Vì vậy, để giúp học sinh hiểu, nắm vững các kĩ năng và kiến thức địa lítrong dạy học Địa lí giáo viên cần đặc biệt coi trọng các vấn đề sau: Hình thành cho học sinh hệ thống các biểu tượ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG PT DÂN TỘC NỘI TRÚ LIÊN HUYỆN
TÂN PHÚ – ĐỊNH QUÁN
Mã số: ………
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH RÈN KỸ NĂNG HỌC TỐT MÔN
ĐỊA LÍ BẬC TRUNG HỌC CƠ SƠ
Người thực hiện: Nguyễn Hồng Hải
Có đinh kèm
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2016 - 2017
Trang 2SƠ YẾU LÍ LỊCH
I/- THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1 Họ và tên: Nguyễn Hồng Hải
2 Ngày tháng năm sinh: 01/05/1979
3 Giới tính: Nam
4 Địa chỉ: Trường PTDTNT liên huyện Tân Phú Định Quán
5 Điện thoại: Cơ quan: 0613 856 483; Di động 01234 789 776
6 E-mail: Haisam@gmail com
7 Chức vụ : Giáo viên
8 Đơn vị công tác : Trường PTDTNT liên huyện Tân Phú Định Quán
II/- TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao nhất) cao nhất : Thạc sỹ
Năm nhận bằng : 2016
Chuyên ngành đào tạo : Địa lí học
III/- KINH NGHIỆM KHOA HỌC
Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy môn Địa lí
Số năm kinh nghiệm: 16 năm
Các sáng kiến kinh nghiệm có trong 5 năm gần đây:
* Nâng cao hiệu quả giảng dạy một tiết Địa lí 7 (năm 2012)
* Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Địa lí (năm 2013)
* Nâng cao hiệu quả giảng dạy Địa lí 7 bằng kênh hình ( năm 2014)
* Ứng dụng CNTT vào soạn giảng môn Địa lí 7 (năm 2015)
Trang 3MỤC LỤC
7 PHỤ LỤC 27
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: “HƯỚNG DẪN HỌC SINH RÈN
KỸ NĂNG HỌC TỐT MÔN ĐỊA LÍ BẬC THCS”
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
ã hội luôn luôn vận động và phát triển, tư duy của loài người không mộtgiây phút “ngủ yên” sự thăng tiến của loài người từ xưa tới nay đã chứngminh điều đó Chính vì vậy, mở rộng tri thức là việc làm cấp bách đối với tất cảmọi người và đặc biệt quan trọng hơn đối với thế hệ trẻ mà điển hình là các emhọc sinh Điều đó lại càng quan trọng và cấp bách hơn bao giờ hết khi chúng ta đã
và đang đặt chân bước lên bậc thềm thế kỉ XXI và toàn cầu hoá thị trường thế giới.Thế nhưng trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh với sự bùng nổ thông tin,khoa học kĩ thuật công nghệ phát triển như vũ bão, thì không thể nhồi nhét vàođầu óc trẻ khối lượng kiến thức càng nhiều Nếu cứ tiếp tục dạy và học (D&H) thụđộng như thế, giáo dục sẽ không đáp ứng được nhu cầu mới của xã hội Sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu trêncon đường tiến vào thế kỉ XXI bằng cạnh tranh trí tuệ đang đòi hỏi đổi mới giáodục, trong đó có sự đổi mới về căn bản dạy và học Đây không phải là vấn đề riêngcủa nước ta mà là vấn đề quan trọng ở mọi quốc gia trong chiến lược phát triềnnguồn lực con người phục vụ mục tiêu kinh tế, xã hội
X
Chính vì thế những năm gần đây sau cải cách giáo dục ở trường phổ thông
đã dấy lên phong trào đổi mới phương pháp dạy và học nhằm phát huy tính tích
cực, chủ động, tư duy sáng tạo, độc lập trong học tập của học sinh, “lấy trò làm
trung tâm” Nhiều cuộc hội thảo đã xoay quanh vấn đề sử dung sách giáo khoa
mới như thế nào cho tốt, lựa chọn câu hỏi đàm thoại với học sinh ra sao? Sử dụngphương pháp giảng dạy theo chương trình đổi mới để phát triển năng lực tư duyqua các kênh hình, kênh chữ, sách giáo khoa cũng như đồ dùng dạy học ở mônĐịa lí như thế nào? Làm sao để học sinh khai thác, tiếp thu kiến thức mới về mônĐịa lí? Thì trước hết phải đổi mới phương pháp cho phù hợp, nhằm phát huy tínhtích cực, chủ động, tìm tòi khám phá gây hứng thú trong học tập cho học sinh quatừng tiết dạy
Trang 4Tất cả điều tôi trình bày trên đây là lí do, là động lực giúp tôi sử dụng
phương pháp mới vào quá trình dạy học Chính vì vậy tôi chọn đề tài “Hướng dẫn
học sinh rèn kỹ năng học tốt môn Địa li ở bậc THCS”.
2 CƠ SƠ LÝ LUẬN VÀ THƯC TIỄN:
2.1 Về cơ sở lý luận:
2.1.1.Khái niệm về kĩ năng Địa li:
Kĩ năng, kĩ xảo nói chung là phương thức thực hiện một hành động nào đó,thích hợp với mục đích và những điều kiện hành động Kĩ năng, kĩ xảo thực chất
là những hành động thực tiễn mà học sinh hoàn thành được một cách có ý thứctrên cơ sở những kiến thức Địa lí
Muốn có kĩ năng, kĩ xảo, trước hết học sinh phải có kiến thức và biết cáchvận dụng chúng vào thực tiễn
Kĩ năng được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ trở thành kĩ xảo
Kĩ năng hoàn thiện được hình thành sau khi đã có kĩ xảo Kĩ năng hoànthiện đòi hỏi ở học sinh kinh nghiệm và một mức độ sáng tạo nhất định trong hànhđộng
2.1.2 Đặc điểm môn Địa li:
Môn Địa lí trong nhà trường có khả năng bồi dưỡng cho học sinh một khốilượng kiến thức phong phú về địa lí tự nhiên, địa lí kinh tế - xã hội và những kĩnăng, kĩ xảo cần thiết trong cuộc sống, đặc biệt là kĩ năng bản đồ mà ít môn học đềcập tới Vì vậy, để giúp học sinh hiểu, nắm vững các kĩ năng và kiến thức địa lítrong dạy học Địa lí giáo viên cần đặc biệt coi trọng các vấn đề sau:
Hình thành cho học sinh hệ thống các biểu tượng, khái niệm địa lí, các mốiquan hệ địa lí, nhất là mối quan hệ nhân quả
Phát triển cho học sinh tư duy địa lí đó là tư duy liên hệ tổng hợp xét đoán dựa trên bản đồ
Tận dụng triệt để các thiết bị dạy học Địa lí như tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ,bảng thống kê, băng đĩa hình, trong đó quan trọng nhất là bản đồ Qua bản đồ, họcsinh dễ dàng có được các biểu tượng trong không gian đồng thời phát triển tư duyĐịa lí
Tăng cường hướng dẫn học sinh quan sát, thu thập thông tin, vận dụng kiếnthức, kĩ năng Địa lí để giải quyết vấn đề có liên quan trong cuộc sống
Trang 52.2 Cơ sở thực tiễn:
Từ trước đến nay, trong dạy học Địa lí, giáo viên chủ yếu sử dụng các
phương pháp dạy học như phương pháp dùng lời, phương pháp sử dụng cácphương tiện trực quan (mô hình, bản đồ, tranh ảnh, các loại biểu bảng…).Có thểnói một số không ít giáo viên có tâm huyết với nghề nghiệp, có hiểu biết sâu sắc
về bộ môn đã sử dụng các phương pháp này khá tốt, kích thích suy nghĩ, tìm tòi,
tự lực của học sinh Tuy nhiên, cũng không ít giáo viên còn ít quan tâm tới việcphát huy tính tích cực học tập của học sinh khi sử dụng các phương pháp dạy họcnói trên Có thể nhận thấy những nét chung của giáo viên hiện nay là vẫn sử dụngphương pháp cũ trong dạy học môn địa lí như:
Phương pháp dùng lời cho đến nay vẫn được coi là một trong những phươngpháp chính để chỉ đạo học sinh lĩnh hội kiến thức và kĩ năng địa lí, đặc biệt là khâunắm kiến thức mới Lời ở đây chủ yếu là lời của thầy để mô tả, giải thích các sựvật, hiện tượng địa lí, phân tích mối quan hệ giữa các hiện tượng, sự vật địa lí kếthợp với việc tổ chức học sinh quan sát khi sử dụng các đồ dùng trực quan Phươngpháp vấn đáp cũng là một trong những phương pháp dùng lời được sử dụng phổbiến hiện nay, trong đó thiên về vấn đáp tái hiện và vấn đáp giải thích minhhọa.Việc sử dụng các phương pháp dùng lời như vậy thực chất là giáo viên giảng -học sinh nghe, giáo viên ghi bảng - học sinh chép vào vở, giáo viên chỉ bản đồ -học sinh nhìn theo, giáo viên hỏi - học sinh trả lời Giáo viên chủ động truyền đạtmột cách rõ ràng, mạch lạc nội dung bài đã được chuẩn bị sẵn, trò thụ động tiếpthu và ghi nhớ những nội dung mà giáo viên truyền đạt, kết hợp trả lời câu hỏigiáo viên nêu ra
Phương pháp trực quan: Việc sử dụng các phương tiện trực quan cũng cònnhiều khiếm khuyết nên ít có tác dụng phát huy tính tích cực của học sinh Có thểnói các phương tiện dạy học của môn Địa lí có vai trò hết sức quan trọng vì đó là
“nguồn kiến thức Địa lí”, nhưng hiện nay đại đa số giáo viên Địa lí sử dụng cácphương tiện trực quan theo cách phân tích minh họa, ít chú ý đến vai trò là nguồnkiến thức của chúng và chưa chú ý đúng mức đến việc cho học sinh tự làm việcvới các phương tiện này Chính vì vậy, rất nhiều học sinh không biết đọc bản đồ,không biết khai thác các bảng số liệu…, nói chung kĩ năng Địa lí của học sinh cònyếu
Trong những năm qua, cùng với việc triển khai cải cách giáo dục, thực hiệnchuẩn kiến thức kỹ năng, tích hợp kỹ năng sống, tích hợp giáo dục bảo vệ môitrường, bảo vệ năng lượng Phương pháp dạy học Địa lí tuy đã có một số cải tiến,chú ý tới việc phát huy tính tích cực của học sinh trong quá trình tiếp thu kiến thứcbằng cách tăng cường hệ thống câu hỏi có yêu cầu phát triển tư duy, nhưng đó chỉ
là những câu hỏi do giáo viên nêu ra và giáo viên dẫn dắt đến đâu thì giải quyết
Trang 6đến đó Về mặt hình thức, các giờ học đó có vẻ sinh động vì học sinh tích cực hoạtđộng Song nếu theo quan niệm về học tập tích cực thì những giờ học như vậychưa thể nói rằng học sinh đã học tập một cách tích cực, bởi hoạt động của họcsinh ở đây mới chỉ là việc trả lời thụ động các câu hỏi của giáo viên chứ bản thânhọc sinh chưa có nhu cầu nhận thức, chưa chủ động tìm tòi, suy nghĩ và giải quyếtnhững vấn đề đặt ra trong bài học.
Nguyên nhân của những tồn tại trên đó là chưa có sự thống nhất về quanđiểm: Thế nào là đổi mới phương pháp dạy học Địa lí? Chưa có sự triển khai đồng
bộ trong các khâu: Bồi dưỡng giáo viên, đổi mới cách viết sách giáo khoa, sáchgiáo viên, cơ sở vật chất kỹ thuật, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá…trong đóchế độ thi cử còn chia ra các môn “chính phụ” là những trở ngại lớn Nhiều giáoviên chưa tâm huyết với nghề nghiệp, chưa đầu tư nhiều vào chuyên môn vì quanniệm môn Địa lí là môn phụ
Trang 73 TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ
3.1 GIẢI PHÁP 1: HƯỚNG DẪN HỌC SINH HỌC TẬP ĐỊA LÍ : 3.1.1 Hướng dẫn học sinh kĩ năng sử dụng các phương tiện và thiết bị dạy học:
Thiết bị và phương tiện dạy học phong phú, hiện đại, thực sự là công cụcho học sinh trong việc nghiên cứu khám phá kiến thức một cách nhanh chóng và
có hiệu quả nhất Do vậy, giáo viên cần tổ chức hướng dẫn học sinh tiến hành cáchoạt động học tập nhằm khai thác và lĩnh hội kiến thức với phương tiện dạy họcĐịa lí sau:
Đọc tên bản đồ để biết đối tượng địa lí thể hiện trên bản đồ là gì ?
Vi dụ: Bản đồ địa hình thì đối tượng thể hiện trên bản đồ chủ yếu là địa
hình ( các dạng địa hình và sự phân bố của chúng); bản đồ khí hậu thì đối tượngthể hiện chủ yếu của bản đồ sẽ là các yếu tố khí hậu ( Nhiệt độ, khí áp, gió, mưa )hoặc bản đồ công nghiệp thì đối tượng thể hiện chủ yếu sẽ là các trung tâm và cácngành công nghiệp
Đọc bảng chú giải để biết cách người ta thể hiện đối tượng đó trên bản đồ
như thế nào? Bằng các kí hiệu gì? Bằng các màu gì? Bởi các kí hiệu qui ước trên
bản đồ là những biểu trưng của các đối tượng, hiện tượng địa lí trong hiện thựckhách quan Vì vậy, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh biết thông qua những kíhiệu đó mà rút ra nhận xét về tính chất, đặc điểm của các đối tượng địa lí được thểhiện trên bản đồ
Dựa vào các kí hiệu, màu sắc trên bản đồ để xác định vị trí của các đốitượng địa lí
Dựa vào bản đồ kết hợp với kiến thức địa lí, vận dụng các thao tác tư duy(so sánh, phân tích, tổng hợp) để phát hiện các mối liên hệ địa lí không thể hiệntrực tiếp trên bản đồ (đó là mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên, các yếu tố kinh
Trang 8tế với nhau ) nhằm giải thích sự phân bố cũng như đặc điểm các đối tượng, hiệntượng địa lí.
Vi dụ 1: Hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ lược đồ phân bố hoang mạc
trên thế giớ trong SGK Địa lí Lớp 7(Bài 19: Môi trường hoang mạc)
- Tên lược đồ : “Lược đồ phân bố hoang mạc trên thế giới”
- Cách thể hiện: Các hoang mạc trên lược đồ được thể hiện bằng màu vàng (Đối với vùng cực kì khô hạn), màu xanh lá mạ (Vùng khô hạn)
- Dựa vào màu sắc thể hiển trên lược đồ để xác định vị trí của các hoangmạc, các bán hoang mạc nằm dọc hai bên đường chí tuyến, ở sâu trong lục địahoặc gần các dòng biển lạnh
- Dựa vào lược đồ, kết hợp với các kiến thức đã học để xác lập mối quan hệgiữa các nhân tố : Vĩ độ địa lí, vị trí gần hay xa biển, các dòng biển lạnh với khíhậu từ đó giải thích vì sao các hoang mạc lại thường nằm dọc theo hai đường chítuyến, ở sâu trong lục địa
3.1.3 Biểu đồ:
Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh phân tích biểu đồ theo các bước:
- Đọc tiêu đề phía trên hoặc phía dưới biểu đồ, xem biểu đồ thể hiện, hiệntượng gì ? (khí hậu, cơ cấu kinh tế, phát triển dân số )
- Tìm hiểu xem các đại lượng thể hiện trên biểu đồ là gì?(nhiệt độ, lượngmưa, các ngành kinh tế, dân số ) trên lãnh thổ nào và thời gian nào, được thể hiện
ú c
Trang 9trên biểu đồ như thế nào? (theo đường, cột, hình quạt ) và trị số các đại lượngđược tính bằng gì ? (mm, %, triệu người ).
- Dựa vào các số liệu thống kê đã được trực quan hóa trên biểu đồ, đối
chiếu, so sánh chúng với nhau và rút ra nhận xét về các đối tượng và hiện tượngđịa lí được thể hiện
Vi dụ 2:
Khi dạy Bài 21:Thực hành: Phân tích biểu đồ nhiệt độ, lượng mưa (Lớp 6)
Bài tập 1: Phân tích biểu đồ nhiệt độ lượng mưa của Hà Nội (Hình
55-SGK/65)
- Tên biểu đồ: biểu đồ nhiệt độ lượng mưa của Hà Nội
- Các đại lượng được thể hiện trên biểu đồ là nhiệt độ và lượng mưa của HàNội qua các tháng trong năm Nhiệt độ được thể hiện bằng đường đồ thị, lượngmưa được thể hiện bằng hình cột Trị số của nhiệt độ được tính bằng (oC), lượngmưa được tính bằng ( mm)
Trang 10- Dựa vào đường đồ thị thể hiện nhiệt độ và các cột thể hiện lượng mưa của
Hà Nội có sự chênh lệch của các tháng trong năm Có tháng nhiệt độ cao
(tháng 7) có tháng nhiệt độ thấp (tháng 1), có tháng mưa nhiều (tháng 8), có thángmưa ít (tháng 12) Sự chênh lệch về nhiệt độ và lượng mưa giữa các tháng caonhất và thấp nhất tương đối lớn (về nhiệt độ chênh lệch nhau khoảng 12oC, vềlượng mưa chênh lệch nhau khoảng 280 mm)
3.2 GIẢI PHÁP 2: MÔ HÌNH TRỰC QUAN:
Ngoài bản đồ, mô hình trực quan là nguồn trí thức địa lý quan trọng có khảnăng phản ánh đối tượng địa lý một cách cụ thể mà không một phương tiện dạyhọc nào làm được Giúp cho học sinh khai thác củng cố kiến thức và tư duy trongquá trình học địa lý
3.2.1 Mô hình “Trái Đất quay xung quanh Mặt Trời”
- Nếu như không có mô hình Trái Đất quay xung quanh Mặt Trời thì giáoviên là người làm việc rất căng thẳng nhưng hiệu quả không cao Sử dụng mô hìnhgiúp học sinh hứng thú khám phá tìm tòi hơn
- Kết quả của cuộc thí nghiệm đã chứng minh cho học sinh thấy được TráiĐất chuyển động quanh Mặt Trời theo một quỹ đạo nhất định và khi chuyển độngquanh Mặt Trời, Trái Đất cũng tự chuyển động quanh trục để sinh ra ngày và đêm
- Nhờ sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh xác định được tại sao có năm,tháng, có các mùa: Xuân – hạ – thu – đông? Tại sao có mùa lạnh – mùa nóng? Tạisao có ngày – đêm dài ngắn khác nhau trên Trái Đất?
- Và qua mô hình này học sinh nhận thức được Mặt Trời không phải mọc ởđằng đông lặn ở đằng tây như các em đã nhầm
3.2.2 Mô hình Trái Đất trong hệ Mặt Trời
Trang 11- Với mô hình này, giáo viên giúp học sinh nhận biết được vị trí của Trái Đấttrong hệ Mặt Trời.
- Giáo viên cho học sinh quan sát các mô hình với yêu cầu:
+ Kể tên các hành tinh trong hệ Mặt Trời
+ Cho biết Trái Đất nằm ở vị trí thứ mấy trong các hành tinh theo thứ tự xadần Mặt Trời
=> Từ đó học sinh nhận biết được Trái Đất ở vị trí thứ ba trong số tám hành tinhtheo thứ tự xa dần Mặt Trời
3.2.3 Mô hình hệ thống sông và lưu vực sông
- Với mô hình này nhiệm vụ của người giáo viên là làm cho học sinh mô tảđược hệ thống sông qua mô hình để làm được điều này, giáo viên cần phải tiếnhành khai thác trên mô hình bằng phương pháp vấn đáp:
3.3 GIẢI PHÁP 3:TRANH ẢNH ĐỊA LÍ:
Việc khai thác kiến thức từ tranh ảnh địa lí được tiến hành theo các bước:
- Nêu lên các bức tranh (hoặc ảnh) nhằm xác định xem bức tranh hay bứcảnh đó thể hiện cái gì? (đối tượng địa lí nào?), ở đâu?
- Chỉ ra những đặc điểm, thuộc tính của các đối tượng địa lí được thể hiệntrên bức tranh (hoặc ảnh)
Trang 12- Nêu biểu tượng và khái niệm địa lí trên cơ sở những đặc điểm và thuộctính của nó.
Tuy nhiên, tranh ảnh chỉ có tác dụng giúp học sinh khai thác được một sốđặc điểm và thuộc tính nhất định về đối tượng Vì vậy, giáo viên cần gợi ý cho họcsinh dựa vào kiến thức địa lí đã học, kết hợp với bản đồ, biểu đồ, các tư liệu địa líkhác để giải thích đặc điểm, thuộc tính cũng như sự phân bố (vị trí) của đối tượngđịa lí được thể hiện trên bức tranh (hoặc ảnh) đó
Vi dụ 3:
Bài 21: Con người và môi
trường địa lí (Lớp 8)
Mục 2: Tranh Khu công
nghiệp luyện kim ở Đức.(Hình
21.3-SGK/75)
- Tên tranh: Tranh Khu công
nghiệp luyện kim ở Đức
- Đặc điểm khu công nghiệp thể hiện trên bức tranh: Một khu công nghiệpđược xây dựng bên bờ một con sông
- Biểu tượng và khái niệm về khu công nghiệp: Hệ thống ống khói san sát,khói bụi mù mịt, hệ thống nước thải đổ ra sông
- Dựa vào các đặc điểm đó để giải thích các hoạt động công nghiệp có ảnhhưởng tới môi trường địa lí như thế nào? (gây ô nhiễm môi trường, biện pháp khắcphục)
3.4 GIẢI PHÁP 4: BẢNG SỐ LIỆU:
Khi hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ các bảng số liệu thống kê(hoặc các số liệu riêng lẻ) Cần chú ý học sinh:
- Không bỏ sót số liệu nào
- Phân tích các số liệu tổng quát trước khi đi vào số liệu cụ thể
Vi dụ 4: Phân tích bảng số liệu (Bài 27: Thực hành: Kinh tế biển của Bắc
Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ-Lớp 9)
Trang 13Sản lượng thủy sản ở Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ năm 2002(Nghìn tấn).
- Câu hỏi đặt ra cho bảng số liệu
+ Vì sao có sự chênh lệch về sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thácgiữa hai vùng?
Trên cơ sở từng bước hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ bản đồ,tranh ảnh địa lí, giáo viên có thể vận dụng các bước này một cách linh hoạt khihướng dẫn học sinh khai thác kiến thức từ các phương tiện dạy học địa lí như quảđịa cầu, mô hình
3.5 GIẢI PHÁP 5: TỔ CHỨC HƯỚNG DẪN HỌC SINH THU THẬP, XỬ LÍ THÔNG TIN TRONG SGK:
Sách giáo khoa Địa lí mới được biên soạn theo tinh thần cung cấp các tìnhhuống, các thông tin đã được lựa chọn kĩ để giáo viên có thể tổ chức hướng dẫnhọc sinh thu thập, phân tích và xử lí thông tin Vì vậy, trong quá trình dạy học ởtrên lớp, giáo viên cần hướng dẫn học sinh thu thập, xử lí thông tin trong sách giáokhoa Địa lí
Vi dụ 5: Bài 13: Môi trường đới ôn hòa (Lớp 7).
Nội dung: Bài được thể hiện qua hai kênh chữ và kênh hình
Kênh hình trong bài gồm có:
+Lược đồ những yếu tố gây biến động thời tiết ở đới ôn hòa (Hình 13.1)
Trang 14+ Ba ảnh:
+ Ba biểu đồ khí hậu bên cạnh ba kiểu rừng
Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thu thập thông tin qua bài viết, tranh
ảnh, lược đồ để trả lời các câu hỏi trong bài và rút ra các kết luận về:
- Đặc điểm thời tiết bốn mùa và sự thay đổi quang cảnh thiên nhiên theo
mùa ở đới ôn hòa
- Sự đa dạng của môi trường đới ôn hòa (nhiều loại môi trường)
Trang 15- Mối quan hệ giữa chế độ nhiệt, mưa với các loại rừng ở đới ôn hòa.
Thông qua hoạt động thu thập, xử lí thông tin để khai thác lĩnh hội kiến thứchọc sinh sẽ có được phương pháp học tập, biết cách thu thập và xử lí thông tin từcác nguồn tài liệu khác, từ đó hình thành năng lực tự học
3.6 GIẢI PHÁP 6: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH THEO HÌNH THỨC HỌC TẬP KHÁC NHAU:
Để có thể tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, ngoài hình thức tổchức học tập tập trung theo lớp như hiện nay, nên tổ chức cho học sinh học tập cánhân và học tập theo nhóm ngay tại lớp
3.6.1 Hình thức học tập cá nhân.
Dạy học theo định hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh đòihỏi có sự cố gắng về trí tuệ và nghị lực cao của mỗi học sinh trong quá trình tự lựcgiành lấy kiến thức mới Do đó, hình thức tự học tập cá nhân là hình thức học tập
cơ bản nhất vì nó tạo điều kiện cho mỗi học sinh trong lớp được tự nghĩ, tự làmviệc một cách tích cực nhằm đạt tới mục tiêu học tập Học sinh phải vận dụng kiếnthức, kĩ năng đã có để khai thác và lĩnh hội kiến thức mới Đồng thời hình thứcnày cũng tạo điều kiện để học sinh bộc lộ khả năng tự học của mỗi người
Việc tiến hành dạy học thông qua tổ chức hoạt động học tập cá nhân có thểnhư sau:
- Giáo viên nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức (chung cho cả lớp) vàhướng dẫn (gợi ý) học sinh làm việc
- Làm việc cá nhân (ghi kết quả ra giấy hoặc trả lời ra phiếu học tập)
- Giáo viên chỉ định một vài học sinh báo cáo kết quả, các học sinh kháctheo dõi, góp ý và bổ sung
- Giáo viên tóm tắt, củng cố và chuẩn xác kiến thức
3.6.2 Hình thức học tập theo nhóm.
Trong học tập, không phải bất kì nhiệm vụ học tập nào cũng có thể hoànthành bởi những hoạt động thuần túy cá nhân, có những bài tập, những câu hỏi,những vấn đề đặt ra khó và phức tạp, đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa các cá nhânmới có thể hoàn thành nhiệm vụ Vì vậy, bên cạnh hình thức học tập cá nhân cầnphải tổ chức cho học sinh học tập hợp tác trong các nhóm nhỏ
Tùy theo số lượng học sinh trong mỗi lớp mà giáo viên chia thành bao nhiêunhóm, thông thường mỗi nhóm có từ 4 - 6 học sinh, tùy mục đích và yêu cầu vấn
đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc có chủ định(gồm có Namlẫn Nữ, cả học sinh khá, trung bình, yếu, kém trong cùng một nhóm) Các nhóm
Trang 16có thể duy trì ổn định trong cả tiết hoặc thay đổi trong từng hoạt động, từng phầncủa tiết học, các nhóm được giao cùng nhiệm vụ hoặc giao những nhiệm vụ khácnhau.
Các bước tiến hành tổ chức học tập theo nhóm có thể như sau:
Làm việc chung cả lớp:
* Giáo viên nêu vấn đề xác định nhiệm vụ nhận thức
* Chia nhóm giao nhiệm vụ cho các nhóm
* Hướng dẫn , gợi ý (cách làm việc theo nhóm, các vấn đề cần lưu ý khi trảlời câu hỏi, hoàn thành các bài tập, )
Làm việc chung cả lớp (thảo luận, tổng kết trước toàn lớp)
* Đại diện một vài nhóm báo các kết quả làm việc
* Thảo luận chung(các nhóm nhận xét, đóng góp ý kiến và bổ sung chonhau).* Giáo viên tổng kết và chuẩn xác kiển thức
* Sau cùng giáo viên nên có nhận xét ngắn gọn về tình hình làm việc củacác nhóm để kịp thời động viên khuyến khích các nhóm làm việc tốt và rút kinhnghiệm cho các nhóm làm việc chưa tốt
Vi dụ 6: Khi dạy Bài 9: Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa (Địa lí 6).
Phân tích hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa
Làm việc chung cả lớp:
+ Xác định nhiệm vụ nhận thức
Quan sát hình 24(SGK/28) và trả lời 5 câu hỏi trong phiếu học tập:
Trang 17Câu 1: Vì sao đường biểu diễn trục trái đất (BN) và đường phân chia sáng
tối(ST) không trùng nhau?
Câu 2: Ngày 22/6 và ngày 22/12 nửa cầu nào ngả về phía mặt trời và có
diện tích được chiếu sáng rộng hơn? Độ chênh lệch giữa ngày và đêm ở mọi điểmcủa nửa cầu đó sẽ như thế nào?(Ngày dài hơn đêm hay đêm dài hơn ngày?)
Câu 3: Nơi nào trên Trái Đất có độ dài ngày và đêm bằng nhau?
Câu 4: Ngày 22/6 và ngày 22/12 tia sáng mặt trời chiếu thẳng góc vào vĩ
tuyến nào trên Trái Đất?
Câu 5: Từ vĩ tuyến nào lên đến cực Bắc và Nam vào ngày 22/6 và ngày
22/12 chỉ có một ngày mà không có đêm hoặc chỉ có đêm mà không có ngày?
Từ sự phân tích trên hãy rút ra kết luận về hiện tượng ngày, đêm dài ngắntheo mùa trên Trái Đất
Chia nhóm : Lớp chia làm 8 nhóm, mỗi nhóm 5 học sinh giao nhiệm vụ vàphát phiếu học tập cho mỗi nhóm
* 4 nhóm phân tích hiện tượng ngày đêm dài ngắn trong ngày 22/6
* 4 nhóm phân tích hiện tượng ngày đêm dài ngắn trong ngày 22/12.
+ Hướng dẫn gợi ý:
Câu 1: Khi trả lời câu 1 cần nhớ lại kiến thức đã học về hình dáng Trái Đất
để hiểu được vì sao Trái Đất có đường phân chia sáng tối(ST)
Quan sát hình 24(SGK/28), nhận xét về độ nghiêng của đường phân chia (ST) và đường biểu diễn trục Trái Đất (BN) so với mặt phẳng Quỹ Đạo Từ đó giải thích
vì sao hai đường này không trùng nhau.
Câu 2: Cần liên hệ với kiến thức đã học ở bài trước xem ngày 22/6 (hoặc
ngày 22/12), là mùa nóng hay mùa lạnh của nửa cầu nào? Nửa cầu nào có ngày dài hơn đêm hay đêm dài hơn ngày.