SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT VÀI ĐỊNH HƯỚNG CHO HỌC SINH DÂN TỘC TRONG TRƯỜNG NỘI TRÚ TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO THÔNG QUA MỘT SỐ BÀI TRONG MÔN SINH HỌC THCS Người thực hiện : LỠ THANH MINH Lĩn
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TỈNH ĐỒNG NAI TRƯỜNG PT DTNT THCS – THPT ĐIỂU XIỂNG
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT VÀI ĐỊNH HƯỚNG CHO HỌC SINH DÂN TỘC TRONG TRƯỜNG NỘI TRÚ TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO THÔNG QUA
MỘT SỐ BÀI TRONG MÔN SINH HỌC THCS
Người thực hiện : LỠ THANH MINH
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lí giáo dục Phương pháp dạy học bộ môn : Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác :
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
Mô hình Đĩa CD (DVD) Phim ảnh Hiện vật khác
Trang 2
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC I/ THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN :
1 Họ và tên: LỠ THANH MINH
2 Ngày tháng năm sinh: 29 – 12 – 1982
8 Nhiệm vụ được giao : Giảng dạy bộ môn Sinh học 8, 9
9 Đơn vị công tác: Trường PT DTNT THCS – THPT Điểu Xiểng
II/ TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO :
- Học vị: cử nhân sư phạm
- Năm nhận bằng : năm 2015
- Chuyên ngành đào tạo: HÓA HỌC
III/ KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: HÓA - SINH
- Số năm có kinh nghiệm: 06 năm
Trang 3MỘT VÀI ĐỊNH HƯỚNG CHO HỌC SINH DÂN TỘC TRONG TRƯỜNG NỘI TRÚ TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO THÔNG QUA MỘT SỐ BÀI
TRONG MÔN SINH HỌC THCS
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Sinh học hay sinh vật học là một môn khoa học về sự sống là một nhánh của khoahọc tự nhiên Sinh học gắn bó chặt chẽ với sự phát triển nông nghiệp và có tác động qualại với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật Vì vậy, kiến thức sinh học có giá trị lớn trongđời sống và sản xuất Giáo viên dạy sinh học cần phát huy tính tích cực chủ động sángtạo của học sinh trong mỗi giờ học cũng như góp phần thiết thực nâng cao quá trình tiếpthu bài học của học sinh Việc dạy học môn sinh học trong trường trung học khôngnhững nhằm truyền thụ cho học sinh những kiến thức cơ bản về môn sinh học, mà còn
là trang bị cho học sinh những kỹ năng cơ bản để tham gia trải nghiệm sáng tạo trongthực tiễn
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giữ vai trò rất quan trọng trong chươngtrình giáo dục phổ thông mới Hoạt động này giúp cho học sinh có nhiều cơ hội trảinghiệm để vận dụng những kiến thức học được vào thực tiễn từ đó hình thành năng lựcthực tiễn cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân Thực hành, trải nghiệmđều là những phương thức học hiệu quả, gắn với vận động, với thao tác vật chất, với đờisống thực Việc học thông qua làm, học đi đôi với hành và học từ trải nghiệm đều giúpngười học đạt được tri thức và kinh nghiệm nhưng theo các hướng tiếp cận không hoàntoàn như nhau, trong đó trải nghiệm có ý nghĩa giáo dục cao nhất và có phần bao hàm
cả làm và thực hành
Cuộc thi sáng tạo khoa học kỹ thuật cho HS trung học chính là thực hiện theo Nghịquyết của Ban chấp hành Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạođáp ứng yêu cầu CNH-HĐH đất nước trong tình hình mới Điều này còn nhằm thựchiện mục tiêu tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực côngdân; phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS; nâng caochất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lốisống, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn; phát triển khảnăng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời
Từ năm học 2012-2013 cuộc thi sáng tạo KHKT dành cho học sinh trung học được
Bộ GD&ĐT đưa vào là nhiệm vụ trong tâm của từng năm học Là một hoạt động hữuích, hỗ trợ tích cực cho hoạt động chuyên môn trong nhà trường, giúp HS biết vận dụngkiến thức trong sách vở vào giải quyết các vấn đề thực tiễn cuộc sống, làm quen với
Trang 4NCKH Tạo ra sân chơi bổ ích, trí tuệ và khoa học cho HS phổ thông qua việc tìm kiếmnhững ý tưởng khoa học mới lạ, độc đáo.
Tuy nhiên có nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau nên phong tràosáng tạo khoa học của một số trường học còn hạn chế, bị động; sản phẩm chế tạo chưa
có tính khả thi, tính ứng dụng thực tế thấp Một trong những nguyên nhân ấy là ảnhhưởng của thực trạng giáo dục hiện tại: phần lớn các em học sinh tập trung vào việc họcvăn hóa là chính, chế độ chính sách dành cho hoạt động này chưa đủ sức thu hút giáoviên tham gia hướng dẫn học sinh nghiên cứu, chế tạo sản phẩm, Ban Giám hiệu một sốtrường chưa thật quan tâm, xem trọng công tác này, khiến GV và cả HS đều có tâm lýngại tham gia, hiệu quả của cuộc thi đôi khi không đạt yêu cầu
Từ những lý do trên tôi xin đề xuất: “Một vài định hướng cho học sinh dân tộc trong trường nội trú trải nghiệm sáng tạo thông qua một số bài trong môn
sinh học thcs”
II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN:
Các hoạt động trải nghiệm sáng tạo đó (gọi chung là hoạt động ngoài giờ lên lớp)
mà hiện nay chúng ta đang tiến hành trong trường phổ thông chủ yếu được tổ chức dựatrên các chủ đề đã được quy định trong chương trình với các hình thức còn chưa phongphú và học sinh thường được chỉ định, phân công tham gia một cách bị động
Giáo viên tổ chức hoạt động cho học sinh nhưng không rõ hoạt động đó sẽ hướngtới hình thành những năng lực gì của các em Điều đó không phù hợp với một chươngtrình định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh, cần phải thay đổi
Trong Chương trình mới, các hoạt động tập thể, hoạt động ngoài giờ dạy học trênlớp sẽ phong phú hơn cả về nội dung, phương pháp và hình thức hoạt động, đặc biệt,mỗi hoạt động phải phù hợp với mục tiêu phát triển những phẩm chất, năng lực (sau đâygọi chung là năng lực, hiểu theo nghĩa rộng của từ này) nhất định của học sinh; nghĩa làhọc sinh được học từ trải nghiệm
Học từ trải nghiệm (hoạt động trải nghiệm) gần giống với học thông qua làm, quathực hành nhưng học qua làm là nhấn mạnh về thao tác kỹ thuật còn học qua trảinghiệm giúp người học không những có được năng lực thực hiện mà còn có những trảinghiệm về cảm xúc, ý chí và nhiều trạng thái tâm lý khác; học qua làm chú ý đến nhữngquy trình, động tác, kết quả chung cho mọi người học nhưng học qua trải nghiệm chú ýgắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân
Thí dụ: Chủ đề học tập là thế giới động vật, thay vì học nó thông qua sách vở, họcsinh được trải nghiệm thông qua quan sát và tương tác, chăm sóc các con vật…; kết quả
Trang 5đạt được không chỉ là sự hiểu biết (chung) về loài thú mà còn phát triển tình yêu (riêngcủa mỗi người) đối với thiên nhiên và muông thú Ngoài ra, nhiều sự hiểu biết và nănglực của con người chỉ có được từ trải nghiệm của riêng mình.
– Có nhiều cách gọi khác nhau về hoạt động trải nghiệm sáng tạo (TNST) Phù hợpvới mục tiêu của Chương trình mới, tôi đề xuất một định nghĩa như sau: Hoạt độngTNST là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn của nhà giáo dục, từng cánhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt động khác nhau của đời sống nhàtrường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triểnnăng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhânmình
Khái niệm này khẳng định vai trò định hướng, chỉ đạo, hướng dẫn của nhà giáo dục;thầy cô giáo, cha mẹ học sinh, người phụ trách… Nhà giáo dục không tổ chức, khôngphân công học sinh một cách trực tiếp mà chỉ hướng dẫn, hỗ trợ, giám sát cho tập thểhoặc cá nhân học sinh tham gia trực tiếp hoặc ở vai trò tổ chức hoạt động, giúp học sinhchủ động, tích cực trong các hoạt động; phạm vi các chủ đề hay nội dung hoạt động vàkết quả đầu ra là năng lực thực tiễn, phẩm chất và năng lực sáng tạo đa dạng, khác nhaucủa các em
Có thể kể ra một số hình thức hoạt động TNST: Hình thức có tính khám phá (thựcđịa, thực tế, tham quan, cắm trại); hình thức có tính triển khai (dự án và nghiên cứukhoa học, hội thảo, câu lạc bộ); hình thức có tính trình diễn (diễn đàn, giao lưu, sânkhấu hóa); hình thức có tính cống hiến, tuân thủ (thực hành lao động việc nhà, việctrường, hoạt động xã hội – tình nguyện)
Ở một số nước, hoạt động TNST vẫn được gọi là hoạt động ngoài giờ lên lớp, thựchiện mục tiêu chủ yếu là phát triển phẩm chất, so với mục tiêu chủ yếu của dạy học trênlớp là phát triển trí tuệ
Việc gọi tên khác cho hoạt động ngoài giờ lên lớp ở Chương trình GD mới, khôngchỉ là vì nội hàm triết lý đã thay đổi, mà còn vì chúng ta muốn nhấn mạnh đến sự thayđổi nhận thức, ý thức về cái mới của hoạt động này, tránh sự hiểu nhầm rằng ngoài giờthì không quan trọng, không có vị trí xứng đáng; hoặc là đơn giản hóa nội dung, mụcđích của hoạt động này, không chỉ “trăm hay không bằng tay quen”… Trong tên gọi
Trang 6mới, “trải nghiệm” là phương thức giáo dục và “sáng tạo” là mục tiêu giáo dục, phảiđược làm rõ.
– Hoạt động TNST hướng đến những phẩm chất và năng lực chung như đã được đưa
ra trong Dự thảo Chương trình mới, ngoài ra hoạt động TNST còn có ưu thế trong việcthúc đẩy hình thành ở người học các năng lực đặc thù sau:
– Năng lực hoạt động và tổ chức hoạt động;
– Năng lực tổ chức và quản lý cuộc sống;
– Năng lực tự nhận thức và tích cực hóa bản thân;
– Năng lực định hướng nghề nghiệp;
– Năng lực khám phá và sáng tạo;
Chính vì vậy đầu ra của hoạt động TNST khá đa dạng và khó xác định mức độchung, nhất là khi nó lại luôn gắn với cảm xúc – lĩnh vực mang tính chủ quan cao, cũng
là cơ sở quan trọng của sự hình thành sáng tạo và phân hóa
– Có nhiều cách đánh giá kết quả hoạt động trải nghiệm sáng tạo Điều quan trọngnhất của các phương pháp này là cần quan sát, nhận xét, góp ý để đánh giá ngay trongquá trình hoạt động thực tiễn, dựa trên các biểu hiện cụ thể về phương thức và kết quảhoạt động của học sinh
Thí dụ: Đặt học sinh trước tình huống có vấn đề cần giải quyết, quan sát cách thức
và kết quả giải quyết tình huống của học sinh sẽ đánh giá được năng lực giải quyết vấn
đề và nhiều năng lực khác Hồ sơ sản phẩm của một nghiên cứu khoa học hay của mộtchuyến tham quan thực địa cũng là minh chứng thuyết phục để đánh giá nhiều năng lựckhác nhau của học sinh
Nhìn chung, đánh giá năng lực đầu ra của hoạt động trải nghiệm sáng tạo cần sửdụng nhiều hình thức đánh giá, nhiều bộ công cụ đánh giá, coi trọng nhận xét quá trìnhtiến bộ về nhiều mặt khác nhau của học sinh
Trang 7Tóm lại, hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giữ vai trò rất quan trọng trongChương trình giáo dục phổ thông mới Hoạt động này giúp cho học sinh có nhiều cơ hộitrải nghiệm để vận dụng những kiến thức học được vào thực tiễn từ đó hình thành nănglực thực tiễn cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân.
Trong các hình thức tổ chức hoạt động TNST thì có một số là bắt buộc, số còn lại làtùy chọn Chẳng hạn, nhóm định hướng nghề và khám phá sáng tạo có thể là tùy chọn,còn các nhóm hoạt động về trách nhiệm xã hội, về phát triển bản thân có thể là bắtbuộc Với nhóm tùy chọn thì chúng ta có thể tổ chức theo hình thức CLB Nội dungchương trình phải hết sức mở, miễn là đáp ứng được mục tiêu
Ngoài những hoạt động TNST được thiết kế thành hoạt động riêng như trên, trongtừng môn học cũng cần coi trọng việc tổ chức, hướng dẫn các hoạt động TNST phù hợpvới đặc trưng nội dung môn học và điều kiện dạy học Cũng phải lưu ý đến các điềukiện để thực hiện chương trình hoạt động TNST, ví dụ tăng biên chế giáo viên, hỗ trợgiáo viên về tài liệu, tổ chức tập huấn hoặc đào tạo cấp chứng chỉ về tổ chức hoạt độngTNST…
Để phát huy những lợi ích trên, hoạt động NCKH trải nghiệm sáng tạo phải đượcchú trọng ngay trong độ tuổi học trò từ cấp THCS Có như vậy mới có cơ sở xây dựng
và phát triển được đội ngũ nhân lực chất lượng cao cho xã hội
Một số học sinh chưa hứng thú với NCKH, thậm chí một số ít em được phỏng vấnvẫn còn chưa biết đến sân chơi khoa học bổ ích này tạo ra là cho mình (cho rằng sânchơi này là của đội học sinh giỏi và của giáo viên) Học sinh vẫn còn gặp khó khăntrong xác định ý tưởng, lựa chọn đề tài và thời gian giành cho NCKH Chính vì vậy, sốlượng sản phẩm tạo ra ít, chất lượng sản phẩm chưa cao, chưa đáp ứng với những vấn
đề xã hội quan tâm
Ngoài ra, một số giáo viên còn hạn chế về kỹ năng, phương pháp NCKH từ đó dẫnđến tâm lý ngại hướng dẫn NCKH cho học sinh, thiếu niềm tin vào công tác NCKH củacác em; cơ chế, chính sách chưa tạo động lực và nguồn tài chính hỗ trợ cho hoạt độngNCKH của học sinh; Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của các trường chưa đáp ứng cho hoạtđộng NCKH; Tâm lý một số phụ huynh không muốn cho con em mình tham gia hoạtđộng NCKH vì e sợ sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập nên thiếu sự ủng hộ và động viênkhuyến khích
Trang 8III TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP:
Giải pháp 1 : Khơi dậy lòng ham mê sáng tạo khoa học kỹ thuật của học sinh thông qua nội dung bài học
a) Mô tả cách thức tổ chức thực hiện giải pháp :
Phương pháp dạy học ở trường phổ thông hiện nay đều hướng đến việc tích cực hoáquá trình nhận thức của học sinh Đối với môn Sinh học thể hiện ở nhiều mặt, như việctăng cường hoạt động thực nghiệm của học sinh thông qua tiến hành các thí nghiệm cósẵn hay thiết kế, chế tạo dụng cụ thí nghiệm đơn giản, các loại đồ chơi có liên quan đếnkiến thức Sinh học rất cần thiết Với nhiệm vụ học tập này sẽ kích thích học sinh hứngthú hơn trong học vật lí, đồng thời phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, độc lập sáng tạo
và rèn luyện kỹ năng nghiên cứu khoa học cho học sinh
Để thực hiện được giải pháp trên, tôi đã làm những việc như sau:
Gây hứng thú ở mở đầu của bài học :
+ Giới thiệu các phát minh dựa trên kiến thức sinh học liên quan đến bài học
+ Giới thiệu nhà sinh học và những phát minh của họ
Giao việc cho học sinh bằng các phiếu hướng dẫn về nhà:
+ Thực hiện các thí nghiệm ở nhà bằng dụng cụ mình tự chế
+ Chế tạo đồ chơi đơn giản bằng cách vận dụng các kiến thức sinh học đã học + Sưu tầm và thực hiện những thí nghiệm vui, gần gũi với cuộc sống hằng ngày
b) Các dữ liệu minh chứng quá trình thực nghiệm:
Thực tế để thực hiện được giải pháp trên giáo viên cần xác định rõ nội dụng kiếnthức ở mỗi bài học để giới thiệu cho học sinh, cũng như những định hướng để học sinhthực hiện các thí nghiệm ở nhà và cách làm các loại đồ chơi có vận dụng kiến thức sinhhọc
b.1 ) Gây hứng thú ở mở đầu của bài học :
Trong quá trình dạy học sinh học tôi nhận thấy rằng ở các bài học thường đưa racác tính huống, giới thiệu nội dung kiến thức sinh học được các nhà sinh vật học pháthiện ra hoặc các giải pháp kĩ thuật dựa trên kiến thức sinh học để từ đó giúp giáo viêntạo tình huống học tập Cắn cứ trên giáo viên khi giảng dạy có thể khéo léo giới thiệu vàđặt các câu hỏi khơi dậy lòng ham mê nghiên cứu khoa học của học sinh
b.1.1 ) Giới thiệu nhà sinh vật học và những phát minh của họ.
Đối với giải pháp này giáo viên cho học sinh tìm hiểu thông tin, sau đó đặt cáccâu hỏi nhanh để định hướng học sinh hứng thú trong việc học tập dưới dạng :
? Nhà Sinh Vật học ………… đã phát minh ( tìm ra ) vấn đề gì ?
Trang 9? Vấn đề nhà Sinh vật học trên phát minh có ý nghĩa gì ?
? Để ghi nhớ công lao đóng góp làm như thế nào ?
Ví dụ 1 - Chương I: Tế bào thực vật bao gồm các bài 5: Kính lúp, kính hiển vi
và cách sử dụng Bài 6: quan sát tế bào Giáo viên giới thiệu tên và hình ảnh một số nhà phát minh
Leeuwenhoek Antonie (24/10/1632 - 30/8/1723)
Antonie Philips van Leeuwenhoek (sinh 24 tháng 10,
1632 -30 tháng 8, 1723 tại Delft, Hà Lan) là mộtthương gia, một nhà khoa học người Hà Lan Ông đượccoi là cha đẻ của ngành vi sinh vật học và được coi lànhà vi sinh vật học đầu tiên trên thế giới Là con củamột người thợ làm giỏ, ở tuổi 16 ông đã thời gian họcviệc với một thương nhân bán vải người Scotland tạiAmsterdam Ông được biết đến với thành tựu cải tiếnkính hiển vi và những đóng góp cho sự ra đời ngànhsinh vật học Ông đã sử dụng những chiếc kính hiển vithủ công tự tay làm và là người người đầu tiên quan sátthấy các vi khuẩn và động vật nguyên sinh mà ông gọi là 'animalcules' (nhữngđộng vật nhỏ bé) Ngày nay, những phát hiện này của van Leeuwenhoek được biếtđến là "Vi sinh vật"
Van Leeuwenhoek cũng là người đầu tiên ghi lại các quan sát bằng kính hiển vi
những sợi cơ bắp, vi khuẩn, dòng chảy của máu trong huyết mạch
Giáo viên có thể đặt 1 số câu hỏi?
?Các nhà sinh vật học trên phát minh ra đều gì ?
? Để ghi nhớ công ơn các nhà khoa học người ta đã làm gì ?
Qua quá trình giới thiệu các nhà Sinh vật học và phát minh của họ Giáo viên sẽ tácđộng đến sự say mê nguyên cứu khoa học của học sinh từ đó hướng học sinh đến cáckiến thức nội dung bài học
b.1.2 ) Giới thiệu các phát minh dựa trên kiến thức Sinh học liên quan đến bài học.
Đối với giải pháp này giáo viên giới thiệu hình ảnh dụng cụ, và đặt các hệ thống câuhỏi để kích thích học sinh húng thú trong học tập dưới dạng :
? Phát minh dùng để làm gì ?
? Phát minh dựa trên nguyên tắc Sinh học nào ?
Trang 10Qua việc giới thiệu các phát minh giúp học sinh tin vào việc vận dụng các kiến trongđời sống từ đó hình thành nên các ý tưởng sáng tạo, lòng hăng say nghiên cứu khoa họccủa học sinh.
Ví dụ 1 – Sinh học lớp 8:bài 14: Bạch cầu – Miễn dịch
Giáo viên giới thiệu về nhà khoa học
Louis Pasteur (27 tháng 12, 1822 - 28 tháng 9, 1895), nhà hóa học, nhà vi sinh
vật học người Pháp, với những phát hiện về các nguyên tắc của tiêm chủng, lên men visinh Ông thường được biết đến qua những nghiên cứu quan trọng về các nguyên nhân
và biện pháp chữa bệnh, và những khám phá đó của ông đã cứu sống vô số người kể từ
đó Ông giảm tỷ lệ tử vong ở người bị bệnh sốt sau đẻ, tạo ra loại vắc-xin đầu tiêncho bệnh dại và bệnh than Những nghiên cứu của ông góp phần hỗ trợ trực tiếpcholý thuyết mầm bệnh và các ứng dụng trong y học lâm sàng Cũng như nổi tiếngtrong việc phát minh ra kỹ thuật bảo quản sữa vàrượu để ngăn chặn vi khuẩn có hại xâmnhập, một quá trình mà bây giờ gọi là thanh trùng Ông được xem là một trong 3 ngườithiết lập nên lĩnh vực vi sinh vật học, cùng với Ferdinand Cohn và Robert Koch, vàđược gọi là "cha đẻ của vi sinh vật học"
Pasteur có vai trò lớn trong việc bác bỏ thuyết tự sinh, vốn in sâu trong tư tưởngcác nhà khoa học trước đó Ông đã thí nghiệm cho thấy rằng nếu không có tác động bênngoài, vi sinh vật không thể phát triển Ông chứng minh rằng trong bình tiệt trùng đượcđóng sẽ không có vi khuẩn phát triển nhưng khi mở thì vi khuẩn có thể phát triển Thí
nghiệm này giúp ông giành giải Alhumbert.
Tuy Pasteur không phải là người đầu tiên đề xuất lý thuyết mầm bệnh, ông đãphát triển nó và tiến hành các thí nghiệm cho thấy rõ tính đúng đắn của nó và thuyếtphục người dân Châu Âu tin rằng đó là sự thật
Trang 11Ví dụ 2 – Sinh học lớp 6:bài 7: Cấu tạo tế bào thực vật
Robert Hooke sinh ngày 18 tháng 7 năm 1935 tại một làng quê đảo Wright, gần bờ biểnphía Nam nước Anh
Năm 26 tuổi, Hooke cho xuất bản cuốn sách đầu tiên,
nghiên cứu về sức căng bề mặt Vào những năm giữa thế kỷ
17, tại châu Âu, nhiều nhà khoa học có xu hướng chế tạo vàdùng các dụng cụ quang học để nghiên cứu thiên nhiên, Hookecũng là một trong số những người đóng góp cho xu hướng đóphát triển Sau 4 năm làm việc, ông công bố kết quả nghiên
cứu trong cuốn sách nổi tiếng “Hình ảnh vi thể” Trong cuốn
sách, ông ghi chú đầy đủ các phương thức tiến hành nghiên
cứu: “ Tôi chọn một căn phòng nhỏ, chỉ có một cửa sổ duy
nhất hướng về phía Nam Cách cửa sổ khoảng một mét, tôi kê chiếc bàn có đặt kính hiển vi để nghiên cứu Tôi phải sử dụng một quả cầu bằng thủy tinh hoặc một thấu kính 2 mặt (phẳng và lồi), mặt lồi hướng về phía cửa sổ để thu hút được nhiều ánh sáng tạo nên nguồn chiếu, rồi tôi đặt giữa nguồn sáng và vật quan sát một mảnh giấy dầu, một kính lúp có độ phóng đại cực lớn để tập trung thật nhiều ánh sáng đi qua giấy dầu và chiếu trên vật thể, nhưng cũng phải chú ý ước lượng sao cho tờ giấy dầu khỏi bị quá nóng có thể bốc cháy ”.
b.2) Giao việc cho học sinh bằng các phiếu hướng dẫn về nhà:
b.2.1 ) Thực hiện các thí nghiệm ở nhà bằng dụng cụ mình tự chế.
Ví dụ 1 - Sinh lớp 6: Sau khi thực hiện nội dung bài học : “Bài 35 : Những điều
kiện cần cho hạt nảy mầm” Giáo viên chuẩn bị sẳn phần hướng dẫn vế nhà và yêu cầuhọc sinh tiến hành thực hành theo hường dẫn trong Sgk
Sau khi hoàn thành nội dung học kì 1, giáo viên chọn kiến thức một số bài: Bài
11: Sự hút nước và muối khoáng của rễ; bài 17: Vận chuyển các chất trong thân; bài 21:Quang hợp; bài 22: Ảnh hưởng các điều kiện bên ngoài đến quang hợp
Giáo viên định hướng cho học sinh trải nghiệm sáng tạo theo tên đề tài “ Xử lý nước
ở ao nuôi cá trong mô hình VAC bằng hệ thống trồng rau thủy canh”
Chuẩn bị :
- Ống nhựa phi 60 khoang lỗ dường kính 40cm
- Bể nuôi cá 30l