Trong các giáo trình lý luận và phương pháp dạy học LL&PPDH lịch sử như: “Đổi mới nội dung và PPDH lịch sử ở trường phổ thông”; “PPDH lịch sử” do PhanNgọc Liên chủ biên đã đề cập đến sự
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Long Khánh
Mã số: (Do HĐTĐSK Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN
TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM BÀI 12 (SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ 12, CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
Người thực hiện: Hồ Phan Thị Bạch Vân Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn:
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác:
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in sáng kiến
Mô hình Đĩa CD (DVD) Phim ảnh Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
Năm học: 2016- 2017
Trang 2SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
––––––––––––––––––
I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
Họ và tên: Hồ Phan Thị Bạch Vân
Ngày tháng năm sinh: 06- 11- 1974
Đơn vị công tác: Trường THPT Long Khánh
II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Thạc sĩ
Năm nhận bằng: 2014
Chuyên ngành đào tạo: Phương pháp và lý luận dạy học Lịch sử
III KINH NGHIỆM KHOA HỌC
Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: giảng dạy môn Lịch Sử
Số năm có kinh nghiệm: 18 năm
Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ GD&ĐT : Bộ Giáo dục và Đào tạo
CNTT : Công nghệ thông tin
Trang 4MỤC LỤC
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 5
II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
2.1.2 Một số vấn đề lý luận về hứng thú học tập của học sinh trong dạy học lịch sử 6
2.1.2.1 Khái niệm về hứng thú 6
2.1.2.2 Đặc điểm của hứng thú học tập 6
2.2 Cơ sở thực tiễn 7
III TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP 9
3.1 Thiết kế bài học theo hướng phát triển tư duy học sinh 9
3.2 Sử dụng cách trình bày miệng sinh động 11
3.3 Sử dụng đồ dùng trực quan để xây dựng hình ảnh lịch sử cụ thể, chân thực và sinh động 12
3.4 Tổ chức thảo luận nhóm 16
3.5 Sử dụng bài tập lịch sử để củng cố các khái niệm 19
IV HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN 19
4.1 Thực nghiệm sư phạm 19
4.2 Kết luận 20
V ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG 21
VI DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
VII.PHỤ LỤC 23
Trang 5Tên sáng kiến: TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM BÀI 12, SÁCH GIÁO KHOA LỊCH
SỬ 12 (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nền giáo dục nước ta đang thực hiện một sự đổi mới mạnh mẽ, toàn diện , bộmôn Lịch sử cùng với những môn học khác với những đặc trưng riêng của mình cũnggóp phần hoàn thành các mục tiêu giáo dục, đào tạo Mặt khác, bản thân lịch sử xã hộiloài người và bộ môn Lịch sử có nhiều ưu thế trong việc giáo dục thế hệ trẻ và tạo cho
họ một hứng thú thực sự Qua học tập lịch sử, tầm nhìn của học sinh (HS) đối với cuộcsống quá khứ, hiện tại và tương lai được mở rộng HS có thể tìm thấy trong quá khứnhiều câu trả lời xác đáng, thú vị cho những vấn đề hiện tại và tương lai
Hứng thú là một trong những mặt biểu hiện cơ bản của xu hướng nhân cách, làmột trong các động cơ thúc đẩy con người hoạt động Hứng thú học tập (HTHT) đượchình thành và phát triển trong hoạt động học tập Vì thế, để hoạt động học tập lịch sử cóhiệu quả cao đòi hỏi HS phải có được HTHT Nhờ có HTHT, HS không những say mê,lĩnh hội, tìm tòi, khám phá những tri thức lịch sử mà còn hình thành ở các em thái độ vàđộng cơ học tập đúng đắn Ngược lại, nếu không có HTHT thì việc học tập lịch sử vàrèn luyện của HS sẽ mất đi tính tích cực, kết quả học tập bị hạn chế và hiệu quả học tậpkhông cao
Tuy nhiên, thực tiễn giáo dục ở nước ta hiện nay, chất lượng dạy học nói chung,chất lượng dạy học môn Lịch sử nói riêng chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu pháttriển của xã hội
Đó là kết quả tác động của nhiều yếu tố: sự bất cập của nội dung, chương trình,sách giáo khoa (SGK); sự quan tâm chưa đúng mức đối với bộ môn Lịch sử, lịch sửluôn bị xem là “môn học phụ”; nhiều giáo viên (GV) lịch sử ở trường Trung học phổthông (THPT) chưa thực sự đổi mới mạnh mẽ PPDH theo hướng phát huy tính tích cựchọc tập của HS; cơ sở vật chất kĩ thuật của không ít trường THPT chưa đáp ứng đủ yêucầu thực tiễn của việc dạy học đặt ra, tư liệu tham khảo ở các trường còn thiếu; Đặcbiệt, HS ít HTHT môn Lịch sử
Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn, từ yêu cầu đổi mới của sự nghiệp giáodục, chức năng và nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Tạo hứngthú học tập cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam bài 12, Sách giáo khoa Lịch sử
12 (Chương trình Chuẩn)” làm đề tài nghiên cứu của mình
II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Trang 6quyết được một số vấn đề lí luận về hứng thú, HTHT như khái niệm, biểu hiện và vaitrò của hứng thú trong hoạt động nhận thức, hoạt động học tập của HS
Lê Nguyên Long trong “Một số vấn đề về giáo dục học” và “Thử đi tìm nhữngPPDH hiệu quả” đã đề cập đến vai trò của giáo dục HTNT trong việc bồi dưỡng động
cơ học tập tích cực cho HS; mối quan hệ giữa HTHT của HS với việc lựa chọn nội dungdạy học và sử dụng PPDH của GV
Như vậy, các nhà Tâm lí học, Giáo dục học đều khẳng định vai trò của HTNTđối với tính tích cực học tập của HS Đồng thời, còn chỉ ra phương hướng để tạo hứngthú cho HS trong dạy học, xem việc hình thành và phát triển HTHT ở HS như một mụctiêu gần mà người GV cần phải đạt được để nâng cao chất lượng dạy học
Trong các giáo trình lý luận và phương pháp dạy học (LL&PPDH) lịch sử như:
“Đổi mới nội dung và PPDH lịch sử ở trường phổ thông”; “PPDH lịch sử” do PhanNgọc Liên chủ biên đã đề cập đến sự cần thiết phải tạo hứng thú cho HS trong dạy họclịch sử (DHLS); Nguyễn Thị Côi trong “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quảbài học lịch sử ở trường phổ thông” đã xem xét hứng thú như là một yếu tố của hiệuquả bài học lịch sử, đồng thời cũng chính là động cơ quan trọng của HS trong học tập
để đạt đến hiệu quả của bài học lịch sử; Trong “Thiết kế và sử dụng bài tập trong DHLS
ở trường THPT” Trần Quốc Tuấn cho rằng sử dụng bài tập lịch sử có thể tạo HTHT,góp phần phát triển tư duy cho HS Tuy nhiên, do khuôn khổ của một giáo trình cáctác giả không thể làm rõ các nguyên tắc và biện pháp để tạo HTHT cho HS trong dạyhọc một giai đoạn lịch sử cụ thể nói riêng, DHLS nói chung
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên, dù ở những góc độ nghiên cứu khácnhau, đều đề cập đến lý luận về HTHT nói chung, HTHT lịch sử ở trường THPT nóiriêng Đồng thời, nêu lên sự cần thiết phải tạo HTHT cho HS nhằm nâng cao hiệu quảDHLS ở trường THPT
2.1.2 Một số vấn đề lý luận về hứng thú học tập của học sinh trong dạy học lịch sử
2.1.2.1 Khái niệm về hứng thú
Nhiều nhà Tâm lý học cũng như nhiều công trình nghiên cứu đã đồng nhấtHTHT với HTNT Hoạt động học tập được tổ chức ở nhà trường với nội dung, phươngpháp và hình thức tổ chức chuyên biệt Vì vậy, HTHT là một dạng của HTNT Nó cóđối tượng hẹp hơn so với HTNT
HTHT môn Lịch sử chính là thái độ đặc biệt của HS đối với nội dung và hoạtđộng học tập môn Lịch sử do các em nhận thức được tầm quan trọng của việc học tậplịch sử trong nhà trường và tri thức lịch sử có khả năng mang lại khoái cảm cho HStrong quá trình hoạt động học tập HTHT lịch sử là một trong những điều kiện tiênquyết để tích cực hóa hoạt động nhận thức, phát huy tích cực, chủ động và sáng tạo của
HS trong học tập, giúp cho việc học tập lịch sử của các em đạt hiệu quả cao Vì thế, mộttrong những nhiệm vụ mà người GV lịch sử phải thực hiện để nâng cao chất lượng bộmôn là phải tạo ra, duy trì, kích thích, phát triển HTHT lịch sử ở HS
2.1.2.2 Đặc điểm của hứng thú học tập
HTNT là một lĩnh vực đặc biệt quan trọng của hứng thú, nên nó có đầy đủ nhữngđặc điểm của hứng thú nói chung Tuy nhiên, HTNT vẫn mang những đặc điểm riêng.HTNT có những đặc điểm sau: Khuynh hướng trí tuệ của sự tìm tòi cái mới trong đối
Trang 7tượng, muốn làm quen đối tượng gần hơn, tìm hiểu nó sâu sắc và toàn diện; thái độ có ýthức của con người đối với đối tượng thích thú của mình và đối với nhiệm vụ đặt trước
họ trong sự nhận thức đối tượng ấy; sắc thái xúc cảm hứng thú bao giờ cũng liên quanđến ý muốn tìm hiểu một cái gì đó, với niềm vui sướng tìm tòi, đau buồn khi thất bại vàvui mừng khi khám phá; sự biểu hiện trong hành động ý chí, nhu cầu hướng sự nỗ lựccủa con người tới chỗ khám phá những khía cạnh của dấu hiệu mới của đối tượng
Về bản chất HTHT là HTNT trong hoạt động học tập của HS ở nhà trường, vìvậy nó cũng có những đặc điểm của HTNT Bên cạnh đó, HTHT có những đặc điểmriêng được quy định bởi hoạt động học tập và đặc điểm phát triển tâm sinh lý, năng lựcnhận thức của lứa tuổi HTHT là một thái độ đặc biệt của HS đối với các môn học trongnhà trường, thể hiện ở sự chú ý tới, khao khát đi sâu tìm hiểu nội dung môn học, ở sựthích thú được thỏa mãn với những tri thức của môn học Do vậy, một môn học chỉ cóthể trở thành đối tượng của HTHT khi chúng vừa có ý nghĩa với cuộc sống của HS, vừa
có khả năng mang lại khoái cảm cho các em Môn học nào càng có ý nghĩa đối với cuộcsống của HS thì càng dễ dàng tạo ra hứng thú Nhận thức tri thức môn học càng sâu sắc,đầy đủ càng đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành và phát triển của HTHT
Mặt khác, HTHT không chỉ quan hệ mật thiết với nhu cầu nhận thức mà còn gắn
bó với xúc cảm nhận thức Xúc cảm nhận thức chỉ nảy sinh trong quá trình học tập mônhọc, đồng thời chính xúc cảm nhận thức tác dụng thúc đẩy HS tích cực hoạt động Điều
đó chứng tỏ HTHT chỉ có thể hình thành và phát triển trong quá trình học tập các trithức của HS Vì vậy, biện pháp quan trọng nhất, chủ yếu nhất để tạo ra, duy trì và pháttriển HTHT cho HS là tổ chức hoạt động, trong quá trình hoạt động và bằng hoạt độngvới các môn học
2.2 Cơ sở thực tiễn
Nhận thức của GV về vai trò và tầm quan trọng của việc tạo HTHT cho HStrong việc nâng cao hiệu quả của bài học lịch sử: GV cho rằng cần thiết phải tạo HTHTcho HS Vì: HTHT giúp phát huy tính tích cực học tập của HS, nhờ vậy HS có thể đạtkết quả cao trong học tập HS không chỉ “biết” sử, “hiểu” sử mà còn có thể vận dụngđược những kiến thức lịch sử đã học vào cuộc sống HTHT là cũng góp phần tạo nên sựyêu thích việc học tập lịch sử ở HS Đồng thời, giúp GV thực hiện tốt nhiệm vụ giáodục toàn diện cho HS
- Hầu hết GV đã nhận thức được rằng biểu hiện cơ bản của HTHT lịch sử của
HS được thể hiện ở tích tích cực hoạt động của HS trong quá trình nhận thức lịch sử ởtrên lớp và học tập lịch sử ở nhà Đó là: HS chú ý nghe giảng, ghi chép bài đầy đủ, tíchcực suy nghĩ, phát biểu ý kiến trong giờ học, làm bài tập đầy đủ theo yêu cầu của GV,thường xuyên nêu thắc mắc với GV, đọc tài liệu, sách báo tham khảo ở thư viện, thamgia tích cực vào các hoạt động ngoại khóa lịch sử Ngoài ra, theo một số GV HTHT của
HS còn được thể hiện ở việc các em tích cực tham gia học nhóm, tổ để cùng trao đổivấn đề học tập, biết kết hợp vở ghi và SGK để học bài Trong thực tiễn phong phú và
đa dạng của việc DHLS, nhiều GV đã dựa vào những biểu hiện cụ thể của HS trong họctập để đưa ra các biện pháp để tác động đến nhận thức và thái độ học tập của các em
- Về mức độ HTHT lịch sử của HS, phần lớn GV cho rằng, HS hiện nay ít cóHTHT lịch sử, thậm chí không có HTHT lịch sử, chỉ có một bộ phận nhỏ HS có HTHTlịch sử
Trang 8- Về những yếu tố tác động đến HTHT lịch sử của HS Tất cả GV đều thấy đượcmối liên hệ giữa tri thức lịch sử với HTHT lịch sử của HS Chính sự phát triển phongphú, sinh động, chân thực của các sự kiện, hiện tượng lịch sử và ý nghĩa của những bàihọc lịch sử đối với cuộc sống của HS là cơ sở quan trọng tạo HTHT cho các em Mặtkhác, chính sự phát triển đa dạng, của lịch sử với nhiều sự kiện, mối quan hệ, quy luậtlịch sử phức tạp cũng tạo ra những khó khăn cho HS trong việc ghi nhớ sự kiện, nộidung lịch sử Thêm vào đó, PPDH của GV, phương tiện và điều kiện dạy học cũng lànhững nhân tố tác động đến thái độ học tập và HTHT lịch sử của HS Khi GV có PPDHphù hợp, PTDH đầy đủ, hiện đại thì sẽ kích thích được HTHT của HS, ngược lại, khi
GV giảng dạy tẻ nhạt, không sinh động, PTDH thiếu thốn, lạc hậu thì sẽ tác động tiêucực đến thái độ lịch sử của HS Hơn nữa, năng lực học tập, sở thích của HS, bầu khôngkhí tâm lý trong lớp học, mối quan hệ thầy trò, đặc biệt, quan niệm của xã hội và giađình HS về vị trí của môn Lịch sử trong nhà trường phổ thông cũng chính là những yếu
tố tác động đến nhận thức của HS về vấn đề lựa chọn môn học trong nhà trường gắnliền với xu hướng chọn nghề của các em
- Hầu hết GV cũng đã nhận thức được mối quan hệ giữa việc sử dụng PPDH kếthợp với các PTDH hiện đại đối với hiệu quả giáo dục và tạo HTHT cho HS Tuy nhiên,
do năng lực sư phạm, trình độ chuyên môn và kinh ngiệm giảng dạy của mỗi GV khônggiống nhau nên mức độ sử dụng, phối hợp các PPDH và PTDH của GV cũng khácnhau Những GV có kinh nghiệm lâu năm thường xử lý tốt mối quan hệ giữa dunglượng kiến thức và PPDH, nhưng việc sử dụng các PTDH hiện đại gặp nhiều khó khăn.Còn những GV trẻ, với nhiệt huyết của mình cũng có những cố gắng trong việc giảngdạy, nhất là có thể ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin (CNTT) vào dạyhọc ở mức độ phù hợp với đặc trưng bộ môn, tuy nhiên do chưa có kinh nghiệm giảngdạy nên việc sử dụng, phối hợp các PPDH nhiều khi chưa phù hợp, thêm vào đó, dochưa xác định được dung lượng kiến thức phù hợp nên thường rơi vào tình trạng “ômđồm” kiến thức, “cháy” giáo án
- Theo ý kiến của nhiều GV thì có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả củaviệc DHLS và tạo HTHT cho HS của GV Trong đó, động cơ, thái độ học tập lịch sửcủa HS, sự thiếu quan tâm của nhà trường và xã hội đối với việc dạy học môn Lịch sử.Môn Lịch sử luôn bị coi là “môn học phụ” chính là những trở ngại rất lớn đối vớinhững nỗ lực của GV trong công tác giảng dạy Ngoài ra, điều kiện cơ sở vật chất và kỹthuật còn thiết thốn, đời sống còn nhiều khó khăn của GV, thiếu tài liệu hướng dẫn, tậphuấn về các biện pháp tạo HTHT cho HS cũng là những nguyên nhân có ảnh hưởngkhông nhỏ đến việc DHLS ở trường THPT nói chung đến chất lượng DHLS nói riêng
- Về mức độ HTHT lịch sử của HS:
+ HS thật sự yêu thích và ham mê học tập môn Lịch sử Các em HS này thường
có một thái độ học tập tích cực: thường xuyên chú ý nghe giảng, ghi chép bài đầy đủ,tích cực phát biểu ý kiến khi GV nêu vấn đề học tập; luôn thể hiện thái độ chủ độngtrong nhận thức các vấn đề lịch sử Và những khi các em chưa hiểu bài thì thường bănkhoăn, trăn trở về điều đó, thường tìm đọc thêm TLTK hoặc nêu thắc mắc với GV Các
em cũng tích cực tham gia các hoạt động ngoại khóa lịch sử; sưu tầm, tìm hiểu lịch sửđịa phương Với những HS này, sau mỗi bài học các em không chỉ “biết” sử, “hiểu” sử
mà còn có thể vận dụng những tri thức lịch sử đã được học để giải thích những hiệntượng, sự kiện lịch sử đương đại, những vấn đề của cuộc sống
Trang 9+ Phần lớn HS chưa có HTHT bộ môn, HS không thích học lịch sử, thậm chí cònchán học môn Lịch sử Với những HS này, việc học tập lịch sử chỉ là nghĩa vụ vì đây làmột môn học bắt buộc trong nhà trường Nhiều khi việc học tập lịch sử đối với các emchỉ để đối phó, để tránh bị điểm liệt Do vậy mức độ tích cực của các em trong việcnhận thức và học tập chưa cao Các em cũng có tham gia phát biểu xây dựng bài, tuynhiên khi gặp những bài tập khó các em dễ chùn bước, thường đợi thầy cô hoặc các bạntrong lớp giải đáp giúp chứ không chủ động tìm đọc thêm tài liệu hoặc các sách thamkhảo
Tóm lại, từ việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn cho thấy, HTHT có vai trò, ýnghĩa to lớn đối với hiệu quả của hoạt động nhận thức lịch sử của HS Nếu HS không
có HTHT lịch sử thì hoạt động học tập lịch sử của các em sẽ không có hiệu quả Vì vậy,trong DHLS ở trường THPT, GV cần tạo HTHT cho HS để tích cực hóa hoạt độngnhận thức của HS nhằm thực hiện có hiệu quả việc đổi mới PPDH lịch sử
Từ điều tra thực tiễn cho phép tác giả có cơ sở để khẳng định ý nghĩa cấp thiếtcủa việc tạo HTHT cho HS trong DHLS nói chung, trong dạy học LSVN bài 12, sáchgiáo khoa 12 (Chương trình Chuẩn) nói riêng Từ đó, đề ra những biện pháp thiết thựcnhằm nâng cao chất lượng DHLS ở trường THPT hiện nay
III TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
3.1 Thiết kế bài học theo hướng phát triển tư duy học sinh
Khi thiết kế bài học giáo viên cần chú ý đến việc phát triển tư duy sáng tạo củahọc sinh với hệ thống câu hỏi gợi mở, để giúp học sinh sử dụng kiến thức đã học để tiếpthu kiến thức mới, biết đặt vấn đề để tìm hiểu và giải quyết, biết cách lựa chọn cách giảiquyết tốt nhất
Trong hoạt động học tập lịch sử, động cơ học tập cơ bản của HS chính là hoạtđộng để thỏa mãn nhu cầu nhận thức, nhu cầu tìm hiểu về lịch sử Do đó, GV có thểkích thích động cơ học tập của HS bằng cách tạo cho các em nhu cầu nhận thức, tìmhiểu tri thức lịch sử, tức là tạo ra một vấn đề nhận thức – mâu thuẫn giữa kiến thức cũ,
HS đã biết với những kiến thức mới, các em chưa biết nhưng cần phải biết, phải tìmhiểu bằng hoạt động tư duy tích cực, chủ động và sáng tạo Bởi vì mọi hoạt động nhậnthức, hoạt động tư duy đều bắt đầu từ một vấn đề nhận thức Chính vấn đề nhận thức sẽtạo ra và kích thích động cơ học tập của HS Các em sẽ hướng toàn bộ sự tập trung chú
ý của mình vào bài giảng, vào hoạt động nhận thức lịch sử của chính bản thân các em
để thỏa mãn nhu cầu nhận thức, tìm hiểu về các sự kiện, hiện tượng, quá trình lịch sử.Việc học tập như thế sẽ khiến các em HTHT, hứng thú tìm hiểu tri thức lịch sử hơn, vìthế kiến thức mà các em thu nhận được trở nên sâu sắc và bền vững hơn
Việc giải quyết vấn đề nhận thức sẽ thỏa mãn được nhu cầu tìm hiểu tri thức lịch
sử của các em Điều đó nói lên hiệu quả của việc sử dụng các tình huống có vấn đềtrong DHLS nhằm kích thích nhu cầu tìm hiểu, nhận thức lịch sử của HS
Tình huống có vấn đề trong DHLS là tình huống mà HS gặp phải một hay nhiềukiến thức lịch sử mới mẻ, hoàn toàn chưa biết hoặc biết ít nhiều, chưa đầy đủ, song phảibiết kỹ Việc giải quyết vấn đề nhận thức của HS tất sẽ gặp khó khăn vì vốn kiến thức
đã có của các em (kể cả vốn thực tế) không đủ để đạt tới điều cần biết Những điềuchưa biết thường có mức độ khó nhất định so với vốn kiến thức lịch sử và vốn thực tế
đã có của HS Đó là bản chất của những sự kiện, hiện tượng lịch sử, là những khái
Trang 10niệm, thuật ngữ và quy luật lịch sử mới được rút ra từ sự kiện, hiện tượng lịch sử Mặtkhác, tình huống có vấn đề trong DHLS cũng chứa đựng những điều kiện để giải quyếtvấn đề, tức những điều các em đã biết Hơn thế nữa, “tính mới lạ, tính rõ ràng của các
sự kiện”, “tính không bình thường của bài tập nhận thức” trong tình huống có vấn đề sẽ
là yếu tố kích thích hứng thú và lòng ham hiểu biết nhận thức của HS Các em có nhucầu tìm hiểu để giải quyết vấn đề nhận thức một cách chủ động, tích cực hơn Và khigiải quyết được vấn đề nhận thức các em càng cảm thấy thích tìm hiểu về lịch sử, cảmthấy hứng thú hơn trong việc học tập lịch sử Chính vì vậy, tạo tình huống có vấn đềtrong DHLS không những có tác dụng tạo động cơ học tập, thu hút sự tập trung chú ýtìm hiểu tri thức lịch sử của HS mà còn là một nguồn kích thích quan trọng đối với hoạtđộng nhận thức của HS
Trong dạy học người GV lịch sử có thể tạo ra tình huống có vấn đề cho toàn bộbài học, giờ học và từng đơn vị kiến thức học tập Để tạo ra tình huống có vấn đề GVcần xác định nội dung và yêu cầu nhận thức của vấn đề căn cứ vào nội dung cơ bản, vào
vị trí của bài trong cả chương, cả khóa trình lịch sử cũng như vốn kiến thức lịch sử, vốnthực tế và năng lực nhận thức của HS
Ví dụ, khi dạy mục I.3 Những chuyển biến mới về kinh tế và giai cấp xã hội ởViệt Nam ở bài 12, Giáo viên nêu câu hỏi nhận thức: “Nguyên nhân nào giúp cho giaicấp công nhân Việt Nam nhanh chóng vươn lên thành một động lực của phong trào dântộc, dân chủ theo khuynh hướng cách mạng tiên tiến của thời đại?” Để giúp học sinhtrả lời được câu hỏi này, giáo viên dự kiến các câu hỏi gợi mở nhằm giải quyết từngphần câu hỏi nhận thức, từng bước làm sáng tỏ vấn đề: “Giai cấp công nhân ra đời tronghoàn cảnh nào? Giai cấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm gì? Nhiệm vụ đặt racho cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ? Khuynh hướng cách mạng tiên tiến của thời đạigiải quyết nhiệm vụ nào? Mục đích và động lực của phong trào công nhân Việt Nam?
GV cần phải tạo ra hệ thống các tình huống có vấn đề trong đó có vấn đề cơ bản
và những vấn đề phụ giúp việc nhận thức sâu hơn vấn đề cơ bản
Xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi và bài tập nhận thức trong dạy học nóichung và dạy học lịch sử nói riêng là một trong những biện pháp quan trọng, rất có ưuthế để phát triển tư duy học sinh Đặc biệt, khi áp dụng phương pháp dạy học tích cựcthì việc xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi và bài tập nhận thức lại càng cần thiếtnhằm tích cực hóa hoạt động học tập, phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập, sángtạo của học sinh
Để phát triển tư duy học sinh, khi xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập nhậnthức trong dạy học lịch sử cần đảm bảo nguyên tắc sau:
- Xác định câu hỏi chủ đạo, trọng tâm của cả bài hay từng phần, từng đơn vị kiếnthức
- Xây dựng hệ thống câu hỏi gợi mở, giúp học sinh giải quyết từng phần cho câuhỏi trọng tâm
- Căn cứ và tính chất, đặc điểm của kiến thức bài học để xây dựng các loại câuhỏi theo các mức độ nhận thức khác nhau, vừa sức, sát đối tượng học sinh
- Giải quyết linh hoạt mối quan hệ giữa hệ thống câu hỏi, bài tập nhận thức vànguồn kiến thức, kết hợp với các dạng hoạt động học tập của học sinh
Trang 11Các loại câu hỏi và bài tập nhận thức trong dạy học lịch sử bao gồm nhiều mức
độ nhận thức khác nhau: Biết, hiểu, vận dụng Nó giúp cho học sinh trong quá trình họctập lịch sử phát hiện ra nguyên nhân, diễn biến, kết quả và ý nghĩa của một sự kiện hayquá trình lịch sử Những câu hỏi và bài tập nhận thức đó không chỉ đòi hỏi các em biết
sự kiện (tái hiện) mà đi sâu vào bản chất sự kiện (phát hiện), vận dụng kiến thức đã học
để để tiếp thu kiến thức mới và áp dụng vào cuộc sống Để phát triển năng lực tư duycủa học sinh cần tăng cường các câu hỏi, bài tập nhận thức mang tính chất tìm tòi, pháthiện
Ví dụ : Khi ra bài tập về nhà, giáo viên nên hướng dạng bài tập nhận thức: Tạisao nói đến năm 1929, khuynh hướng vô sản đã hoàn toàn thắng thế trong phong tràodân tộc dân chủ ở Việt Nam? Câu hỏi này vừa là câu hỏi nhận thức nhưng cũng là bàitập nhận thức, bởi vì nó chứa đựng mâu thuẫn giữa những vấn đề học sinh đã biết vànhững vấn đề học sinh chưa biết, qua đó kích thích hứng thú tìm tòi khám phá của họcsinh Để trả lời được câu hỏi đó, học sinh phải huy động các thao tác tư duy như ghinhớ, tưởng tượng, phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu, nhận xét đánh giá, hệ thốnghóa, khái quát hóa kiến thức mới có thể trả lời được câu hỏi này
Trong DHLS ở trường THPT , việc thiết kế bài học theo hướng phát triển tư duyhọc sinh là một biện pháp sư phạm cần thiết, giúp GV có thể kích thích, duy trì và pháttriển HTHT lịch sử của HS
3.2 Sử dụng cách trình bày miệng sinh động
Việc sử dụng biện pháp trình bày miệng sinh động trong DHLS có thể tập trung
sự chú ý, phát huy được tính tích cực hoạt động tư duy và kích thích HTHT của HS Sựsinh động, chân thực và cụ thể của các sự kiện, hiện tượng lịch sử có thể tạo nên những
ấn tượng tác động mạnh mẽ lên khu vực cảm xúc và hoạt động tư duy của HS Do vậy
nó trở thành một nhân tố kích thích hoạt động tư duy của các em bởi vì một trong sốnhững nhu cầu kích thích sự hoạt động của cá nhân có nhu cầu về những ấn tượng Vìthế khi GV trình bày tài liệu mới một cách sáng tỏ và xúc động Ngược lại, nếu nhữngđiều GV trình bày chỉ là sự thông báo vắn tắt, khô khan một số sự kiện, nhất là nhữngđiều HS đã biết rồi, hoặc lặp lại, đọc nguyên văn bài viết trong SGK thì sẽ không thuhút sự chú ý của HS, tạo ra sự nhàm chán, làm giảm HTHT ở các em
Để có được phần trình bày miệng sinh động như là một PTDH được sử dụngnhằm kích thích, duy trì và phát triển HTHT của HS, trước hết GV cần phải lựa chọn và
sử dụng các loại TLTK để xây dựng nội dung của các bài tường thuật, miêu tả, nêu đặcđiểm, giải thích Nguồn TLTK mà GV đưa vào bài giảng gồm tài liệu lịch sử và tài liệuvăn học Khi lựa chọn TLTK, GV cần phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản trong đócần đặc biệt chú trọng đến tính khoa học, cơ bản và vừa sức của nội dung tài liệu, tránhtình trạng chất đống tài liệu, khiến giờ học lịch sử trở nên nặng nề, “quá tải”, đôi khicòn làm loãng nội dung trọng tâm của bài học
Nội dung của phần trình bày miệng phải chứa đựng những tri thức mới lạ, tạo ranhững điều mới mẻ trong nhận thức của HS, giúp các em hiểu một cách cụ thể, sinhđộng và sâu sắc nội dung bài học Do đó, GV phải chú ý đến việc sử dụng những từ ngữ
rõ ràng, trong sáng, gợi cảm, giàu hình ảnh, giàu cảm xúc khi xây dựng nội dung củabài trình bày Mỗi hình thức trình bày miệng có đặc trưng ngôn ngữ riêng, vì thế, GVcần lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ phù hợp với từng hình thức trình bày miệng trongviệc xây dựng nội dung
Trang 12Mặt khác, việc sử dụng âm lượng, âm sắc, ngữ điệu và các động tác tay, ánh mắtcủa GV phù hợp với nội dung bài giảng không những làm cho lời giảng của GV trở nênsinh động và gợi cảm hơn, mà còn có tác dụng, thu hút sự tập trung chú ý, tạo được ấntượng tốt trong HS, kích thích HTHT của các em Sử dụng thuần thục các thao tác sưphạm sẽ giúp GV nhập thân vào lời giảng
Để tăng thêm hiệu quả giáo dục và hứng thú của HS trong học tập, ngoài việc sửdụng phù hợp và có hiệu quả từng hình thức trình bày miệng, GV cần phải biết lựachọn, sử dụng và phối hợp các cách trình bày miệng sao cho phù hợp với sự kiện, hiệntượng, quá trình và đặc điểm của tri thức lịch sử Và cần thiết phải sử dụng kèm theocác loại ĐDTQ nhằm kích thích sự chú ý có chủ định của HS
Trong DHLS ở trường THPT, có nhiều hình thức trình bày miệng, trong đó sửdụng biện pháp tường thuật không những giúp HS nắm được bản chất của sự kiện, hiệntượng, nhân vật lịch sử mà còn có tác dụng khơi dậy óc tưởng tượng tái tạo của HStrong học tập lịch sử, có thể tạo cho HS những hình ảnh cụ thể, sinh động, chính xác vềbức tranh quá khứ đang học.Để có thể khơi dậy, duy trì và phát triển HTHT lịch sử của
HS thì nội dung của GV đoạn tường thuật phải thật cụ thể, chân thực và sinh động;đồng thời đoạn tường thuật phải có cách trình bày mới lạ, đầy kịch tính, trong đó,những vấn đề quan trọng, những hiện tượng lịch sử then chốt bất ngờ, đột ngột xuấthiện
Ví dụ khi dạy mục IV.2 Nói về việc Nguyễn Ái Quốc đọc Luận cương của Lênin:Trong đoạn luận cương ấy có những chữ chính trị khó hiểu nhưng cứ đọc đi đọc lạinhiều lần cuối cùng tôi cũng hiểu được phần chính Luận cương của Lênnin làm cho tôirất cảm động, phấn khởi sáng tỏ tin tưởng biết bao Tôi vui mừng đến phát khóc lên,ngồi một mình trong buồn mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo
“Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đườnggiải phóng cho chúng ta” Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin và quốc tế ba [10, tr 77]
Sự sinh động của đoạn tường thuật trên đây đảm bảo những thông tin – tư liệu cơbản, chính xác, đã tạo cho HS những xúc cảm lịch sử tích cực, có thể góp phần pháttriển hứng thú, lý tưởng, niềm tin cho các em
GV có thể sử dụng các đoạn miêu tả và cách giải thích giàu hình ảnh để tạo biểutượng cụ thể, chân thực, sinh động về sự kiện, hiện tượng lịch sử, giúp HS hiểu đượcbản chất lịch sử, nhất là đối với những sự kiện, hiện tượng phức tạp, qua đó tạo HTHTcho các em Vì khi những biểu tượng tham gia vào hoạt động tư duy thì tư duy trở nênsinh động, gợi cảm, say sưa, hồi hộp khẩn trương, góp phần phát triển hứng thú, lýtưởng, niềm tin của HS
Như vậy, việc sử dụng cách trình bày miệng sinh động là một biện pháp sư phạm
có hiệu quả trong việc khôi phục sự kiện, hiện tượng lịch sử một cách cụ thể, chân thực
và sinh động, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện HS và tạoHTHT lịch sử cho HS
3.3 Sử dụng đồ dùng trực quan để xây dựng hình ảnh lịch sử cụ thể, chân thực và sinh động
Trong DHLS, ĐDTQ là chiếc “cầu nối” giữa quá khứ với hiện tại, là một nguồnnhận thức quan trọng của việc truyền bá và nhận thức lịch sử Nó là phương tiện để tạobiểu tượng, hình thành khái niệm lịch sử, giúp HS nhớ kỹ, hiểu sâu những hình ảnh,kiến thức lịch sử, giúp phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn
Trang 13ngữ của HS, kích thích, tăng cường, củng cố những tình cảm và xúc cảm lịch sử của
HS Đứng trước đồ dùng trực quan, HS sẽ học tập hứng thú hơn, tăng cường sức chú ýđối với các hiện tượng để rút ra các kết luận đúng đắn Vì vậy, việc sử dụng ĐDTQkhông những góp phần triển năng lực nhận thức, đặc biệt là tính tích cực, độc lập của tưduy HS mà còn kích thích và phát triển HTHT lịch sử của HS
Trong DHLS có nhiều loại ĐDTQ, trong đó, tranh ảnh lịch sử, phim tư liệu vàcác loại ĐDTQ quy ước thường được sử dụng thường xuyên và phổ biến hơn cả Tuynhiên, thực tế việc sử dụng ĐDTQ trong DHLS ở trường THPT chưa mang lại hiệuquả Phần lớn GV chỉ sử dụng ĐDTQ để minh họa cho kiến thức lịch sử trong SGKdưới các hình thức thông báo GV chưa xem đây là nguồn nhận thức, ít chú ý thiết kế và
sử dụng các loại ĐDTQ trong phân tích, giải thích, dùng để đặt câu hỏi nêu vấn đề, tổchức thảo luận, KT – ĐG; chưa chú ý đến tính tích cực nhận thức của HS khi sử dụngcác loại ĐDTQ Đây chính là một trong những nguyên nhân khiến HS ít hứng thú đốivới việc học tập lịch sử và khó tránh khỏi những lệch lạc trong nhận thức của các em
Vì vậy, để nâng cao hiệu quả của việc sử dụng ĐDTQ trong DHLS, để ĐDTQ trở thànhmột nguồn tư liệu, một PTDH có thể tạo HTHT cho HS, GV cần tuân thủ nhữngnguyên tắc lựa chọn và sử dụng ĐDTQ Vì mỗi loại ĐDTQ có nội dung, ý nghĩa khácnhau: có loại minh họa để cụ thể hóa nội dung một sự kiện quan trọng trong bài học, cóloại cung cấp thông tin, có loại vừa cung cấp thông tin, vừa minh họa cho kênh chữtrong sách giáo khoa, cũng có loại dùng để thực hành, kiểm tra kiến thức… Mặt khác,trong khuôn khổ một giờ học không thể sử dụng một lúc mọi loại trực quan Do đó, GVcần căn cứ vào vị trí, mục đích, nội dung cơ bản của bài; vào tâm lý và năng lực nhậnthức của HS; vào tình hình cụ thể của nhà trường và đặc điểm của từng lớp học để xácđịnh và lựa chọn ĐDTQ cần thiết, phù hợp Vì vậy, ngoài những tranh ảnh và lược đồlịch sử trong SGK, GV cần xây dựng một hệ thống ĐDTQ phong phú, phù hợp với cácbài học lịch sử, nhất là các loại ĐDTQ quy ước theo hướng phát huy tính tích cực họctập của HS
Với mỗi loại ĐDTQ khác nhau, GV phải có phương pháp sử dụng thích hợp.Phải đảm bảo cho HS được sử dụng đầy đủ và hiệu quả ĐDTQ như là một nguồn nhậnthức, tránh tình trạng chỉ xem để minh họa cho nội dung sự kiện Trong khi sử dụng,nhất là lược đồ, bản đồ, tranh ảnh lịch sử, GV cần chú ý đến hiệu quả của việc quan sátĐDTQ Bởi vì, việc quan sát các ĐDTQ sẽ cung cấp tài liệu “trực quan sinh động” choviệc sử dụng những thao tác tư duy trừu tượng để phân tích sự kiện, hiện tượng, nhânvật lịch sử của HS Nhờ làm việc với tài liệu cụ thể thu thập được bằng quan sát, HS sẽ
mở rộng được tầm mắt, tăng thêm hứng thú đối với kiến thức, mài sắc óc quan sát, rènluyện trí nhớ Thêm vào đó, quan sát tốt các loại ĐDTQ có thể tạo nên những ấn tượngmạnh mẽ, tạo nên những rung động tình cảm, những màu sắc tình cảm tích cực của HS
Ví dụ như: khi nói về sự đầu tư vốn của thực dân Pháp vào các ngành kinh tế từ năm (1924 – 1930), GV có thể sử dụng đồ thị sau:
,
Trang 14Đồ thị thể hiện sự đầu tư vốn của thực dân Pháp vào các ngành kinh tế từ năm (1924 – 1930)
Cùng kết hợp với sơ đồ những chuyển biến mới về kinh tế ở Việt Nam sau:
Thương mại,
vận tải
Bất động sản,Ngân hàng
CHÍNH SÁCH CỦA THỰC DÂN PHÁP
Lạc hậu, què quặt
Phụ thuộc
Cơ cấu mất cân đối
KINH TẾ PHONG KIẾN VIỆT NAM
Trang 15Quan sát đồ thị và sơ đồ trên, HS có thể hiểu rõ hơn về sự đầu tư vốn của thựcdân Pháp vào các ngành kinh tế từ năm (1924 – 1930), và sự tác động của nó đến mặtkinh tế và xã hội Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ nhất
Đối với các loại ảnh lịch sử cũng vậy, khi dạy học GV cần phải sử dụng nó như
là một nguồn nhận thức lịch sử mới phát huy hiệu quả giáo dục và kích thích HTHTlịch sử của HS, muốn thế GV cần phải biết nguồn gốc của bức ảnh (ra đời vào thờiđiểm nào, ở đâu, tác giả là ai), nội dung lịch sử của bức ảnh là gì (trong ảnh gồm những
ai, họ đang làm gì) Để từ đó, GV có thể sử dụng khi miêu tả về bức tranh hoặc tổchức hoạt động cho HS tìm hiểu nội dung bức tranh
Chẳng hạn, khi sử dụng bức ảnh chụp về Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội Đảng Xãhội Pháp (tháng 12/1920), GV có thể sử dụng bức ảnh sau:
Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ 18 đảng Xã hội Pháp (12/1920)
Từ việc nắm được nội dung của bức ảnh, GV mới có thể hướng dẫn HS quan sátảnh theo yêu cầu của GV, để từ đó các em có thể hình dung rõ hơn về Nguyễn Ái Quốctại Đại hội Đảng Xã hội Pháp (tháng 12/1920), Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thànhQuốc tế III (Quốc tế Cộng sản do Lênin sáng lập) và tham gia thành lập Đảng Cộng sảnPháp, trở thành người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam Đó là một sự kiện lịch sử trọngđại, không những Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước đến với lý luận cách mạngcủa thời đại là chủ nghĩa Mác-Lênin, mà còn đánh dấu bước chuyển quan trọng của conđường giải phóng dân tộc Việt Nam: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không cócon đường nào khác con đường cách mạng vô sản Như vậy, chính sự kết hợp giữangôn ngữ và hình ảnh khi nhận thức một vấn đề, một sự kiện, hiện tượng lịch sử sẽ giúp
HS nhớ lâu, hiểu sâu sắc về nội dung tri thức lịch sử, do vậy các em HTHT lịch sử hơn
Như vậy, việc sử dụng đồ dùng trực quan để xây dựng hình ảnh lịch sử cụ thể,chân thực và sinh động sẽ giúp GV có thể khôi phục bức tranh lịch sử trong sự phongphú, đa dạng, cụ thể và chân thực và sẽ kích thích, duy trì và phát triển HTHT lịch sửcủa HS
Trang 16Thứ ba, tạo cơ hội cho các thành viên trong lớp học làm quen, trao đổi và hợptác với nhau Góp phần làm tăng bầu không khí hiểu biết, tin cậy thân thiện và đoàn kếtgiữa các thành viên.
Thứ tư, tạo yếu tố kích thích thi đua giữa các thành viên trong nhóm giữa cácnhóm, đặc biệt là trong học tập các chủ đề có tính sáng tạo cao
Thứ năm, tạo nhiều cơ hội cho giáo viên có thông tin phản hồi về người học,giáo viên có thể thu được tri thức và kinh nghiệm từ phía người học, qua các phát biểu
có suy nghĩ và sáng tạo của học viên
Như vậy, nếu làm việc và thảo luận theo nhóm được tổ chức tốt sẽ tăng cườngtính chủ động của người học, giúp người học tập trung vào bài học, phát triển được các
kỹ năng tư duy và óc phê phán, các kỹ năng giao tiếp và xã hội khác
* Nhóm kim tự tháp: Đây là hình thức mở rộng của nhóm rì rầm Sau khi thảoluận theo nhóm “rì rầm”, các cặp (2-3 nhóm rì rầm) kết hợp thành nhóm 4-6 người đểhoàn thiện một vấn đề chung
* Nhóm đồng tâm (nhóm bể cá): Giáo viên chia lớp thành hai nhóm: nhóm thảoluận và nhóm quan sát (sau đó hoán vị cho nhau)
* Nhóm khép kín và nhóm mở: Nhóm khép kín là các thành viên trong nhómnhỏ là việc trong khoảng thời gian dài, thực hiện trọn vẹn một hoạt động học tập, từ giaiđoạn đầu tới cuối cùng Nhóm mở là các thành viên có thể tham gia một hoặc vài giaiđoạn phù hợp với khả năng, sở thích của mình Hình thức này mang lại cho người họcnhiều khả năng lựa chọn vấn đề và chủ động về thời gian và sức lực
Trang 17Thảo luận nhóm là hình thức ngày càng sử dụng rộng rãi và phổ biến trong dạyhọc hiện đại Mục đích và công dụng của thảo luận nhóm là phát huy tính tích cực, tựlực và tinh thần trách nhiệm của học sinh Thảo luận nhóm hỗ trợ tư duy, tình cảm vàhành động độc lập, sáng tạo của học sinh Thông qua cộng tác làm việc theo nhóm, giúphọc sinh phát triển năng lực giao tiếp như biết lắng nghe, chấp nhận và phê phán ý kiếnngười khác, biết trình bày, bảo vệ ý kiến của mình trong nhóm, qua đó phát triển đượctính tích cực của tư duy học sinh.
Để thảo luận nhóm có hiệu quả, ngoài nắm vững kỷ thuật chung của việc tổ chức
và điều khiển học sinh thảo luận theo lớp, giáo viên cần lưu ý các điểm sau:
* Chia nội dung bài dạy thành những vấn đề nhỏ có liên kết với nhau Mỗi vấn
đề nhỏ được coi là một liều hay một chủ đề thảo luận
* Chia lớp học thành nhiều nhóm nhỏ Các hình thức chia nhóm tùy thuộc vàotừng nội dung và tính chất của vấn đề thảo luận, cũng như các điều kiện dạy học khác(bàn ghế, phòng học, tài liệu, phương tiện học tập…) Phương châm là sử dụng linhhoạt là nhiều hình thức nhóm phù hợp với các tình huống dạy học, đồng thời tích cựcphối hợp các hình thức với nhau Đảm bảo cho các nhóm biết trước mục đích, nội dungcuộc thảo luận và được chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết (tài liệu, giấy các cở, bútcác loại và các đồ dùng học tập khác)
* Mỗi nhóm phải có một nhóm trưởng điều khiển và duy trì hoạt động của nhóm
và 1 thư ký ghi chép đầy đủ các phát biểu trong thảo luận
* Có thể giao nhiệm vụ cho từng cá nhân làm việc độc lập trong nhóm, sau đó cảnhóm đánh giá và bổ sung Cũng có thể giao nhiệm vụ chung cho cả nhóm Tuy nhiên,cần nhớ là tại thời điểm, mỗi nhóm (cá nhân) chỉ được giao thảo luận một chủ đề (mộtnhiệm vụ), không giao một lúc nhiều chủ đề
* Tại một thời điểm có thể giao cho nhiều nhóm cùng thảo luận một chủ đề Kếtthúc chủ đề này lại thảo luận chủ đề khác (phát triển bài học theo chiều dọc) Cũng cóthể giao mỗi nhóm thảo luận 1 chủ đề Sự liên kết các nhóm này sẽ tạo ra sự thống nhất
về kết quả chung của bài dạy (phát triển bài học theo chiều ngang) Cả hai hướng đều
có điểm mạnh và hạn chế nhất định Vì vậy, tùy theo mục tiêu và nội dung bài dạy, giáoviên có thể kết hợp cả hai cách trên với các liều lượng nhất định
* Trong mỗi chủ đề làm việc hay thảo luận, nên thực hiện theo quy trình chungcủa thảo luận (xác định vấn đề cần thảo luận, xây dựng giả thuyết, tìm kiếm luận cứ,luận chứng để chứng minh (bác bỏ) giả thuyết; đánh giá và thống nhất các giải pháp)
* Các sản phẩm của hoạt động cá nhân hay hoạt động cả nhóm có thể được thểhiện trên các văn bản, bảng tư liệu, biểu đồ, bản thiết kế hoặc các mô hình Các sảnphẩm đó phải được giới thiệu và trình bày trước nhóm hoặc trước các nhóm khác tronglớp, phải được bình xét và đánh giá ý kiến của người khác, tức là phải đảm bảo sự tôntrọng và bình đẳng giữa các thành viên trong nhóm hoặc giữa các nhóm khi thảo luận
* Đảm bảo yếu tố cạnh tranh và thi đua giữa các nhóm Các hình thức củng cốđộng viên, tạo không khí thi đua và cạnh tranh có thể là phần thưởng, lời khen, cácdanh hiệu… Giáo viên không nên tiết kiệm lời khen đối với các thành công và tiến bộcủa học sinh trong nhóm
* Đảm bảo yếu tố thông tin phản hồi từ các nhóm Biện pháp thông thường làkiểm tra xem thư ký nhóm ghi chép được những gì? Hỏi các thành viên có hiểu các vấn
Trang 18đề thảo luận không? Có bỏ sót điểm gì quan trọng không? Có thắc mắc gì không? Điềucần lưu ý là thái độ thân thiện, gần gũi và cởi mở của giáo viên khi đi kiểm tra cácnhóm có ảnh hưởng rất lớn tới các hoạt động của các nhóm và lượng thông tin phảnhồi.
* Bất kỳ cuộc thảo luận nào cũng phải có kết luận Giáo viên cần dành thời gianghi chép, đánh giá sự tiến bộ của các nhóm, tóm tắt ý tưởng của các nhóm, thực hiệnvai trò trọng tài hoặc là người hướng đạo cho các nhóm tiếp tục hoàn thiện hoặc pháttriển ý tưởng của mình
Như vậy, thảo luận nhóm góp phần làm tăng cơ hội để các thành viên được làmviệc và thể hiện khả năng của mình, phát huy tinh thần sáng tạo, hiểu biết, hợp tác, thiđua giữa các thành viên trong lớp Đây là cũng là biện pháp để phát triển tư duy họcsinh trong “thời hai” của quá trình tư duy
Ví dụ, khi học mục I Những chuyển biến mới về kinh tế, chính trị, văn hóa, xãhội ở Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất của bài 12 “Phong trào dân tộc dânchủ ở Việt Nam từ 1919-1925” Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm và đưa ra yêu cầuthảo luận cho 4 nhóm:
Nhóm 1: Nội dung và đặc điểm của chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai
mà Pháp tiến hành ở Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất
Nhóm 2: Những chính sách về chính trị, văn hóa giáo dục của thực dân Phápthực hiện ở Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất
Nhóm 3: Tác động của chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai về kinh tế và
xã hội Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất
Nhóm 4: Vì sao giai cấp nông dân chiếm số đông nhưng không thể lãnh đạođược cách mạng Việt Nam, còn giai cấp công nhân chỉ chiếm khoảng 1% dân số nhưnglại trở thành động lực quan trọng của phong trào dân tộc dân chủ
Giáo viên cho mỗi nhóm chuẩn bị 15 phút và cử nhóm trưởng, thư ký ghi chépthảo luận đồng thời hướng dẫn các em thảo luận theo nội dung trọng tâm của câu hỏiyêu cầu, sau khi thảo luận xong nội dung của nhóm mình tiếp tục nghiên cứu nội dungcủa nhóm khác để khi nhóm đó trình bày có thể tranh luận hoặc bổ sung cho nhóm đó.Qua trao đổi, các thao tác tư duy độc lập, sáng tạo của các em được biểu hiện, kỹ nănggiao tiếp được bộc lộ rõ nét, sau đó giáo viên gọi đại diện từng nhóm lên trả lời, cácnhóm khác nghe, góp ý, bổ sung và giáo viên tóm tắt ý tưởng của các nhóm, đánh giá
sự tiến bộ của các nhóm, điều chỉnh những nội dung chưa phù hợp Để động viên, kíchthích thái độ học tập, giáo viên có thể kết hợp cho điểm miệng hoặc điểm 15’ chonhững nhóm thảo luận xuất sắc hoặc những cá nhân có những tranh luận sắc sảo Cuốicùng, giáo viên rút kinh nghiệm buổi thảo luận nhóm và hệ thống hóa nội dung của bàihọc
Với cách làm này chắc chắn tiết thảo luận sẽ sôi nổi, học sinh sẽ khắc sâu đượckiến thức của mình và rèn luyện kỹ năng lập luận, trình bày quan điểm của mình trướcđám đông, từ đó kích thích sự phát triển của tư duy tạo hứng thú cho học sinh khi họctập bộ môn
Trang 193.5 Sử dụng bài tập lịch sử để củng cố các khái niệm
Trong dạy học lịch sử, bài tập lịch sử là khái niệm dùng để chỉ một hệ thốngthông tin xác định về lịch sử được sử dụng để tổ chức việc lĩnh hội tri thức của họcsinh
Bài tập lịch sử (đặc biệt là bài tập nhận thức) là phương tiện chính yếu là công cụquan trọng để phát triển năng lực tư duy sáng tạo của học sinh Nó còn là phương tiệnthúc đẩy học sinh tự học tập, tạo điều kiện cho các em tiếp cận với phương pháp nghiêncứu
Bài tập lịch sử mang đầy đủ đặc trưng của bài tập nói chung và có đặc trưngriêng của bộ môn lịch sử Việc sử dụng bài tập lịch sử được coi là phương tiện thúc đẩytích cực, chủ động, độc lập và sáng tạo trong quá trình nói chung, củng cố, vận dụngkhái niệm lịch sử nói riêng
Có rất nhiều loại bài tập lịch sử khác nhau nhưng trong quá trình dạy học lịch sửnói chung và hình thành khái niệm nói riêng, việc sử dụng các loại bài tập này đan xenvới nhau, cùng hỗ trợ học sinh trong quá trình nhận thức
Ví như, muốn hình thành và củng cố cho học sinh các khái niệm “giai cấp địachủ”, “giai cấp nông dân”, “giai cấp công nhân”, “giai cấp tiểu tư sản” và “giai cấp tưsản”, giáo viên đưa ra các bài tập:
- Địa vị và quyền lợi của giai cấp địa chủ Việt Nam như thế nào?
- Địa vị và quyền lợi của giai cấp nông dân ra sao?
- Giai cấp tư sản có tinh thần yêu nước không? Họ có mâu thuẫn với tư sản đếquốc không?
- Giai cấp tiểu tư sản có vai trò và thái độ như thế nào đối với cách mạng ViệtNam?
- Đặc điểm giai cấp công nhân Việt Nam? Vì sao họ trở thành lực lượng tiênphong lãnh đạo cách mạng Việt Nam
Sau khi học sinh suy nghĩ trả lời, giáo viên củng cố và từ đó học sinh hiểu đượcđặc điểm và thái độ cách mạng của các giai cấp trong xã hội Việt Nam từ đó khắc sâuhơn khái niệm “giai cấp địa chủ”, “giai cấp nông dân”, “giai cấp công nhân”, “giai cấptiểu tư sản”và “giai cấp tư sản” và nắm được khái quát hơn khái niệm “giai cấp”
Như vậy, việc giải quyết các loại bài tập này, học sinh phải huy động các thaotác tư duy, phải độc lập suy nghĩ để giải quyết vấn đề đặt ra Qua đó, giúp học sinh pháttriển khả năng tái tạo, trí tưởng tượng, ghi nhớ các sự kiện lịch sử, trên cơ sở đó tạođược biểu tượng chân thực, sinh động, rõ nét về quá khứ là cơ sở để hình thành kháiniệm, đồng thời góp phần nâng nhận thức của học sinh lên giai đoạn lí tính, qua đócủng cố kiến thức nói chung và khái niệm nói riêng
IV HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN
4.1 Thực nghiệm sư phạm
Lựa chọn đối tượng thực nghiệm:
- Đối với HS các lớp thực nghiệm và đối chứng, chọn 1 lớp thực nghiệm(12A11) và 1 lớp đối chứng (12A12) ở trường THPT Long Khánh
Trang 20Nội dung thực nghiệm:
Tiến hành dạy thực nghiệm bài 12, SGK lớp 12.Sau đó, tiến hành kiểm tra kếtquả học tập giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng để xem xét tính khả thi của đề tài
Tiến hành trao đổi với GV, làm rõ những nội dung, phương pháp và yêu cầu củagiáo án thực nghiệm Ở lớp đối chứng, tôi yêu cầu GV giảng dạy theo giáo án bìnhthường mà thầy cô vẫn lên lớp (chọn cùng một GV dạy giáo án thường và giáo án thựcnghiệm) Khi GV tiến hành giảng dạy ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng, chúng tôicùng các GV bộ môn tham gia dự giờ để quan sát tiến trình bài học và không khí lớphọc
Kết thúc tiết học, tiến hành trao đổi với GV cùng dự giờ để xin ý kiến của họ vềnội dung, phương pháp, không khí của giờ học Đồng thời, tôi cũng trao đổi với HS đểnắm bắt ý kiến của các em về bài học, những thay đổi trong nội dung, phương phápgiảng dạy ở lớp thực nghiệm Sau đó, kiểm tra kết quả nhận thức kiến thức bài học của
HS ở cả lớp đối chứng và thực nghiệm để làm cơ sở đánh giá mức độ kiến thức, kĩ năng
mà các em đạt được sau bài học
Theo giới hạn của đề tài này tác giả chỉ ứng dụng trong bài 12
Kết quả thực nghiệm:
+ Lớp thực nghiệm: 12A11, số học sinh là 38, hiện diện làm bài 38/40
+ Lớp đối chứng: 12A12, số học sinh là 38, hiện diện làm bài 38/40
+ Kết quả: tần số (f), phần trăm (%)
Giỏi (9 – 10 điểm)
Khá (7 - 8,9 điểm)
Trung bình (5 – 6,9 điểm)
Yếu (3 – 4,9 điểm)
Kém (< 3 điểm)
- Trong học tập lịch sử, nhờ sự kích thích, thúc đẩy của HTHT mà quá trình nhậnthức của HS trở thành một quá trình tích cực, chủ động và sáng tạo, do vậy sẽ nâng caohiệu quả học tập và phát triển năng lực nhận thức của HS Việc tạo HTHT cho HS trong
Trang 21DHLS giúp GV có thể thực hiện tốt nhiệm vụ bồi dưỡng tri thức lịch sử, phát triển nănglực nhận thức, năng lực thực hành đặc biệt là tư duy tích cực của HS; thực hiện tốtnhiệm vụ bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ cho các em
- Việc tạo HTHT cho HS phải được thực hiện trong suốt quá trình dạy và học
Và trong suốt quá trình đó GV cần chú ý đến mối quan hệ, tác động qua lại giữa cácyếu tố của quá trình dạy học, nhất là vai trò của người GV – với hoạt động dạy và HS –với hoạt động học, bởi tất cả các yếu tố khác của quá trình dạy học đều thông qua haiyếu tố này mà phát huy tác dụng
- Để tạo HTHT cho HS, GV cần sử dụng các biện pháp sư phạm nhằm phát huytối đa năng lực nhận thức của HS trong việc tiếp thu và lĩnh hội kiến thức Việc sử dụngcác biện pháp trên chỉ thực sự đem lại hiệu quả cao trong việc kích thích và phát triểnHTHT cho HS khi GV sử dụng một cách hợp lý, nhuần nhuyễn, linh hoạt, mềm dẻo tùymục đích yêu cầu của bài giảng, khả năng nhận thức của HS và điều kiện dạy học củanhà trường Điều này đòi hỏi người GV đứng lớp không chỉ có kiến thức tốt, trình độchuyên môn sâu mà còn phải có nghệ thuật sư phạm, lòng đam mê, sự tâm huyết đốivới việc nghiên cứu, học tập lịch sử, với nghề nghiệp của mình
Tóm lại, trong DHLS ở trường THPT, việc tạo HTHT cho HS có vai trò, ý nghĩa
to lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục toàn diện HS Đặc biệt, trong công cuộcđổi mới PPDH lịch sử hiện nay, việc tạo HTHT cho HS là một trong những mục tiêugần mà người GV lịch sử cần đạt được để nâng cao chất lượng DHLS
V ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
Từ kết quả nghiên cứu của đề tài và thực tiễn dạy học hiện nay ở trường Trunghọc phổ thông, tôi đề xuất một số kiến nghị sau:
- Đối với GV: cần tích cực hơn nữa trong việc thực hiện đổi mới PPDH lịch sử,
trong việc học tập, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, trau dồi và rèn luyện đạo đức, tácphong để thực sự trở thành một “tấm gương sáng về đạo đức, tự học và sáng tạo” trongnhà trường
- Đối với các cấp quản lý giáo dục:
+ Cần tổ chức Hội thảo chuyên đề bàn về vấn đề tạo HTHT cho HS trong DHLS
ở trường THPT, góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
+ Cần ưu tiên đầu tư, hỗ trợ kinh phí cho các trường THPT xây dựng phòng học bộmôn, Thư viện đạt chuẩn để đảm bảo nguồn TLTK, phương tiện và điều kiện dạy họctốt nhất cho HS và GV
Trang 22VI DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục Trung học phổ thông môn Lịch sử, NXB Giáo dục, Hà Nội.
2 Nguyễn Thị Côi (2006), Các con đường, biện pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông, NXB ĐHSP, Hà Nội.
3 Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Xuân Minh, Trần Bá Đệ, Lịch sử 12, sách giáo viên tập 2,
Bộ giáo dục và đào tạo
4.Phan Ngọc Liên - Trịnh Đình Tùng (1998), Phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học lịch sử ở trường Trung học cơ sở, NXB Giáo dục, Hà Nội.
5 Phan Ngọc Liên (Chủ biên) (2002), Trịnh Đình Tùng - Nguyễn Thị Côi Phương pháp dạy học lịch sử, tập 1, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
6 Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (Đồng Chủ biên) (2003), Phương pháp dạy học lịch
sử, NXB Giáo dục, Hà Nội.
7 Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (2007), Phương pháp dạy học lịch sử, tập 2 (in lần thứ hai), NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
8 Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Đinh Ngọc Bảo, Nguyễn Thị Côi, Nguyễn Đình Lễ,
Trương Hữu Quýnh, Trịnh Đình Tùng, Nghiêm Đình Vỳ (2007), Phương pháp luận sử học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội.
9 Phan Ngọc Liên (Chủ biên) (2008), Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông, NXB Đại
học Sư phạm, Hà Nội
10 Hồ Chí Minh, Con đường đến với chủ nghĩa Lê nin, NXB sự thật, Hà Nội
11 Nguyễn Đình Lễ (chủ biên), Nguyễn Văn Am, Nguyễn Văn Chiến, Lịch sử ViệtNam từ 1919 - 1945, Nxb Đại học sư phạm,
12 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2005), Luật Giáo dục, NXB Chính trị Quốc
Trang 23VII.PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 1 PHIẾU ĐIỀU TRA
(Dành cho giáo viên)
Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường THPT, xin Thầy/Côvui lòng cho biết ý kiến của mình về một số vấn đề sau Nếu đồng ý, Thầy/Cô hãy đánhdấu () vào ô tương ứng hoặc cung cấp thông tin vào chỗ trống thích hợp
Câu 1 Theo Thầy/Cô, mức độ hứng thú học tập Lịch sử của HS
Vì: - Góp phần phát huy tính tích cực của HS trong học tập
- Giúp HS yêu thích môn lịch sử hơn
- Giúp GV thực hiện tốt mục tiêu giáo dục toàn diện HS
- Giúp HS đạt kết quả cao trong học tập
- Làm nặng nề thêm bài học
- Tốn nhiều thời gian
- Không nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử
Câu 3 Theo Thầy/Cô, những nguyên nhân nào giúp HS THPT có hứng thú học tập môn Lịch sử?
Kiến thức lịch sử phong phú, hấp dẫn
Môn Lịch sử phù hợp với khả năng và sở thích của HS
GV có phương pháp dạy học phù hợp
Cơ sở vật chất, phương tiện dạy học đầy đủ, hiện đại
Môn Lịch sử được xã hội và gia đình HS đánh giá cao
Câu 4 Theo Thầy/Cô, những nguyên nhân nào khiến HS “chán” học, “sợ” học môn Lịch sử?
Kiến thức lịch sử khô khan, trừu tượng, có nhiều sự kiện
HS chưa có phương pháp học tập hiệu quả