1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát hiện trạng hệ thống mạng lưới tổ chức và hoạt động y học lao động trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 1998 (tt)

45 202 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 12,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay sau hoà bình và những năm 60 mạng lưới YHLĐ đã được hình thành từ tuyến trung ương đến cơ sở : Bộ Y tế có vụ VSPD có bộ phận YHLĐ - Viện VSDT có phòng VSLĐ nay là Viện YHLĐ-VSMT, cá

Trang 1

BỘ Y TẾ VIỆN Y HỌC LAO ĐỘNG VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG

BÁO CÁO KẾT QUÁ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP VIEN

Tên đề tài :

KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG MẠNG LƯỚI

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG Y HỌC LAO ĐỘNG TRONG GIAI ĐOẠN CÔNG NGHIỆP HOÁ HIỆN ĐẠI

HOÁ ĐẤT NƯỚC

TÁC GIÁ : TRẦN THỊ LIÊN

HA NOI- 7/1998

Trang 2

DE TAI NGHIEN CUU KHOA HOC CAP VIEN

Tên đề tài :

KHẢO SÁT HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG MANG LƯỚI

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG Y HỌC LAO DONG TRONG GIAi ĐOẠN CÔNG NGHIỆP HOÁ HIỆN ĐẠI

HOÁ ĐẤT NƯỚC

-PGS PTS Lê Trung Cán bộ tham gia : -PTS Nguyén Ngoc Nea BS Vũ thị Mỹ Hạnh

BS Nguyễn văn Sơn KTV Phing Y In Viện Y học lao động va Vệ sinh môi trường

HA NOL 7/1998

Trang 3

1<4HHa

MỤC LỤC

Đặt vấn đề

Phương pháp và đối tượng nghiên cứu

Kết quả và bàn luận

Kết luận

Đề nghị

Đề xuất phương hướng chỉ đạo

Tài liệu tham khảo

Bảng chữ viết tắt

Mục lục

Trang 4

BANG CHU VIET TAT

18 DH Dai hoc S161 n00ee859809956600009000 060m0

Trang 6

I- ĐẶT VẤN ĐỀ

Hầu hết các nước trên Thế giới đội ngũ lao động chiếm 5O - 60%

tổng dân số đất nước (9), là lực lượng tạo ra toàn bộ giá trị vật chất và kinh

tế trong mọi xã hội, do vậy mà duy trì và đảm bảo cho sự phát triên kinh tế

công ước của ILO về an toàn vệ sinh lao động đều đã khẳng định quyền cơ

bản về sức khoẻ có thể đạt được của mỗi người lao động ở mức cao nhất (9) Để đạt được mục tiêu này cần phải đảm bảo được các dịch vụ y té lao động đến với mọi người lao động và dịch vụ phải có hiệu quả Do vậy

chương trình thứ 7 về Y học lao động của WHO trong giai đoạn 1984 -

1989 đã chỉ rõ :” Trong lĩnh vực bảo vệ sức khoẻ người lao động phải có 2

nội dung chính là tổ chức màng lưới Y học lao động và kỹ thuật YHLD, 2

nội dung này gắn bó chặt chẽ với nhau " (5), hai nội dung này chính là

điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho các địch vụ y tế lao động đến được với

mỗi người lao động và có hiệu quả trong việc bảo vệ sức khoẻ người lao động

Ở Việt nam, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến lực lượng lao động Ngay sau hoà bình và những năm 60 mạng lưới YHLĐ đã được hình thành từ tuyến trung ương đến cơ sở : Bộ Y tế có vụ VSPD (có bộ phận YHLĐ) - Viện VSDT (có phòng VSLĐ) nay là Viện YHLĐ-VSMT, các trạm VSPD trong đó có tổ vệ sinh lao động làm nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ cho công nhân ở địa phương, các ngành có hệ thống y tế ngành chăm

lo công tác CSSK cho công nhân của ngành, các trung tâm y tế quận huyện, thị xã đều có đội vệ sinh phòng dịch có cán bộ theo dõi công tác YHLĐ tại các nhà máy xí nghiệp nằm trên địa bàn - y tế xã phường - y tế nha máy xí nghiệp, hợp tác xã đều có nhiệm vụ đảm đương công tác XHLĐ phục vụ sức khoẻ người lao động và đã đạt được những thành tựu đáng kể

Từ giữa những năm 80 nước ta bước vào công cuộc đổi mới, nền

kinh tế đã chuyển hướng từ bao cấp sang hạch toán kinh doanh, hình thái kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có định hướng

Trang 7

XHCN Quá trình đổi mới đã tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất và lực

lượng sản xuất phát triển Theo số liệu điều tra dân số năm 1989 lực lượng lao động có trên 28 triệu người, hàng năm tăng 3,4% Như vậy năm 1995

có ~ 34 triệu người, năm 2000 có ~ 40 triệu người ( 71% là nông nghiệp ) được phân bố trong các cơ sở kinh tế nhà nước, tập thể, tư nhân, đặc biệt số

lượng lao động ở các cơ sở tư nhân, tập thể, các xí nghiệp vừa và nhỏ tăng

lên rất nhanh, tính đến năm 1993 có ~ 3,5 triệu lao động tại các xí nghiệp

tư nhân Quá trình đổi mới sang nền kinh tế thị trường cũng gây ra sự biến đổi lớn : nhiều nhà máy thuộc sở hữu nhà nước không đứng vững đã bị giải thể, năm 1995 còn khoảng 6000 nhà máy thuộc SỞ hữu nhà nước, chỉ bằng 1/2 năm 1990 (3)

Bên cạnh sự phát triển của hoạt động sản xuất vấn đề ô nhiễm môi

trường có nguy cơ ngày càng gia tăng, theo số liệu của Bộ Y tế năm 1992 điều tra ở 30 cơ sở sản xuất của Nhà nước thì có 70% số nhà maý tăng và giũ nguyên mức độc hại, các mẫu kiểm tra môi trường vượt tiêu chuẩn cho

phép nhiều lần : các mẫu bụi vượt TCCP trên 80 lần, hơi khí độc 1/3 —> 3/4

số mẫu vượt TCCP, ồn trên 5§% vượt TCCP ; Các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ cũng ô nhiễm nghiêm trọng, từ năm 1987-1990 nồng độ bụi vượt TCCP 15 lần, SO; cao hơn 2-10 lần (3) Chính vì vậy mà nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp là không tránh khỏi Kết quả điều tra của Bộ Y tế năm

1992 ở các cơ sở sản xuất lớn thuộc các Bộ ngành cho thấy 5§% số công nhân có nguy cơ bị bệnh bụi phổi, 26% ảnh hưởng do hoá chất, 54% chịu ảnh hưởng do tiếng ồn, sức khoẻ công nhân giảm sút nhanh từ loại Isau 4-

5 năm đã chuyển sang loại II, II, giảm khả năng lao động chiếm tới 50%

(3)

Trong khi đó hệ thống quản lý chăm sóc sức khoẻ người lao động

là mạng lưới YHLĐ từ Trung ương đến địa phương, ngành, y tế co sở, nhà máy xí nghiệp còn chưa được quan tâm và đầu tư thích đáng, hơn nữa còn

giám đốc nhà máy, xí nghiệp được quyền tự chủ trong bố trí lại tổ chức nhân lực trong nhà máy, thì y tế xí nghiệp được coi là lực lượng gián tiếp,

là mục tiêu hàng đầu trong tỉnh giảm biên chế nên nhiều cơ sở không còn y

tẾ, trước năm 1987 có khoảng trên §00 trạm nhưng đến năm 1995 chỉ còn gần 300 trạm, số còn lại hoặc bị giải thể hoặc ghép với phòng ban khác (10) Việc thanh giảm không dựa trên nhu cầu CSSK công nhân và cũng không theo | qui định nào đã làm ảnh hưởng nhiều tới hoạt động CSSK công nhân cũng như việc thực hiện pháp lệnh BHLĐ và luật Bảo: vé SỨC khoẻ nhân dân

Đệ góp phần đẩy mạnh công tác YHLĐ, vấn đề cấp bách cần giải quyết là củng cố tăng cường nâng cao chất lượng hoạt động cho màng lưới

Trang 8

YHLĐ ở các tuyến, đặc biệt ở tuyến tỉnh, thành, ngành, y tế cơ sở sản xuất theo những mô hình phù hợp, có sự chỉ đạo về nội dung hoạt động, có hệ thống giám sát giúp đỡ từ trên xuống dưới thì hoạt động mới có hiệu quả

Vì vậy việc tiến hành nghiên cứu thực trạng hệ thống mạng lưới tổ chức và hoạt động YHLĐ ở các điạ phương, ngành, y tế cơ sở là cần thiết

để có căn cứ khoa học xây dựng phương huớng, nội dung chỉ đạo về công tác YHLĐ trong giai đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước

Xuất phát từ yêu cầu trên, mục tiêu của đề tài nhằm :

1/ Nắm được thực trạng cơ cấu tổ chức mạng lưới YHLĐ từ tuyến

địa phương, ngành đến cơ sở ở Việt nam

2/ Nắm được về tình trạng trang thiết bị, trình độ cán bộ, khả năng

hoạt động của các Trung tâm YHDP Tỉnh, Thành, các ngành- Phân loại

theo trọng điểm công nghiệp và khả năng hoạt động

3/ Đề xuất với Bộ Y tế, Nhà nước phương hướng củng cố mạng lưới

YHLĐ trong cả nước, xây dựng kế hoạch chỉ đạo, giúp đỡ các Trung tâm YHDP Tinh, Thanh, Trung tam y tế lao động các ngành

1i- PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1/ Đối tượng nghiên cứu :

- Các Trung tâm y tế dự phòng Tỉnh, Thành (61 Tỉnh)

- Các Trung tâm y tế lao động ngành ( Bộ Công nghiệp, Đường sắt, Xây dựng, Ngành Than, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở y tế

Giao thông, Ban y tế Bưu điện )

2/ Phương pháp nghiên cứu :

2.1/ Dùng bảng câu hỏi điều tra các T rung lám Y tế dự phòng Tinh, Thanh, Trung tam ¥ té lao động các ngành về :

1 Cơ cấu tổ chức cán bộ - trình độ cán bộ - phân công cán bộ YHLD cua cdc Trung tâm YTDP dia phuong, nganh

2 Phạm vi đối tượng quản lý tuyến dưới của các Trung tânYTDP địa phương, ngành

_3 Tình hình trang thiết bị hiện có - khả năng sử dụng - nhu cầu bổ

sung

4 Khả năng hoạt động - triển khai thực tế công tác YHLĐ - khó

khăn thuận lợi

5 Hoạt động thông tin tuyên truyền - Huấn luyện đào tạo tuyến dưới

6 Nhu cầu đào tạo huấn luyện cán bộ về YHLD

7 Hỗ trợ của lãnh đạo đối với bộ phận làm công tác YHLĐ

Trang 9

8 Đời sống tâm lý nghề nghiệp của cán bộ làm YHLĐ

9 Kiến nghị đề nghị lên các cấp

2.2/ Khao sát thực tế tại :

- 6 Trung tâm Y tế lao động ngành : Bộ Công nghiệp, Bộ Xây

dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Đường sắt, Ngành Than, Sở

Y tế Giao thông vận tải

- Trung tâm YHDP Tỉnh Hà nam, Nam định

2.3/ Dùng phương pháp thống kê dịch tễ học và xử lý phán tích

số liệu trên chương trùah EPIINFO

II- KẾT QUÁ VÀ BÀN LUẬN

A/CƠ CẤU TỔ CHỨC

1/ Tên gọi bộ phận Y học lao động :

Bảng 1 : Tên gọi bộ phận YHLĐ của các Trung tâm y tế dự phòng Tỉnh, Thành, Trung tâm y tế lao động các ngành

Bảng 1 cho thấy đối với các Trung tam y tế dự phòng Tỉnh, Thành

có tổ VSLĐ chiếm chủ yếu (41,4%), ghép với bộ phận khác (với tổ vệ

sinh chung) với tỉ lệ cũng đáng kể (34,5%), còn lại là khoa, phòng (23.4%) và có 1 trạm VSLĐ là trạm VSLĐ thành phố Hồ chí Minh Theo thông tư 02 BYT/TT ngày 12/1/1977 qui định các trạm VSPD đều phải

Trang 10

có tổ VSLĐ làm công tác y học lao động của Tỉnh (9), như vậy hiện còn

có 20/58 tỉnh (34,5%) chưa đạt theo qui định

Với các ngành có 6/6 ngành (100%) đều có khoa phòng VSLĐ

Trang 11

Bảng 2,3 cho thấy:

+ Tổng số cán bộ làm YHLĐ ở các tỉnh, thành (58 tỉnh) là 205 (61,4%) và ở các ngành (6 ngành) là 129 người (3§,6%)

+ Số tỉnh, thành có 1 - 2 cán bộ chiếm tỉ lệ khá cao (46,5%), trong

số các tỉnh phía Bắc có 36%, và các tỉnh phía nam có 54,6% tỉnh có 1 - 2

cán bộ, như vậy tỉ lệ các tỉnh phía Nam có 1 - 2 cán bộ cao hơn so với

các tỉnh phía Bắc

+ Theo Thông tư 02 qui định mỗi trạm VSPD có từ 6 - 9 cán bộ

YHLĐ như vậy với các tỉnh, thành có §4,4% tỉnh có số cán bộ YHLĐ dưới 6 người là mức chưa đạt so với qui định của thông tư và chỉ có 15,6% tỉnh đạt ( có > 6 cán bộ YHLĐ )

Trong số các tỉnh phía Bắc có 76% tỉnh không đạt và 24% là đạt Các tỉnh phía Nam có 91% tỉnh không đạt và 9% đạt với qui dinh của thông tư 02

+ Các ngành và các tỉnh trọng điểm công nghiệp có tỉ lệ đạt với qui định của thông tư 02 cao E GIEANg 83.3%, các tỉnh trọng điểm công nghiệp là 70%)

3/ Cán bộ làm YHLĐ kiêm nhiệm chuyên môn khác :

Bảng 4 : Cán bộ YHLĐ phải kiêm nhiệm việc khác

TT | Số cán bộ/ | Số đơn Có kiêm nhiệm Không kiêm nhiệm

đơn vị vil Sea vi % '|Sédvi %

Trang 12

Bảng 6 : Số tỉnh có toàn bộ cán bộ VHLĐ phải kiêm nhiệm

| Số đơn vị có CB_ | Số đơn vị có toàn bộ CB|_ Tỉ lệ %

YHLĐ kiêm nhiệm phải kiêm nhiệm

+ Trong số 46 đơn vị có kiêm nhiệm thì có 23 đơn vi (ti 16 50%) cé toàn bộ cán bộ YHLĐ phải kiêm nhiệm

Bang 8 : Mức kiêm nhiệm theo thời gian

Trang 13

Bảng 8 cho thấy ở các đơn vị có cán bộ YHLĐ kiêm nhiệm thì làm

công tác YHLĐ từ 26-50% thời gian là phổ biến nhất 27/46 đơn vị

(58,7%), mức 50% thời gian trở xuống chiếm 73,9% đơn vị và trên 50% thời gian chỉ là 26,1% đơn vị Như vậy mặc dù số lượng cán bộ YHLĐ của đa số các tĩnh, thành còn thiếu, nhưng số cán bộ YHLĐ vẫn phải kiêm nhiệm chuyên môn khác với mức thời gian cao Điều này có thể do công tác YHLĐ ở các tỉnh đó chưa được quan tâm đúng mức nên việc lập

kế hoạch và triển khai kế hoạch công tác YHLĐ ở mức thấp, do đó thừa thời gian nên cán bộ YHLĐ phải làm thêm việc khác, hoặc có thể do

thiếu phương tiện, thiếu kinh phí, cơ sở không hợp tác, do đó không triển khai được

4/ Trình độ của cán bộ YHLĐ :

Bảng 9: Trình độ cán bo YHLD

Trang 14

Bảng 11 : Trình độ cán bộ YHLĐ theo nghề nghiệp cấp bậc

TỊ Nghề nghiệp Số | Tile | TT | Nghề nghiệp So | Tilệ

T cấp bậc | người Jo cap bac người %

Trang 16

- Bảng 9 cho thấy : Cán bộ đại học và trên đại học làm công tác YHLĐ là 237/334 người, tỉ lệ là 71%, trong đó trên đại học là 18,6% và đại học là 52,4%, cán bộ dưới đại học là 97/334 người tỉ lệ 29%

Bảng l1 cho thấy số bác sĩ là 137/334, tỉ lệ 41%, BSCKI là 15,9%, BSCKT là 1,5% và PTS là 1.2%

Như vậy tỉ lệ cán bộ đại học và trên đại học trong đó tỉ lệ bác sĩ cũng tương đối cao, tuy nhiên sự phân bố ở các đơn vị chưa hợp lý vì qua bảng 10 cho thấy số đơn vị không có cán bộ đại học làm YHLĐ là 8/64 đơn vị, tỉ lệ 12,5%, trong đó đáng lưu ý là có 3 tỉnh ở phía Nam là

Bến tre, Long an, Tây ninh (4,7%) chỉ có kỹ thuật viên làm công tác

YHLD Bang 12 cho thay còn có 13/64 đơn vị (tỉ lệ là 20,3%) chưa có bác si Nếu đối chiếu với Thông tư 02 thì chỉ có 17/64 tỉnh (26,6%) có

số lượng bác sĩ đạt với qui định (có 3 - 4 bác si/tram)

Qua cơ cấu tổ chức ở các Trung tâm YHDP tỉnh, thành, ngành

thấy về tổ chức, cán bộ YHLĐ chưa ồn đinh, còn thiếu và chưa hợp lý đặc biệt ở các tỉnh, thành trừ các thành phố lớn và 1 số tỉnh trọng điểm

công nghiệp(như Hà nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải phòng, Nam định, Quảng ninh, Phú thọ, Cần thơ, Đồng nai) vì những lý do sau :

+ Còn 20 tỉnh (34.5%) bộ phận YHLĐ ghép vào tổ chuyên môn

khác

+ Số tỉnh có 1 - 2 cán bộ cao 27/58 (46,6%) trong đó có 1 tỉnh không có cán bộ YHLĐ mà chỉ có 2 cán bộ làm chuyên môn vệ sinh

thực phẩm kiêm nhiệm (Tỉnh Ninh thuận)

+ Số cán bộ YHLĐ phải kiêm nhiệm thêm việc khác khá cao :

35,6%, trong đó số tỉnh có 1 - 2 cán bộ YHLĐ nhưng vẫn phải kiêm

nhiệm là 19/27 tỉnh (70,4%)

+ Con 8/64 tinh, ngành (12,5%) chưa có cán bộ đại học, trong đó

có 3 tỉnh chỉ có Kỹ thuật viên làm công tác YHLĐ

+ Còn 13/64 tỉnh, ngành (20,3%) chưa có bác sĩ làm YHLĐ

Như vậy việc củng cố lại cơ cấu tổ chức cán bộ làm công tác YHLĐ ở các Trung tâm YHDP tỉnh, thành, ngành, đặc biệt là các tỉnh sao cho phù hợp với cơ chế mới hiện nay đồng thời có thể triển khai tốt công tác YHLĐ phục vu sức khoẻ người lao động trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá là việc làm cấp thiết Vấn đề này Bộ Y tế (Vụ VSPD) cũng đã đề cập đến, trong chiến lược CSSK công nhân 1996 -

2000 được coi là nhiệm vụ ưu tiên.(3)

Trang 17

Bảng 13 cho thấy tổng số nhà máy, xí nghiệp do các tỉnh thành

quản lý (41 tỉnh, thành) là 17201, trong đó nhà máy Trung ương là 714 (4,1%) và xí nghiệp địa phương là 95,9% (16577 XN) trong đó xí nghiệp nhỏ chiếm phần lớn : 14202 XN (82,1%)

Tổng số nhà máy, xí nghiệp do các ngành quản lý là 1523 tro

đó NM, XN Trung ương là 96§ (63,6%), xí nghiệp ngành 1a 5

(36,4%) trong đó XN nhỏ là §0 (5,3%)

ng

55

Trang 18

- Như vậy phạm vi quản lý của các tỉnh, thành ngoài những nhà máy, xí nghiệp thuộc nhà nước quản lý (XN Trung ương, địa phương)

.còn có 1 số lượng lớn các xí nghiệp vừa và nhỏ thuộc tập thể, tư nhân

mà trong những năm gần đây phát triển rất nhanh chóng và đã đóng góp một phần đáng kể trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân, giải quyết việc làm cho người lao động, nhưng các cơ sở này hầu như chưa quan tám đến sức khoẻ người lao động, Bảng 14 cho thấy XN vừa có y tế là 38% và xí nghiệp nhỏ có y tế là 1,9%, số liệu này phù hợp với điều tra nghiên cứu của Vụ VSPD năm 1993 tại 135 cơ sở sản xuất vừa và nhỏ thì số XN vừa có y tế là 40% và các cơ sở sản xuất nhỏ thì hầu như không có y tế (3)

Bảng 14 cũng cho thấy các nhà máy xí nghiệp do các Tỉnh, Thành

quản lý thì tỷ lệ có y tế ghép và không có y tế rất cao (96,6%) và do các ngài quản lý là 53,2%, có sự chênh lệch là do phạm ví quản lý của các tỉnh, thành ngoài các xí nghiệp thuộc nhà nước quản lý còn có một số

lượng lớn các xí nghiệp vừa và nhỏ thuộc tập thể, tư nhân Đáng lưu ý là

số nhà máy xí nghiệp lớn hơn 150 công nhân do nhà nước quản lý không có y tế là từ 9 - 11,7%

Như vậy việc xây dựng và củng cố lại màng lưới y tế cơ sở sản xuất can phải được thống nhất tổ chức theo luật lao động, cần phải tìm

ra các mô hình hợp lý về tổ chức y tế, đặc biệt cho các xí nghiệp vừa và

nhỏ

2/ Quận huyện :

- Tổng số quận huyện ở 45 tỉnh, thành quản lý là 417

- số cán bộ theo dõi công tác YHLĐ tại quận huyện là 267 người Như vậy nhiều quận huyện còn chưa có cán bộ theo dõi công tác YHLĐ Do vậy việc củng cố đội ngũ cán bộ YHLĐ tại các đội VSPD quận huyện cũng cần phải được tiến hành, mỗi đội VSPD quận huyện đều phải có cán bộ theo dõi về công tác YHLĐ tại quận huyện như Thông tư 02 đã qui định

III- TÌNH HÌNH TRANG THIẾT BỊ YHLĐ CỦA CÁC TỈNH, NGANH :

1/ Trang thiét bi YHLD:

Trang 20

-_ Bảng 16 : Tình trạng thiết bị máy móc

MM thiết bị mới

Tinh, ngành còn thiếu nhiều, ngay cả thiết bị máy móc cơ bản nhiều

Bảng 15, 16 cho thấy tình hình máy móc thiết bị YHLĐ của các

tỉnh vẫn không có như : máy đo nhiệt độ, độ 4m 15/64 tỉnh (23,4%), máy đo tốc độ gió 20/64 tỉnh (31,2 %), máy đo ánh sáng 20/64 tỉnh (31,2%) không có Trong những năm gần đây 1 số tỉnh, ngành cũng đã

có kinh phí mua sắm bổ sung máy móc thiết bị nhưng số này cũng chưa nhiều, phần lớn đơn vị chủ yếu có thiết bị cũ

mới từ 81 - 100% là 13/64 tỉnh (21%), số hoàn toàn chỉ có thiết bị cũ là 21/64 (33,9%)

2/ Tình hình sử dụng máy móc - Nhu cầu bổ sung

Bảng 17 : Khả năng sử dụng máy móc hiện có

Trang 21

'Bảng 18 : Các loại máy móc hiện có nhưng chưa biết sử dụng

TT Các loại máy móc Số đơn | Chưa biết sử dụng | Cần mua

Bang 17, 18 cho thấy số tỉnh chưa biết sử dụng tất cả các máy

móc mà tỉnh hiện có là 19/64 tỉnh, ngành (29,7%) đặc biệt ngay cả các

máy móc cơ bản như máy đo nhiệt độ độ ẩm còn có 6/49 tỉnh (12,2%)

chưa biết sử dụng, và máy đo tốc độ gió có 4/44 tỉnh (9,1%) chưa biết

sử dụng Ngoài ra còn có 1 số loại máy móc thiết bị khác các tỉnh,

ngành đã có nhưng chưa biết sử dụng

Như vậy để có thể triển khai tốt công tác giám sát môi trường

theo Thông tư số 13/BYT/TT ngày 21/10/1996 (8) các Tỉnh, Ngành cần

phải được bố sung, nâng cấp các máy móc thiết bị cần thiết, tuỳ theo

tính đặc thù của các cơ sở sản xuất công nghiệp trong tỉnh, ngành có

những yếu tố tác hại nào là chủ yếu mà ưu tiên mua sắm các thiết bị cần

thiết, các máy móc thiết bị cơ bản như máy đo TỶ, độ ẩm, tốc độ gió,

ánh sáng thì 100% các tỉnh, ngành cần phải có đủ Ngoài ra các cán bộ

làm công việc giám sát môi trường lao động cần phải được huấn luyện,

hướng dẫn để biết sử dụng thành thạo các máy móc thiết bị và kỹ thuật

thực hành

IV- KHA NANG HOAT DONG - TRIEN KHAI THUC TẾ CÔNG

TAC YHLD - KHO KHAN - THUAN LOI

1/ Kha nang hoat dong :

Ngày đăng: 09/08/2017, 15:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w