Viện Y học lao động vμ vệ sinh môi trường Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học Khảo sát Ecgônômi vị trí lao động, phân tích yếu tố nguy cơ tại một số cơ sở sản xuất cơ khí vừa vμ
Trang 1Viện Y học lao động vμ vệ sinh môi trường
Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học
Khảo sát Ecgônômi vị trí lao động, phân tích yếu tố nguy cơ tại một số cơ sở sản xuất cơ khí vừa vμ nhỏ
Chủ nhiệm đề tài: ThS Đào Phú Cường
Đơn vị chủ trì : Khoa Tâm sinh lý lao động và Ecgônômi
Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường
Hà Nội 2008
Trang 2Phần A Tóm tắt kết quả nổi bật của đề tμi
Trong nền kinh tế theo cơ chế thị trường hiện nay, các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ đã góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội Việc phát triển các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ là một chủ trương lớn của nhà nước trong việc đa dạng hoá các thành phần kinh tế, đóng góp một phần đáng kể trong thu nhập quốc gia, tạo việc làm cho người lao động Tuy nhiên, phần lớn các cơ sở này có vốn kinh doanh thấp, môi trường và điều kiện lao động không đảm bảo, người lao động chỉ lo làm sao có đủ việc làm, chưa hiểu biết hay có biết nhưng bất chấp các nguy cơ gây tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Các cơ sở sản xuất cơ khí vừa và nhỏ cũng ở trong tình trạng chung đó, đó là cơ sở vật chật và công nghệ lạc hậu, năng suất thấp, lao động của công nhân trong nhà máy chủ yếu là lao động phổ thông Các nghiên cứu phân tích yếu tố nguy cơ tại các cơ sở sản xuất cơ khí vừa và nhỏ còn ít, vì vậy việc thực hiện đề tài này đã nêu được các yếu tố nguy cơ tại các vị trí lao động ở các cơ sở sản xuất cơ khí vừa và nhỏ
1 Môi trường lao động
- Công nhân làm việc trong điều kiện môi trường lao động nóng ẩm, 43,6% mẫu đo nhiệt độ không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép, 79,5% mẫu đo độ ẩm không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép, 36,7% mẫu đo tốc độ gió < 0,5 m/s
- Hầu hết các cơ sở khảo sát đều có rất nhiều vị trí ánh sáng kém, tiếng ồn không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép, tỷ lệ mẫu ánh sáng không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép là 86,8%, tiếng ồn là 83,1%
Tại các vị trí cần sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân, chỉ có 18,4% người lao
động sử dụng găng tay, 2,8% sử dụng giày
Trang 34 Đánh giá môi trường lao động và tiếp xúc các yếu tố nguy cơ
Ngoài các yếu tố gây khó chịu trong môi trường lao động công nhân còn phải tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ khác gây tai nạn lao động như vật sắc nhọn, mạt sắt, phoi tiện, 28,4% công nhân cho rằng mình có nguy cơ bị tai nạn do vật sắc nhọn và 16,8% công nhân cho rằng có nguy cơ tai nạn do mạt sắt, phoi tiện Công nhân phàn nàn về tiếng ồn chiếm tỷ lệ cao nhất (67%), sau đó là bụi (58,4%), nóng (48,2%), rung (41,7%), hơi khí độc (33,5%), khói hàn và ánh sáng hàn (33% và 25,4%)
5 Tư thế lao động, đau mỏi cơ xương
- Tư thế lao động
Công nhân phải làm việc ở tư thế bất lợi, 29,9% công nhân làm việc ở tư thế ngồi xổm 89,7% công nhân cho rằng khi làm việc thường xuyên phải cúi gập đầu, 61,4% cho rằng thường xuyên phải xoay/nghiêng người, 38,6% phải với tay cao mức trên vai, 37,1% phải cúi gập người
- Đau mỏi cơ xương
Đau mỏi thắt lưng chiếm tỷ lệ cao nhất 71,1%, sau đó là đau vai 58,4%, đùi 30,5%, cánh tay 20,8%, cẳng tay 9,6%
- Mối liên quan giữa tư thế làm việc và đau mỏi cơ xương
Có mối liên quan giữa tư thế lao động và đau mỏi cơ xương, nguy cơ đau cánh tay cao gấp 3,5 lần ở những người làm việc phải với tay cao Đối với những người làm việc phải đứng trên 50% thời gian làm việc, nguy cơ đau thắt lưng cao gấp 5 lần Nguy cơ đau cổ ở những người làm việc phải cúi trên 50% thời gian làm việc cũng cao gấp 9 lần
6 An toàn máy móc thiết bị
Tỷ lệ máy không có che chắn bộ phận truyền động là 27,5%, không có quy trình vận hành bằng tiếng Việt là 24,7%, không có che chắn nơi có điện là 11,8% 86,1% công nhân cho rằng khi làm việc có nguy cơ bị kẹp, cắt, đâm
Chỉ có 4,2% công nhân được học về an toàn vệ sinh lao động và có tới 81,3% công nhân đã từng bị thương do máy
Trang 4Đánh giá việc thực hiện đề tài với đề cương nghiên cứu đã được phê duyệt:
a Tiến độ: đảm bảo tiến độ theo đề cương nghiên cứu
b Thực hiện các mục tiêu nghiên cứu: thực hiện đầy đủ các mục tiêu đề ra
c Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến trong đề cương: Đã hoàn thành được các nội dung nghiên cứu trong đề cương, chất lượng sản phẩm đạt yêu cầu trong
đề cương
d Đánh giá việc sử dụng kinh phí
Tổng kinh phí thực hiện đề tài : thực hiện đúng theo phê duyệt tài chính với các mục chi
Các ý kiến đề xuất liên quan đến đề tài
1 Tổ chức các lớp tập huấn về an toàn vệ sinh lao động cũng như các chế độ, chính sách phải thực hiện đối với người lao động cho các chủ doanh nghiệp
2 Bắt buộc các chủ doanh nghiệp phải tổ chức đào tạo, huấn luyện về an toàn
vệ sinh lao động cho người lao động để họ có thể nhận biết hết các nguy cơ tại nơi làm việc và biện pháp phòng tránh
3 Các cơ quan chức năng kiểm tra, yêu cầu các chủ doanh nghiệp thực hiện các biện pháp an toàn nơi làm việc, tổ chức làm việc hợp lý, trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân phù hợp với từng vị trí làm việc cho người lao động
Trang 5
vụ các ngành sản xuất như ximăng, đường, thép, dầu khí…đều phải nhập khẩu Đặc biệt, ngành sản xuất và lắp ráp ô tô, xe gắn máy đang phát triển nhanh chóng ở Việt Nam, nhưng thiết bị cho các nhà máy thì cơ khí nội địa chưa đáp ứng được
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành cơ khí luyện kim là sự gia tăng các tác nhân gây ô nhiễm môi trường đó là các loại bụi, hơi khí độc, hoá chất độc, tiếng
ồn, bức xạ ion hoá, điện từ trường do trong quá trình sản xuất ngành cơ khí luyện kim sử dụng khối lượng lớn nguyên liệu thô là quặng, các nguồn phế liệu, các loại hoá chất khác nhau
Công nghệ chế tạo sản phẩm của ngành cơ khí nói chung còn lạc hậu và có
độ chính xác kém, thiết bị qua nhiều năm sử dụng thiếu sự bảo dưỡng sửa chữa Công nghệ đúc khuôn cát là chủ yếu nên tỷ lệ phế phẩm cao, chưa có khả năng đúc các sản phẩm có độ chính xác cao cũng như đúc thép hợp kim
Các sản phẩm gò rèn vẫn được làm bằng phương pháp thủ công là chủ yếu Tuy nhiên, cũng có một vài công đoạn sử dụng các thiết bị rèn, dập và công nhân vẫn phải làm việc trong môi trường có tiếng ồn lớn
Những năm gần đây một số cơ sở sản xuất có sự liên doanh rộng rãi với nhiều doanh nghiệp nước ngoài tạo ra sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ, sản xuất nhiều sản phẩm có chất lượng cao sử dụng trong nước và xuất khẩu Song song với việc chuyển giao công nghệ, điều kiện lao động cũng có sự thay đổi, môi trường lao
động đã từng bước được cải thiện giảm bớt những yếu tố nguy hiểm và độc hại
Trang 6nhưng lại xuất hiện những khó khăn với những nguy hiểm và yếu tố độc hại mới có thể gây ra những bệnh nghề nghiệp mới hay loại hình tai nạn lao động mới như công nhân phải làm việc theo dây chuyền, công việc đơn điệu, cường độ làm việc cao nên xuất hiện nhiều hơn các bệnh về cơ xương khớp hay “stress” nghề nghiệp Đã có nhiều nghiên cứu về điều kiện lao động, tình hình sức khoẻ bệnh tật của người lao
động làm việc trong các nhà máy cơ khí lớn, còn các nghiên cứu về điều kiện làm việc của người lao động tại các cơ sở sản xuất cơ khí vừa và nhỏ còn ít Trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi tiến hành “Khảo sát Ecgônômi vị trí lao động, phân tích yếu tố nguy cơ tại một số cơ sở sản xuất cơ khí vừa và nhỏ”
• Mục tiêu của đề tài:
Đánh giá yếu tố nguy cơ liên quan đến vị trí lao động tại cơ sở nghiên cứu
Trang 71 Tổng quan đề tμi
1 1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Các nghiên cứu về điều kiện lao động, môi trường lao động, sức khoẻ người lao động làm việc trong ngành cơ khí đã được đề cập từ rất lâu Quá trình sản xuất ngành cơ khí tạo ra nhiều yếu tố tác động xấu tới sức khoẻ người lao động Các yếu
tố vật lý như: nhiệt độ, bụi, độ ẩm, tiếng ồn, rung động, bức xạ ion hoá và không ion hoá có hại Các yếu tố hoá học như: các chất độc, hơi khí độc (CO, CO2, hơi chì,
SO2, NO2), các chất phóng xạ….Các yếu tố khác do tổ chức lao động không hợp lý, thói quen làm việc
Quá trình sản xuất ngành cơ khí tạo ra các yếu tố có hại đồng thời Nhiều nghiên cứu thấy rằng tác động của nhiệt độ cao kết hợp với các yếu tố khác như bụi,
ồn, lao động thể lực nặng làm tăng tỷ lệ bệnh hô hấp, tiêu hoá, tim mạch, thần kinh…[34] Nghiên cứu của Vassileva, Todorop và Diptchicop thấy rằng nhóm chịu tác động của tiếng ồn và vi khí hậu nóng có các chỉ số về nhiệt độ da, tiêu hao năng lượng cao hơn hẳn so với nhóm chỉ chịu tác động của vi khí hậu nóng [36]
Ngoài các tác hại do môi trường làm việc người lao động làm việc trong ngành cơ khí luyện kim còn phải đối mặt với nhiều nguy cơ [29]:
Công nhân thường nâng nhấc và vận chuyển vật nặng thủ công Vấn đề về đau lưng thường gặp nhiều Công nhân thường mỏi, đau cơ lưng do cách nâng nhấc và phương pháp mang vật không đúng hoặc mang vật quá nặng
Các tổn thương cắt cụt, gẫy xương, bầm tím do vật nặng rơi vào chân và các
bộ phận khác của cơ thể Công nhân mang vật có thể bị tổn thương như mang các khuôn đúc và lấy đồ trong hộp Sắp xếp nguyên vật liệu, dụng cụ không tốt và luôn
có vật cản như công cụ và phế liệu trên lối đi, sàn trơn, ẩm ướt hoặc cầu thang và sàn không được bảo vệ, cầu thang có thể làm công nhân bị vấp, ngã làm tăng các tai nạn
Người điều khiển máy móc phải đối mặt với các nguy cơ Tỷ lệ công nhân bị gãy xương, cắt cụt và dập nát cao do bị đè, kẹp, vướng vào các máy và tổn thương mắt do vật lạ vào mắt hoặc bụi Những tổn thương liên quan đến máy móc do các nguyên nhân:
Trang 81 Máy móc không được che chắn
2 Không bảo dưỡng và sửa chữa thường xuyên các cơ cấu truyền động
3 Hệ thống không được đóng trong khi các mẫu đang được thay thế
4 Các máy có thể điều khiển được trong khi đang được sửa chữa
5 Công nhân không dùng các phương tiện bảo vệ cá nhân như giày, kính hoặc
4 Vấp do đường cung cấp khí trên sàn, ống khí nén đi ngang qua sàn nhà
5 Trượt do sàn ẩm và bẩn
6 Ngã do hố để hở trên sàn, nền nhà không bằng phẳng
Người làm việc ở lò tiếp xúc với các tác hại như khói, lửa, bụi và hơi khí, vị trí này nguy hiểm, thậm chí có thể gây những tai hoạ Những hoạt động có nhiều nguy cơ nhất là: nạp liệu, cho thép ra lò, rót thép xuống dưới đáy lò và sửa lò Lò tạo
ra một lượng khí CO rất lớn, vì vậy người nạp liệu cần có hiểu biết về tác hại của CO
và có mặt nạ phòng độc trong trường hợp cần thiết
Một nghiên cứu tại Mỹ [29] cho thấy công việc đúc là một trong những công việc có nhiều tác hại Hầu hết các công việc đều nặng nhọc và tiềm ẩn nhiều nguy cơ Tiếng ồn cao đối với những người tiếp xúc lâu dài có thể ảnh hưởng đến khả năng nghe Tiếp xúc với nhiệt độ cao có thể gây đau đầu, ngất, co giật và thậm chí là hôn mê Tiếp xúc quá giới hạn với bụi, hơi khí, và khói có thể gây các bệnh về phổi
và bệnh mạn tính Bỏng độ ba, dập chi, và cắt cụt hay gặp Tai nạn thường xảy ra do máy móc không được bảo vệ, sắp xếp nguyên vật liệu không tốt, hoặc do thao tác với thiết bị Sự kết hợp giữa các yếu tố nóng, bụi, ồn, hơi khí độc và lao động nặng gây mệt mỏi nhanh chóng cho người công nhân Một công nhân mệt mỏi có thể bất cẩn, không phòng ngừa hết các nguy cơ, làm việc quá sức Tại một bang ở Mỹ,
Trang 9nghiên cứu về các tổn thương trong ngành đúc thấy rằng nguyên nhân do căng thẳng
và làm việc quá sức chiếm 20%
Gần 250.000 người Mỹ làm việc trong ngành đúc gang và đúc thép Hằng ngày có khoảng 270 trường hợp bị thương do công việc Mỗi năm có khoảng 70.000 trường hợp Trong những trường hợp này thì có hơn 65 người chết mỗi năm do những tổn thương liên quan đến công việc
Tỷ lệ mất khả năng lao động do tổn thương từ 23,3 đến 35,5 /1 triệu giờ làm việc, tỷ lệ này trên mức trung bình của tất cả các ngành công nghiệp Công đoạn đúc
có tỷ lệ tai nạn nghiêm trọng cao nhất với 2070 ngày lao động bị mất/1 triệu giờ làm việc Công đoạn làm sạch, cắt gọt, hoàn thiện gây ra 19% ngày lao động bị mất và 29% tổng số tổn thương
Do tỷ lệ ốm đau, tai nạn cao và số ngày công mất đi là lớn nhất lên nghề đúc
được lựa chọn là chương trình trọng điểm quốc gia để quản lý sức khoẻ nghề nghiệp Chương trình này nhấn mạnh đến sự kiểm tra và đào tạo người lao động-người sử dụng lao động để làm giảm tỷ lệ tổn thương và ốm đau
Nghiên cứu của WHO cho thấy vấn đề ecgônômi cần quan tâm trong ngành cơ khí là gánh nặng công việc và tư thế lao động Công việc quá nặng nhọc hoặc phân
bổ không phù hợp có thể là nguyên nhân của những vấn đề sức khoẻ và điều này đặc biệt quan trọng trong ngành cơ khí vì người công nhân phải chuyển vị trí làm việc (mặc dù có sự trợ giúp của máy móc) Gánh nặng lao động thể lực không chỉ là năng lượng cần thiết, mà còn chịu ảnh hưởng một số yếu tố khác Gánh nặng lao động có thể là gánh nặng tĩnh hoặc động Những tổn thương do gắng sức kết hợp với lao
động thủ công như trọng lượng quá giới hạn, cầm dụng cụ không phù hợp, tạo thành những vấn đề nghiêm trọng không chỉ ở ngành cơ khí luyện kim mà ở hầu hết các ngành công nghiệp, ở cả các nước phát triển và đang phát triển Những ảnh hưởng tới sức khoẻ, phổ biến và dễ nhận thấy nhất là đau thắt lưng, gây đau đớn cho người lao động và những tổn thất về mặt tài chính (như mất ngày công lao động và chi phí thuốc men) Viện an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp Hoa Kỳ đã đưa ra hướng dẫn thực hành công việc đối với công việc nâng nhấc thủ công [31] và đưa ra rất nhiều nguy cơ kết hợp với nâng nhấc thủ công, họ cũng khuyến nghị trọng lượng nâng nhấc trong giới hạn an toàn Vấn đề này tương đối phức tạp, được tập trung nghiên cứu bởi các nhà khoa học về y học, kỹ thuật Tổ chức Lao động Quốc tế cũng đưa ra
Trang 10trọng lượng tối đa mà một người công nhân có thể mang vác [28] Khối lượng công việc không thích hợp gây mệt mỏi, thậm chí có thể dẫn tới tai nạn Công việc nặng nhọc kết hợp với các yếu tố bất lợi trong lao động như môi trường làm việc nóng, ồn
ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ Nghỉ ngơi trong quá trình làm việc với khoảng thời gian phù hợp, ở nơi phù hợp (mát mẻ), có thể làm giảm căng thẳng trong công việc Gánh nặng công việc phụ thuộc vào nơi làm việc, máy móc thiết bị và chỗ ngồi, quy trình làm việc như xẻng xúc nguyên liệu phải được lựa chọn phù hợp về hình dáng
và kích thước, đối với xe vận chuyển thì ưu tiên xe đẩy hơn xe kéo Người công nhân được đào tạo về kỹ thuật nâng nhấc, nhận biết gánh nặng cơ tĩnh và động Tư thế lao động: Một số công nhân làm việc ở tư thế xấu, làm việc gò bó, tư thế làm việc đứng trọng lượng không phân bố đều, những công việc lặp lại đòi hỏi sự căng thẳng thị giác chưa có tầm nhìn tối ưu nhất
ảnh hưởng của môi trường làm việc đến sức khoẻ người lao động trong ngành cơ khí đã được nghiên cứu từ rất lâu Tại Mỹ, trong số hơn 1 triệu công nhân có nguy cơ mắc bệnh bụi phổi-silic thì có 100000 người làm công việc đánh bóng kim loại và làm sạch vật đúc [33] Theo Alert, năm 1983 ở Anh có 1538 trường hợp mới mắc bụi phổi-silic, trong số đó có 5,4% số công nhân đánh bóng kim loại đã bị chết [30] ảnh hưởng của tiếng ồn đến sức khoẻ và sức nghe của con người được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến, tiếng ồn gây tác động xấu lên các cơ quan như tiêu hoá, thần kinh, tim mạch và tiếp xúc lâu dài với tiếng ồn sẽ giảm sức nghe, dần dần dẫn
đến bệnh điếc nghề nghiệp [32,27] Theo báo cáo hằng năm của Singapore (1999)
có 659 trường hợp mới mắc điếc nghề nghiệp trong đó công nhân sản xuất thép có tần xuất mắc là 28/10 000 người [26]
1 2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Điều kiện lao động và tình hình sức khoẻ công nhân làm việc trong ngành cơ khí đã được nghiên cứu từ rất lâu do đây là ngành sản xuất có nhiều yếu tố nguy cơ phát sinh trong quá trình sản xuất
L Trung khảo sát môi trường lao động tại nhà máy luyện cán thép thuộc công ty gang thép Thái Nguyên thấy rằng nhiệt độ và bức xạ nhiệt tại vị trí công nhân ở lò điện khu đổ xỉ và khu đúc rất cao, vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 2-120C
Trang 11Còn ở nhà máy luyện gang khi gang ra lò nhiệt độ cao hơn nhiệt độ ngoài trời từ
9-120C Trong quá trình nấu kim loại phát sinh bụi, nhiều vị trí làm việc có nồng độ bụi vượt quá tiêu chuẩn cho phép, tại nhà máy cơ khí nồng độ bụi hô hấp tại cầu trục
lò điện là 37,2 mg/m3 cao gấp 18 lần nồng độ tối đa cho phép, ở máy nghiền
Đolomit nồng độ bụi cao gấp 5 lần nồng độ tối đa cho phép (31,7 mg/m3) Ngoài bụi
và nhiệt độ cao quá trình nấu kim loại còn sinh ra hơi khí độc Tại nhà máy luyện gang, khi gang ra lò nồng độ chì cao gấp 14 lần nồng độ tối đa cho phép (0,0004 mg/l), còn tại nhà máy cán thép Gia Sàng nồng độ CO tại khu dàn cần cẩu cao hơn tiêu chuẩn cho phép là 0,009 mg/l và nồng độ CO2 cao hơn tiêu chuẩn 1,5 lần [25]
N.H Đản theo dõi môi trường lao động trong nhiều năm thấy rằng phân xưởng đúc có nồng độ bụi luôn ở mức cao (từ 6,9 – 11,7 mg/m3), bụi hô hấp chiếm 55,2% bụi toàn phần [5]
Theo nghiên cứu của N.A Lương tại phân xưởng luyện thép của công ty thép VICASA nồng độ bụi tại nơi làm việc cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 2-3 lần [35]
Trong tất cả các ngành công nghiệp được khảo sát ngành đúc-cơ khí là ngành
có số mẫu tiếng ồn không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép chiếm tỷ lệ cao nhất (23,5% số mẫu) [7]
Kết quả khảo sát tại nhà máy Diezel Sông Công thấy rằng tiếng ồn xấp xỉ hoặc vượt tiêu chuẩn cho phép hàng chục dBA tại các phân xưởng rèn, dập nguội, cơ khí, nén khí…[1]
Theo L Trung tiếng ồn trong ngành cơ khí luyện kim thường gặp ở các nhà máy cơ khí, nhà máy luyện cán thép Phân xưởng rèn- nhà máy cơ khí có tiếng ồn vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 4-16 dBA Phân xưởng cán-nhà máy luyện cán thép Gia Sàng, tiếng ồn cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 2-15 dBA [25]
Nghiên cứu tại nhà máy cơ khí ACC và nhà máy DISOCO thấy rằng tỷ lệ công nhân phải tiếp xúc với các yếu tố có hại phát sinh trong quá trình sản xuất khá cao Tại nhà máy ACC tỷ lệ công nhân phải tiếp xúc với nóng là 72,45%, bụi 76,53%, tiếng ồn 93,88%, hơi độc 50%, tỷ lệ này tương ứng ở nhà máy DISOCO là 36%, 76%, 80% và 44% Tỷ lệ người lao động phải tiếp xúc đồng thời với nhiều yếu
tố nguy cơ tương đối lớn Tại xí nghiệp liên doanh lắp ráp ô tô ACC, số người tiếp xúc đồng thời với 3 yếu tố độc hại là 30%, 4 yếu tố là 20% và 6 yếu tố là 16%, còn
số người tiếp xúc đồng thời cùng một lúc với nhiều yếu tố nguy hiểm là: với 3 yếu tố
Trang 12nguy hiểm là 20,48%, 4 yếu tố nguy hiểm 20,48% và 5 yếu tố nguy hiểm là 10,84% [13]
Kết quả khảo sát Ecgônômi điều kiện lao động tại xưởng cơ khí- nhà máy Diezel Sông Công thấy rằng các yếu tố tác hại chính ở xưởng này là ồn, bụi kim loại, căng thẳng thị giác, tiếp xúc với dầu bôi trơn, lao động đứng kéo dài Các máy móc sử dụng là máy tiện, máy doa, máy phay và máy khoan các loại của Liên Xô, một số máy của Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Nhà xưởng có mái 2 tầng và có cửa trời
đảm bảo thông thoáng và chiếu sáng tự nhiên tốt Nền nhà xưởng bằng phẳng, được dọn quang để vận chuyển nguyên vật liệu dễ dàng Nguyên vật liệu được sắp xếp gọn gàng trên các giá chứa trong thùng đựng, những phế liệu đều chứa gọn trong thùng Phân xưởng có chiếu sáng chung và chiếu sáng cục bộ ở một số máy, ở một
số vị trí chiếu sáng chung chưa đảm bảo Hệ thống thông gió chung của toàn phân xưởng không hoạt động Các vị trí lao động làm việc với máy đều có bục kê cao để công nhân thao tác vừa tầm hơn, tuy nhiên ở một số vị trí lao động công nhân còn phải vận hành máy ở tầm cao ngang vai Tại vị trí máy mài và máy tiện mới của Đài Loan công nhân phải với tay cao và cong vẹo người khi thao tác, các nút điều khiển máy chưa có chỉ dẫn bằng tiếng Việt Vị trí máy phay của Nga có cải tiến bằng cách lắp thêm tấm chắn bằng Mica ngang tầm mắt để tránh bụi kim loại bắn vào mắt Một số công nhân không sử dụng đủ trang bị BHLĐ, thậm chí thao tác trên máy mài không đeo khẩu trang [14]
Nghiên cứu của L.T.Sơn [17] tại công ty cơ khí Hà Nội thấy rằng trong quá trình nấu kim loại, nhiệu độ của lò từ 13000C tới 15000C do vậy người công nhân phải tiếp xúc với nhiệt độ cao, rất nhiều bụi và hơi khí độc do các điện cực phóng hồ quang điện gây ra Khi rót kim loại vào khuôn, thép nóng chảy tiếp xúc với cát trong khuôn nên bụi có chứa SiO2 đã đạt tới trên 14000C trở lên đã ở dạng Cristobalit và dạng Trydymit có tác dụng xơ hoá phổi mạnh Trong quá trình phá khuôn người công nhân phải tiếp xúc với tiếng ồn và bụi Phần cát còn lại sau dỡ khuôn có nhiệt
độ khoảng 200 đến 3000C người công nhân phải xúc vào thùng nên gây ra rất nhiều bụi Kết quả đo môi trường cho thấy ở xưởng đúc: bộ phận chuẩn bị có nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn cho phép từ 7-194 lần, ở bộ phận làm khuôn nồng độ bụi vượt tiêu chuẩn cho phép 27,7 lần, ở bộ phận nấu rót vượt tiêu chuẩn 4-9 lần; tiếng ồn vượt tiêu chuẩn cho phép từ 3-10 dBA ở bộ phận làm sạch vật đúc Kết quả điều tra về
Trang 13điều kiện lao động và bảo hộ lao động cho thấy 81% người lao động cảm thấy bụi là yếu tố khó chịu nhất, 53% cho rằng nóng là yếu tố khó chịu nhất, 9,5% cho là tiếng
ồn là yếu tố khó chịu nhất, sau đó là rung xóc (6,7%), vị trí làm việc chật hẹp (2,9%); 100% công nhân được trang bị quần áo bảo hộ lao động, 97% công nhân
được trang bị mũ, găng tay là 89,5%, tỷ lệ được trang bị mạng rất thấp (28,5%)
B.Q.Khánh đo tiếng ồn tại Công ty Sông Công cho thấy tiếng ồn tại phân xưởng rèn luôn cao trên 95 dBA [10]
Kết quả nghiên cứu của N.T.Toán [22] cho thấy nhiệt độ tại các vị trí thao tác của công nhân đúc cao hơn nhiệt độ ngoài trời từ 1-40C và cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 5-80C, ở khu vực gò rèn nhiệt độ cao hơn ngoài trời từ 1-80C Tại phân xưởng luyện thép, cán thép mức độ dao động tối đa của tiếng ồn đếu cao hơn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép, ở phân xưởng gò rèn tiếng ồn dao động tối đa vượt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép từ 2-14dB
Trang 14
2 Đối tượng vμ phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu: Công nhân và chủ cơ sở sản xuất tại 35 cơ sở sản
xuất cơ khí vừa và nhỏ
- 35 chủ cơ sở sản xuất cơ khí vừa và nhỏ
- 200 công nhân làm việc tại các cơ sở sản xuất cơ khí vừa và nhỏ
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Xã Xuân Tiến, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định
2.3 Thời gian nghiên cứu: 11/2006-11/2007
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4.2 Nội dung và các kỹ thuật sử dụng nghiên cứu
- Hồi cứu môi trường lao động: Hồi cứu các số liệu đo vi khí hậu, ánh sáng,
tiếng ồn (Trung tâm Y tế dự phòng Nam Định, trong năm 2006)
- Điều tra chủ doanh nghiệp bằng phiếu điều tra: quy trình sản xuất, số lượng
công nhân, mức lương trung bình của công nhân, mức độ quan tâm của chủ doanh nghiệp về một số yếu tố an toàn lao động và phương tiện bảo vệ cá nhân
- Khảo sát Ecgônômi vị trí lao động bằng bảng kiểm, quan sát, chụp ảnh:
+ Tư thế lao động
+ Cách bố trí nguyên vật liệu
+ An toàn máy móc thiết bị (che chắn các bộ phận truyền động)
+ Phương tiện bảo vệ cá nhân: số vị trí cần trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân
và số người sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân
- Điều tra người lao động bằng phiếu điều tra:
+ Đánh giá về môi trường lao động
+ Tư thế lao động, đau mỏi cơ xương
+ An toàn máy móc thiết bị, phương tiện bảo vệ cá nhân
Trang 152.5 Xử lý số liệu: Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê y học, ứng
dụng chương trình EPI6 để nhập số liệu, phân tích số liệu bằng chương trình SPSS
3 Kết quả nghiên cứu
3 1 Kết quả hồi cứu môi trường lao động
Dao động
Số mẫu không
đạt TCVS
CP
Tổng
số mẫu
Dao
động
Số mẫu không đạt TCVSCP
Tổng
số mẫu
Dao động
Số mẫu < 0,5 m/s
Trang 16*Ngu n s li u: Trung tõm Y t d phũng Nam nh
43,6% mẫu đo nhiệt độ không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép, 79,5% mẫu đo độ
ẩm không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép, 36,7% mẫu đo tốc độ gió < 0,5 m/s và
0,3% mẫu đo tốc độ gió > 2m/s
Dao động Số mẫu
không
đạt TCVSCP
Tổng
số mẫu
Dao
động
Số mẫu không
đạt TCVSCP
Trang 18Tiếng ồn
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ mẫu không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép
Tỷ lệ mẫu ánh sáng không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép là 86,8%, tiếng ồn là
83,1%, độ ẩm là 79,5%, nhiệt độ là 43,6%
3.2 Kết quả khảo sát vị trí lao động
3.2.1 T− thế lao động và bố trí nguyên vật liệu
Bảng 3.3 T− thế lao động và bố trí nguyên vật liệu
T− thế lao động Nguyên liệu
Số vị trí khảo sát
Trang 1950 (43,9%)
26 (22,8%)
16 (14,8%)
92 (85,2%)
Người lao động làm việc ở tư thế ngồi là chủ yếu, chiếm tỷ lệ cao nhất (43,9%), sau
đó là tư thế đứng chiếm 33,3%, tỷ lệ người lao động ngồi xổm làm việc chiếm
22,8% Nguyên vật liệu thường đặt ngay dưới đất, số vị trí lao động có nguyên vật
liệu được đặt trên giá chiếm tỷ lệ rất nhỏ (14,8%)
33.30%
22.80%
43.90%
Đứng Ngồi Xổm
Biểu đồ 3.2 Tư thế làm việc
3.2.2 An toàn máy
Bảng 3.4 Bảo vệ các bộ phận chuyển động
Trang 20T máy
khảo sát
Số máy
có dây curoa
Số máy
đ−ợc bảo vệ
Số máy
có bánh răng
Số máy
đ−ợc bảo vệ
Số máy
có bánh
đà
Số máy
đ−ợc bảo vệ
34 (47,9
%) 110
48 (43,6
%)
Tỷ lệ máy móc có che chắn an toàn thấp, chỉ có 39,4% máy có dây cuaroa đ−ợc bảo
vệ, 47,9% máy có bánh răng đ−ợc bảo vệ và 43,6% máy có bánh đà đ−ợc bảo vệ
Trang 210 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100
Có bảo vệ
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ bộ phận chuyển động đ−ợc bảo vệ
Số vị trí cần
sử dụng
Số vị trí
sử dụng
Số vị trí cần
sử dụng
Số vị trí sử dụng
Số vị trí cần
sử dụng
Trang 223 (2,8%)
73 (78,1)
16 (21,9%)
Tại các vị trí cần sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân, chỉ có 18,4% người lao động
sử dụng găng tay, 2,8% sử dụng giày và 21,9% sử dụng kính
18.4 81.6
2.8
97.2
21.9 78.1
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90
sử dụng
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân
3.3 Kết quả điều tra doanh nghiệp
3.3.1 Sản phẩm và quy trình sản xuất
Sản phẩm của các cơ sở sản xuất rất phong phú phục vụ sinh hoạt và sản xuất Lao
động phục vụ trong các cơ sở sản xuất chủ yếu là người trong gia đình và người trong xã, số lao động trong các cơ sở sản xuất dao động từ 4 đến 100 lao động Thời gian làm việc từ 7 đến 8 tiếng một ngày, thời gian làm việc của các cơ sở sản xuất
Trang 23khác nhau nhưng thường bắt đầu từ 6h30 đến 7h30, người lao động có thời gian nghỉ trưa tương đối dài từ 2 tiếng rưỡi đến 3 tiếng nên công nhân có thời gian ăn trưa và
nghỉ trưa tại gia đình Thu nhập của người lao động từ 500000-1000000đ/tháng
* Quy trình sản xuất
a.Quy trình sản xuất ống hút nước của máy bơm nước các loại
Chọn tôn, sắt đo cắt uốn,nắn gò hàn tiện thành phẩm
b Quy trình sản xuất bản lề cửa, chốt cửa
Nguyên liệu cắt đột gò làm bóng thành phẩm
c Quy trình sản xuất cưa các loại
Nguyên liệu cắt tôi luyện cắt tạo răng đóng gói
d Quy trình đúc chuông đồng
Nguyên liệu đúc khuôn nấu đồng đổ vào khuôn bóc khuôn mài, hoàn thiện
e Quy trình sản xuất lưỡi bừa, lưỡi cày
Nguyên liệu cắt uốn, đột dập lên phom tôi sơn
f Quy trình sản xuất trục lắp chân vịt tàu thuỷ
Chọn sắt thép cắt tiện ép bọc vào nhiệt cắt gọt lắp ráp
g Quy trình sản xuất máy tuốt lúa, máy trộn bê tông
Nguyên liệu ( sắt, tôn…) cắt đột, dập, khoan hàn lắp ráp hoàn thiện: mài, đánh bóng, sơn
h Quy trình sản xuất bàn ghế Inox, mắc áo
Nguyên liệu đo cắt kích thước uốn, gò, hàn lắp ráp sản
Quan tâm ít quan tâm Không quan tâm
Gắng sức 14 (40%) 6 (17%) 15 (43%)
Trang 24Điện giật Nhiệt, lửa
Yếu tố
Tỷ lệ,
%
Không quan tâm
ít quan tâm Quan tâm
Biểu đồ 3.5 Mức độ quan tâm của chủ doanh nghiệp đến một số yếu tố nguy cơ Yếu tố nguy cơ ngã và gắng sức ít được các chủ doanh nghiệp quan tâm Yếu tố
được nhiều chủ doanh nghiệp quan tâm nhất là tổn thương tay
3.3.3 Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân (n=35)
Bảng 3.8 Mức độ quan tâm của chủ doanh nghiệp đến phương tiện bảo vệ cá nhân