KINH NGHIỆM KHOA HỌC - Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Hoá học Số năm có kinh nghiệm: 9 - Các sáng kiến đã có trong 5 năm gần đây: + Sử dụng phần mềm Microsoft Powerpoint thiết kế
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VĨNH CỬU
Mã số: (Do HĐTĐSK Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN VẬN DỤNG LINH HOẠT ỨNG DỤNG KHOA HỌC KĨ THUẬT
VÀO BÀI GIẢNG HOÁ 10 HỌC KÌ I
Người thực hiện: NGUYỄN VĂN ĐOÀN
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: HOÁ HỌC
(Ghi rõ tên bộ môn)
- Lĩnh vực khác:
(Ghi rõ tên lĩnh vực)
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in sáng kiến
Mô hình Đĩa CD (DVD) Phim ảnh Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
Năm học:
BM 01-Bia SK
Trang 2SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
––––––––––––––––––
I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Nguyễn Văn Đoàn
2. Ngày tháng năm sinh: 09/12/1985
8. Nhiệm vụ được giao (quản lý, đoàn thể, công việc hành chính, công việc chuyên
môn, giảng dạy môn, lớp, chủ nhiệm lớp,…):
Giảng dạy môn hoá lớp 10A6, 10A7, 10A12, 12A5, 12A9, chủ nhiệm lớp 10A12 và uỷ viên BCH Công đoàn trường THPT Vĩnh Cửu
9. Đơn vị công tác: Trường THPT Vĩnh Cửu
II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Thạc sĩ
- Năm nhận bằng: 2013
- Chuyên ngành đào tạo: Hoá vô cơ và ứng dụng
III KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Hoá học
Số năm có kinh nghiệm: 9
- Các sáng kiến đã có trong 5 năm gần đây:
+ Sử dụng phần mềm Microsoft Powerpoint thiết kế bài giảng hỗ trợ việc dạy học một số tiết thực hành hóa học trung học phổ thông ban cơ bản
+ Giảng dạy phản ứng oxi hoá-khử phần vô cơ theo hướng dạy học tích cực
+ Hướng dẫn học sinh học hóa hữu cơ lớp 11 ban cơ bản thông qua bài tập nhiều cách giải
+ Dạy học hợp tác nhóm nhỏ, chương nitơ – photpho ban cơ bản trường THPT Vĩnh Cửu
BM02-LLKHSK
Trang 3Tên sáng kiến: VẬN DỤNG LINH HOẠT ỨNG DỤNG THỰC TẾ
KHOA HỌC KĨ THUẬT VÀO BÀI GIẢNG HOÁ 10 HỌC KÌ I
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc hình thành và phát triển trí dục cho học sinh Thông qua việc học hoá học là để hiểu, để giải thích được các vấn đề thực tiễn dựa trên cơ sở cấu tạo
nguyên tử, phân tử, sự chuyển hoá của các chất bằng các phương trình phản ứng hoá học Đồng thời là khởi nguồn, là cơ sở phát huy tính sáng tạo ra những ứng dụng phục vụ trong đời sống của con người Hoá học góp phần giải tỏa, xoá bỏ hiểu biết sai lệch làm phương hại đến đời sống, tinh thần của con người
Nhưng thực tế, đối với những giờ học Hóa hiện nay thì việc phát huy tối đa mục đích trên lại rất hạn chế Học sinh chỉ được tiếp thu những lí thuyết, khái niệm, định luật… khô cứng Đặc biệt là học sinh THPT khối 10, khi mà các em có mới bắt đầu làm quen chương trình hoá học cấp 3 Hứng thú học tập là một khái niệm “ xa xỉ” đối với các em Hơn thế nữa, trong những năm gần đây, khi các môn học có xu hướng chú trọng liên hệ khoa học kĩ thuật thực tế, các đề thi Hóa học thường có những câu hỏi thực tiễn dưới hình thức là câu hỏi “ vận dụng ở mức độ cao” Học sinh bắt đầu lúng túng, thường xuyên không giải quyết được những câu hỏi này Từ đó, ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của việc giảng dạy, xa rời mục đíchban đầu của bộ môn Hóa học đặt ra
Để nâng cao khả năng tiếp thu, tính chủ động, sáng tạo trong học tập môn Hóa học của học sinh, giáo viên giảng dạy cũng đã sử dụng thường xuyên các phương pháp dạy học tích cực như thảo luận nhóm, nêu vấn đề, Tuy nhiên, việc gắn liền các kiến thức thực tế bộ môn vào các bài giảng hàng ngày trong giảng dạy Hóa học lại ít được chú trọng, đúng hơn là lãng quên
Khoa học kĩ thuật ngày ngày càng phát triển, nên nắm được kiến thức
khoa học kĩ thuật trong thực tiễn và áp dụng vào bài học thì đem lại hứng thú cho học sinh Thông qua việc thể hiện kiến thức khoa học kĩ thuật mà các em biết thì làm cho các em tự tin hơn trong việc chinh phục các kiến thức cao hơn
Xuất phát từ những thực tế đó và với kinh nghiệm trong giảng dạy bộ mônhóa học, tôi nhận thấy để nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn Hóa học mà cụ thể
là tăng hứng thú học tập cho học sinh, người giáo viên ngoài phát huy tốt các phương pháp dạy học tích cực cần khai thác thêm các kiến thức khoa học kĩ
thuật trong đời sống đưa vào bài giảng bằng nhiều hình thức khác nhau Đó là lí
do tôi chọn để tài: VẬN DỤNG LINH HOẠT ỨNG DỤNG THỰC TẾ
KHOA HỌC KĨ THUẬT VÀO BÀI GIẢNG HOÁ 10, HỌC KÌ I
BM03-TMSK
Trang 4II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Về cơ sở lý luận:
a) Khái niệm:
Khoa học kỹ thuật là các ngành khoa học liên quan tới việc phát triển kỹthuật và thiết kế các sản phẩm trong đó có ứng dụng các kiến thức khoa học tựnhiên Các ngành khoa học kỹ thuật cổ điển bao gồm khoa học kỹ thuật xâydựng (bao gồm cả khoa học trắc địa), khoa học chế tạo máy và khoa học điện tử.Các ngành khoa học kỹ thuật mới bao gồm kỹ thuật an toàn, kỹ thuật công trìnhnhà, hóa kỹ thuật và vi kỹ thuật
Nền tảng của khoa học kĩ thuật: Các cơ sở khoa học (kỹ thuật) nền tảng chocác khoa học kỹ thuật bao gồm đặc biệt là toán học, vật lý học, cũng có thể là hóahọc (ví dụ trong lĩnh vự khoa học vật liệu và khoa học vật liệu xây dựng) hoặc
là địa chất học (trong phạm vi ngành khoa học kỹ thuật xây dựng) Trong ngànhnày cơ học (với các phân ngành tĩnh học, động lực học và động học) đóng vai tròđặc biệt quan trọng Cho ngành chế tạo máy là động lực học và cho ngành điện tử
là kỹ thuật điện tử Ngoài các cơ sở kể trên thì các ngành cơ sở hướng - pháp như lý thuyết thiết kế hoặc các cơ sở bổ sung khác như kinh tế quản trị và tinhọc hoàn thiện nền tảng cho các khoa học kỹ thuật
phương-b) Vai trò của việc đưa kiến thức ứng dụng thực tiễn khoa học kĩ thuật vào bài giảng trong quá trình dạy học hóa học phổ thông
Có thể nói rằng, việc đưa kiến thức thực tiễn khoa học kĩ thuật vào bài giảng
là một điều cần thiết phải có trong quá trình dạy học
- Nó sẽ kích thích, lôi cuốn và gây hứng thú cho học sinh Khi đã tạo chomình một sự cuốn hút, thích thú học sinh sẽ hết sức say sưa, tự giác tìm tòi và luônsáng tạo trong lĩnh hội tri thức Nhờ đó học sinh đạt kết quả cao trong học tập
- Khơi dậy niềm thích thú học tập, ham hiểu biết, dẫn tới sự học tập chủ động,sáng tạo của học sinh Qua đó, kết quả học tập được nâng cao, trọng tâm của quátrình dạy học sẽ di chuyển về phíùa học sinh
- Tạo ra sự tập trung, chú ý cao độ và nhất là những tiết học thứ 4-5, lúc đócác em học sinh đã mệt mỏi vì lượng kiến thức phải tiếp thu ở những tiết họctrước Nếu một tiết học nhàm chán, không tạo sự chú ý lôi cuốn trong bài giảng thìhiệu quả của quá trình dạy học sẽ rất thấp, bởi: “chỉ có hứng thú với một hoạt độngnào đó mới đảm bảo cho họat động ấy được tích cực”
- Làm cho việc học tập trở nên lý thú, không đơn điệu nhàm chán, đồng thờikích thích tính tích cực hoạt động nhận thức của học sinh
→ Bất kỳ một môn học nào cũng có sẵn những khả năng to lớn để khơi gợi
và phát huy hứng thú học tập ở học sinh Và thật sự bản thân môn Hóa Học rất lôicuốn, điều quan trọng là người giáo viên phải biết cách hé mở nó, làm sao để các
em tự cảm nhận được vẻ đẹp kỳ bí, hấp dẫn của nó trong mỗi nội dung bài học
Trang 5Cái mới mẻ, kỳ thú bao giờ cũng gây hứng thú cao độ bởi nó kích thích trítưởng nơi trẻ, giúp học sinh yêu thích môn học hơn Từ đó tăng hiệu quả của việcdạy và học Hóa trong trường THPT.
2 Về cơ sở thực tiễn: Tình trạng dạy học hóa học có liên hệ thực tiễn khoa học kĩ thuật ở các trường phổ thông trong những năm gần đây
Thực trạng cho thấy giáo viên ít liên hệ kiến thức kĩ thuật hóa học với thực tế Do cách thi cử có ảnh hưởng quan trọng tới cách dạy vì trong các kì kiểm tra, kì thi không yêu cầu có nhiều câu hỏi có nội dung gắn với thực tiễn
Do vậy, đa số giáo viên chỉ đưa những kiến thức kĩ thuật hóa học thực tiễn vào các hoạt động ngoại khóa, còn những tiết học truyền thụ kiến thức mới thì ít đưa vào hoặc tiết luyện tập, ôn tập, tổng kết chuẩn bị cho các kì kiểm tra thì giáo viên chỉ tập trung các kĩ năng khác có nội dung thuần túy hóa học để có thể đáp ứng được yêu cầu của bài kiểm tra
- Thời gian dành cho tiết học không nhiều do đó giáo viên không có cơ hội đưa những kiến thức thực tế vào bài học
- Năng lực vận dụng kiến thức hoá học để giải thích những tình huống xảy ra trong thực tế của học sinh còn hạn chế
- Vốn hiểu biết thực tế của học sinh về các hiện tượng có liên quan đến hóa học trong đời sống hàng ngày còn ít
Do đó, người giáo viên phải biết vận dụng linh hoạt kiến thức khoa học kĩ thuậtvào trong bài học, điển hình là lớp 10 khi học sinh tiếp xúc với các kiến thức khoahọc hoá học nền tảng cơ bản
Trang 6III TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP (ĐỀ XUẤT)
1 Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh học tập theo hướng tích hợp
Hiện nay, với sự phát triển về mọi mặt đòi hỏi tính toàn diện nên chương trình đào tạo cũng hướng tới mục đích liên kết, kết hợp các môn học thuộc cùng lĩnh vực lại với nhau Thông qua một bài học hóa học, chúng ta nên và cần làm rõcho học sinh thấy được mối quan hệ hữu cơ của các lĩnh vực không những hóa học mà còn giữa các ngành khoa học khác như: sinh học, vật lí, toán học…
Khi dạy kiến thức hóa học bất kể từ lĩnh vực nào: cấu tạo nguyên tử thì đềuliên quan đến kiến thức vật lí hay nhiều hiện tượng thiên nhiên, nên khi sử dụng những câu hỏi mở rộng theo hướng tích hợp sẽ làm cho học sinh chủ độngtìm tòi câu trả lời, đồng thời thấy được sự liên hệ giữa các môn học với nhau
Ví dụ: Khi học vật lí, học sinh được giáo viên trình bày cho khái niệm
dòng điện: Dòng điện là dòng chuyển dịch có hướng của các hạt mang điện
Trong các mạch điện, dòng điện tạo ra do sự chuyển dịch của các electron dọc theo dây dẫn Ngoài ra, hạt mang điện cũng có thể là các ion hoặc chất điện ly Trong dời sống con người sử dụng điện vào các mục đích khác nhau Vậy khi học
về ion và electron thì học sinh càng hiểu hơn về hạt mang điện là gì, tại sao lại
có hạt mang điện, cách thức để tác động tạo thành hạt mang điện
2 Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh cách thiết lập sự liên hệ các nội dung học với thực tiễn khoa học kĩ thuật
Học sinh thấy hứng thú và dễ ghi nhớ bài hơn nếu trong quá trình dạy và học giáo viên luôn có định hướng liên hệ thực tế giữa các kiến thức sách giáo khoa với thực tiễn đời sống hàng ngày Rất nhiều kiến thức hóa học có thể liên
hệ được với các hiện tượng tự nhiên xung quanh chúng ta
Ví dụ: Vì sao sau cơn mưa có sấm sét thì không khí trong lành hơn ?
Vì trong cơn mưa có sấm sét O nguyên tử trong thành phần của ozon, có tính oxi hoá mạnh hơn, có khả năng oxi hoá các bụi bẩn và làm cho không khí trong lành hơn.
3 Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh thông qua các tình huống giả định bằng các hiện tượng thực tiễn
Trong quá trình dạy học nếu ta chỉ áp dụng một kiểu dạy thì học sinh sẽ nhàm chán Giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp dạy học lồng ghép vào nhau, trong đó hình thức giảng dạy bằng cách đưa ra các tình huống giả định kèm vào các phương pháp dạy để học sinh tranh luận vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh vừa tạo được môi trường thoải mái để các em trao đổi từ đó giúp học sinh thêm yêu thích môn học hơn
Ví dụ: Vì sao trong thực tế người ta dùng bình sịt phun sương để tưới cây
hay máy phun sương để làm mát không khí ?
Giải thích: Các phân tử chất khi phun sương thì kích thước nhở cỡ micro
và nano nên cây xanh hấp thu hiệu quả hơ, hay phun sương làm cho không khí mát hơn do nhiệt độ môi trường được hấp thụ hiều quả hơn.
Trang 7Tình huống mang tính thách đố như vậy sẽ kích thích học sinh học tập và thi đua nhau tìm câu trả lời Các em sẽ nhớ kiến thức lâu hơn.
4 Một số tình huống để áp dụng thực tiễn khoa học kĩ thuật vào bài học
a) Đặt tình huống dẫn vào bài
Tiết dạy có thành công hay không nhờ vào người hướng dẫn (giáo viên) rấtnhiều Trong đó phần mở đầu đặc biệt quan trọng, nếu ta biết đặt ra một tình huống thực tiễn hoặc một tình huống giả định yêu cầu học sinh cùng tìm hiểu, giải thích qua bài học sẽ lôi hút được sự chú ý của học sinh
b) Liên hệ thực tế trong bài dạy
Khi học xong vấn đề gì học sinh thấy có ứng dụng thực tiễn cho cuộc sống thì các em sẽ chú ý hơn, tìm tòi, chủ động tư duy để tìm hiểu, để nhớ hơn Do
đó mỗi bài học giáo viên đưa ra được một số ứng dụng thực tiễn sẽ lôi cuốn được
sự chú ý của học sinh
Tuy nhiên, giáo viên phải biết lựa chọn cách giải thích cho phù hợp, nếu học sinh tỏ ra tìm tòi hơn chúng ta có thể khích lệ, mở ra hướng giáo dục vai trò quan trọng của bộ môn mà các em sẽ được tìm hiểu ở các cấp cao hơn
5 Một số ứng dụng khoa học kĩ thuật ứng dụng trong hoá học lớp 10 học kì I
Do trong CO2, nguyên tử C đã có số oxi hoá cao nhất là +4 rồi Trong COnguyên tử C mới có số oxi hoá +2, khi tác dụng với O2 nó tăng lên +4
Áp dụng: Có thể ứng dụng giải thích cho sự biến đổi số oxi hoá khi tác
động yếu tố nhiệt độ (Bài Oxi hoá khử chương 4 lớp 10)
Câu 2: Vì sao dùng đồ dùng bằng bạc đựng thức ăn, thức ăn lâu bị ôi ?
Khi bạc gặp nước sẽ có một lượng rất nhỏ đi vào nước thành ion Ion bạc cótác dụng diệt khuẩn rất mạnh Chỉ cần
Câu 3: pH và sự sâu răng liên quan với nhau như thế nào ?
Răng được bảo vệ bởi lớp men cứng, dày khoảng 2mm Lớp men này là hợpchất Ca5(PO4)3OH và được tạo thành bằng phản ứng :
Quá trình tạo lớp men này là sự bảo vệ tự nhiên của con người chống lạibệnh sâu răng
Trang 8Sau bữa ăn, vi khuẩn trong miệng tấn công các thức ăn còn lưu lại trên răngtạo thành các axit hữu cơ như axit axetic, axit lactic Thức ăn với hàm lượngđường cao tạo điều kiện tốt nhất cho việc sản sinh ra các axit đó.
Lượng axit trong miệng tăng, pH giảm, làm cho phản ứng sau xảy ra:
O H OH
F)PO(CaF
PO3Ca
4 2
Hợp chất Ca5(PO4)3 F là men răng thay thế một phần Ca5(PO4)3OH
Trước đây, ở nước ta một số người có thói quen ăn trầu là tốt cho việc tạomen răng theo phản ứng (1), vì trong miếng trầu có vôi tôi Ca(OH)2, chứa Ca2+ và
OH- làm cho cân bằng (1) chuyển dịch theo chiều thuận
Áp dụng: Khi trình bày cho học sinh khái niệm ion đơn nguyên tử và ion đa
nguyên tử (bài Liên kết ion)
Câu 4: Có phải hợp chất chứa kim loại dùng chuẩn đoán và chữa bệnh bằng tia phóng xạ.
Trong y học hạt nhân người ta chuẩn đoán bệnh bằng cách đưa một hạt nhânbức xạ vào cơ thể, sau đó dùng một máy dò để ghi nhận sự phân bố của đồng vịphóng xạ để xác định vị trí mang bệnh và trạng thái của nó Hạt nhân phóng xạ hayđược sử dụng nhất là tecnixi Tính ưu việt của nó là ở chỗ nó phát ra photon thuần nhất thuận lợi cho việc ghi nhận mà không bị nhiễu bởi các tia và có hại.Chu kỳ bán huỷ của nó là 6 giờ vừa đủ để ghi nhận mà bệnh nhân không phải chịubức xạ quá lâu Mặt khác tecnexi được sản xuất khá dễ dàng trong các lò phản ứnghạt nhân nên tương đối rẻ và dễ kiếm Nhiều chế phẩm y học phóng xạ của tecnexiđược điều chế từ sau năm 1980 đã được xác định cấu tạo khá tỉ mỉ và dùng đểchuẩn đoán bệnh tim hay xác định bệnh não v.v Một trong những thành công gầnđây là điều chế được progestin chứa tecnexi đánh dấu để chuẩn đoán ung thư vú
Các ion kim loại có giá trị lớn trong y học nhờ tính thuận từ Cộng hưởngthuận từ là phương pháp chuẩn đoán quan trọng dựa trên sự khác nhau về tốc độhồi chuyển proton của nước trong các mô khác nhau và chuyển các sự khác nhaunày thành những thông tin cần thiết giúp chuẩn đoán bệnh
Áp dụng: Trình bày cho học sinh ứng dụng của tia phóng xạ trong nghiên
cứu nguyên tử và trong cuộc sống (bài Thành phần nguyên tử)
Câu 5: Chất lượng nước ở các nguồn khác nhau như thế nào?
Nước bay hơi tích tụ trong khí quyền là khá sạch Khi trở về trái đất dướidạng mưa hoặc tuyết rồi di chuyển trên mặt đất hoặc ngấm qua đất về phía biển,
Trang 9nước sẽ có thêm tạp chất mà nồng độ và bản chất khác nhau tuỳ vùng, và tuỳ giaiđoạn của chu trình.
Nước mưa.
Tuy khá tinh khiết nhưng nước mưa vẫn chứa các khí, một số muối tan và cảnhững chất rắn không tan có thể có trong khí quyển
Nước trên mặt đất (sông suối)
Nước mưa chảy trên mặt đất có thể chứa axít vì ngoài việc đã hấp thụ một sốkhí có tính axít trong khí quyển (như SO2, CO2) nó còn hoà tan các axít cacboxylic
và cacbon đioxit sinh ra do quá trình phân huỷ thực vật Ngoài ra nó còn hoà tanđược các muối khoáng gặp trên dòng chảy Nước axít này sẽ hoà tan được cácmuối và khoáng gặp trên dòng chảy Nước axit này sẽ hoà tan được một số quặngtheo phản ứng sau:
KAlSi3O8(r) + 2H+(aq) + 9H2O(1) 2K+(aq) + 4H4SiO4(aq) + Al2Si2O5(OH)4(r)
Do vậy nước mất dần tính axit
Nước trên mặt đất còn có thể bị ô nhiễm bởi vi sinh vật nữa
Nước biển:
Nồng độ các ion tan trong nước biển lớn hơn nhiều so với nước trên mặt đất
và nước ngầm:
Các nguyên nhân là:
- Nước biển bay hơi liên tục, trở lại dưới dạng mưa và mang theo chất tan
- Nước đi càng xa mới đến biển sẽ càng hoà tan nhiều muối
- Những lượng lớn quặng được đưa từ bề mặt quả đất tới các đại dương dướidạng macma
Mọi nguyên tố hoá học đều có trong các đại dương nên đại dương được coinhư một kho quặng lớn nhất thế giới Nước đại dương chứa khoảng 40 triệu tấnchất rắn tan trong mỗi kilômet khối nước
Trang 10Silic 3.400 Niken 2 Scanđi 0,05
Áp dụng: Sử dụng trong phần giới thiệu vào bài Bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học.
Câu 6: Cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của pin mặt trời thế nào?
Người ta dùng chất liệu là những tế bào silic để làm pin mặt trời (pin quanghọc) Từ một tinh thể silic, người ta cắt ra thành phiến nhỏ, phiến này có tính dẫnđiện N (âm) Trên bề mặt có dán lớp tạp chất Bo (B) có tính dẫn điện P (dương).Giữa P - N có lớp phân cách mỏng Trên bề mặt hai lớp P - N được gắn điện cựcdẫn điện ra ngoài
Nguyên tắc hoạt động: Lớp P có những lỗ rất nhỏ để ánh sáng chiếu tới lớp
N Các tia nắng cung cấp năng lượng vào lớp N khiến vô số electron tách ra khỏinguyên tử lớp silic khuyếch tán và tích tụ ở điện cực ( - ) hình thành điện tích âm.Còn lớp P do tác dụng của ánh sáng luôn tạo thêm những điện tích dương và tích
tụ ở bản cực ( + ) Nếu khép 2 mạch điện cực sẽ có dòng điện
Áp dụng: Sự kích thích electron di chuyển trong cấu hình electron của
nguyên tử sẽ phát sinh ra dòng điện (bài Cấu hình electron phần ứng dụng)
Câu 7: Viên kim cương lớn nhất ngân hà nằm ở đâu ?
Các nhà thiên văn Mỹ vừa phát hiện ra một ngôi sao kim cương có đườngkính 1500 km, cách Trái Đất khoảng 50 năm ánh sáng được gọi là “Lucy”
Lucy hay BPM37093 có lõi đặc, nóng của một ngôi sao cổ đã từng chiếusáng giống như mặt trời Tuy nhiên, ngôi sao cổ này đã nguội, và co lại Các nhàthiên văn thường gọi nó là: “Sao lùn trắng” Gần đây các nhà thiên văn phát hiện rarằng: các vì sao không chỉ toả sáng mà còn “ngân vang” giống như một chiếcchuông khổng lồ Đo những rung động này, người ta có thể nghiên cứu thành phầnbên trong của Lucy Từ đó, họ phát hiện ra rằng cacbon bên trong Lucy đã cứng lạitạo nên khối kim cương lớn nhất ngân hà
Từ đó, các nhà khoa học đã phỏng đoán rằng, Mặt Trời của chúng ta, khi tànlụi trong vòng 5 tỉ năm nữa sẽ kết tinh tạo ra viên kim cương khổng lồ ở trung tâmThái dương hệ
Metcalfe nói: “Mặt Trời của chúng ta sẽ trở thành một viên kim cương vĩnhhằng”
Áp dụng: Phần mở rộng khái niệm tinh thể nguyên tử trong bài Tinh Thể
Trang 11Câu 8: Thế nào là bom hiđrô (bom khinh khí ) ?
Năng lượng của bom hiđro (bom H) không phải sinh ra từ sự phân rã hạtnhân của các nguyên tử nặng như bom nguyên tử (bom A) mà là từ sự tổng hợp hạtnhân của các nguyên tử nhẹ: Hiđro
Sự giải phóng năng lượng khổng lồ của bom H được sinh ra từ phản ứngnhiệt hạch:
2
1
2 H––––> 4
2He(Đơteri) (Heli)
Sự tổng hợp hạt nhân này diễn ra với sự mất đi của vật chất, nó chuyển hoáthành năng lượng trong một phần nhỏ của giây Do vậy mà sinh ra sự nổ
Để cho phản ứng tổng hợp hạt nhân xảy ra, cần phải có nhiệt độ rất cao domột quả bom A nhỏ tạo ra để châm mồi cho quả bom H
Áp dụng: Ứng dụng kĩ thuật đồng vị trong lò phản ứng hạt nhân, sử dụng
trong phần Đồng vị
Anhyđrit cacbonic (thường gọi là khí cacbonic) ở điều kiện thường là khíkhông màu, nặng hơn không khí (tỉ khối so với không khí là44 1,51
29 ) Người tathường nén khí cacbonic để nó hoà tan nhiều trong các nước giải khát, như bia,coca cola tạo ra loại nước có ga
Khí cacbonic ở điều kiện 400C và nén dưới áp suất 197,4 atmotphe thìchuyển thành dạng lỏng
Cacbonic lỏng là một loại dung môi siêu đẳng vì dung môi này không độc sovới các loại dung môi hữu cơ khác, giá rẻ và không sợ cháy, nổ
Dung môi cacbonic được dùng rộng rãi trong công nghiệp thực phẩm nhưtách cafein trong cafe hoặc chiết hublôn trong hoa hublôn dùng trong công nghiệpsản xuất bia Người ta cũng dùng CO2 lỏng để chiết chất béo trong các hạt có dầu
Các chất được chiết trong các thiết bị chịu áp, sau đó đưa ra ngoài, ở áp suấtthường thì dung môi bay hơi hết chất còn lại là cafein, cao hublon, dầu béo v.v
Ở Mỹ người ta đã thử dùng CO2 lỏng để khử các chất hữu cơ làm ô nhiễmđất Ngay thuốc trừ sâu DDT không bị phân huỷ khi lưu trong đất cũng đượccacbonic lỏng chiết ra
Ngày nay, cacbonic lỏng được dùng nhiều trong ngành công nghiệp sơn.Đầu tiên nó được làm dung môi để làm sạch bề mặt vật liệu cần sơn, chủ yếu là tẩysạch các chất béo
Cacbonic lỏng được dùng làm dung môi sơn nhờ một thiết bị chuyên dùng
có khả năng điều tiết quá trình sơn Sơn tương ứng với loại dung môi đặc biệt này
là sơn bột hoặc sơn nước