Theo Nguyễn Minh Phương và Đặng Quốc Bảo [12] nghiên cứu biến đổi điện não đồ của bộ đội làm việc trong các phương tiện quân sự có buồng kín gồm lái xe tăng, trắc thủ rađa và phi công qu
Trang 1Viện Y học lao động vμ vệ sinh môi trường
Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tμi cấp viện
NGHIÊ N CứU biến đổi điện n∙o đồ của
điều độ viên chỉ huy chạy tμu TRước vμ sau c ca lao c động g
Chủ nhiệm đề tài : BS Trần Văn Đại
Đơn vị chủ trì : Khoa Tâm sinh lý lao động và Ecgônômi Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường
Năm 2007
Trang 2Viện Y học lao động vμ vệ sinh môi trường
Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tμi cấp viện
NGHIÊ N CứU biến đổi điện n∙o đồ của
điều độ viên chỉ huy chạy tμu TRước vμ sau c ca lao động c
Chủ nhiệm đề tài : BS Trần Văn Đại
Đơn vị chủ trì đề tài : Khoa Tâm sinh lý lao động & Ecgônômi Viện Y học lao động & Vệ sinh môi trường
Cấp quản lý : Cấp Viện
Thời gian thực hiện : từ tháng 12/2006 đến tháng 12/2007 Tổng kinh phí thực hiện đề tài : 20.992.000 đồng
Trong đó : kinh phí SNKH 20.992.000 đồng
Năm 2007
Trang 3`Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tμi cấp viện
1 Tên đề tài :
Nghiên cứu biến đổi điện não đồ của
điều độ viên chỉ huy chạy tàu trước và sau ca lao động
2 Chủ nhiệm đề tài : BS Trần Văn Đại
3 Đơn vị chủ trì đề tài : Khoa Tâm sinh lý lao động & Ecgônômi
4 Cơ quan quản lý đề tài : Viện Y học lao động & Vệ sinh môi trường
5 Danh sách những người thực hiện chính :
TS Tạ Tuyết Bình CN Phạm Ngọc Quỳ BSCKI Phạm Văn Hùng CN Đặng Viết Lương Ths Trần Thanh Hà BS Nguyễn Quốc Tuấn Ths Nguyễn Thu Hà BS Phạm Lan Hương Ths Đào Phú Cường BS Đàm Thương Thương Ths Dương Khánh Vân
6 Đơn vị phối hợp :
Trung tâm y tế dự phòng Đường sắt Trung tâm điều hành vận tải đường sắt tại Hà Nội
7 Thời gian thực hiện từ tháng 12 năm 2006 đến tháng 12 năm 2007
Trang 5Mục lục
Trang
Phần A – Báo cáo tóm tắt đề tài nghiên cứu 1
Phần B – Báo cáo chi tiết kết quả nghiên cứu 3 1 Đặt vấn đề 3
Mục tiêu nghiên cứu 4
2 Tổng quan đề tài 5
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 6
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 6
3 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 8 3.1 Thiết kế nghiên cứu 8 3.2 Chọn mẫu, cỡ mẫu và đối tượng nghiên cứu 8 3.3 Phương pháp nghiên cứu 8 3.4 Phương pháp xử lý số liệu 9 4 Kết quả nghiên cứu 10 4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 10 4.2 Tính chất công việc của điều độ viên chỉ huy chạy tàu 10 4.3 Kết quả đo ánh sáng và tiếng ồn 14 4.4 Kết quả đo điện não đồ 15 4.5 Kết quả phân loại EEG 21 4.6 Nhóm các chỉ tiêu về tâm sinh lý lao động 23
5.1 Tính chất đặc thù công việc của điều độ viên chỉ huy chạy tàu 24 5.2 Các yếu tố về ánh sáng và tiếng ồn trong các phòng điều độ 24
5.3 Sự thay đổi chỉ tiêu điện não đồ sau ca lao động 25 5.4 Sự thay đổi một số chỉ tiêu tâm sinh lý khác sau ca lao động 34
6.1 Đặc thù nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 35 6.2 Thay đổi chỉ tiêu điện não đồ sau ca lao động 35 6.3 giảm trí nhớ và giảm sự linh hoạt thần kinh sau ca so với trước ca 36
Trang 7Phần a
Báo cáo Tóm tắt kết quả nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nhằm đánh giá biến đổi điện não đồ của điều độ viên chỉ huy chạy tàu trước và sau ca lao động Đối tượng nghiên cứu gồm 37 nam
điều độ viên chỉ huy chạy tàu có tuổi đời trung bình là 36.9 ± 6.7 tuổi và tuổi nghề là 10.4 ± 8.5 năm Nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang bao gồm :
đo và đánh giá biến đổi điện não đồ trước và sau ca, đo và đánh giá một số chỉ tiêu tâm sinh lý khác là test trí nhớ hình và test tần số nhấp nháy tới hạn Cùng với đó là khảo sát tính chất công việc và một số yếu tố trong môi trường làm việc gồm ánh sáng và tiếng ồn
Kết quả nghiên cứu cho thấy sau ca lao động điện não đồ của các điều độ viên thay đôi rõ rệt bao gồm : Sóng alpha giảm sau ca về tần số, biên độ và chỉ số phần trăm sóng Sóng bêta và sóng chậm têta đều tăng cả về tần số, biên độ và chỉ số sóng sau ca rõ ràng nhất Tỷ lệ phần trăm nhóm điện não đồ bình thường sau ca giảm xuống và tăng số phần trăm nhóm điện não đồ biến đổi sau ca, thể hiện trước ca nhóm điện não đồ bình thường là 70.27% (Kiểu I và II), nhóm điện não đồ biến đổi chiếm 29.73% (Kiểu III và IV), đến sau ca lao động tỷ lệ điện não đồ bình thường chỉ còn 43.24% còn nhóm điện não đồ biến đổi tăng lên là 56.76% Bên cạnh đó các chỉ tiêu tâm sinh lý khác là trí nhớ và sự linh hoạt thần kinh đều giảm sau ca lao động thể hiện ở tăng số hình nhớ sai và giảm tần số nhấp nháy tới hạn rõ rệt với p < 0.001
Qua kết quả nghiên cứu cũng cho thấy điều độ viên là đối tượng lao động
có tính chất căng thẳng thần kinh tâm lý cao Lao động theo ca kíp đêm và ngày, thời gian lao động liên tục trong một ca dài 12h, không nghỉ giữa ca, thời gian bận việc trên 90% thời gian của ca Khối lượng công việc rất lớn phải điều hành
đòi hỏi phải chính xác tuyệt đối cũng như trách nhiệm cao về tài sản và tính mạng của nhiều người Thêm vào đó là điều kiện làm việc không đảm bảo thiếu
Trang 8ánh sáng ngay cả trong vùng làm việc, tiếng ồn v−ợt quá so với TCVSCP làm tăng thêm sự căng thẳng thần kinh và mệt mỏi của các điều độ viên
Trang 9Phần B Báo cáo chi tiết kết quả nghiên cứu
1 Đặt vấn đề
Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, việc vận chuyển hàng hóa cũng như đảm bảo việc đi lại thuận tiện của con người giữa các vùng, đảm bảo an toàn về của cải và con người trong quá trình vận chuyển đi lại là công việc rất quan trọng Để đáp ứng nhu cầu này thì song hành với nó là những nghề nghiệp mang tính chất đặc trưng, mang tính đặc thù riêng với sự căng thẳng về thần kinh tâm lý đòi hỏi phải đáp ứng cao với công việc, thậm chí đòi hỏi phải chính xác tuyệt đối
Công tác phân loại và tuyển chọn lao động phù hợp với công việc ngày càng được quan tâm chú trọng đến, nhất là khi xã hội phát triển với nhiều ngành nghề mang tính chất tự động hoá cao, yêu cầu người lao động phải đáp ứng với công việc cao hơn, chính xác hơn, đặc biệt những nghề đòi hỏi sự chính xác cao, trách nhiệm cao như trong lao động của điều độ viên chỉ huy chạy tàu
Yêu cầu và tính chất công việc của điều độ viên chỉ huy chạy tàu đã gây cho họ sự căng thẳng thần kinh- tâm lý, một trong các yếu tố nguy cơ dẫn đến những bệnh lý về tim mạch, bệnh lý về thần kinh- tâm thần
Đặc thù của lao động điều độ chạy tàu mang tính chất căng thẳng và áp lực cao, họ phải làm việc theo ca ngày và đêm, liên tục 12h một ca, không có thời gian nghỉ trong ca, môi trường làm việc ồn ào, cùng một lúc phải điều hành rất nhiều tàu và ga tàu trong tuyến phụ trách của mình, phải nhớ tất cả các tàu trong tuyến, liên tục nhận thông tin từ các ga báo về và phải xử lý tình huống, các thông tin đòi hỏi phải rõ và chính xác tuyệt đối
Trang 10Tuy rằng các điều độ viên chỉ huy chạy tàu không phải là người trực tiếp lái tàu nhưng họ là một khâu chỉ huy quan trọng trong sự vận hành của hàng chục
đoàn tàu trong tuyến, nếu chỉ một sơ xuất nhỏ cũng có khả năng dẫn đến những tai nạn nguy hiểm gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản Tất cả những yếu tố trên đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ của điều độ viên chỉ huy chạy tàu
Việc nghiên cứu và đánh giá các chỉ tiêu tâm sinh lý để góp phần vào công tác phân loại lao động cho các nghề có căng thẳng thần kinh- tâm lý hiện nay
đang được quan tâm nhiều hơn, đặc biệt việc theo dõi thay đổi các chỉ số điện não đồ trên người lao động còn là một vấn đề mới chưa được nghiên cứu và áp dụng đầy đủ Do vậy, cần có nhiều hơn những nghiên cứu về các chỉ số điện não
đồ trên người lao động nhằm phục vụ cho công tác phân loại cũng như tuyển chọn ngày một tốt hơn, hiệu quả hơn
Với những lý do như trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu những biến đổi các chỉ số điện não đồ của điều độ viên chỉ huy chạy tàu
Mục tiêu của đề tài :
Đánh giá biến đổi điện não đồ của điều độ viên chỉ huy chạy tàu trước và sau ca lao động
Trang 112 Tổng quan tμi liệu nghiên cứu
Điện não đồ được hiểu là ghi các hoạt động điện sinh học của các tế bào não, hình ảnh các sóng ghi được qua hệ thống máy ghi phản ánh chức năng sinh
lý, bệnh lý của não Năm 1929, H.Berge là người đầu tiên ghi được điện thế của não người từ các điện cực đặt ở trên da đầu và gọi là điện não đồ ( EEG: Electro-Encephalo-Gram ).Năm 1958, Jasper H.H đã đề xuất phương pháp ghi điện não
đồ theo sơ đồ đặt điện cực tỷ lệ 10/20%, theo sơ đồ này các điện cực ghi điện não
đồ được đặt tương ứng với các vùng giải phẫu, hình thái của não Cho đến nay sơ
đồ đặt điện cực của Jasper đã được áp dụng ở hầu hết các phòng thí nghiệm và các khoa chẩn đoán chức năng thần kinh của các nước trên thế giới gọi là sơ đồ 10/20% Quốc tế Năm 1963 E.A Zhirmunskaja đưa ra bảng phân loại điện não
đồ dựa chủ yếu vào mức độ đều đặn của các điện thế sinh vật ở não và tương quan xuất hiện những nhịp độ khác nhau trên điện não đồ với hai nhịp sóng cơ bản là alpha và beta Phân loại của Zhirmunskaja hiện nay vẫn được áp dụng phổ biến nhất, gồm có 5 kiểu chính : kiểu I ( EEG bình thường ), kiểu II ( EEG trong giới hạn bình thường ), kiểu III ( EEG mất đồng bộ ), kiểu IV ( EEG tăng đồng
bộ ), kiểu V ( EEG bệnh lý ) Từ khi ghi được EEG trên người, các nhà sinh lý học thần kinh bắt đầu đẩy mạnh nghiên cứu hoạt điện của não người khoẻ mạnh trong trạng thái yên tĩnh và dưới ảnh hưởng của các kích thích khác nhau, đồng thời cũng áp dụng trong chẩn đoán và theo dõi bệnh Việc nghiên cứu này đã mở
ra nhiều hướng mới trong phát triển một số khía cạnh quan trọng trong ngành sinh lý học và trong chẩn đoán bệnh về não Cho đến nay đã có nhiều nhà sinh lý học và thầy thuốc lâm sàng sử dụng phương pháp ghi điện não đồ như một phương pháp đánh giá khách quan, tin cậy về chức năng của não Nhiều tác giả
sử dụng điện não đồ trong công tác giám định khả năng lao động và tuyển chọn nghề nghiệp ( A.M Ugolev 1984 ), trong nghiên cứu tâm sinh lý và chức năng của não ( J Hassett, 1981; L.R Zenkov, M.A Ronkin, 1982 )…
Trang 122.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về các chỉ tiêu tâm sinh lý với các chỉ
số điện não đồ được áp dụng nhiều ở các nghề có căng thẳng thần kinh tâm lý như: lái xe, phi công, biểu diễn xiếc…và cũng được nghiên cứu nhiều trong những lao động có căng thẳng thần kinh tâm lý khác
Phân tích thay đổi điện não đồ của lái xe tải khi đang lái xe đường trường của Miller JC [23], sự căng thẳng và đơn điệu của công việc cho ta thấy trên bản ghi điện não đồ sóng bêta tăng lên theo giờ chạy xe, đồng thời khi tỉ lệ sóng sigma/ bêta tăng lên là lúc xuất hiện hiện tượng ngủ gà trong khi lái xe
Sự thay đổi sóng bêta còn thể hiện trong nghiên cứu của Liu X và cộng sự [22] khi diễn viên xiếc tập trung bài tập với độ khó và nguy hiểm tăng lên thì tỉ lệ sóng bêta tăng lên
Theo Umriukhin E.A [25] nghiên cứu về đặc điểm điện não đồ của sinh viên khi có mức độ lo âu, căng thẳng càng cao thì chỉ số và biên độ nhịp alpha có
xu hướng giảm, đồng thời có tăng biên độ và chỉ số nhịp chậm
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong nghiên cứu TSL các chức danh lái tàu hoả của Phạm San và Trần Thế Năng [15] cho thấy sự thay đổi lớn các kiểu EEG bình thường ( kiểu I ) và kiểu EEG mất đồng bộ ( kiểu III ) giữa đầu và cuối ca lao động Kiểu I khi lên ban là 26,66% khi xuống ban giảm xuống chỉ còn 6,66%, còn kiểu III khi lên ban là 13,33% khi xuống ban tăng lên tới 66,66% Sự thay đổi này cho ta thấy mức độ căng thẳng của công việc lái tàu, lái xe là rất lớn mà nếu công tác tuyển chọn không tốt sẽ gây nên những hậu quả xấu không lường trước được, và tác giả trong nghiên cứu này cũng đã đề nghị với đối tượng có EEG kiểu III không nên lái tàu khách
Trang 13Theo Nguyễn Minh Phương và Đặng Quốc Bảo [12] nghiên cứu biến đổi
điện não đồ của bộ đội làm việc trong các phương tiện quân sự có buồng kín gồm lái xe tăng, trắc thủ rađa và phi công quân sự cũng chỉ ra rằng sau ca lao động căng thẳng thấy biên độ và chỉ số nhịp alpha giảm, đồng thời biên độ và chỉ số các nhịp chậm tăng lên
Trong nghiên cứu của Tạ Tuyết Bình và cộng sự [1] ở những đối tượng lao
động có căng thẳng thần kinh tâm lý khác như lao động thuộc nghề và công việc trên cao, qua theo dõi các chỉ tiêu TSL đều cho thấy mức độ căng thẳng cao, đặc biệt chỉ số điện não đồ có xu hướng theo chiều xấu đi sau ca lao động thể hiện là
sự giảm rõ về biên độ và chỉ số sóng alpha
Cũng như tình hình trên thế giới, vấn đề nghiên cứu điện não đồ nhằm áp dụng cho phân loại lao động cho những nghề có căng thẳng thần kinh tâm lý như các nghề: lái xe, lái tàu, phi công, thợ lặn… cũng đã có nhiều nghiên cứu đề cập
đến, nhưng nghiên cứu điện não đồ cho lao động của điều độ viên chỉ huy chạy tàu thì hầu như chưa có nghiên cứu cụ thể nào Đây là một đối tượng lao động làm việc theo ca kíp dài, đồng thời phải chịu áp lực cao khi làm việc, họ là người trực tiếp chỉ đạo cho sự vận hành của nhiều đoàn tàu trong tuyến Do vậy, việc
đánh giá đúng sự căng thẳng thần kinh tâm lý của các điều độ viên qua các chỉ tiêu tâm sinh lý là điều hết sức cần thiết, đặt biệt là theo dõi được thay đổi các chỉ
số điện não đồ trước và sau ca lao động Những nghiên cứu này góp phần quan trọng cho công tác phân loại và tuyển chọn lao động nhằm nâng cao hiệu quả công việc cũng như bảo vệ tốt sức khoẻ người lao động
Trang 143 Đối tượng vμ phương pháp nghiên cứu
3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang
3.2 Chọn mẫu, cỡ mẫu và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ số điều độ viên chỉ huy chạy tàu thuộc
Trung tâm điều hành vận tải đường sắt tại Hà Nội, gồm 37 người (n = 37)
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Các chỉ tiêu nghiên cứu
3.3.1.1 Mô tả tính chất công việc của điều độ viên chỉ huy chạy tàu
3.3.1.2 Khảo sát môi trường lao động
- Đo ánh sáng
- Đo tiếng ồn
3.3.1.3 Đo điện não đồ của điều độ viên chạy tàu trước và sau ca lao động
Các chỉ tiêu khi phân tích điện não gồm tần số, biên độ, chỉ số các sóng ghi được qua chương trình của máy và sau đó phân loại các nhóm
điện não đồ
3.3.1.4 Dùng một số test tâm sinh lý khác để đánh giá mức độ căng thẳng thần kinh của các điều độ viên chỉ huy chạy tàu trước và sau ca
- Thử nghiệm trí nhớ hình
- Đo tần số nhấp nháy ( CFF : Critical Flicker – Fusion Frequency )
3.3.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu
3.3.2.1 Khảo sát tính chất công việc của điều độ viên chỉ huy chạy tàu
Trang 15- Thời điểm đo điện não : đo trước ca lao động khoảng 1giờ trong điều kiện nghỉ ngơi thư giãn và đo sau ca lao động của ca đêm và ca ngày ngay khi các điều độ viên vừa xuống ban
- Phòng đo điện não đồ tại Trung tâm điều độ chạy tàu : yên tĩnh, kín đáo, thoáng, rộng
- Vị trí các điện cực đặt theo sơ đồ quốc tế 10/20% của Jasper (1958)
- Ghi theo phương pháp lưỡng cực ở các vùng: trán - đỉnh, đỉnh - chẩm, chẩm - thái dương và thái dương - trán
- Các nghiệm pháp chức năng được sử dụng trong khi ghi điện não là mở mắt - nhắm mắt, kích thích ánh sáng và tăng thông khí sau 2 phút
- Các chỉ số khi phân tích điện não gồm tần số, biên độ, chỉ số các sóng
điện não ghi được qua chương trình của máy
- Tiến hành phân loại EEG dựa theo phân loại của Zhirmunskaja E A (1963)
3.3.2.4 Phương pháp làm và đánh giá các chỉ số TSL khác
Phương pháp làm và đánh giá thử nghiệm trí nhớ hình và đo tần số nhấp nháy (CFF) theo Thường quy kỹ thuật của Viện Y học lao động và
Vệ sinh môi trường
3.3.3 Các công cụ nghiên cứu cụ thể
- Đo điện não đồ trên máy Neurofax EEG - 9100 hãng Nihon Kohden của Nhật
- Đo ánh sáng bằng máy : Lux Hi Tester 3421 hãng Hioki của Nhật
- Đo tiếng ồn bằng máy : NA-24 hãng Rion của Nhật
- Đo tần số nhấp nháy bằng máy : Flicker No.501 hãng Takei của Nhật 3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Phân tích số liệu theo Epi info 2000
4 Kết quả nghiên cứu
Trang 164.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 1: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
1 Tổng số đối tượng nghiên cứu (n) 37
4 Trình độ văn hoá : Đại học 100%
Các điều độ viên hầu hết đều có tuổi đời tương đối cao, trung bình là 36.9
± 6.7 năm Thâm niên làm điều độ viên chỉ huy chạy tàu tương đối nhiều năm, trung bình khoảng 10.4 ± 8.5 năm, đặc biệt chỉ có đối tượng là nam giới và tất cả
đều tốt nghiệp Đại học Giao thông vận tải
4.2 Tính chất công việc của điều độ viên chỉ huy chạy tàu
Khảo sát 8 phòng điều độ của 8 tuyến gồm :
1-Tuyến Hà Nội - Thanh Hoá
2-Tuyến Thanh Hoá - Vinh
3-Tuyến Vinh - Đồng Hới
4-Tuyến Đầu Mối
5-Tuyến Yến Bái - Lào Cai
6-Tuyến Việt Trì - Yên Bái
7-Tuyến Hà Nội - Hải Phòng - Việt Trì
8-Tuyến Hà Nội - Đồng Đăng
Trang 17Quy trình làm việc của điều độ viên ở các phòng là như nhau, thời gian lên xuống ban như sau : Lên ban buổi tối: 18 giờ có mặt tại cơ quan, nghe phổ biến chỉ thị về điều hành sản xuất của Lãnh đạo phòng và Giám đốc Trung tâm, nắm tình hình, công văn mới, đến 18h50 nhận ban và làm việc thông đến 6h50 ngày hôm sau xuống ban Lên ban buổi sáng: 6 giờ có mặt, nghe phổ biến, nắm tình hình như lên ban buổi tối đến 6h50 nhận ban và làm việc thông đến 18h50 xuống ban
Do tính chất đặc thù của công việc, để đảm bảo 40 giờ lao động/tuần; thời gian lao động được chia ca đêm là 12 tiếng, nghỉ 48 tiếng; xen kẽ làm ca ngày 12 tiếng nghỉ 24 tiếng hoặc làm 12 tiếng, nghỉ 12 tiếng Như vậy thời gian trong ca làm việc của điều độ viên chạy tàu là rất dài, liên tục 12 tiếng/ ca, luân phiên ca ngày và ca đêm, nếu tính cả thời gian giao ca và bàn giao công việc thì phải tới
13 tiếng/ca
Điều độ viên chạy tàu phải hoàn thành biểu đồ chạy tàu trong khu đoạn phụ trách cụ thể là:
- Kiểm tra các ga về thực hiện biểu đồ chạy tàu và kế hoạch lập tàu
- Kịp thời ra các mệnh lệnh cần thiết cho trực ban chạy tàu, tài xế , trưởng tàu (trực tiếp hoặc thông qua trực ban chạy tàu ga )
- Tham gia chỉ đạo và tổ chức cứu chữa tai nạn giao thông theo quy định hiện hành
- áp dụng mọi biện pháp để ngăn ngừa những thiếu sót, vi phạm để khôi phục biểu đồ chạy tàu
- Thường xuyên, kiểm tra tàu đi, đến ở các ga, tránh, vượt và tàu chạy trong khu đoạn, đồng thời tìm mọi cách bảo đảm an toàn chạy tàu
Trang 18Mỗi ca làm việc đều có biểu đồ chạy tàu dự kiến, trên cơ sở biểu đồ chạy tàu dự kiến, điều độ viên kiểm tra các ga về thực hiện biểu đồ chạy tàu và lập kế hoạch chạy tàu thông qua trực ban chạy tàu, tài xế, trưởng tàu
Trực ban các ga báo cáo kế hoạch chạy tàu của tất cả các tàu đi qua ga, điều độ viên sẽ ghi lại thành phần tàu khách, hỗn hợp, thành phần đoàn tàu hàng, đối với tàu khách, hỗn hợp điều độ viên sẽ phải ghi lại loại toa xe, số hiệu xe, trọng lượng xe (bì, trọng tải, tổng trọng), xe chở gì, ga đến; đối với tàu hàng cũng phải ghi lại loại toa xe, số hiệu xe, và trọng lượng xe bao gồm bì, hàng, tổng trọng, tên hàng, ga đến, địa chỉ người nhận hàng, số vận đơn Điều độ viên phải ghi thành phần của tất cả các tàu khách, hỗn hợp và tàu hàng
Điều độ viên kiểm tra tàu đi, đến ở các ga để ra mệnh lệnh cho các tàu tránh, vượt và tàu chạy trong khu đoạn để đảm bảo an toàn cho các đoàn tàu, tránh xảy ra tai nạn Khi xảy ra tai nạn điều độ viên phải tham gia chỉ đạo và tổ chức cứu chữa tai nạn giao thông
Trực ban ga báo cáo điều độ giờ tàu đến các ga, điều độ phải ghi lại trên biểu đồ chạy tàu Thiết bị thông tin điều độ đã cũ, lạc hậu, khi nói điều độ viên phải dậm chân lên thanh điều khiển, việc nghe thông tin gặp khó khăn do máy
ồn, có nhiều tạp âm, nhiều ga có thể nói cùng lúc, do vậy có những khi họ phải xác định lại thông tin 3- 4 lần Điều độ viên liên tục phải liên lạc với trực ban các
ga qua thiết bị thông tin liên lạc, trong ca một điều độ viên nhận từ vài trăm đến
3000 cuộc điện thoại Những thông tin nhận được phải chính xác tuyệt đối không
được phép sai sót, nếu tiếp nhận thông tin không chính xác có thể sẽ ảnh hưởng
đến tính mạng và tài sản lớn
Qua khảo sát tư thế lao động trong quá trình làm việc chúng tôi thấy điều
độ viên phải ngồi làm việc khoảng 10 giờ một ca, cúi khoảng 7 giờ, xoay khoảng
6 giờ một ca Như vậy, điều độ viên phải ngồi làm việc suốt ca lao động không
Trang 19có thời gian nghỉ giữa ca, thời gian bận việc trên 90% thời gian ca ăn giữa ca
ngay tại vị trí làm việc
Để hoàn thành biểu đồ chạy tàu điều độ viên phải nhớ được 24 kí hiệu phân biệt các tàu bằng đường thẳng, các đường thẳng được phân biệt bằng màu
và các dấu gạch, các ký hiệu trên đường thẳng và 13 ký hiệu tình trạng tàu bằng chữ cái Các điều độ viên phải quan sát đồng thời: các đường thẳng biểu thị các
đoàn tàu, mỗi đường thẳng là một đoàn tàu
Mỗi điều độ viên phải điều hành tất cả các ga trong tuyến của mình gồm các tuyến ở bảng sau :
Bảng 2: Các tuyến đường, số ga, số các đoàn tàu trong mỗi tuyến
điều hành
Số đoàn tàu
điều hành trong 24h
6 Tuyến Hà Nội - Hải Phòng - Việt Trì 21 58
Trang 204.3 KÕt qu¶ ®o ¸nh s¸ng vµ tiÕng ån
B¶ng 3: KÕt qu¶ ®o ¸nh s¸ng vµ tiÕng ån
mÉu
¸nh s¸ng (lux)
Sè mÉu
TiÕng ån (dBA) Tiªu chuÈn vÖ sinh cho
phÐp (theo Tiªu chuÈn
3733/2002/Q§-BYT)
300-500 70
(+): ThiÕu
¸nh s¸ng (++): TiÕng ån v−ît TCVSCP
Trang 21Tiếng ồn ở hầu hết các phòng đều vượt quá ngưỡng không chỉ khi phát loa
mà ngay cả khi không phát loa, đồng thời ánh sáng ở các phòng cũng không đảm bảo ngay cả ánh sáng trong vùng làm việc của các Điều độ viên, chỉ có ánh sáng
ở phòng điều độ liên tuyến là được đảm bảo
4.4 Kết quả đo điện não đồ
Tổng số đối tượng được đo điện não gồm 37 điều độ viên chỉ huy chạy tàu của Trung tâm điều hành vận tải đường sắt tại Hà Nội với tuổi đời trung bình là 36.9 ± 6.7 tuổi, toàn bộ là nam giới và thâm niên công tác điều độ chạy tàu trung bình là 10.4 ± 8.5 năm
Trên bản ghi điện não đồ của tất cả 37 điều độ viên đều không thấy các sóng bệnh lý bất thường trước và sau ca lao động, các sóng điện não tương đối
đối xứng hai bên, phản ứng Berger sau nhắm - mở mắt và phản ứng đồng hóa nhịp sau kích thích ánh sáng đều diễn ra bình thường, đồng thời sau các nghiệm pháp chức năng không thấy xuất hiện sóng bệnh lý
Trang 22Sóng alpha giảm có ý nghĩa về tần số, biên độ và chỉ số phần trăm sau ca lao động với tần số trước ca là 10.08 ± 1.19ck/gy đến sau ca giảm xuống còn 7.92 ± 1.09ck/gy, biên độ trước ca là 49.92 ±16.06àV sau ca là 40.11 ±15.93àV, chỉ số phần trăm sóng trước ca là 52.16 ± 14.93% đến sau ca giảm xuống là 43.78 ± 15.52%
Trang 23Cũng như sóng bêta, sóng chậm têta sau ca lao động tăng rất rõ ở các chỉ
số biên độ, tần số và chỉ số sóng đều với sự khác biệt p < 0.001 Tần số sóng chậm têta trước ca là 4.38 ± 0.35ck/gy sau ca tăng lên là 5.97 ± 0.47 ck/gy, biên
độ trước ca là 16.19 ± 2.55àV sau ca là 21.70 ± 1.71àV, chỉ số phần trăm sóng trước ca là 17.84 ± 6.72% đến sau ca tăng lên là 25.41 ± 9.31%
Nhìn chung kết quả tổng hợp ghi điện não cho thấy các chỉ số của các sóng alpha, bêta và sóng chậm têta đều thay đổi sau ca lao động Sóng alpha giảm sau ca về tần số, biên độ và chỉ số phần trăm Sóng bêta và sóng chậm têta
đều tăng ở các chỉ số gồm tần số, biên độ và chỉ số phần trăm các sóng sau ca,
đặc biệt sóng chậm têta biến đổi sau ca rõ nhất, ở tất cả các chỉ số đều tăng có ý nghĩa thống kê với p < 0.001
Trang 24Sự thay đổi cụ thể giá trị sóng alpha và sóng chậm têta của từng đối t−ợng cũng nh− sự thay đổi chung của toàn bộ các đối t−ợng đ−ợc thể hiện ở các biểu
đồ sau :
Biểu đồ 1 : Biểu diễn thay đổi cỏc giỏ trị tần số súng alpha
và tần số súng chậm tờta của từng đối tượng (n = 37)
Trang 25Biểu đồ 2 : Biểu diễn thay đổi cỏc giỏ trị biờn độ súng alpha
và biờn độ súng chậm tờta của từng đối tượng (n = 37)
đó, ta thấy rất rõ sự giảm giá trị biên độ sóng chậm têta sau ca lao động trên toàn
bộ đường biểu diễn biên độ têta của các đối tượng
Trang 26Biểu đồ 3 : Biểu diễn thay đổi cỏc giỏ trị chỉ số phần trăm súng alpha và súng chậm tờta của từng đối tượng (n = 37)
Cũng như sự thay đổi cho từng đối tượng về biên độ các sóng alpha và sóng chậm têta, nhìn chung sau ca lao động chỉ số sóng alpha đều giảm rõ Chỉ
số sóng chậm têta tuy có dao động nhiều hơn so với tần số và biên độ của sóng này giữa các đối tượng nhưng cũng thấy được xu hướng tăng lên sau ca lao động của toàn bộ đường biểu đồ
Trang 274.5 Kết quả phân loại EEG
Tỷ lệ phần trăm các kiểu EEG theo phân loại của Zhirmunskaja E A (1963) [1], gồm các kiểu sau :
Bảng 7:Tỷ lệ % các kiểu EEG của điều độ viên trước và sau ca(n = 37)
Trước ca lao động Sau ca lao động Kiểu EEG Số lượng
( n )
Phần trăm (%)
Số lượng ( n )
Phần trăm (%)
Trang 28Tỷ lệ phần trăm các nhóm EEG theo phân loại của Zhirmunskaja E A (1963) [1], gồm các nhóm sau :
Bảng 8 : Tỷ lệ % các nhóm EEG của điều độ viên trước và sau ca(n = 37)
Số lượng (n)
Phần trăm (%)
Trang 29Phần lớn loại hình điện não đồ của Điều độ viên trước ca lao động có kiểu
I chiếm 48.65% Kiểu II là 21.62%, kiểu III là 29.73%, kiểu IV và kiểu V chiếm 0% Đến sau ca có sự thay đổi lớn giữa các kiểu EEG, kiểu III sau ca chiếm phần trăm nhiều nhất là 56.76% còn kiểu I và II giảm đáng kể so với đầu ca Các kiểu
IV và kiểu kiểu V (kiểu bệnh lý) không thấy xuất hiện cả đầu ca và cuối ca lao
động
Như vậy, trước ca nhóm EEG bình thường chiếm tỷ lệ cao là 70.27% gồm kiểu I và kiểu II trong đó chủ yếu kiểu I, còn nhóm EEG biến đổi tỷ lệ thấp gồm toàn bộ là kiểu III, nhóm bệnh lý không có Sau khi kết thúc ca lao động thì nhóm EEG biến đổi lại chiếm tỷ lệ cao nhất là 56.76% bao gồm toàn bộ là kiểu III, còn nhóm EEG bình thường giảm xuống và nhóm EEG bệnh lý không thấy xuất hiện
Qua hai biểu đồ trên ta thấy loại hình EEG của các điều độ viên biến đổi
rõ rệt sau ca lao động, số điện não đồ bình thường dao động thành kiểu EEG biến
đổi khá cao thể hiện với nhóm bình thường giảm đi và nhóm biến đổi tăng rõ 4.6 Nhóm các chỉ tiêu về tâm sinh lý lao động
Bảng 9: Biến đổi một số chỉ tiêu tâm sinh lý sau ca làm việc (n = 37)
Trước ca (TB ± SD)
Sau ca (TB ± SD) P
1 Trí nhớ hình (số hình nhớ sai) 2.8 ± 0.84 3.1 ± 0.75 > 0.05
2 Tần số nhấp nháy tới hạn (Hz) 36.7 ± 2.4 35.4 ± 2.7 < 0.001
Số hình nhớ sai sau ca lao động tăng lên tuy rằng sự khác biệt là không có
ý nghĩa với p > 0.05 Tần số nhấp nháy tới hạn giảm có ý nghĩa với p < 0.001, thể hiện sự tập trung và mức độ linh hoạt thần kinh của các điều độ viên giảm xuống
rõ rệt sau ca lao động
Trang 305 Bμn luận
5.1 Tính chất đặc thù công việc của điều độ viên chỉ huy chạy tàu
Qua khảo sát tính chất công việc của các điều độ viên, chúng tôi thấy đây
là đối tượng có công việc mang tính chất đặc thù riêng biệt, làm việc chia ca luân phiên ngày và đêm, thời gian làm việc trong ca là liên tục và kéo dài, khối lượng công việc lớn Đối với đối tượng làm ca kíp được xếp vào nhóm nghề số 3 và lao
động liên tục 12h một ca được xếp vào nhóm nghề số 4 theo hướng dẫn danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm1995 [17]
Với kết quả ở bảng 2 - tổng hợp số ga và số đoàn tàu trong các tuyến ta thấy số lượng đoàn tàu dao động từ trên 40 đoàn tàu trong một tuyến, thậm chí có tuyến tới 140 đoàn tàu chạy trong 24h trên một tuyến Như vậy, số đoàn tàu trong một tuyến rất nhiều nên các điều độ viên phải tập trung chú ý cao những đường thẳng biểu thị cho mỗi đoàn tàu để điều hành các ga cho tàu tránh và vượt, không
được phép sai sót nhằm đảm bảo an toàn cao nhất cho các đoàn tàu Như vậy, công việc cũng có tính đơn điệu và lặp lại cao, không cho phép sai sót, không luân phiên được công việc, không điều chỉnh tốc độ làm việc Cường độ làm việc lớn, giải quyết công việc đòi hỏi tính chính xác tuyệt đối, trách nhiệm công việc cao trước tài sản có giá trị lớn và liên quan đến tính mạng của nhiều người là các yếu tố chính gây căng thẳng cho điều độ viên trong ca làm việc
5.2 Các yếu tố về ánh sáng và tiếng ồn trong các phòng điều độ
Công việc điều độ chỉ huy chạy tàu yêu cầu phải đảm bảo chiếu sáng đầy
đủ và thiết kế chiếu sáng hợp lý để giảm căng thẳng thị giác do thiếu ánh sáng và chói lóa Kết quả đo ánh sáng ở bảng 3 cho thấy, tại Trung tâm ĐHVT Hà Nội, trong 8 phòng điều độ chỉ có phòng điều độ liên tỉnh có đủ ánh sáng cho công việc, số phòng còn lại đều thiếu ánh sáng so với TCVSCP
Trang 31Đối với loại công việc phải điều hành và có đàm thoại bằng điện thoại, yêu cầu tiếng ồn nơi làm việc không được vượt quá 70 dBA Kết quả đo tiếng ồn ở bảng 3 cho thấy hầu hết tại các phòng điều độ tiếng ồn đều vượt quá TCVSCP từ 3-15dBA lúc bình thường và vượt từ 4-19 dBA khi phát loa Chỉ có tiếng ồn lúc bình thường ở phòng ĐĐ liên tỉnh nằm trong ngưỡng TCVSCP, nhưng khi phát loa tiếng ồn ở đây vẫn vượt quá từ 4-10 dBA
Như vậy, ánh sáng trong các phòng điều độ không đủ sáng ngay cả trong vùng quan sát của điều độ viên, tiếng ồn vượt quá TCVSCP ngay cả khi không phát loa, đây cũng là những yếu tố gây mệt mỏi và căng thẳng cho thần kinh, làm tăng thêm gánh nặng của công việc đặc thù này
5.3 Sự thay đổi chỉ tiêu điện não đồ sau ca lao động
Trong quá trình đánh giá sự thay đổi các sóng điện não, chúng tôi nghiên cứu trước hết là các sóng alpha, bêta, sóng chậm teta và các loại sóng khác nếu
có, bao gồm tần số, biên độ và chỉ số các sóng, sau đó phân loại bản ghi điện não
đồ thuộc kiểu nào theo Zhirmunskaja E A 1963 Cùng với đó là sử dụng các nghiệm pháp chức năng là mở mắt - nhắm mắt, kích thích ánh sáng và tăng thông khí sau 2 phút để đánh giá thêm sự đáp ứng và thay đổi của các sóng điện não sau các nghiệp pháp và cũng là để kích thích các sóng bệnh lý tiềm ẩn xuất hiện nếu có của mỗi cá thể Bình thường khi mở mắt thì nhịp alpha biến mất còn khi nhắm mắt vào lại xuất hiện nhịp alpha hay được gọi là phản ứng Berger dương tính Khi kích thích ánh sáng thì bình thường sẽ có hiện tượng đồng hóa nhịp tức nghĩa là nhịp alpha có tần số trùng với tần số kích thích ánh sáng hay còn gọi là
có phản ứng đồng hóa nhịp hoặc phản ứng đồng hóa nhịp dương tính Nghiệm pháp thông khí sau hai phút là cho người được đo điện não hít vào sâu và thở ra
từ từ đều đặn sau hai phút với mục đích cung cấp oxy tốt hơn cho não nhằm phát hiện những biến đổi chức năng tạm thời nếu có của não hay là biến đổi do tổn thương thực thể khác đem lại Khi chỉ là rối loạn chức năng tạm thời thì sẽ thấy
Trang 32các sóng điện não trở về bình thường hoặc tốt hơn sau thông khí còn nếu là do tổn thương thực thể hoặc sự rối loạn tuần hoàn kéo dài của não thì sự thay đổi các sóng sẽ không tốt hơn thậm chí còn có thể xấu hơn khi chưa thông khí Trong nghiên cứu này sau khi sử dụng các nghiệm pháp chức năng trên với các điều độ viên đều cho thấy các phản ứng bình thường, đó là phản ứng Berger dương tính, phản ứng đồng hóa nhịp dương tính, sau khi thông khí các sóng điện não ổn định hơn và không thấy xuất hiện các sóng bất thường
Kết quả ghi điện não đồ của điều độ viên (Bảng 4,5 và 6, Biểu đồ 1,2 và 3) cho thấy rất rõ sự biến đổi các chỉ tiêu điện não đồ sau ca lao động so với trước
Qua biểu đồ 1, 2 và 3, ta thấy rõ thêm sự thay đổi các giá trị của sóng alpha cho từng đối tượng với tần số, biên độ và chỉ số đều có xu hướng giảm sau
ca lao động Tần số sóng alpha giảm rõ nhất trên toàn bộ đường biểu đồ do giá trị
Trang 33này dao động ít giữa các đối tượng (biểu đồ 1) Các giá trị biên độ và chỉ số sóng alpha tuy có dao động nhiều giữa các đối tượng nhưng nhìn chung đều giảm sau
ca lao động
Từ những thay đổi đáng kể trên của sóng alpha bao gồm cả tần số, biên độ
và chỉ số sau ca lao động của các điều độ viên chỉ huy chạy tàu, chúng tôi so sánh đặc điểm của sóng này lúc bình thường và sau ca lao động với một số đối tượng có căng thẳng thần kinh tâm lý như : phi công, lái tàu, lái xe và trắc thủ rađa tên lửa cùng với những đối tượng khỏe mạnh bình thường là chiến sỹ khỏe
và đối tượng có công việc không mang tính chất căng thẳng như nhân viên hành chính trong những nghiên cứu khác nhau
Theo nghiên cứu của Vũ Đăng Nguyên [10] và Nguyễn Minh Phương [12],
ta thấy tần số alpha của các điều độ viên gần giống với tần số alpha của thợ lặn (10.03 ± 0.11ck/gy), lái tàu, lái xe (10.00 ± 0.12ck/gy), trắc thủ rađa (10.21 ± 0.65ck/gy) và chiến sỹ khỏe (10.06 ± 0.12ck/gy) nhưng cao hơn của phi công (9.80 ± 0.14ck/gy) và điện báo viên (9.7 ± 0.11ck/gy) Về biên độ sóng alpha của
điều độ viên thì cao hơn một chút so với các đối tượng lái tàu, lái xe và thợ lặn Xét về chỉ số phần trăm sóng alpha trên bản ghi điện não ta thấy thợ lặn và chiến
sỹ khỏe chiếm cao hơn cả, đặc biệt đối tượng chiến sỹ khỏe đại diện cho thanh niên khỏe mạnh có chỉ số phần trăm sóng alpha cao nhất là 78.61 ± 4.37%, trong khi đó của điều độ viên là 52.16 ± 14.93%, của lái tàu, lái xe là 45.52 ± 4.23%
Khi so với đối tượng có căng thẳng thần kinh tâm lý cao là lái tàu, lái xe trong nghiên cứu của Vũ Đăng Nguyên [10], thì sau ca lao động các chỉ số sóng alpha đều giảm đáng kể cả về tần số, biên độ và chỉ số (p < 0.05), trong đó tần số alpha là 10.00 ± 0.09ck/gy đến sau ca giảm xuống là 9.90 ± 1.10ck/gy, biên độ alpha trước ca là 29.50 ± 3.20àV đến sau ca còn 26.20 ± 2.20àV, chỉ số alpha trước ca là 46.72 ± 4.15% đến sau ca giảm xuống 42.91 ± 4.32% Sóng alpha ở
Trang 34đối tượng điều độ viên còn giảm rõ rệt hơn về các chỉ số alpha sau ca lao động nhất là biên độ sau đó đến tần số và chỉ số phần trăm
Trong nghiên cứu điện não đồ sau ca lao động cho nhân viên hành chính của Tạ Tuyết Bình [1], ta thấy các chỉ số sóng alpha hầu như không thay đổi và chỉ số phần trăm còn tăng đôi chút sau ca lao động, trong đó tần số alpha là 10.00 ± 1.29ck/gy đến sau ca lao động tần số là 10.06 ± 1.52ck/gy, biên độ sóng alpha trước ca là 27.94 ± 10.32àV, đến sau ca biên độ là 27.77 ± 10.92àV, chỉ số alpha là 51.00 ± 22.4% đến sau ca là 52.67 ± 24.24% Như vậy, ở đối tượng không có tính chất căng thẳng của công việc thì các chỉ số của alpha thay đổi không đáng kể, còn ở nhiều đối tượng có căng thẳng thần kinh tâm lý trong công việc thì ta thấy các chỉ số sóng alpha giảm rõ sau ca lao động
Trong nghiên cứu lao động điều khiển máy móc vận hành nhà máy thủy
điện Hòa Bình của Thái Văn Cớn [6], ta thấy các chỉ tiêu về tâm sinh lý đều giảm
đáng kể sau ca lao động là giảm trí nhớ, giảm sự tập trung chú ý, biểu hiện mệt mỏi của hệ thần kinh trung ương, đặc biệt trên điện não đồ có giảm rõ về biên độ, tần số và chỉ số sóng alpha sau ca lao động
Sự giảm các chỉ số sóng alpha sau ca lao động còn thể hiện rõ trong nghiên cứu trên các đối tượng có tính chất căng thẳng công việc như chiến sỹ lái xe tăng, trắc thủ rađa, tên lửa và phi công quân sự của Nguyễn Minh Phương [12], cả 3 nhóm đối tượng đều giảm biên độ và chỉ số sóng alpha sau ca lao động, đặc biệt giảm rõ nhất là phi công quân sự Biên độ và chỉ số sóng alpha của phi công quân sự trước ca là 36.2 ± 5.3àV và 55.8 ± 6.9%, đến sau ca giảm xuống là 22.0
Trang 35bêta không có phản ứng ngừng với kích thích thị giác cho nên khi có tác dụng
ánh sáng nhịp bêta được biểu hiện rõ vì không còn nhịp alpha che khuất [18]
Tần số bêta bình thường khoảng 14-35ck/gy, biên độ khoảng trên dưới 20àV, chỉ số thường nhỏ và không cố định khoảng 20-30% Với kết quả ở nghiên cứu này chúng tôi nhận thấy sóng bêta trước và sau ca lao động của điều
độ viên đều có xu hướng tăng cả về tần số, biên độ và chỉ số sóng Tần số bêta trước ca lao động là 14.89 ± 1.13ck/gy đa số tập trung là 14ck/gy, đến sau ca lao
động tăng lên đến 16.51 ± 0.99ck/gy đa số tập trung ở tần số 17ck/gy và sự tăng
có ý nghĩa với p < 0.001 Biên độ bêta trước ca lao động là 15.30 ± 1.54àV phần lớn số điều độ viên có biên độ là 14àV, đến sau ca lao động biên độ tăng lên 17.30 ± 1.85àV tập trung chủ yếu ở biên độ 16àV với sự khác biệt có ý nghĩa với p < 0.001 Chỉ số bêta trước ca là 32.97 ± 11.51% chủ yếu với chỉ số 20%,
đến sau ca tăng lên là 37.84 ± 12.28% phần đông là 40% với sự khác biệt là p < 0.05 (Bảng 5) Như vậy, sau ca lao động sóng bêta tăng lên rõ ràng cả về tần số, biên độ và chỉ số, điều này cho thấy sự căng thẳng qua một ca làm việc của các
điều độ viên
Qua một số nghiên cứu về sự căng thẳng thần kinh, làm việc bằng trí óc, lo lắng, kích thích thường kèm theo giảm hoạt động alpha, nhịp bêta trở nên trội hẳn
Điện não đồ của sinh viên trước và sau kỳ thi có sự khác biệt về tỷ lệ sóng alpha so với sóng bêta Sự khác biệt đó còn thể hiện khá rõ khi ghi điện não đồ cho sinh viên trường Đại học Y khoa và công nhân, ở nhóm công nhân thì sự phân bố các sóng cơ bản rất đều và sóng alpha chiếm ưu thế, còn ngược lại ở nhóm sinh viên chủ yếu là sóng bêta biên độ thấp [18]
Phân tích thay đổi điện não đồ của lái xe tải khi đang lái xe đường trường của Miller JC [23] Máy đo điện não được gắn cho người lái xe và theo dõi sự thay đổi các sóng trong suốt quá trình lái xe trên đường trường, sự căng thẳng và
Trang 36đơn điệu của công việc đã thể hiện trên bản ghi điện não đồ sóng bêta tăng lên cả
về tần số và biên độ theo giờ chạy xe, đồng thời khi tỉ lệ sóng sigma/ bêta tăng lên là lúc xuất hiện hiện tượng ngủ gà trong khi lái xe
Sự thay đổi sóng bêta còn thể hiện trong nghiên cứu của Liu X và cộng sự [22] khi diễn viên xiếc tập trung bài tập với độ khó và nguy hiểm tăng lên thì tỉ lệ sóng bêta tăng lên
Cũng như sự tăng lên của sóng bêta sau ca làm việc của các điều độ viên, sóng chậm têta cũng tăng rất rõ rệt với p < 0.001 cả về tần số, biên độ và chỉ số sau ca Bình thường tần số sóng chậm têta khoảng 4-7ck/gy, trước ca tần số là 4.38 ± 0.35ck/gy chủ yếu có tần số là 4ck/gy, đến sau ca tăng lên là 5.97 ± 0.47ck/gy và chủ yếu có tần số là 6ck/gy Biên độ sóng chậm têta bình thường khoảng dưới 20àV, trước ca lao động biên độ là 16.19 ± 2.55àV chủ yếu số điều
độ viên có biên độ là 15àV, sau ca lao động tăng lên là 21.70 ± 1.71àV với phần lớn có biên độ là 21àV Xét về chỉ số têta bình thường cũng không ổn định và chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ khoảng 10-30% Trước ca lao động các điều độ viên có chỉ số têta là 17.84 ± 6.72% phần nhiều có chỉ số khoảng 20%, đến sau ca lao
động chỉ số tăng lên là 25.41 ± 9.31% và gồm chủ yếu có chỉ số khoảng 30% (Bảng 6)
Sự tăng lên rất rõ cả về tần số, biên độ và chỉ số sóng chậm têta với p đều nhỏ hơn 0.001, điều này cho thấy sự căng thẳng cùng với mệt mỏi của các điều
độ viên sau một ca lao động
Sóng chậm têta tăng lên sau ca lao động còn được thể hiện rõ ràng hơn qua
đường biểu diễn các giá trị của sóng này của từng đối tượng và đây cũng là sóng thể hiện sự biến đổi rõ ràng nhất sau ca (Biểu đồ 1, 2 và 3)
Trong nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương [13] trên bộ đội rađa với nhiều yếu tố gây stress, lao động trí óc cường độ cao và ca kíp cũng cho thấy, tần
số của nhịp chậm tăng lên sau ca nhưng không có sự khác biệt mấy (p > 0,05)
Trang 37Biên độ của nhịp chậm tăng đáng kể sau ca (p < 0,05), đồng thời chỉ số nhịp chậm cũng tăng rõ so với trước lao động (p < 0,05)
Những thay đổi về đặc điểm sóng chậm têta sau ca lao động của một số
đối tượng trong nghiên cứu của Vũ Đăng Nguyên [10] cũng thấy rõ sự tăng lên của sóng chậm têta cả về biên độ và chỉ số ở đối tượng lái tàu, lái xe biên độ sóng chậm têta trước ca là 26.10 ± 2.55àV đến sau ca biên độ tăng lên là 34.12 ± 3.12àV, chỉ số sóng chậm têta là 28.65 ± 2.60% đến sau ca tăng lên 41.21 ± 2.97% Còn ở đối tượng điện báo viên biên độ sóng chậm têta trước ca là 25.12 ± 1.41àV đến sau ca biên độ tăng lên là 30.00 ± 1.52àV, chỉ số sóng chậm têta là 33.00 ± 1.70% đến sau ca tăng lên 45.88 ± 2.80%
Qua kết quả trên, khi so sánh với đối tượng đặc biệt có căng thẳng cao trong ca lao động là lái tàu, lái xe và đối tượng ít có căng thẳng hơn là điện báo viên, ta thấy cả biên độ và chỉ số đều tăng rõ ràng sau ca lao động của tất cả các
đối tượng, trong đó đối tượng điều độ chạy tàu tăng rõ nhất với p < 0.001 sau đó
đến lái tàu, lái xe và cuối cùng là điện báo viên tăng ít hơn với p < 0.01 Như vậy, tính chất căng thẳng và đặc biệt là sự mệt mỏi sau một ca làm việc có thể là yếu
tố làm tăng sóng chậm têta
Cũng trong nghiên cứu trên bộ đội làm việc trong các phương tiện quân sự
có buồng kín của Nguyễn Minh Phương [12], sau một ca lao động các chỉ số nhịp chậm tăng rõ rệt, đặc biệt là đối tượng phi công quân sự khi trong quá trình bay luôn phải chịu mức độ căng thẳng thần kinh tâm lý rất cao cùng với trách nhiệm công việc rất lớn, yêu cầu cao phải đảm bảo tính mạng cho con người và máy bay
Từ những biến đổi đáng kể về tần số, biên độ và chỉ số của các sóng sau một ca lao động của các Điều độ viên chạy tàu kéo theo đó là những thay đổi lớn giữa các kiểu EEG theo phân loại của Zhirmunskaja E A (1963)
Trang 38Nhìn vào kết quả ở bảng 7 và biểu đồ 4 so sánh phần trăm giữa các kiểu EEG ta thấy trước ca lao động chủ yếu các Điều độ viên có EEG kiểu I chiếm 48.65% và kiểu II chiếm 21.62%, EEG kiểu III chỉ chiếm khoảng 29.73%, nhưng
đến sau ca lao động EEG kiểu III chiếm tỷ lệ rất cao là 56.76% còn số EEG kiểu
I và II lại giảm xuống thấp với kiểu I là 29.73%, kiểu II là 13.51% Số EEG kiểu
IV và EEG kiểu V (kiểu bệnh lý) không thấy xuất hiện cả trước và sau ca lao
động Sự tăng cao kiểu EEG biến đổi điện thế thấp (EEG kiểu III) sau ca lao
động cho thấy công việc mang tính chất rất căng thẳng của các điều độ viên chạy tàu
Trong nghiên cứu biến đổi giữa các kiểu EEG sau ca lao động ở đối các tượng có căng thẳng thần kinh tâm lý như người lái tàu, lái xe của Phạm San và Trần Thế Năng [15] cũng cho thấy sự thay đổi lớn giữa các tỷ lệ phần trăm kiểu EEG, đặc biệt là tăng cao EEG kiểu III khi xuống ban Kiểu I khi lên ban là 26,66% khi xuống ban giảm xuống chỉ còn 6,66%, còn kiểu III khi lên ban là 13,33% khi xuống ban tăng lên tới 66,66%
Tuy rằng không có kiểu EEG rơi vào nhóm bệnh lý trước và sau ca nhưng nhóm EEG biến đổi tăng lên nhiều sau ca với một số lượng đáng kể đối tượng có EEG bình thường trước ca trở thành EEG biến đổi sau ca lao động Kết quả ở bảng 8 và biểu đồ 5 cho thấy sự thay đổi tương đối lớn giữa nhóm điện não đồ bình thường và nhóm điện não đồ biến đổi sau một ca lao động Trước ca nhóm
điện não đồ bình thường là 70.27%, nhóm điện não đồ biến đổi chiếm 29.73%,
đến sau ca lao động nhóm điện não đồ bình thường chỉ còn 43.24% còn nhóm
điện não đồ biến đổi tăng lên là 56.76%
Đặc điểm các nhóm EEG của điều độ viên chạy tàu được so sánh với các
đối tượng khác nhau trong nghiên cứu của Vũ Đăng Nguyên [10], ta thấy ở 230 phi công với tuổi đời là 36.7 ± 6.2 có 58.70% nhóm EEG bình thường và 39.57% nhóm EEG biến đổi, ở 134 lai tàu, lái xe với tuổi đời là 32.3 ± 3.4 có 62.68%
Trang 39nhóm EEG bình thường và 35.82% nhóm EEG biến đổi Những đối tượng khỏe mạnh hơn là 117 thợ lặn với tuổi đời là 28.4 ± 3.3 có 85.47% nhóm EEG bình thường và 14.53% nhóm EEG biến đổi, ở 71 chiến sỹ khỏe với tuổi đời là 27.4 ± 2.3 có 87.32% nhóm EEG bình thường và 12.68% nhóm EEG biến đổi
Như vậy, khi so sánh với các đối tượng có căng thẳng thần kinh tâm lý trong nghề nghiệp như phi công, lái tàu, lái xe và đồng thời tuổi đời cũng gần giống nhau giữa các đối tượng chúng tôi nhận thấy nhóm điện não đồ bình thường và nhóm điện não đồ biến đổi cũng gần tương quan nhau, tuy ở điều độ viên chạy tàu tỷ lệ điện não đồ bình thường có cao hơn phi công và lái tàu, lái xe
đôi chút, còn tỷ lệ điện não đồ biến đổi thấp hơn một chút
Trong khi đó, so sánh với các đối tượng khỏe mạnh như thợ lặn và chiến sỹ khỏe tuy rằng tuổi đời có trẻ hơn, đặc biệt chiến sỹ khỏe không có tính chất căng thẳng nghề nghiệp, thì chúng tôi thấy tỷ lệ điện não đồ bình thường cao hơn và tỷ
lệ điện não đồ biến đổi ít hơn nhiều so với các đối tượng điều độ viên, phi công
và lái tàu lái xe Khi nói về sự thay đổi tỷ lệ điện não đồ bình thường và biến đổi
ở các đối tượng khác nhau này, trong nghiên cứu trên cũng chỉ ra rằng sự giảm tỷ
lệ EEG bình thường và tăng tỷ lệ EEG biến đổi có thể liên quan đến tuổi đời cao hơn cũng như ảnh hưởng trường diễn của trạng thái căng thẳng thần kinh tâm lý cao so với đối tượng không có hoặc ít có trạng thái căng thẳng trong công việc
Khi xét đến tuổi đời và thời gian lao động dài hơn ở những đối tượng căng thẳng thần kinh tâm lý là phi công trong nghiên cứu của Phạm Ngọc Phúc [14],
ta thấy tỷ lệ EEG biến đổi (kiểu III, IV) khá cao là 60.95%, tỷ lệ EEG bình thường (kiểu I, II) là 35.10%, đặc biệt ở nhóm phi công tuổi đời cao hơn và giờ bay nhiều hơn thì tỷ lệ EEG bình thường càng giảm đồng thời càng tăng tỷ lệ EEG biến đổi Cùng với sự giảm đi của nhóm EEG bình thường trên những đối tượng này cũng thấy giảm biên độ, chỉ số phần trăm sóng alpha và tăng các sóng chậm rõ ràng hơn ở những phi công tuổi đời cao hơn, giờ bay cao hơn
Trang 40Cũng trong nghiên cứu của Vũ Đăng Nguyên [11] khi nói về ý nghĩa thiết thực của điện não đồ trong công tác tuyển chọn và giám định sức khỏe cho học viên lái máy bay và phi công, sau khi kiểm tra điện não đồ đều thấy nhóm EEG biến đổi (kiểu III và IV) còn ở tỷ lệ khá cao
Qua đây, ta thấy được tầm quan trọng của chỉ tiêu tâm sinh lý này khi ứng dụng vào công tác tuyển chọn đối tượng phù hợp với nghề, đặc biệt là nghề có tính chất căng thẳng thần kinh tâm lý, có áp lực công việc lớn và trách nhiệm công việc đòi hỏi cao như những đối tượng trong nghiên cứu này
5.4 Sự thay đổi một số chỉ tiêu tâm sinh lý khác sau ca lao động
Căng thẳng thần kinh tâm lý ở điều độ viên chạy tàu được biểu hiện qua sự biến đổi của các chỉ tiêu tâm sinh lý Sau ca làm việc ta thấy giảm số hình nhớ
đúng so với đầu ca, số hình nhớ sai đầu ca là 2,8 ± 0,84 hình đến sau ca tăng lên
là 3,1 ± 0,75 hình ; tần số nhấp nháy tới hạn giảm rõ rệt với đầu ca là 36.7 ± 2.4Hz đến sau ca giảm còn 35.4 ± 2.7Hz, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p
<0,001 (Bảng 9) Do tính chất công việc đòi hỏi phải ngồi nhiều giờ liên tục trong ca làm việc, phải tập trung chú ý cao các đường biểu đồ, tính chất đặc thù của công việc cũng như sự ồn ào và ánh sáng không đủ đã ảnh hưởng không có lợi tới trí nhớ và sự linh hoạt thần kinh của các điều độ viên chạy tàu