật, sự yếu kém về quản lý hay sự ưu đãi của Chính phủ nước sở tại sẽ có những mục đích khác như làm gián điệp

Đứng trên góc độ doanh nghiệp:

Mục đích của doanh nghiệp cũng như mục đích của một quốc gia thường là lợi nhuận, lợi nhuận càng nhiều càng tốt Một khi trong nước hay các thị trường quen thuộc bị tràn ngập những sản phẩm của họ và sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh thì họ phải đầu tư ra nước khác để tiêu thụ số sản phẩm đó Trong khi đầu tư ra nước ngoài,

họ chắc chắn sẽ tìm thấy ở nước sở tại những lợi thế so sánh so với thị trường cũ như lao động rẻ hay tài nguyên chưa bị khai thác nhiều

Một nguyên nhân nữa là họ có thể bán được những máy móc và công nghệ cũ kỹ lạc hậu hay bị hao mòn vô hình do thời gian với giá cao nhưng lại là mới đối với nước nhận đầu tư (khi nước đầu tư là nước đang phát triển)

Thêm vào đó, là sản phẩm của họ được bán tại thị trường này sẽ ngày càng tăng uy tín

và tiếng tăm cho nó và làm tăng sức cạnh tranh đối với các đối thủ có sản phẩm cùng loại

Trang 17

2.3 Đặc điểm của FDI

Dunning ( 1993) đã chỉ ra có 3 nhân tố chính của dòng vốn FDI là dựa vào động cơ sau sự đầu tư đó là sự trông mong của các nhà đầu tư Yếu tố thứ nhất của dòng vốn FDI đó chính là tìm kiếm thị trường ( market – seeking) Dòng vốn FDI này chủ yếu hướng tới các thị trường trong nước và trong khu vực hay còn gọi là dòng vốn FDI thay thế ( tariff-jumping or export-substituting FDI) Dòng vốn FDI thứ hai đó là dòng vốn tìm kiếm nguồn lực ( resource-seeking), dòng vốn này nhằm hướng đến tìm kiếm nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động rẻ Một dòng vốn nữa đó là tìm kiếm hiệu quả (efficiency-seeking) Do đó, nguồn vốn FDI có những đặc điểm sau:

2.3.1 Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước

Helpman và Sibert, Richard S Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận biên ( số có thêm trong tổng số đầu ra mà một nhà sản xuất có được do dùng thêm một đơn vị của yếu tố sản xuất) của vốn giữa các nước Một nước thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn, còn một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận Vì chi phí sản xuất của các nước thừa vốn thường cao hơn ở các nước thiếu vốn Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là tất cả những hoạt động nào có năng suất cận biên cao mới được các doanh nghiệp đầu tư sản xuất mà cũng có những hoạt động quan trọng, là sống còn của doanh nghiệp thì họ vẫn tự sản xuất cho dù hoạt động đó cho năng suất cận biên thấp

2.3.2 Chu kỳ sản phẩm

Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kỳ sống của các sản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đoạn sản phẩm mới, giai đoạn sản phẩm chín muồi, giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa Akamatsu Kaname ( 1962) cho rằng

Trang 18

sản phẩm mới, ban đầu được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường bản địa tăng lên, nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thuật của nước ngoài ( giai đoạn sản phẩm chín muồi) Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện ( giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa) Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành FDI Raymond Vernon ( 1966) lại cho rằng khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản phầm này có rất nhiều nhà cung cấp Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sản xuất thấp hơn

2.3.3 Ảnh hưởng của FDI làm mở rộng vốn đầu tư mới của quốc gia

FDI là hình thức đầu tư vốn vật thể nên sẽ làm tăng vốn chủ sở hữu công ty, do đó làm tăng vốn quốc gia được đầu tư Ảnh hưởng này còn tùy thuộc vào lĩnh vực hay loại đầu tư Ví dụ như khi FDI đầu tư thiết lập một nhà máy mới, đầu tư lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử thì sự gia tăng vốn là rất đáng kể Theo mô hình tăng trưởng kinh tế của Solow (1956), sự gia tăng vốn vật thể từ FDI sẽ dẫn đến sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người cả trong ngắn hạn và dài hạn tạo nước được đầu tư bởi lẽ sẽ làm tăng lượng hàng hóa vốn đang có, nhưng điều này chỉ mới đẩy mạnh tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế trong suốt giai đoạn chuyển giao, vì trong giai đoạn đầu tư sẽ làm giảm tỷ suất sinh lợi trên vốn Và thời gian chuyển giao này còn khác biệt giữa các quốc gia ( theo nghiên cứu của Aghion và Howitt 2009) Do đó, những quốc gia khan hiếm vốn đầu tư thì việc đầu tư này sẽ mở rộng vốn cho nền kinh tế và làm tăng phúc lợi xã hội FDI có thể được xem như là một nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng

Trang 19

Mặt khác, loại hình đầu tư FDI vào lĩnh vực xây dựng tái thiết, tái quy hoạch sẽ không dẫn đến sự gia tăng vốn mà chỉ làm thay đổi tình trạng vốn chủ sở hữu hiện hữu, do đó ảnh hưởng lên tăng trưởng sẽ giới hạn ( theo Johnson 2006)

2.3.4 Ảnh hưởng của FDI tăng năng suất sản xuất thông qua đầu tư vốn theo chiều sâu

Ảnh hưởng của FDI thông qua đầu tư vốn theo chiều sâu đề cập đến sự chuyển giao kiến thức và công nghệ khi đầu tư FDI vào nước chủ nhà Các công ty đa quốc gia đem vốn cùng công nghệ cao vào làm hệ thống quản lý hiệu quả hơn, tối đa hóa lợi nhuận tại nước được đầu tư ( theo OECD 2002) Dù vậy điều này cũng chưa phải là lý

do chính yếu tại sao đầu tư FDI làm tăng thu nhập trên đầu người trong ngắn hạn và dài hạn

Theo nhiều mô hình tăng trưởng khác nhau thì có nhiều cách lý giải làm cách nào FDI tác động lên tăng trưởng Đầu tiên là theo mô hình tăng trưởng của Solow ( 1956), FDI ngăn chặn việc suy giảm vốn đầu tư vào trong những lĩnh vực có tỷ suất sinh lợi thấp vì có sự đóng góp của tăng trưởng công nghệ Thứ hai là mô hình tăng trưởng

AK của Frankel (1962) và Romer (1986), mở đầu cho làn sóng mô hình tăng trưởng nội sinh, mô hình này cho rằng FDI tạo nên hoạt động thương mại, công nghiệp, làm phát triển công nghệ và tăng trưởng kinh tế Thứ ba là mô hình phân hóa sản phẩm của Romer ( 1990) tranh luận rằng tăng trưởng kinh tế và năng suất xuất phát từ mở rộng và chuyên biệt hóa các sản phẩm trung gian ( theo Aghion và Howitt 2009) Một

số lại cho rằng chính tăng trưởng kinh tế được biểu hiện bằng sự đầu tư mở rộng các sản phẩm trung gian được chuyên biệt hóa Hơn nữa các nhà nghiên cứu của nước chủ nhà thích việc đầu tư vào các sản phẩm trung gian này vì nó làm lan tỏa và nhân rộng FDI Cuối cùng, theo mô hình Schupeterian của Aghion và Howitt ( 1992) tăng trưởng đến từ việc cải thiện chất lượng hàng hóa vốn tại quốc gia Do đó, kinh tế mở cửa sẽ tạo điều kiện cho FDI cùng những chuyển giao công nghệ tiên tiến và những hệ thống cải thiện chất lượng, do đó sẽ tăng năng suất, tăng trưởng kinh tế

Trang 20

2.4 Khung nghiên cứu lý thuyết

Vấn đền liên quan đến đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm và có rất nhiều lý thuyết nghiên cứu tập trung vào chủ đề này, trong đó các

lý thuyết tập trung phát triển từ nền tảng lý thuyết của S Hymer, R Vernon và J Dunning Các nhà kinh tế đều tin rằng, FDI là một nhân tố quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tất cả các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển

Stephen H Hymes (1960) là nhà kinh tế đầu tiên phát triển lý thuyết về công ty đa quốc gia Các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng thực hiện đầu tư Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện ( lao động, đất đai, chính trị,…) cho phép hok phát huy các lợi thế đặc thù Những công ty đa quốc gia thường có lợi thế lớn về vốn và công nghệ đầu tư ra các nước có sẵn nguồn nguyên liệu, nhân công giá rẻ và thị trường tiêu thụ tiềm năng

Raymond Vernon (1996) nghiên cứu đầu tư trực tiếp của các công ty Mỹ vào các nước Đông Âu sau thế chiến thứ hai trong ngành sản xuất công nghiệp từ năm 1950-1970 Qua thời gian, Mỹ đã trở thành nước nhập khẩu chính của nhiều hàng hóa

mà trước đây Mỹ từng sản xuất, phát triển và xuất khẩu Vernon dựa vào bốn giai đoạn trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm 3 giai đoạn: (1) Giai đoạn phát minh và giới thiệu; (2) Giai đoạn phát triển quy trình và đi tới chín muồi; (3) Giai đoạn chín muồi hay được tiêu chuẩn hóa Trong giai đoạn đầu, các sản phẩm mới tung ra thị trường vẫn còn đang dần được hoàn thiện, doanh số tăng trưởng chậm, chưa có lợi nhuận vì phải tốn nhiều chi phí cho việc giới thiệu sản phẩm ra thị trường Tiếp theo, trong giai đoạn tăng trưởng, sản phẩm được thị trường tiếp nhận nhanh chóng và sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển cũng là lúc thị trường sản phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh giữa nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất Đây là lý do để các nhà cung

Trang 21

cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước có chi phí thấp hơn Vì thế các công

ty đa quốc gia của Mỹ tại nước ngoài có cơ hội xuất khẩu các sản phẩm này ngược lại thị trường Mỹ Tóm lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn thứ hai của một chu kỳ kinh doanh

2.4.1 Lý thuyết chiết trung ( Eclectic), Dunning

Mô hình tổng hợp các yếu tố chính của nhiều công trình khác nhau lý giải về FDI, và

đề xuất rằng có 3 điều kiện cần thiết để một doanh nghiệp có động cơ tiến hành đầu tư trực tiếp Cách tiếp cận này được biết đến dưới tên mô hình OLI: lợi thế về sở hữu ( Ownership Advantages); lợi thế địa điểm ( Location Advantage) và lợi thế nội bộ hóa ( Internalization Advantage)

Lợi thế về sở hữu ( của một doanh nghiệp có thể là một sản phẩm hoặc một quy trình sản xuất mà có ưu thế hơn hẳn các doanh nghiệp khác hoặc các doanh nghiệp khác không thể tiếp cận Đó cũng có thể là một số tài sản vô hình hoặc các khả năng đặc biệt như công nghệ và thông tin, kỹ năng quản lý, marketing, hệ thống tổ chức và khả năng tiếp cận thị trường hàng tiêu dùng cuối cùng hoặc các hàng hóa trung gian hoặc nguồn nguyên liệu thô, hoặc khả năng tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp Dù tồn tại dưới hình thức nào, lợi thế về quyền sở hữu đem lại quyền lực nhất định trên thị trường hoặc lợi thế về chi phí đủ để doanh nghiệp bù lại những bất lợi khi kinh doanh ở nước ngoài

Lợi thế về địa điểm giúp các doanh nghiệp có lợi khi tiến hành sản xuất ở nước ngoài thay vì sản xuất ở nước mình rồi xuất khẩu sang thị trường nước ngoài Các lợi thế về địa điểm bao gồm không chỉ các yếu tố về nguồn lực, mà còn có cả các yếu tố kinh tế, xã hội như dung lượng, cơ cấu thị trường, khả năng tăng trưởng của thị trường

và trình độ phát triển, môi trường văn hóa, pháp luật, chính trị và thể chế

Lợi thế nội bộ hóa: nếu một doanh nghiệp sở hữu một sản phẩm hoặc một quy trình sản xuất và nếu việc sản xuất sản phẩm ở nước ngoài có lợi hơn xuất khẩu hay cho thuê, thì chưa chắc doanh nghiệp sẽ xây dựng một chi nhánh ở nước ngoài Một

Trang 22

trong những cách lựa chọn khác là cấp giấy phép cho một doanh nghiệp nước ngoài

để họ sản xuất sản phẩm hoặc sử dụng quy trình sản xuất Tuy nhiên, do khó có thể tiến hành trao đổi các tài sản vô hình này trên thị trường, sản phẩm hoặc quy trình sản xuất sẽ được khi thác trong nội bộ doanh nghiệp hơn là đem trao đổi trên thị trường

Tóm lại, theo Dunning trong lý thuyết chiết trung ( Electic), để doanh nghiệp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cần phải hồi đủ 3 lợi thế trên Tại bất cứ thời điểm nào, các doanh nghiệp của một nước, so với doanh nghiệp của nước khác, càng nắm giữ nhiều các lợi thế về quyền sở hữu, thì họ càng có động cơ mạnh để sử dụng chúng trong nội

bộ hơn là phổ biến ra bên ngoài, họ càng tìm được nhiều lợi ích khi sử dụng chúng ở một nước khác thì họ càng có động cơ để phát triển sản xuất ở nước ngoài

Mô hình OLI của Dunning có thể coi là cách lý giải đầy đủ về những điều kiện đầu tư trực tiếp nước ngoài Tuy nhiên, khi đề cập đến các điều kiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, lý thuyết chiết trung (Electic) chỉ mới đề cập đến các điều kiện về phía doanh nghiệp mà chưa đề cập đến các điều kiện về phía Nhà nước Trong khi đó, để doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài không chỉ cần những điều kiện từ phía các doanh nghiệp

mà còn cần các chính sách hỗ trợ từ phía Nhà nước

2.4.2 Học thuyết về lợi thế độc quyền, Stephen Hymer

Khi đầu tư ra nước ngoài, chủ đầu tư có một số bất lợi như: khoảng cách địa lýlàm tăng chi phí vận chuyển các nguồn lực (chuyển giao công nghệ), thiếu hiểu biết về mội trường xa lạ làm tăng chi phí thông tin, thiết lập mối quan hệ khách hàng mới và

hệ thống cung cấp mới cũng mất nhiều chi phí so với các công ty bản địa Tuy vậy họ vẫn nên tiến hành FDI khi họ có những lợi thế độc quyền(monogoly rights), họ sẽ giảm được chi phí kinh doanh và tăng doanh thu so với các công ty bản địa Các lợi thế độc quyền đó có thể là công nghệ (tech innovation) hay nhãn hiệu

2.4.3 Học thuyết nội bộ hoá (Internalization), Buckley và Casson

Trang 23

Theo học thuyết này, FDI tăng khi giao dịch bên trong công ty (InternalTransaction) tốt hơn giao dịch bên ngoài công ty (MarketTransaction), giao dịch bên trong công ty tốt hơn giao dịch bên ngoài công ty khi thị trường không hoàn hảo: không hoàn hảo tự nhiên (khoảng cách giữa các quốc gia làm tăng chi phí vận tải), không hoàn hảo mang tính cơ cấu (rào cản thương mại như các tiêu chuẩn về sản phẩm, về môi trường; các yêu cầu liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (là một sản phẩm vô hình mang tính thông tin nên dễ bị chia sẻ, khó bảo hộ và dễ bị đánh cắp…), công nghệ (cái không tồn tại như một thực thể, ) Khi thị trường không hoàn hảo như vậy, người ta phải tạo ra thị trường bằng cách tạo ra thị trường nộ bộ ( Internal Market), sử dụng tài sản trong nội

bộ công ty mẹ – con, con – con Ví dụ, nếu có vấn đề liên quan đến việc mua các sản phẩm dầu lửa trên thị trường thi một doanhnghiệp có thể quyết định mua một nhà máy lọc dầu.Lợi ích của việc nội bộ hoá làtránh được độ trễ về thời gian, việc mặc cả khi mua bán và tình trạng thiếu thốnngười mua Ví dụ, một doanh nghiệp thép có thể phải đối mặt với tình trạng thiếu nguyên liệu cung cấp và chi phí giao dịch cao khi phải mua quặng sắt từ nướcngoài, đặc biệt khi doanh nghiệp này phải mua hàng ở một châu lục khác Tuy nhiên, khi doanh nghiệp này mua lại một công ty khai mỏ nước ngoài, tức là tiến hành việc nội bộ hoá bao gồm cả việc mua luôn quặng sắt và chi phí vận chuyển,nó sẽ loại bỏ được tình trạng thiếu nguyên liệu Nội bộ hoá phải có những lợi ích lớn hơn chí phí phát sinh khi thành lập mạng lưới công ty mẹ – con thì mới được sử dụng Tuy nhiên lý thuyết này không giải thích lợi ích của nội bộ hoá là

gì ( lợi thế độc quyền), rất chung chung, không đưa ra được các bằng chứng cụ thể và rất khó kiểm chứng

2.4.4 Lý thuyết về các bước phát triển của đầu tư (Investment Development Path - IDP), Dunning

Theo lý thuyết này, quá trình phát triển của các nước được chia ra thành 5 giai đoạn:

Giai đoạn 1: lợi thế L của một nước ít hấp dẫn, luồng vào FDI không đáng kể do hạn

chế của thị trường trong nước: thu nhập thấp, cơ sở hạ tầng lạc hậu, giáo dục yếu kém, lao động không có kỹ năng… và hiếm khi thấy luồng ra FDI

Trang 24

Giai đoạn 2: luồng vào của FDI bắt đầu tăng do lợi thế L đã hấp dẫn các nhà đầu tư:

sức mua trong nước bắt đầu tăng, cơ sở hạ tầng đã được cải thiện … FDI trong bước này chủ yếu là đầu tư vào sản xuất để thay thế nhập khẩu và những ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên hoặc sản xuất ra nguyên vật liệu, sản phẩm sơ chế Luồng ra của FDI trong giai đoạn này không đáng kể

Giai đoạn 3: luồng vào của FDI bắt đầu giảm và luồng ra lại bắt đầu tăng Khả năng

kỹ thuật của nước sở tại đã tiến tới sản xuất sản phẩm được tiêu chuẩn hoá Mặt khác lợi thế về lao động giảm dần, nên phải chuyển đầu tư sang những nước có lợi thế tương đương đối về lao động nhằm tìm kiếm thị trường hoặc giành những tài sản chiến lược để bảo vệ lợi thế O Trong giai đoạn này, luồng vào của FDI tập trung vào những ngành thay thế nhập khẩu có hiệu quả

Giai đoạn 4: lợi thế O của các công ty trong nước tăng lên Những công nghệ sử dụng

nhiều lao động dần dần được thay thế bởi công nghệ sử dụng nhiều vốn Mặt khác chi phí vốn trở nên rẻ hơn chi phí lao động Kết quả là, lợi thế L của đất nước sẽ chuyển sang các tài sản FDI từ các nước đang phát triển ở bước 4 sẽ vào nước này để tìm kiếm những tài sản trên hoặc từ các nước kém phát triển hơn nhằm tìm kiếm thị trường và đặt quan hệ thương mại Trong bước này các công ty trong nước vẫn thích thực hiện FDI ra nước ngoài hơn là xuất khẩu sản phẩm, bởi vì họ có thể khai thác lợi thế I của mình Do vậy, luồng vào và luồng ra của FDI vẫn tăng, nhưng luồng ra sẽ nhanh hơn

Giai đoạn 5: luồng ra và luồng vào của FDI tiếp tục và khối lượng tương tự nhau

Luồng vào từ các nước có mức độ phát triển thấp hơn với mục đích tìm kiếm thị trường và kiến thức; hoặc từ các nước đang phát triển ở bước 4 và 5 để tìm kiếm sản xuất có hiệu quả Do vậy luồng ra và luồng vào là tương tự

Mô hình OLI giải thích hiện tượng FDI theo trạng thái tĩnh, trong khi lý thuyết IDP lại xem xét hiện tượng FDI trong trạng thái động với sự thay đổi các lợi thế này trong

Trang 25

từng bước phát triển Do vậy, lý thuyết này cùng với mô hình OLI là thích hợp nhất để giải thích hiện tượng FDI trên toàn thế giới, tất nhiên trong đó có Việt Nam

Cơ sở cho đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu

Đa số các nước đang phát triển - trong đó có Việt Nam - đang tiến hành xây dựng nền kinh tế thị trường với mục tiêu hướng vào xuất khẩu Trong quá trình vận động kinh

tế thị trường bản thân nó cũng đã bộc lộ khá nhiều những nhân tố không hoàn hảo, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của nhiều doanh nghiệp Sự tồn tại của các yếu tố này có thể tác động lên toàn bộ hay riêng lẻ từng ngành, từng lĩnh vực trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia Có thể thấy sự khác biệt về tính không hoàn hảo giữa các thị trường khác nhau, giữa các quốc gia khác nhau Chính vì vậy, ngay trong nội tại các nước đang phát triển, các doanh nghiệp gánh chịu sự tác động của tính không hoàn hảo của thị trường sẽ tìm cách chuyển hướng đầu tư sang thị trường hoàn hảo hơn và ít bị tác động hơn

Hàng rào thương mại

Những quy định thương mại tự do được ký kết song phương hay đa phương giữa các quốc gia đang phát triển với các thị trường lớn đã tạo điều kiện lớn cho các sản phẩm nước này có thể thâm nhập vào các thị trường khác Tuy nhiên không phải bất cứ sản phẩm, dịch vụ nào cũng có thể vào được Với lợi thế nước lớn, các quốc gia Châu Âu, Hoa Kỳ và các nước công nghiệp phát triển thường xây dựng những hàng rào thương mại nhằm bảo vệ doanh nghiệp trong nước, trong khu vực

Chia sẻ khoa học công nghệ

Mục tiêu xây dựng nước ta thành nước công nghiệp phát triển phải được thực thi dựa trên nền tảng công nghiệp hóa hiện đại hóa, theo nguyên tắc tiếp thu công nghệ hiện đại, tiên tiến của thế giới Vì vậy, Chính phủ đã có những chính sách ưu đãi các nhà đầu tư chuyển giao công nghệ cho Việt Nam Tuy nhiên, một số dự án FDI vào Việt Nam lại không chuyển giao bí quyết công nghệ hiện đại ( các dự án đầu tư chỉ tập

Trang 26

trung vào khai thác nguồn lao động rẻ, nguồn nguyên liệu tại chỗ chứ không để phục

vụ cho sự phát triển công nghệ) Ngoài việc thu hút đầu tư, hoạt động đầu tư ra nước ngoài giúp chúng ta có thể chia sẻ những công nghệ cao tại quốc gia nhận đầu tư đem

về góp phần xây dựng đất nước Đầu tư ra nước ngoài không chỉ là để tìm kiếm lợi nhuận mà còn là cơ hội để học hỏi những cái mới, hiện đại tại quốc gia đầu tư nhằm chuyển chúng về phục vụ cho quá trình tái thiết và phát triển kinh tế của quốc gia

Tìm kiếm cơ hội ở những thị trường còn chưa được khai thác

Hiện nay các nhà đầu tư quốc tế lớn ở cả các nước phát triển và các nước đang phát triển chỉ tập trung đầu tư vào một số nước, khu vực nhất định và bỏ sót nhiều nước nhỏ Những nước bị bỏ sót này tuy không hấp dẫn các nhà đầu tư lớn nhưng có thể là một môi trường đầu tư đầy tiềm năng cho các doanh nghiệp Việt Nam Chằng hạn như tại thị trường Châu Phi, các mặt hàng nhập khẩu chính như: hàng tiêu dùng, đồ

gỗ, đồ nhựa, là những mặt hàng Việt Nam có thể tiếp cận thị trường không chỉ bằng con đường xuất khẩu mà còn có thể thông qua đầu tư sản xuất trực tiếp những mặt hàng đó tại thị trường Châu Phi nhằm tận dụng nguồn nguyên vật liệu tại chỗ, giảm chi phí vận chuyển Ngoài ra, doanh nghiệp Việt Nam có thể sử dụng cơ sở vật chất, nhân lực của mình ở các nước này để đầu tư mở rộng vào việc thu mua, khai thác những mặt hàng Việt Nam thường nhập khẩu: tài nguyên thiên nhiên, nông sản, Xu hướng tăng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài từ các nước đang phát triền sẽ là thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam

Mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững

Nền kinh tế Việt Nam đang phần lớn dựa vào việc xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ, than đá, sản phẩm lâm nghiệp, Nếu tiếp tục duy trì khai thác và xuất khẩu như hiện nay thì nguồn tài nguyên sẽ dần cạn kiệt Đây là những nguồn tài nguyên chiến lược đối với nền sản xuất công nghiệp của quốc gia Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong tương lại tập trung ở các ngành: dệt, thép, hóa chất, hóa dầu, công nghiệp phụ trợ, cần nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên Trong

Trang 27

giai đoạn phát triển tương tự như Việt Nam hiện nay, Nhật Bản và Hàn Quốc ở thập niên 70, 80 hay Trung Quốc, Malaysia những năm 1990 đã khuyến khích đầu tư ra nước ngoài vào những ngành khai thác, chế biến tạo đầu vào cho sản xuất trong nước

Vì vậy, Việt Nam cần học tập kinh nghiệm của các quốc gia khác, thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài nhằm đảm bảo nguồn nguyên nhiên vật liệu đầu vào cho sản xuất trong nước, từ đó góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh hơn, đạt được mục tiêu tăng trưởng nhanh và về vững

2.5 Các nghiên cứu trước đây

2.5.1 Nghiên cứu nước ngoài

Nghiên cứu “Determinants of foreign direct investment flows to developing

countries: a cross-sectional analysis” của Erdal Demirhan, Mahmut Masca, năm

2008 Bài nghiên cứu được tác giả sử dụng để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến

dòng vốn FDI bằng phương phấp sử dụng dữ liệu chéo ( cross-sectional economic model), giai đoạn nghiên cứu từ 2000-2004 cho 38 nước đang phát triển Trong đó, tác giả hồi quy với các biến FDI là biến phụ thuộc, các biến độc lập như: tốc độ tăng trưởng bình quân đầu người, tỷ lệ lạm phát, mạng lưới di động ( telephone) trên 1000 người, chi phí lao động, độ mở thương mại, mức độ rủi ro và tỷ lệ thuế doanh nghiệp Trong đó với quy mô thị trường, tác giả sử dụng biến tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người thì quy mô thị trường có ý nghĩa thống kê Từ các kết quả hồi quy đạt được, tác giả khẳng định các nhà đầu tư nước ngoài hướng tới nền kinh tế tạo lợi nhuận và tăng trưởng hơn là các nền kinh tế nhỏ

Kết quả nghiên cứu cho thấy tốc độ tăng trưởng bình quân đầu người, mạng lưới di động ( telephone main lines), độ mở cửa thương mại, độ ổn định của nền kinh tế có tác động tích cực đến thu hút dòng vốn FDI Ngược lại, tỷ lệ lạm phát và thuế thì ít có tác động đến dòng vốn FDI hơn, tuy nhiên một tỷ lệ lạm phát thấp sẽ thu hút được nhiều nguồn vốn FDI của các nước đang phát triển Từ kết quả của bài nghiên cứu, tác giả đã tìm ra các nhân tố tác động mạnh đến dòng vốn FDI đó là: tốc độ tăng trưởng,

cơ sở hạ tầng và độ mở thương mại Và tác giả đã khẳng định chi phí lao động thấp chưa phải là yếu tố tác động mạnh đến dòng vốn FDI mà thay vào đó là kỹ năng của

Trang 28

người lao động lại là yếu tố trông đợi có thể khuyến khích FDI, rủi ro quốc gia thì tác động tiêu cực, tuy nhiên không có ý nghĩa thống kê, một khi quốc gia nước chủ nhà có thể đem lại lợi nhuận cao thì nhà đầu tư dường như lờ đi yếu tố về rủi ro chính trị Trong khi đó, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng mức thuế suất cao sẽ ảnh hưởng đến việc đầu tư ra nước ngoài của các chủ đầu tư vì họ phải trả một mức thuế suất cao làm giảm lợi nhuận, kết quả của bài nghiên cứu lại cho thấy thuế suất không tác động mạnh đến dòng vốn FDI Điều đó chứng tỏ, các nước có mức thuế suất cao chưa hẳn thu hút sự đầu tư nước ngoài ít hơn so với các quốc gia có mức thuế suất thấp Với bài nghiên cứu này, tác giả đã đo lường được các biến kinh tế vĩ mô tác động đến dòng vốn FDI

Nghiên cứu “ The determinants of foreign direct investment: a panel data

study for the OECD countries” G.M Agiomirgianakis, D Asteriou, K Papathoma (2004)

Nhóm tác giả muốn phân tích các nhân tố tác động đến dòng vốn FDI bằng cách sử dụng dữ liệu bảng để nghiên cứu cho 20 quốc gia thuộc khối nước OECD trong 23 năm, từ 1975-1997 Tác giả đã sử dụng phương pháp common constant, fixed and random effects để hồi quy các biến như: quy mô thị trường, tốc độ phát triển, mức độ

đô thị hóa, vốn con người, chi phí lao động, các chính sách Chính phủ, biến phụ thuộc

đó là dòng vốn FDI Tác giả đã khẳng định các nhà đầu tư sẽ quan tâm và thích đầu tư hơn vào các thị trường có mức độ phát triển và quy mô thị trường, mà đại diện là sự tăng trưởng GDP bình quân đầu người và mức độ tăng trưởng GDP Các nhà đầu tư sẽ đầu tư vào các quốc gia mà họ cảm nhận được sẽ thu được lợi nhuận cao Độ mở thương mại, cơ sở hạ tầng và sự phát triển của lực lượng lao động có tác động tích cực

và có ý nghĩa thống kê đến dòng vốn FDI Trong khi đó vai trò của Chính phủ cũng ảnh hưởng tích cực đến dòng vốn FDI nhưng không có ý nghĩa thông kê Trong trường hợp này tác giả cho rằng chi tiêu công không ảnh hưởng đáng kể đến năng lực cạnh tranh quốc tế của mỗi quốc gia

Nghiên cứu “Estimating the domestic determinants of Foreign Direct

Invesment Flows in Malaysia: Evidence from cointergration and error correction

Trang 29

model” , Marrial A Yol (2009) Bài nghiên cứu xác định các nhân tố tác động đến

dòng vốn FDI cả trong ngắn hạn và dài hạn trong thời gian từ 1975 – 2006 Tác giả dùng phương pháp đồng liên kết đa biến ( multivariate cointegration analysis) của Johansen ( 1988), dùng mô hình đồng liên kết ( cointegration test) và VECM ( vector error-correction model) để phân tích trong dài hạn Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy có mối liên kết giữa nguồn vốn FDI và các nhân tố khác, trong dài hạn các nhân

tố tác động lên dòng vốn FDI: tỷ giá hồi đoái thực, tỷ lệ tăng trưởng, cơ sở hạ tầng, trong khi đó biến xuất khẩu không có tác động đến dòng vốn FDI trong dài hạn Trong ngắn hạn, tác giả đã khẳng định: các biến không có tác động đến dòng vốn FDI: dòng vốn của FDI năm trước, tốc độ tăng trưởng, cơ sở hạ tầng và xuất khẩu, ngược lại, các nhân tố như: độ mở của thị trường, tỷ giá hối đoái thực có ảnh hưởng tích cực đến dòng vốn FDI Bài nghiên cứu khác với các nghiên cứu của của tác giả khác là dùng phương pháp đồng liên kết đa biến và dùng mô hình VECM để phân tích các nhân tố tác động đến dòng vốn FDI Một nhược điểm của phương pháp này là không thể sử dụng để đo lường tác động trên một số quốc gia và chỉ sử dụng trong một quốc gia nhất định với thời gian nghiên cứu dài hạn

Borensztein và cộng sự ( 1998) nghiên cứu thực hiện kỹ thuật hồi quy SUR ( Seemingly Unrelated Regression) trên bộ dữ liệu chéo 69 nước đang phát triển từ năm 1970-1989 Kết quả cho thấy có sự khác biệt về khả năng hấp thụ công nghệ là nguyên nhân của sự khác nhau trong tác động của FDI đến tăng trưởng Trong phân tích nghiên cứu Borensztein, trình độ nguồn nhân lực xác định khả năng hấp thu công nghệ nước ngoài Như vậy, nguồn nhân lực lớn được giả định đem lại tốc độ tăng trưởng cao hơn cho FDI

Bengoa và Sanchez-Robles (2003) cũng nghiên cứu về tự do kinh tế, tăng trưởng FDI và tăng trưởng kinh tế Tác giả sử dụng dữ liệu bảng trên 80 nước châu

Mỹ La Tinh trong giai đoạn 1979-1998, phương pháp nghiên cứu là hồi quy dữ liệu,

so sánh các tác động cố định và tác động ngẫu nhiên để nghiên cứu Nghiên cứu cho thấy rằng FDI tương quan dương với tăng trưởng kinh tế, nhưng các nước chủ nhà cần phải có nguồn nhân lực, ổn định kinh tế và thị trường tự do đẻ hưởng được lợi ích từ

Trang 30

dòng vốn FDI dài hạn Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy tự do kinh tế thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gián tiếp qua FDI

Chen Kun Ming, Rau Hsiu Hua, Lin Chia thanh ( 2005) đã nghiên cứu về tác động của tỷ giá lên dòng vốn đầu tư nước ngoài Nghiên cứu thực nghiệm sử dụng bộ

dữ liệu bảng của Đài Loan vào Trung Quốc trong giai đoạn 1991-2002, tác giả thực hiện phân tích và hồi quy theo mô hình GARCH Nghiên cứu cho thấy một sự giảm giá đồng tiền của nước chủ nhà có xu hướng kích thích hoạt động FDI của các công ty

có định hướng chi phí, những doanh nghiệp đầu tư vào nước có chi phí sản xuất rẻ hơn để tận hưởng lợi thế so sánh từ các nước này Nguyên nhân là do đồng tiền nước chủ nhà mất giá, do đó ngoại tệ quy đổi được nhiều nội tệ hơn, chi phí sản xuất quy đổi thấp hơn, và sự mất giá đồng tiền làm cản trở hoạt động FDI của các công ty có định hướng thị trường ( đầu tư để tăng thị phần, đồng tiền nước chủ nhà mất giá thì lợi nhuận thu về khi đầu tư vào nước này sẽ giảm xuống khi quy đổi sang ngoại tệ chuyển

về nước) Kết quả nghiên cứu cho thấy mấu chốt mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và FDI phụ thuộc vào động cơ đầu tư của các công ty đầu tư

Neary (2009) chỉ ra rằng sau khi xem xét các cơ sở lý thuyết, những nghiên cứu trước đây giả sử gián tiếp rằng giá trị của đầu tư trực tiếp FDI chiếm phần lớn trong tổng FDI Những nghiên cứu của đầu tư trực tiếp FDI liên quan đến những quyền tài sản trí tuệ ( IPR) như một nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn hình thức đầu tư để mở rộng kinh doanh ra nước ngoài của các công ty Những nghiên cứu trước đây điều tra mối quan hệ giữa môi trường pháp lý liên quan đến IPR

và dòng vốn FDI ở những nền kinh tế mới nổi nhưng thu được những kết quả trái ngược nhau Ví dụ, những nghiên cứu lý thuyết của Helpman ( 1993), Maskus và Penubarti ( 1995), Glass và Saggi ( 2002), Lai ( 1998) đều khằng định những điều luật bảo hộ pháp lý IPR làm giảm dòng vốn FDI, còn những nghiên cứu của Braga và cộng sự ( 1998), Javorcik ( 2004), Branstetter và cộng sự ( 2011) lại đưa ra kết quả hoàn toàn ngược lại Mặt khác, nghiên cứu của Lee và Mansfield ( 1996), Maskus ( 1998), Smith ( 2001), Rafiquzzaman ( 2002), Park và Lippoldt ( 2005), Branstetter và

Trang 31

cộng sự ( 2006), Nair-Reichert và Duncan ( 2008) đã tìm ra mối quan hệ tích cực và tiêu cực giữa những điều luật bảo hộ IPR và dòng vốn FDI của nước nhận đầu tư

Voyer and Beamish ( 2004), “ The Effect of Corruption on Japanese Foreign Direct Invesment”, Journal of Business Ethics Voyeur và Beamish ( 2004) sử dụng

dữ liệu chéo để kiểm tra mối quan hệ giữa tham nhũng và đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản vào cả hai nền kinh tế công nghiệp phát triển và mới nổi Nghiên cứu sử dụng một dữ liệu gồm 29.546 công ty con của các công ty Nhật Bản đầu tư vào 59 quốc gia và sử dụng phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất ( OLS) Và đi đến kết luận rằng FDI Nhật Bản có mối quan hệ tiêu cực với mức độ tham nhũng đặc biệt

là ở các nước đang phát triển Hơn nữa, nghiên cứu cũng cho thấy các quốc gia mới nổi nơi luật pháp và khuôn khổ quản lý chưa toàn diện để ngăn chặn gian lận và tham nhũng sẽ làm giảm lượng FDI của Nhật Bản đầu tư vào Đây là một đóng góp mới bởi vì chưa có một nghiên cứu nào trước đó tập trung vào mối quan hệ giữa FDI

và tham nhũng ở Nhật Bản một cách rõ rang Nghiên cứu này cũng đã mở rộng cho tác phẩm của Dunning ( 1977) và cung cấp một thực nghiệm hỗ trợ cho việc đưa tham nhũng vào xem xét các vị trí tiềm năng để đầu tư Cụ thể, mức độ nhận thức tham nhũng của các quốc gia ở nền kinh tế mới nổi là yếu tố dự báo quan trọng của đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Nhật Bản

Bài nghiên cứu của Calderón và cộng sự ( 2004) cũng chỉ ra được sự tương quan giữa FDI và M&A, mua bán những tài sản hiện có thông qua M&A tăng lên nhanh chóng từ những năm 1990 Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy sự liên quan giữa M&A và quá trình cổ phần hóa ở Việt Nam ( khi các doanh nghiệp do Nhà nước nắm quyền sở hữu bán cổ phần cho ban quản lý, nhân viên, các đối tác kinh doanh và công chúng) Sử dụng dữ liệu của 72 quốc gia trong giai đoạn từ 1987 - 2001, Calderón và cộng sự đã đưa ra nhận định rằng ở những quốc gia phát triển, M&A và đầu tư trực tiếp FDI mới dẫn đầu đầu tư trong nước

Để trả lời cho sự phát triển nhanh của M&A trong thập niên vừa qua, một số nhà nghiên cứu đã thực hiện đo lường những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định thực hiện

Trang 32

đầu tư M&A Bài nghiên cứu của Nocke và Yeaple (2007) đã tìm ra sự biến đổi của nhân tố sản lượng quốc tế ở những công ty đầu tư là yếu tố quyết định thực hiện M&A, trong khi đó Giovani (2005) hay Erel và cộng sự ( 2012) khẳng định rằng cấp

độ phát triển của thị trường vốn và môi trường pháp lý ở các quốc gia nhận đầu tư mới

là yếu tố quyết định Hơn thế, mặc dù LaPorta và cộng sự ( 2006) không trực tiếp nghiên cứu những nhân tố của M&A, nhưng họ đã tìm ra rằng môi trường pháp lý liên quan đến việc bảo hộ nhà đầu tư và sự phát triển thị trường vốn có tác động dương với nhau Head và Ries (2008), Uysal và cộng sự ( 2008), Ahern và cộng sự (2012) đã kết luận rằng khoảng cách địa lý, sự tương đồng về ngôn ngữ và mối quan

hệ trong lịch sử giữa quốc gia đầu tư và quốc gia nhận đầu tư là những nhân tố quyết định thực hiện M&A tương ứng thứ tự các nhân tố kể trên Cuối cùng, Ferreira và cộng sự (2009) khẳng định rằng xác xuất khi thu nhập từ M&A ở quốc gia nhận đầu

tư tăng lên thì tỷ lệ sở hữu nước ngoài cũng tăng theo

Kogruang (2002) nghiên cứu các nhân tố quyết định đến dòng FDI vào Thái Lan Bằng cách sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian ở Thái Lan trong giai đoạn 1970 –

1996 và phân tích đồng liên kết, tác giả phát hiện chi phí lao động, độ mở thương mại

và tỷ giá hối đoái quyết định dòng vốn FDI ở khu vực sản xuất trong khi quy mô thị trường, chi phí lao động quyết định dòng vốn FDI trong khu vực phi sản xuất

Aqeel và Nishat ( 2005) xác định bằng thực nghiệm các nhân tố quyết định dòng vốn FDI ở Pakistan trong giai đoạn 1961 – 2003 Thông qua kiểm định đồng liên kết và mô hình hiệu chỉnh sai số, kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô thị trường, thuế xuất nhập khẩu, tỷ giá hối đoái, thuế suất, tín dụng dành cho khu vực tư nhân là những nhân tố quyết định có ý nghĩa của FDI trong khi mức lương và chỉ số giá không có ý nghĩa tác động lên FDI

Mirza và Giroud [128] khảo sát các tập đoàn xuyên quốc gia hoạt động ở ASEAN và cho rằng Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng kể trong thu hút FDI Việt Nam hấp dẫn FDI bở sự ổn định chính trị, dân số lớn, chất lượng nguồn lao động và cơ sở công nghiệp đa dạng, khoảng 45% doanh nghiệp đầu tư với động cơ tìm kiếm thị

Trang 33

trường, 14% là tìm kiếm hiệu quả và còn lại là những động cơ khác và hỗn hợp ( hiệu quả và tìm kiếm thị trường) tùy thuộc thực tế Tuy nhiên, mẫu nghiên cứu là các công

ty con của công ty xuyên quốc gia nhưng khá nhỏ ( 22 công ty)

Hsieh [97] nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến FDI ở Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam giai đoạn 1990 – 2001 bằng cách sử dụng mô hình dữ liệu bảng động với ảnh hưởng cố định, các biến như: độ trễ FDI, chỉ số khủng hoảng tài chính châu Á, tỷ giá hối đoái, tiền lương, GDP bình quân đầu người, ngân sách Chính phủ, đầu tư vốn, con người… Nghiên cứu cho rằng yếu tố quyết định quan trọng nhất là độ trễ của dòng vốn FDI, GDP bình quân đầu người và mức độ cới mở của nền kinh tế

2.5.2 Nghiên cứu trong nước

Hồ Nhựt Quang (2010) đã sử dụng phương pháp OLS để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam giai đoạn 1988-2010 Kết quả kiểm định cho thấy việc gia tăng các biến số kinh tế: tổng sản phẩm quốc nội thực, tổng tiêu dùng trong nền kinh tế, giá trị đầu tư nhà nước vào lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp và giá trị thương mại quốc tế có tác động đáng kể đến gia tăng lượng vốn FDI vào Việt Nam

Phan Văn Tâm [20] nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các tỉnh Việt Nam với 4 nhóm nhân tố ( nhân tố thuộc đặc trưng riêng của doanh nghiệp, nhân tố thuộc đặc trưng riêng của tỉnh, nhân tố vĩ mô và nhân tố hấp dẫn), kết quả cho thấy giá nhân công rẻ và sự ổn định kinh tế vĩ mô ( lạm phát) ảnh hưởng thuận chiều đối với thu hút FDI của Nhật Bản vào Việt Nam

Bằng cách sử dụng mô hình moments tổng quát (GMM) cho dữ liệu bảng của 60 tỉnh trong 2 năm 2006, 2007, kết quả nghiên cứu của Dang (2013) cho thấy mối tương quan cùng chiều giữa FDI và cải thiện chất lượng thể chế, theo đó những tỉnh có vốn

Trang 34

FDI giải ngân nhiều hơn thì chất lượng thể chế được cải thiện nhiều hơn, đặc biệt là

xu hướng này thể hiện mạnh mẽ tại các tỉnh phía Bắc của Việt Nam

Hoàng Thị Thu ( 2007) nghiên cứu các nhân tố quyết định FDI ở Việt Nam bằng dữ liệu chuỗi thời gian trong giai đoạn 1988 – 2005 và mô hình hồi quy OLS Kết quả cho thấy quy mô thị trường, tốc độ tăng trưởng kinh tế, độ mở thương mại và cơ sở hạ tầng là những nhân tố quyết định thu hút các dòng vốn FDI vào Việt Nam Tuy nhiên, tác giả không tìm thấy mối quan hệ có ý nghĩa nào giữa FDI và chất lượng nguồn nhân lực hay quyết định gia nhập ASEAN

Nguyễn Ngọc Anh và Nguyễn Thắng ( 2007) nghiên cứu các nhân tố quyết định dòng vốn FDI ở các tỉnh thành của Việt Nam Bằng cách sử dụng dữ liệu của 64 tỉnh thành trong giai đoạn 1988 – 2006 và phương pháp hồi quy OLS, các phát hiện cho thấy quy

mô thị trường, lao động và cơ sở hạ tầng có tác động ý nghĩa lên FDI trong khi chính sách của Chính phủ thông qua chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) không có ý nghĩa Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra các nhà đầu tư đến từ các quốc gia khác nhau dường như có hành vi khác nhau trong việc lựa chọn vị trí đầu tư

Trang 35

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 3.1 Mô hình nghiên cứu

Luận văn tiến hành phân tích tác động của các nhân tố: biến về môi trường pháp lý của quốc gia quyết định đầu tư XL

c ( Corruption, Business, IPR sensitive, SHR sensitive); nhóm biến kiểm soát về môi trường vĩ mô quốc gia của quốc gia nhận đầu tư ( GDP, Population, Bilateral, Tax, RDI), Nhóm biến Xi kiểm soát về doanh nghiệp i ( doanh nghiệp quyết định đầu tư ra nước ngoài) ( Firms, MTB, MAP, Forex, Profit, Regional, Purpose) nhằm đánh giá tác động của các nhân tố đến quyết định thực hiện đầu tư FDI

Mô hình SUR

Trong kinh tế lượng, phương pháp hồi quy có vẻ không liên quan hay phương trình hồi quy có vẻ không liên quan ( Seemingly Unrelated Regressions – SUR – Davidsion, MacKinnon ( 1993), Hayashi ( 2000), Greene ( 2002) hoặc Seeming Unrelated Regression Equations – SURE – Zellner ( 1962), Srivastava và Giles ( 1987) được đề xuất bởi Zellner năm 1962 là mô hình hồi quy tuyến tính tổng quát bao gồm nhiều phương trình hồi quy, mỗi phương trình đều có biến phụ thuộc riêng biệt

do đó người ta mới gọi là dường như không liên quan ( Greene (2002))

Seemingly Unrelated Regression ( SUR) là một trong những phương pháp của bình phương bé nhất tổng quát ( Generalized Least Square – GLS) Nếu có vấn đề phương sai thay đổi ( heteroskedasticty), khi quan sát theo nhiều biến khác nhau, thì GLS được sử dụng Phương trình tuyến tính tổng quát đối với phương pháp SUR được thể hiện theo phương trình đơn giản sau:

Trang 36

Cụ thể là:

biến giải thích đối với mỗi quan sát đơn vị i, là sai số không quan sát được, it đại diện cho phương trình thứ i trong hệ thống và quan sát thứ t ( Moon và Perron, 2006)

i là số của phương trình hồi quy và i =1, …, N, t=1, …, T là các quan sát là chuyển vị của vecto hệ số hồi quy không xác định cần được ước lượng

Một phép đơn giản hóa mô hình là giả sử rằng thay đổi theo từng nhóm chéo nhưng không kéo dài theo thời gian Nếu số hạng sai số tuân theo giả thiết chuẩn của trung bình zero nhưng có phương sai thay đổi, không tự tương quan và không có tương quan đồng thời ( tại thời điểm t) giữa các sai số ( ) của bất kỳ phương trình nào, thì các phương trình trên về cơ bản là không có tương quan Dùng bình phương tối thiểu đối với từng phương trình riêng rẽ, chúng ta sẽ có được các ước lượng không chệch, nhất quán và hiệu quả nhất Một vấn đề của phương pháp này là những hiện tượng thông thường xảy ra trong bất kỳ nền kinh tế nào ( như thay đổi lãi suất, cung tiền, chính sách thuế, chính trị, …) thường ảnh hưởng đến các sai số chéo

Trang 37

khác nhau theo một cách tương tự dẫn đến tương quan đồng thời Do dó chúng ta có

thể có:

Trong đó các σ khác không Bằng cách khai thác các đồng phương sai này, chúng ta

có thể có các ước lượng thông số tốt hơn là khi thực hiện riêng rẽ đối với từng phương

trình Các bước như sau:

Bước 1: Ước lượng từng phương trình riêng rẽ bằng bình phương tối thiểu thông

thường và tính phần dư ( )

Bước 2: Dùng các phần dư ước lượng được ở trên để ước lượng các phương sai và

đồng phương sai ( với i,j = 1,2,3, …, n)

Bước 3: Dùng các ước lượng từ bước 2 để thực hiện các ước lượng bình phương tối

thiểu tổng quát khả thi ( FGLS) của tất cả các thông số

Mô hình trên được gọi là hồi quy có vẻ không tương quan ( SUR), một thuật ngữ do

Zellner (1962) đưa ra vì chúng dường như không có tương quan ngoại trừ tương quan

giữa các phần dư

3.2 Mô tả biến

- CBMA: Đây là biến phụ thuộc đại diện cho việc thực hiện M&A

Giá trị biến CBMA = 1 khi doanh nghiệp i1 đã đầu tư vào quốc gia c bằng M & A và

giá trị CBMA = 0 nếu ngược lại Đối với mỗi công ty i, số quan sát là bằng số lượng

của các quốc gia dự kiến nghiên cứu trong mẫu

1 29 doanh nghiệp Việt Nam được liệt kê trong bảng 3.1

Trang 38

- FDI: : Đây là biến phụ thuộc đại diện cho việc thực hiện đầu tư FDI

Giá trị FDI = 1 khi doanh nghiệp i đã đầu tư vào quố gia c2 bằng FDI và FDI = 0 nếu ngược lại Đối với mỗi công ty i, số quan sát là bằng số lượng của các quốc gia dự kiến nghiên cứu trong mẫu

- Corruption: Giá trị của biến Corruption được tính bằng logarit cơ số e của chỉ số

http://www.tradingeconomics.com/vietnam/corruption-index Nguyên tắc của chỉ số Corruption là nếu quốc gia c có chỉ số càng cao thì càng ít có hiện tượng tham nhũng

Cụ thể, năm 2015 chỉ số Corruption của Việt Nam và Singapore lần lượt là 31 và 85

- Business: Giá trị của biến Business được tính bằng logarit cơ số e của chỉ số Ease of doing business Chỉ số này cũng được công bố chỉnh thức trên trang http://www.tradingeconomics.com/vietnam/ease-of-doing-business Đây là chỉ số nhằm đánh giá mức độ thông thoáng trong việc thực hiện các thủ tục kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp Quốc gia nào có môi trường kinh doanh thông thoáng với các thủ tục đơn giản thì chỉ số này nhận giá trị thấp và ngược lại Năm 2015, chỉ số này của Việt Nam là 90 và chỉ số này của Singapore chỉ là 1

- IPR sensitive: Biến này nhận giá trị bằng 1 khi công ty thuộc lĩnh vực vực dược phẩm, hóa chất, máy móc thiết bị, máy móc, điện tử, máy móc chính xác; nhận giá trị bằng 0 khi công ty thuộc các ngành khác

- SHR sensitive: Biến này nhận giá trị bằng 1 khi công ty thuộc lĩnh vực thực phẩm, giấy và bột giấy, thiết bị vận chuyển, hoặc các lĩnh vực máy móc chính xác; nhận giá trị bằng 0 khi công ty thuộc các ngành khác

- GDP: Biến GDP được tính toán bằng cách lấy logarit cơ số e của thu nhập bình quân đầu người của 9 nước trong khu vực ASEAN ( Brunei, Cambodia, Indonesia, Laos,

2 9 quốc gia trong khu vực ASEAN liệt kê trong bảng 3.2

Trang 39

Malaysia, Myanmar, Philipines, Singapore, Thailand) trong giai đoạn từ năm 2008 –

2015

- Population: Biến Population được tính toán bằng cách lấy logarit cơ số e của dân số

từ 9 nước trong khu vực ASEAN ( Brunei, Cambodia, Indonesia, Laos, Malaysia, Myanmar, Philipines, Singapore, Thailand) trong giai đoạn từ năm 2008 – 2015

- Bilateral: Giá trị biến được tính bằng logarit cơ số e của tỷ số

Giá trị kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang nước c / Tổng giá trị thương mại của Việt Nam với các quốc gia lấy mẫu nghiên cứu

- Tax: Giá trị biến bằng logarit cơ số e của tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp của 9 quốc gia lấy mẫu từ năm 2008 – 2015

- RDI: Biến được tính bằng giá trị logarit cơ số e của

Tỷ lệ tích lũy theo năm của chi phí R&D của doanh nghiệp I tại quốc gia đó / Tổng doanh thu của doanh nghiệp i

- Firms: Giá trị logarit cơ số e của tổng tài sản doanh nghiệp i

- MTB: Giá trị logarit cơ số e của tỷ số

(Giá trị sổ sách của nợ + Giá trị thị trường của doanh nghiệp)/ Giá trị sổ sách của doanh nghiệp

- MAP: Giá trị biến MAP = Lợi nhuận cổ phiếu của của doanh nghiệp i / Tỷ lệ lợi nhuận của thị trường

- Forex: Giá trị biến Forex = Lợi nhuận cổ phiếu của doanh nghiệp i / Lợi nhuận của cặp tỷ giá giữa 2 quốc gia ( Việt Nam và quốc gia c)

- Profit: Lợi nhuận của cổ phiếu tương tứng với các doanh nghiệp theo năm

Trang 40

- Regional: Biến nhận giá trị bằng 1 nếu doanh nghiệp i đã hoạt động tại quốc gia c trước thời điểm quyết định thực hiện đầu từ FDI và nhận giá trị bằng 0 nếu ngược lại doanh nghiệp i chưa từng có hoạt động kinh doanh tại quốc gia c trước khi quyết định đầu tư FDI

- Purpose: Biến nhận giá trị bằng 1 nếu doanh nghiệp i quyết định đầu tư FDI vào quốc gia c để thiết lập kênh phân phối bán hàng và nhận giá trị bằng 0 nếu có mục đích khác

Bảng 3.1 Danh sách 29 doanh nghiệp Việt Nam được thu thập số liệu

Mã chứng

3 DPM Tổng Công ty Cổ phần Phân bón và Hóa chất dầu khí

7 IJC Công ty Cổ phần Phát triển Hạ tầng Kỹ thuật

8 KDC Công ty Cổ phần tập đoàn Kido

11 NTP Công ty Cổ phần Nhựa Thiếu niên Tiền Phong

12 OCH Công ty Cổ phần Khách sạn và Dịch vụ Đại Dương

14 PGS Công ty Cổ phần Kinh doanh khí hóa lỏng miền Nam

15 PLC Tổng Công ty Hóa dầu Petrolimex - CTCP

Ngày đăng: 09/08/2017, 16:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w