Nghiên cứu sự ảnh hưởng của mức xếp hạng quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (LA tiến sĩ)Nghiên cứu sự ảnh hưởng của mức xếp hạng quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (LA tiến sĩ)Nghiên cứu sự ảnh hưởng của mức xếp hạng quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (LA tiến sĩ)Nghiên cứu sự ảnh hưởng của mức xếp hạng quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (LA tiến sĩ)Nghiên cứu sự ảnh hưởng của mức xếp hạng quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (LA tiến sĩ)Nghiên cứu sự ảnh hưởng của mức xếp hạng quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (LA tiến sĩ)Nghiên cứu sự ảnh hưởng của mức xếp hạng quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (LA tiến sĩ)Nghiên cứu sự ảnh hưởng của mức xếp hạng quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (LA tiến sĩ)Nghiên cứu sự ảnh hưởng của mức xếp hạng quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (LA tiến sĩ)
Trang 1
TRẦN NHÂN PHÚC
Nghiên cứu ảnh hưởng của mức xếp hạng quản trị công ty đối với hiệu
quả tài chính của công ty niêm yết trên SGDCK TP.HCM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh –Năm 2017
Trang 2
TRẦN NHÂN PHÚC
Nghiên cứu ảnh hưởng của mức xếp hạng quản trị công ty đối với hiệu
quả tài chính của công ty niêm yết trên SGDCK TP.HCM
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu, dữ liệu và kết quả đưa ra trong luận án là trung thực và nội dung luận án chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Người cam đoan Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở nghiên cứu……… 1
1.1.1 Vai trò và ý nghĩa của quản trị công ty ……… 1
1.1.2 Thực trạng quản trị công ty ở Việt Nam ……… 3
1.1.3 Đặc điểm quản trị công ty ở Việt Nam ……… 10
1.1.4 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án ……… 15
1.1.4.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước ……… 15
1.1.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước ……… 19
1.2 Lý do nghiên cứu……… 20
1.3 Câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu ……… 23
1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu ……… 23
1.3.2 Mục tiêu nghiên cứu ……… 24
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… 25
1.5 Phương pháp nghiên cứu ……… 26
1.6 Đóng góp mới của luận án……… 26
1.7 Cấu trúc của luận án……… 27
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Hiệu quả tài chính của công ty niêm yết ……… 30
2.1.1 Công ty niêm yết ……… 30
2.1.2 Hiệu quả tài chính và tiêu chí đo lường……… 30
2.2 Mức xếp hạng quản trị công ty……… ……… 33
2.2.1 Quản trị công ty ……….……… 33
2.2.1.1 Khái niệm quản trị công ty ……… 33
2.2.1.2 Các nguyên tắc quản trị công ty ……… 35
2.2.2 Mức xếp hạng Quản trị công ty……… 36
Trang 52.2.2.1 Đánh giá quản trị công ty cấp quốc gia ……… 36
2.2.2.2 Đánh giá quản trị công ty cấp công ty ……… 38
2.3 Mức xếp hạng quản trị công ty và hiệu quả tài chính ……… 40
2.4 Thành phần mức xếp hạng quản trị công ty và hiệu quả tài chính ……… 42
2.5 Đề xuất giả thuyết và mô hình nghiên cứu ……… 42
2.5.1 Phát triển các giả thuyết nghiên cứu ……… 42
2.5.1.1 Mức xếp hạng quản trị công ty và hiệu quả tài chính ……… 43
2.5.1.2 Thành phần cấu thành mức xếp hạng quản trị công ty và hiệu quả tài chính ………… 45
2.5.2 Mô hình nghiên cứu ……… 47
2.5.3 Mô tả biến phụ thuộc, biến độc lập, biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu ……… 52
2.5.4 Thiết lập phương trình hồi quy ……… 57
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 3.1 Thang đo các khái niệm mức xếp hạng quản trị công ty và các thành phần……… 60
3.1.1 Thang đo mức xếp hạng quản trị công ty……… 60
3.1.2 Thang đo HĐQT và trách nhiệm HĐQT ……… 60
3.1.3 Thang đo Công bố thông tin và tính minh bạch ……… 61
3.1.4 Thang đo Quyền cổ đông ……… 61
3.1.5 Thang đo Vai trò các bên liên quan ……… 62
3.2 Quy trình nghiên cứu ……… 62
3.3 Thiết kế nghiên cứu ……….……… 64
3.3.1 Nghiên cứu định tính ……… 64
3.3.2 Nghiên cứu sơ bộ ……… 64
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Giới thiệu ……… 71
4.2 Thiết kế nghiên cứu chính thức……… 71
4.2.1 Nguồn dữ liệu và phương pháp thu thập ……… 72
4.2.2 Phương pháp xử lý dữ liệu ……… 74
4.3 Kết quả nghiên cứu chính thức ……… 78
4.3.1 Kiểm tra dữ liệu……… 78
4.3.2 Thống kê mô tả biến ……… 78
4 3.3 Kiểm định tương quan cặp giữa biến độc lập và các biến kiểm soát……… 80
Trang 64.4 Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội đối với tập dữ liệu tổng thể……… 82
4 4.1 Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội đối với ROA ……….………… 82
4 4.2 Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội đối với ROE ……….…… 86
4 4.3 Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội đối với biến TobinQ và PBV ……… 87
4.5 Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội với thành phần của CG ……… 92
4.6 Kết quả hồi quy bội theo phân tổ thống kê đối với công ty có yếu tố sở hữu nhà nước và không có sở hữu nhà nước ……….………… 99
4.6.1 Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội ROA, ROE, Tobin‟Q, PBV đối với biến CG đối với nhóm công ty có sở hữu nhà nước ……… 99
4.6.2 Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội ROA, ROE, Tobin‟Q, PBV đối với biến CG đối với nhóm công ty không có sở hữu nhà nước ….……… 102
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý NGHIÊN CỨU 5.1 Kết luận ……… 106
5.2 Hàm ý một số chính sách nhằm nâng cao mức xếp hạng quản trị công ty ……… 108
5.2.1 Đối với CTNY ……… 108
5.2.1.1 Minh bạch và công bố thông tin ……… 108
5.2.1.2 HĐQT và trách nhiệm HĐQT……… 112
5.2.1.3 Bảo vệ quyền cổ đông ……… 116
5.2.1.4 Vai trò các bên liên quan……… 120
5.2.2 Đối với cơ quan quản lý nhà nước……… 122
5.2.3 Đối Đối với nhà đầu tư……… 123
KẾT LUẬN, HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO……… 126
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN……… 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 130
PHỤ LỤC……… 136
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT Các ký hiệu,
từ viết tắt
Tiếng Anh
Tiếng Việt
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
ROA Return On Asset Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản ROE Return On Equity Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROI Return On Investment Tỷ suất lợi nhuận trên vốn đầu tƣ SGDCK TP.HCM Ho Chi Minh stock
exchange - Hose
Sở Giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1-1: Kết quả đánh giá quản trị công ty tại Việt Nam của WB……… 4
Bảng 1-2: Kết quả đánh giá thẻ điểm quản trị công ty tại Việt Nam năm 2009 của IFC 7
Bảng 1-3: Kết quả đánh giá thẻ điểm quản trị công ty tại Việt Nam năm 2010 của IFC 8
Bảng 1-4: Kết quả đánh giá thẻ điểm quản trị công ty tại Việt Nam năm 2011 của IFC 8
Bảng 3-1: Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo HĐQT và trách nhiệm HĐQT ……… 66
Bảng 3-2: Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo Công bố thông tin và tính minh bạch … 67 Bảng 3-3: Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo Quyền cổ đông ……… 68
Bảng 3-4: Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo Vai trò các bên liên quan ……… 68
Bảng 4-1: Kết quả thống kê mô tả biến ……… 78
Bảng 4-2: Ma trận hệ số tương quan ……… 81
Bảng 4-3: Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội đối với ROA trên tập dữ liệu tổng thể… 83 Bảng 4-4: Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội đối với ROE trên tập dữ liệu tổng thể … 86 Bảng 4-5: Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội đối với Tobin‟Q trên tập dữ liệu tổng thể… 88
Bảng 4-6: Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội đối với PBV trên tập dữ liệu tổng thể… 89
Bảng 4-7: Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội đối ROA với các thành phần của CG … 92
Bảng 4-8: Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội đối ROE với các thành phần của CG…… 93
Bảng 4-9: Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội đối Tobin‟Q với các thành phần của CG 94
Bảng 4-10: Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội đối PBV với các thành phần của CG… 95
Bảng 4-11: Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội đối với ROA trên tập dữ liệu có SHNN 99
Bảng 4-12: Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội đối với ROE trên tập dữ liệu có SHNN 100 Bảng 4-13: Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội đối với Tobin‟Q trên tập dữ liệu có
Trang 9SHNN……… 100 Bảng 4-14: Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội đối với PBV trên tập dữ liệu có
SHNN……… 101 Bảng 4-15: Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội đối với ROA trên tập dữ liệu không có
SHNN……… 102 Bảng 4-16: Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội đối với ROE trên tập dữ liệu không có
SHNN……… 103 Bảng 4-17: Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội đối với Tobin‟Q trên tập dữ liệu không
Bảng 4-18: Kết quả xử lý hồi quy tuyến tính bội đối với PBV trên tập dữ liệu không có
SHNN……… 104
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2-1: Hệ thống quản trị công ty……… 35
Hình 2-2: Mô hình nghiên cứu của Chong và Lopez ……… 50
Hình 2-3: Mô hình nghiên cứu của Facici và Aybar ……… 51
Hình 2-4: Mô hình nghiên cứu của luận án ……… 52
Hình 3-1: Quy trình nghiên cứu ……… 63
Hình 4-1: Đồ thị biểu thị tương quan giữa tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản và mức xếp hạng quản trị công ty đối với tập dữ liệu tổng thể……… 85
Hình 4-2: Đồ thị biểu thị tương quan giữa tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và mức xếp hạng quản trị công ty đối với tập dữ liệu tổng thể……… 86
Hình 4-3: Đồ thị biểu thị tương quan giữa Tobin‟Q và mức xếp hạng quản trị công ty đối với tập dữ liệu tổng thể……… 90
Hình 4-4: Đồ thị biểu thị tương quan giữa PBV và mức xếp hạng quản trị công ty đối với tập dữ liệu tổng thể……… 91
Hình 4-5: Đồ thị biểu thị tương quan giữa ROA và các thành phần của CG……… 93
Hình 4-6: Đồ thị biểu thị tương quan giữa ROE và các thành phần của CG……… 94
Hình 4-7: Đồ thị biểu thị tương quan giữa Tobin‟Q và các thành phần của CG……… 95
Hình 4-8; Đồ thị biểu thị tương quan giữa PBV và các thành phần của CG……… 96
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở nghiên cứu
1.1.1 Vai trò và ý nghĩa của quản trị công ty
Quản trị công ty là một hệ thống, bao gồm các mối quan hệ giữa ban giám đốc, hội đồng quản trị, các cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan tạo nên định hướng và sự kiểm soát công ty Các quan hệ này được xác định một phần bởi luật pháp, lịch sử, văn hóa của quốc gia nơi công ty đặt trụ sở Quản trị công ty tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế lành mạnh, thúc đẩy hoạt động của công ty, tăng cường khả năng tiếp cận của công ty với các nguồn vốn bên ngoài ở mức chi phí thấp hơn Với việc tăng cường giá trị của công ty và quản lý rủi
ro tốt hơn, quản trị công ty tốt góp phần vào việc tăng cường đầu tư và phát triển bền vững
Đối với những quốc gia có nền kinh tế thị trường mới nổi, việc tăng cường quản trị công ty có thể phục vụ cho rất nhiều các mục đích chính sách công quan trọng Quản trị công ty tốt giảm thiểu khả năng tổn thương trước các khủng hoảng tài chính, củng cố quyền sở hữu, giảm chi phí giao dịch và chi phí vốn, và dẫn đến việc phát triển thị trường vốn Quản trị công ty yếu kém sẽ làm giảm mức độ tin tưởng của các nhà đầu tư, và không khuyến khích đầu tư từ bên ngoài Trong vòng vài năm qua, tầm quan trọng của quản trị công ty đã được nhấn mạnh, thể hiện ở số lượng các nghiên cứu ngày càng tăng lên Các nghiên cứu cho thấy các thực tiễn quản trị công
ty tốt dẫn tới tăng trưởng mạnh đối với giá trị kinh tế gia tăng của các công ty, năng suất cao hơn và giảm rủi ro tài chính hệ thống cho các quốc gia Các thị trường mới nổi mang lại các cơ hội đầu tư hấp dẫn, tuy nhiên chúng cũng có nhiều rủi ro tiềm tàng ở cấp quốc gia và doanh nghiệp Những rủi ro này đòi hỏi các nhà đầu tư phải hiểu biết rõ hơn tình hình quản trị công ty của các doanh nghiệp ở những thị trường này
Ở cấp độ công ty, quản trị công ty có vai trò rất quan trọng:
(1) Thúc đẩy hoạt động và nâng cao hiệu quả kinh doanh: quản trị công ty tốt
sẽ mang lại một hệ thống giải trình tốt hơn, giảm thiểu rủi ro liên quan đến các vụ gian lận hoặc các giao dịch nhằm mục đích vụ lợi của các cán bộ quản lý Nhiều vấn
Trang 12đề có thể sẽ được phát hiện sớm giúp giải quyết tốt hơn khi có sự kết hợp giữa tinh thần trách nhiệm cao, quản trị rủi ro và kiểm soát nội bộ Bằng việc xây dựng quy định về chế độ lương, thưởng dựa trên kết quả kinh doanh, quản trị công ty sẽ giúp cải thiện hiệu quả công việc quản lý của Ban giám đốc Không những thế, quản trị công ty tốt còn giúp cải thiện quy trình ra quyết định, các quyết định được đưa ra chính xác, kịp thời hơn khi có đầy đủ thông tin và quá trình liên lạc được tổ chức hiệu quả, điều này sẽ giúp hiệu quả của các hoạt động tài chính và kinh doanh của công ty được nâng cao một cách đáng kể ở mọi cấp độ Ngoài ra, quản trị công ty tốt còn giúp tổ chức thực hiện tốt hơn các quy trình kinh doanh hoạt động của công ty dẫn đến năng suất cao hơn và chi phí vốn thấp hơn, góp phần nâng cao doanh số và lợi nhuận cùng với sự giảm thiểu trong chi phí và nhu cầu về vốn Hệ thống quản trị công ty tốt cũng tạo điều kiện thuận lợi trong việc giải quyết những xung đột liên quan tới công ty, giữa cổ đông với cổ đông, giữa cổ đông với các bên có quyền lợi liên quan
(2) Nâng cao khả năng tiếp cận thị trường vốn: những công ty được quản trị tốt sẽ gây được cảm tình với nhà đầu tư, làm cho nhà đầu tư tin rằng các tài sản của công ty sẽ được sử dụng để phục vụ cho lợi ích của các cổ đông chứ không phải để phục vụ cho lợi ích riêng của các cán bộ quản lý Niềm tin của nhà đầu tư được xây dựng dựa trên sự minh bạch, dễ tiếp cận, kịp thời, đầy đủ, và chính xác của thông tin
ở mọi cấp độ Khi tính minh bạch trong công ty được nâng cao, các nhà đầu tư sẽ được hưởng lợi khi họ có cơ hội được cung cấp thông tin về hoạt động kinh doanh và các số liệu tài chính của công ty, dù những thông tin được công bố mang tính tiêu cực đi chăng nữa, các cổ đông cũng sẽ được hưởng lợi do họ có cơ hội để giảm thiểu rủi ro Ngày nay, các thị trường chứng khoán ngày càng yêu cầu các công ty niêm yết phải tuân thủ những tiêu chuẩn quản trị nghiêm ngặt hơn, vì vậy, để tiếp cận nguồn vốn, các công ty phải xây dựng hệ thống quản trị công ty đáp ứng những tiêu chuẩn
về quản trị công ty Theo báo cáo khảo sát ý kiến nhà đầu tư toàn cầu của Viện
nghiên cứu kinh tế McKinsey vào tháng 7 năm 2002 cho thấy 15% các nhà đầu tư tổ chức ở Tây Âu xem quản trị công ty quan trọng hơn các số liệu tài chính trong khi ở Đông Âu và Châu Phi là 40% Tỷ lệ này ở Bắc Mỹ là 7%, Châu Á là 21% và Châu
Trang 13Mỹ Latin là 18%
(3) Giảm chi phí vốn và tăng giá trị tài sản : những công ty có hệ thống quản trị công ty tốt sẽ có nhiều khả năng huy động được nguồn vốn giá rẻ Chi phí vốn phụ thuộc vào sự cảm nhận của các nhà đầu tư về mức độ rủi ro của công ty, nếu rủi
ro càng cao thì chi phí vốn càng cao Nếu nhà đầu tư thấy quyền lợi của mình được bảo vệ thì sẽ sẵn sàng quyết định đầu tư giúp công ty trả lãi suất thấp hơn và kiếm được những khoản tín dụng dài hạn Đối với thị trường mới nổi như Việt Nam, quản trị công ty có ảnh hưởng rất lớn vì hệ thống pháp lý chưa hoàn thiện nên quyền lợi của nhà đầu tư chưa được bảo vệ đúng mức, vì vậy, chỉ cần một sự cải thiện nhỏ trong vấn đề quản trị mà công ty áp dụng cũng có thể tạo nên một sự khác biệt to lớn đối với các nhà đầu tư và nhờ đó giảm bớt chi phí vốn Theo báo cáo khảo sát ý kiến nhà đầu tư toàn cầu của Viện nghiên cứu kinh tế McKinsey vào tháng 7 năm 2002, các nhà đầu tư trong diện được khảo sát sẵn sàng trả giá cao hơn cho cổ phiếu của các công ty được quản trị tốt với tỷ lệ Nga là 38%, Trung Quốc 25%, Braxin 24%,
Ba Lan 23%, Mỹ 14% và Đức là 13%
(4) Nâng cao uy tín của công ty : ngày nay, uy tín của một công ty có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của công ty, vì uy tín góp phần làm nên giá trị thương hiệu, giá trị thương hiệu là tài sản vô hình của công ty Những công ty có
hệ thống quản trị công ty tốt sẽ tôn trọng quyền lợi của các cổ đông và các chủ nợ và đảm bảo tính minh bạch về tài chính, khi đó, những công ty này sẽ dành được niềm tin lớn hơn của công chúng và từ đó nâng cao được giá trị thương hiệu Niềm tin của công chúng và giá trị thương hiệu có thể khiến người ta tin tưởng hơn vào các sản phẩm của công ty, và điều này sẽ dẫn đến việc nâng cao doanh số, từ đó dẫn đến việc gia tăng lợi nhuận, ngoài ra hình ảnh tích cực và uy tín của một công ty đóng vai trò quan trọng trong việc định giá công ty giúp gia tắng giá trị công ty
1.1.2 Thực trạng quản trị công ty ở Việt Nam
Quản trị công ty cấp quốc gia
Tháng 6 năm 2006, WB đã thực hiện đánh giá tình hình quản trị công ty ở Việt Nam Đánh giá này được WB thực hiện nhằm đánh giá việc tuân thủ các thông
lệ quản trị công ty so với các quy tắc quản trị công ty của OECD Bản báo cáo này
Trang 14mô tả các thông lệ hiện hành và đưa ra các khuyến nghị chính sách trong sáu lĩnh vực: (i) khuôn khổ quản trị công ty; (ii) quyền của các cổ đông; (iii) đối xử bình đẳng với các cổ đông; (iv) vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quản trị công ty; (v) công bố thông tin và sự minh bạch; và (vi) trách nhiệm của Hội đồng quản trị
Bảng đánh giá dựa trên việc trả lời 465 câu hỏi phân thành 6 lĩnh vực như trên Việc chấm điểm được thực hiện theo hai cách: cho điểm chữ, trong đó chữ O là điểm cao nhất (được tuân thủ), LO (nhìn chung được tuân thủ), PO (được tuân thủ một phần), MO (căn bản không được tuân thủ và NO (không được tuân thủ) là thấp nhất Điểm số thì 100 là cao nhất và 0 là thấp nhất
Bảng 1-1: Kết quả đánh giá quản trị công ty tại Việt Nam của WB
I ĐẢM BẢO CƠ SỞ CHO MỘT KHUÔN KHỔ QUẢN TRỊ CÔNG TY HIỆU QUẢ
ID Quyền quản lý, tính minh bạch, nguồn
lực
II QUYỀN CỦA CỔ ĐÔNG VÀ CÁC CHỨC NĂNG SỞ HỮU CHÍNH
65% số phiếu chấp thuận IIC Quyền tham dự Đại hội đồng cổ đông
thường niên
IID Công bố thông tin về kiểm soát không
IIE Được phép thực hiện các thỏa thuận
thâu tóm công ty
25%
IIG Cổ đông được phép tham khảo ý kiến
lẫn nhau
việc tham khảo ý kiến III ĐỐI XỬ CÔNG BẰNG VỚI CÁC CỔ ĐÔNG
không được cưỡng chế thực thi III
C
Hội đồng quản trị/Ban giám đốc phải
công bố thông tin về lợi ích
✓ Tình trạng giao dịch với bên liên quan
còn phổ biến
Trang 15IV VAI TRÒ CỦA CÁC BÊN CÓ QUYỀN LỢI LIÊN QUAN TRONG QUẢN TRỊ CÔNG TY
IV
A
Tôn trọng quyền hợp pháp của các bên
có quyền lợi liên quan
doanh nghiệp còn hạn chế IV
B
Các bên có quyền lợi liên quan đƣợc
tiếp cận với quy trình pháp lý IV
C
IV
D
Công bố thông tin của các bên có quyền
tiếp cận thông tin, tuân thủ kém IV
E
IVF Luật và cƣỡng chế thực thi quyền của
yếu, chủ nợ ít khi dùng đến quyền của mình
V CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ TÍNH MINH BẠCH
bố thông tin còn yếu
tuân thủ
nào đƣa ra tòa
VI TRÁCH NHIỆM CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
đƣợc luật pháp quy định
giai đoạn đầu
niệm mới
tiếp cận hợp pháp
Nguồn: WB - Đánh giá tình hình quản trị công ty ở Việt Nam (2006)
Kết quả của báo cáo cho thấy, trong sáu lĩnh vực đánh giá thì có ba lĩnh vực đƣợc đánh giá tuân thủ một phần là quyền của các cổ đông, vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quản trị công ty, công bố thông tin và sự minh bạch, và ba lĩnh vực đƣợc đánh giá là căn bản không đƣợc tuân thủ là đảm bảo cơ sở cho khuôn khổ quản trị công ty hiệu quả, đối xử bình đẳng với các cổ đông và trách nhiệm của Hội đồng quản trị
Trang 16Mặc dù, báo cáo cho thấy Việt Nam đã có những bước tiến mới quan trọng trong việc xây dựng khuôn khổ quản trị công ty Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số thách thức lớn trên con đường phía trước Các thách thức này bao gồm đảm bảo việc thực hiện những thay đổi mới về luật pháp, củng cố năng lực của cơ quan quản lý thị trường chứng khoán, tăng cường cưỡng chế việc tuân thủ luật pháp, xây dựng khuôn khổ và tiêu chuẩn cho thị trường chứng khoán không chính thức, nâng cao nhận thức
và đào tạo thành viên HĐQT về quản trị công ty, và khuyến khích thông tin có chất lượng, kịp thời và dễ tiếp cận
Bản báo cáo cũng cho thấy khuôn khổ về quản trị công ty ở Việt Nam đang ở trong giai đoạn phát triển ban đầu, các luật và quy định liên quan đang được xây dựng Khu vực doanh nghiệp vẫn còn mang nhiều tính chất phi chính thức, trong đó thị trường chứng khoán không chính thức đang còn lớn hơn nhiều so với thị trường chính thức, và nhà nước vẫn duy trì việc nắm giữ một tỷ lệ đáng kể trong các doanh nghiệp
cổ phần hóa Năng lực và nguồn lực của các cơ quan, tổ chức chịu trách nhiệm quản
lý, cưỡng chế thực thi và phát triển thị trường còn hạn chế Một số vấn đề lớn khác bao gồm: chưa có sự bảo vệ đầy đủ cho nhà đầu tư, chưa tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực kế toán, và còn hạn chế công bố các thông tin có chất lượng
Quản trị công ty cấp doanh nghiệp
Đánh giá quản trị công ty cấp công ty được IFC phối hợp với UBCKNN thực hiện từ năm 2010 đến 2012 Cơ sở của đánh giá thẻ điểm dựa trên nguyên tắc quản trị công ty của OECD và môi trường quản trị công ty ở Việt Nam
Những nội dung chính được sử dụng làm cơ sở đánh giá bằng thẻ điểm về quản trị công ty là những nội dung đã được công nhận là có vai trò quan trọng nhất đối với quản trị công ty trong các Nguyên tắc của OECD:
Quyền cổ đông
Đối xử công bằng với cổ đông
Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quản trị công ty
Công bố thông tin và tính minh bạch
Trách nhiệm của Hội đồng Quản trị
Bảng đánh giá chọn 100 công ty có mức vốn hóa thị trường lớn nhất đại diện
Trang 17cho các ngành nghề sau: công nghiệp, tài chính, hàng tiêu dùng, vật liệu cơ bản, dầu khí, chăm sóc sức khỏe, dịch vụ tiêu dùng, dịch vụ hạ tầng công cộng và công nghệ
Bảng 1-2: Kết quả đánh giá điểm quản trị công ty năm 2009
Trung bình Tối thiểu Tối đa
Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan 29.2 6.3 68.8
Nguồn: IFC-Báo cáo thẻ điểm quản trị công ty (2010)
Kết quả đánh giá quản trị công ty tại các công ty năm 2009 cho thấy nhìn chung, các công ty đã cố gắng triển khai các nội dung trong quản trị công ty tốt, tuy nhiên công tác quản trị công ty ở Việt Nam mới chỉ ở bước sơ khai và cần được tiếp tục cải thiện Các chuyển biến về quản trị công ty tại Việt Nam hiện nay có vẻ như được thực hiện chủ yếu nhờ tăng cường các quy định pháp quy về quản trị công ty tốt, tức là theo hướng tiếp cận “từ trên xuống” hơn là từ tự thân các doanh nghiệp
Lĩnh vực tuân thủ tốt nhất các thông lệ quản trị công ty quốc tế là lĩnh vực
“Đối xử công bằng với các cổ đông Lĩnh vực có mức tuân thủ theo thông lệ quốc tế
về quản trị công ty thấp nhất là lĩnh vực “Vai trò của các bên có quyền lợi liên
quan” đạt 29.95% Kết quả này cho thấy vai trò của các bên có quyền lợi liên quan
là khái niệm khá mới mẻ ở Việt Nam, thậm chí còn mới hơn so với khái niệm về quản trị công ty Ngoài ra các công ty niêm yết cũng còn rất yếu kém trong thực hiện
các biện pháp nâng cao ”Trách nhiệm của Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát” (đạt 35.3%), hay tăng cường ”Tính minh bạch và công bố thông tin” (đạt 39.4%) Tại
Việt Nam, do nền kinh tế mới chuyển sang nền kinh tế thị trường nên các doanh nghiệp còn bị động hoặc chưa quen với việc phải cung cấp thông tin, các doanh nghiệp chưa nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc cung cấp thông tin
và tăng cường sự minh bạch Khi tham gia niêm yết trên TTCK, nhà đầu tư chính là khách hàng của doanh nghiệp, và việc cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời cũng như
Trang 18minh bạch trong điều hành sẽ tạo được niềm tin của nhà đầu tư và khi đó, ảnh hưởng đến quyết định về mua cổ phiếu của doanh nghiệp
Bảng 1-3: Kết quả đánh giá điểm quản trị công ty năm 2010
Trung bình Tối thiểu Tối đa
Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan 29,4 0,0 68,0
Nguồn: IFC-Báo cáo thẻ điểm quản trị công ty (2011) Việc đánh giá thẻ điểm quản trị công ty năm 2010 vẫn thực hiện như lần đánh giá năm 2010 (cùng nội dung, trọng số và công ty đánh giá) Kết quả đánh giá năm
2011 cho thấy các công ty niêm yết đại chúng vẫn còn yếu kém trong việc thực hiện các nội dung về trách nhiệm của HĐQT (chỉ đạt mức điểm 36,1%), và minh bạch và công bố thông tin (đạt mức điểm 43,2%)
Nhìn chung, kết quả khảo sát quản trị công ty tại các công ty cho thấy nhìn chung các công ty đã có nỗ lực triển khai quản trị công ty tốt Điểm quản trị công ty của năm 2010 tăng 0.8% so với năm 2009 Tuy nhiên, với điểm quản trị công ty trung bình là 44,7%, khi so sánh với thông lệ tốt nhất toàn cầu, kết quả này cho thấy rằng công tác quản trị công ty ở Việt Nam mới chỉ ở bước sơ khai, chưa đạt chuẩn mực thông lệ tốt trên thế giới
Bảng 1-4: Kết quả đánh giá điểm quản trị công ty năm 2011
Trung bình Tối thiểu Tối đa
Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan 22,7 6,3 62,5 Minh bạch và Công bố thông tin 40,1 21,7 60,0 Trách nhiệm của Hội đồng quản trị 35,9 9,7 54,8
Nguồn: IFC-Báo cáo thẻ điểm quản trị công ty (2012)
Trang 19Kết quả tổng quan về quản trị công ty của các công ty được khảo sát cho thấy hiệu quả của các nỗ lực triển khai thực tiễn quản trị công ty tốt đã sụt giảm Việt Nam không phải là nước duy nhất ở trong tình trạng này Ở Châu Á nói chung, Báo cáo Giám sát QTCT ACGA-CLSA 2012 cũng cho biết có sự suy giảm trong công tác quản trị công ty Dù vậy, áp lực và yêu cầu trên phạm vi toàn cầu vẫn là làm sao đẩy nhanh tốc độ cải cách về quản trị công ty chứ không phải thụt lùi Năm 2011, thông qua chương trình Tọa đàm Châu Á, khối OECD đã xây dựng, công bố báo cáo Ưu tiên cải cách ở Châu Á: Đưa quản trị công ty lên tầm cao mới Trong đó, hai ưu tiên chính là “tất cả các nước phải tăng cường nỗ lực giám sát thực thi hiệu quả luật lệ về quản trị công ty” và “cần nâng cao chất lượng, thực hiện công bố thông tin kịp thời, minh bạch” Các công ty Việt Nam chưa chứng tỏ được đã quan tâm đến các phạm vi rộng hơn, vượt ra ngoài hoạt động kinh doanh đơn thuần Những vấn đề như sức khỏe, an sinh, lợi ích người lao động còn ít được quan tâm Yếu tố môi trường cũng gần như không được tính đến Yếu tố sống còn để thị trường có chất lượng là lòng tin của nhà đầu tư Lòng tin được xây dựng dựa trên công khai, minh bạch Lĩnh vực minh bạch và công bố thông tin - giảm 3,1% cho dù các quy định chặt chẽ hơn về công bố thông tin (Thông tư 09/2010) đã được áp dụng từ đầu năm 2010 Kết quả này cho thấy các cơ quan quản lý, UBCKNN và hai Sở giao dịch chứng khoán phải tăng cường hơn nữa hoạt động giám sát thực thi để tạo sự thay đổi hành vi của các công ty Các công ty đại chúng niêm yết có kết quả rất thấp trên nhiều chỉ tiêu thuộc
về trách nhiệm của HĐQT (35,9% ở lĩnh vực Trách nhiệm của HĐQT)
Từ năm 2012 đến năm 2014, Việt Nam tham gia chương trình đánh giá thẻ điểm của Asean, tuy nhiên, so với các nước cùng đánh giá là Thái Lan, Philippin, Malaysia, Singapore, Indonesia thì điểm quản trị công ty của Việt Nam luôn thấp nhất, chỉ đạt trung bình 35,8 điểm, thấp hơn nhiều so với nước liền kề là Indonesia với trung bình 51,7 điểm và chưa bằng một nửa số điểm của Thái Lan, nước có điểm
số cao nhất với trung bình 75,86 điểm Hầu hết điểm số của từng lĩnh vực đánh giá đều dưới trung bình, quyền của cổ đông đạt trung bình 4,6/10, đối xử công bằng với
cổ đông đạt trung bình 7,2/10, trách nhiệm HĐQT đạt trung bình 9/40, vai trò các bên liên quan đạt 3,3/10 và công bố thông tin và tính minh bạch đạt 11,7/25 Kết quả
Trang 20đánh giá cho thấy, quản trị công ty chưa thật sự được quan tâm đúng mức và chưa được thực thi nghiêm túc, cần nhiều hơn nữa những hoạt động xúc tiến nhằm nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp niêm yết về các nỗ lực cải thiện thực tiễn quản trị công ty trong khu vực, về tầm quan trọng của quản trị công ty đối với các nhà đầu
tư và đối với thị trường, cũng như về sự cần thiết của việc đối xử công bằng giữa cổ đông trong nước và nước ngoài
Qua đánh giá, có thể thấy, ở Việt Nam, với đặc thù là khung pháp lý chưa hoàn thiện thì việc chấp hành những nguyên tắc quản trị công ty chưa được thực hiện nghiêm túc Chỉ những lĩnh vực bị quy định chặt chẽ như đối xử công bằng với các cổ đông và quyền của cổ đông đạt điểm số cao nhất Trong khi đó các lĩnh vực không bị luật lệ quy định, ví dụ như kiểm toán độc lập (tính độc lập, sự tham dự của kiểm toán tại ĐHĐCĐ thường niên…) hay vai trò của các bên có quyền lợi liên quan thường bị xem nhẹ và không tuân thủ thông lệ tốt
1.1.3 Đặc điểm quản trị công ty ở Việt Nam
Việt Nam có nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước Nền kinh tế chuyển đổi trải qua quá trình tự do hoá nền kinh tế, trong đó, các lực lượng thị trường tự định ra giá cả thay vì một tổ chức kế hoạch tập trung Thêm vào đó, những rào cản thương mại bị loại bỏ, đây chính là động lực thúc đẩy việc tư nhân hoá những nguồn lực và những doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, và lĩnh vực tài chính được dựng lên để giúp ổn định kinh tế vĩ mô và giúp cho các nguồn vốn tư hữu có thể vận hành được Nền kinh tế từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường theo Havrylyshyn và Wolf (1999) có một số điểm nổi bật:
o Có sự định hướng thị trường, tự do hoá hoạt động kinh tế, giá cả, và phân
bổ lại các nguồn tài nguyên để sử dụng chúng có hiệu quả hơn
o Phát triển những công cụ gián tiếp để ổn định kinh tế vĩ mô
o Tư nhân hoá để đạt được hiệu quả trong quản trị doanh nghiệp và tính hiệu quả kinh tế
o Quyền sở hữu được bảo vệ thông qua thiết lập khuôn khổ thể chế và pháp
Trang 21lý, và những quy định bảo đảm thị trường trong sạch
Nền kinh tế của Việt Nam đang trong giai đoạn quá độ sang kinh tế hàng hóa,
có một số đặc điểm như:
(1) Chấp nhận sự tồn tại bình đẳng và hợp pháp của nhiều thành phần kinh tế,
có 6 thành phần kinh tế: kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản Nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với nhiều hình thức sở hữu: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, sở hữu hỗn hợp
(2) Cơ chế kinh tế là kinh tế thị trường xã hội, là nền kinh tế thị trường nhưng
có sự quản lý của Nhà nước, nền kinh tế được vận hành bởi hai “bàn tay”: thị trường
và Nhà nước Điều này có ưu điểm là nó phát huy tính tối ưu trong phân bổ nguồn lực xã hội để tối đa hóa lợi nhuận thông qua cạnh tranh, mặt khác, sự quản lý của Nhà nước giúp tránh được những thất bại của thị trường như lạm phát, phân hóa giàu nghèo, khủng hoảng kinh tế
(3) Định hướng xã hội chủ nghĩa: Định hướng xã hội chủ nghĩa được hiểu là vẫn giữ vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế, vì theo quan điểm của chủ nghĩa Marx về chủ nghĩa xã hội thì mọi tư liệu sản xuất đều thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước đại diện cho nhân dân
(4) Nền kinh tế chuyển từ khép kín, đóng cửa, sang mở cửa, hội nhập với thế giới
Khuôn khổ pháp lý và cơ sở thể chế cho thị trường vốn ở Việt Nam mới đang
ở trong giai đoạn phát triển ban đầu Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2006, được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2015 Luật Chứng khoán được Quốc hội thông qua vào tháng 6/2006 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2007 Luật Doanh nghiệp và Luật Kế toán
và Kiểm toán cũng điều chỉnh hoạt động của các công ty niêm yết Việc phát hành trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, chứng khoán của các tổ chức tín dụng, cổ phiếu của các DNNN và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang trong quá trình chuyển đổi thành công ty cổ phần không nằm trong phạm vi điều chỉnh của Luật cũ Việc phát hành trái phiếu của các DNNN được điều chỉnh
Trang 22bởi Nghị định 52/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 19/5/2006 Khuôn khổ pháp lý của Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ đặc điểm lịch sử, văn hóa và quá trình phát triển kinh tế Trước năm 1987, nền kinh tế tập trung bao cấp, chỉ có doanh nghiệp Nhà nước mới được tồn tại dưới mô hình công ty Khái niệm quản trị công ty chỉ xuất hiện sau khi Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành năm 1987 dành cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài Phải đến năm 1999, bộ luật đầy đủ đầu tiên dành cho các công ty trong nước mới được ban hành, đó là Luật doanh nghiệp, tuy nhiên, những doanh nghiệp Nhà nước lại không bị điều chỉnh bởi Luật này Với mục đích hội nhập kinh tế với thế giới, Việt Nam đã cố gắng hoàn thiện khuôn khổ pháp lý bằng cách xây dựng và ban hành nhiều luật có lĩnh vực điều chỉnh đa dạng, tuy nhiên, khuôn khổ pháp lý của Việt Nam vẫn còn tồn tại một số điểm sau:
Phân tán: với sự chuyển đổi nền kinh tế từ “mệnh lệnh” sang “ định hướng thị trường”, và quá trình xây dựng luật nhanh nhằm đáp ứng việc tham gia các tổ chức kinh tế, hội nhập kinh tế thế giới nên các bộ luật của Việt Nam khá phân tán Trước ngày 01/07/2006, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được điều chỉnh theo Luật đầu tư nước ngoài, các công ty trong nước được điều chỉnh bằng Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư trong nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được phép chuyển đổi thành các công ty cổ phần và phát hành cổ phiếu
Mỗi ngành có luật và quy định riêng: các công ty phải tuân thủ cả Luật doanh nghiệp lẫn các bộ luật và các quy định khác điều chỉnh ngành nghề và các hoạt động
cụ thể của công ty Một công ty hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm chịu
sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp và Luật Kinh doanh bảo hiểm Một ngân hàng chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp và Luật các tổ chức tín dụng Ngoài hai
bộ luật này, nếu doanh nghiệp đã niêm yết thì còn chịu sự điều chỉnh của Luật Chứng khoán v.v Việc phải chịu sự điều chỉnh của đồng thời nhiều luật và quy định
sẽ dẫn đến sự chồng chéo và mâu thuẫn Mặc dù Điều 3 của Luật Doanh nghiệp quy định một cách rõ ràng rằng “Trường hợp đặc thù liên quan đến việc thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp được quy định tại Luật khác thì áp dụng theo quy định của Luật đó” Nhưng trong thực tế, có nhiều trường hợp không thể phân định một cách rõ ràng, các bộ luật cũng như các quy định chồng chéo dẫn đến
Trang 23sự mập mờ, khó hiểu và nhầm lẫn, từ đó dẫn đến khó khăn cho các công ty khi áp dụng, đồng thời tạo ra nguy cơ về sự thiếu nhất quán trong quá trình thực thi các bộ luật này từ phía các cơ quan quản lý nhà nước
Khuôn khổ pháp lý về quản trị công ty được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2006, và được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2015, Luật Chứng khoán ban hành năm 2006 Trong giai đoạn này, Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức lớn trong việc thực thi luật, tăng cường các thể chế quản lý, cưỡng chế thực thi cũng như đẩy mạnh hoạt động quản trị công ty tốt Khuôn khổ quản trị công ty chịu ảnh hưởng từ những đặc điểm lịch sử, văn hóa và khuôn khổ pháp lý riêng của từng quốc gia Vì vậy, với Việt Nam, khuôn khổ quản trị công ty cũng có những đặc điểm riêng Một nền kinh tế trải qua thời kỳ tập trung bao cấp với nòng cốt là doanh nghiệp nhà nước nên khuôn khổ quản trị công ty của Việt Nam ảnh hưởng khá nhiều bởi đặc trưng sở hữu nhà nước, sở hữu tập trung, và có một số đặc điểm sau:
Doanh nghiệp Nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Mặc dù trong thời gian vừa qua, nhiều doanh nghiệp Nhà nước đã được cổ phần hóa và được chuyển thành công ty cổ phần nhưng Nhà nước vẫn nắm giữ đa số vốn Trong nhiều lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế quốc dân như: đóng tàu, khai thác mỏ, dầu khí, điện lực, giáo dục, đường sắt, truyền thông và xuất bản, Nhà nước vẫn nắm vai trò độc quyền, hoặc là chi phối bằng các doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, nếu đã cổ phần hóa thì nhà nước cũng nắm giữ từ 51% cổ phần biểu quyết trở lên
Sở hữu tập trung: Nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam được thành lập bởi các cá nhân hoặc một nhóm cổ đông nhỏ lẻ Sau đó, cho dù nhiều công ty kiểu này đã lớn mạnh, đã bán cổ phần cho nhiều người hoặc đã niêm yết nhưng các cổ đông kiểm soát vẫn không thay đổi, các cổ đông cũ vẫn nắm quyền quyết định, điều này khiến cho cổ đông nhỏ dễ bị lạm dụng và thiệt thòi Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, điều này được thể hiện khá rõ ràng khi đa số các công ty cổ phần lớn đều do một cổ đông cá nhân hoặc nhà nước hoặc cổ đông dưới dạng gia đình nắm giữ đa số
cổ phần, những công ty này trước kia là công ty gia đình hoặc công ty nhà nước sau
Trang 24chuyển sang cổ phần hóa, người chủ doanh nghiệp ban đầu hoặc một nhóm người trong gia đình vẫn nắm giữ số lượng cổ phiếu biểu quyết và quyết định toàn bộ các vấn đề của công ty, họp đại hội cổ đông hàng năm chỉ như là một buổi báo cáo tình hình hoạt động
Quyền sở hữu và quyền kiểm soát không có sự phân chia rõ ràng: Trong nhiều công ty ở Việt Nam thường tồn tại tình trạng các cổ đông kiểm soát vừa đóng vai trò
là Tổng giám đốc của công ty vừa là thành viên trong Hội đồng quản trị Việc không phân tách giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát sẽ dẫn đến sự thiếu trách nhiệm, lạm quyền và những yếu kém trong cơ cấu kiểm soát (cổ đông kiểm soát kiêm thành viên Ban quản lý, như vậy là tự mình giám sát chính mình)
Cơ cấu phân cấp chồng chéo: Nhiều công ty Nhà nước hoạt động theo cơ chế công ty mẹ - con dẫn đến tình trạng mập mờ trong cơ cấu sở hữu, cơ cấu này có thể được lợi dụng để gạt bỏ quyền lợi của cổ đông nhỏ lẻ
Các thể chế quản trị công ty thiếu và yếu: Những quy định về quản trị công ty còn thiếu và chưa được thực hiện nghiêm túc và triệt để Trong thực tế, những quy định đôi khi chỉ là xây dựng để đối phó, Hội đồng quản trị vẫn thường cố tình bỏ qua hoặc không thực thi đúng các cơ chế giám sát mà điều lệ đã quy định và hạn chế tiếp xúc trực tiếp với các cổ đông Các thể chế giám sát cũng như các ủy ban thuộc Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Thư ký công ty thường không có vai trò rõ ràng và không nhận thức đầy đủ về trách nhiệm của mình do thiếu những nền tảng và thực tiễn tốt trong lĩnh vực hoạt động của họ
1.1.4 Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Đến nay, tác động của quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động của công ty niêm yết được thực hiện theo bốn nhóm nghiên cứu, đó là nghiên cứu sự ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu, tính chất của HĐQT, tính chất của BGĐ và mức xếp hạng quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động
1.1.4.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
a) Cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của công ty niêm yết
Đối với sở hữu tập trung, các nghiên cứu cho thấy, cổ đông lớn sở hữu cổ phần chi phối sẽ gây bất lợi cho cổ đông thiểu số bằng cách tạo ra cấu trúc sở hữu nhóm
Trang 25công ty kiểu kim tự tháp nhằm cho phép họ dịch chuyển tài sản hoặc lợi nhuận từ công
ty này đến một công ty bị chi phối khác Cổ đông chi phối sẽ không phải chịu toàn bộ chi phí đối với quyết định của mình mà sẽ bắt các cổ đông nhỏ lẻ chia sẻ khi các quyết định sai và ảnh hưởng đến công ty, cổ đông chi phối sẽ không có các quyết định đầu tư tốt vì họ đã đầu tư tập trung vào một công ty nên sợ dễ gặp rủi ro hơn những cổ đông
có danh mục đầu tư đa dạng (Johnson và cộng sự, 2000, Claessens và cộng sự, 2000,
La Porta và cộng sự, 2002; Zhang, 1998) Một dạng sở hữu tập trung khác là sở hữu gia đình, các nghiên cứu cho thấy sở hữu gia đình, đặc biệt là khi thành viên gia đình nắm quyền điều hành (CEO) ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của công ty (Morck và cộng sự, 1998; Claessens và cộng sự, 2000; Perez-Gonzalez, 2001; While Khamis và cộng sự, 2015) Tuy nhiên, cũng có nghiên cứu cho rằng kiểm soát gia đình lại ảnh hưởng tích cực đến giá trị công ty (Barontini và Caprio, 2003), và cũng có nghiên cứu cho thấy không có mối quan hệ giữa sở hữu gia đình và hiệu quả hoạt động đo lường qua chỉ số ROA (Al-Ghamdi và Rhodes, 2015)
Sở hữu phân tán thì không một cổ đông hoặc nhóm cổ đông liên quan nào có thể chi phối được công ty, cổ đông thiểu số có thể tham gia vào quá trình ra quyết định của công ty thông qua quyền biểu quyết của mình Vì vậy, các công ty có sỡ hữu phân tán được định giá cao hơn khi có cơ chế bảo vệ cổ đông thiểu số tốt và có cổ đông kiểm soát (La Porta và cộng sự, 2002; Shleifer và Vishny,1997; Bethel, Liebeskind và Opler ,1998)
Đối với sở hữu nhà nước, Qi và cộng sự (2000) cho thấy sở hữu nhà nước ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của công ty do khi đó, ngoài mục đích lợi nhuận, doanh nghiệp còn hướng đến các mục đích khác Tuy nhiên, cũng có nghiên cứu cho rằng, ngoài ảnh hưởng tiêu cực thì sở hữu nhà nước cũng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp vì nhà nước có sức mạnh điều chỉnh hoạt động và kết quả hoạt động của công ty theo hướng có lợi cho mình (Tian và Estrin, 2007)
Ngoài ra, về vấn đề sở hữu cũng có tranh cãi về quan hệ nhân - quả giữa các yếu tố quản trị công ty và hiệu qủa hoạt động Đa số các nghiên cứu cho rằng hoạt động của công ty bị tác động bởi cấu trúc sở hữu nhưng cũng có những nghiên cứu cho
Trang 26kết quả ngược lại, là hiệu quả hoạt động ảnh hưởng và quyết định đến cấu trúc sở hữu (Kole, 1996; Cho, 1998) Ngoài ra, nghiên cứu
b) Tính chất của HĐQT và hiệu quả hoạt động của công ty niêm yết
Eisenberg và cộng sự (1998) và Yermack (1996) cho thấy quy mô HĐQT và giá trị công ty có tương quan âm vì số lượng thành viên HĐQT quá nhiều sẽ dẫn đến tình trạng có thành viên không tham gia tích cực vào hoạt động của HĐQT mà dựa vào hành động của các thành viên khác, khi này, chức năng kiểm soát và giám sát Ban Giám đốc của HĐQT sẽ được thực hiện kém hiệu quả Tương tự, Afrifa và Tauringana (2015) cũng cho thấy mối quan hệ tiêu cực giữa kích thước HĐQT và hiệu quả hoạt động Tuy nhiên Dalton và cộng sự (1998), Pearce và Zahra (1992) lại cho rằng, quy
mô HĐQT càng lớn thì càng có nhiều ý kiến đóng góp chuyên sâu giúp cải thiện việc điều hành và nâng cao hiệu quả hoạt động Cùng ý kiến đó là Jacling và Johl (2009) khi nghiên cứu về cấu trúc HĐQT và hiệu quả hoạt động ở Ấn Độ, kết quả cho thấy quy mô HĐQT tương quan dương với ROA và Tobin‟Q, quy mô trung bình HĐQT trong mẫu nghiên cứu của Jackling và Johl (2009) là 9 thành viên, điều này cũng phù hợp với quy tắc thực hành tốt nhất về quản trị doanh nghiệp của OECD khuyến nghị
số lượng thành viên HĐQT từ 5 đến 9 là tốt nhất
Về tác động của tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập và hiệu quả hoạt động của CTNY thì có 2 luồng ý kiến: luống ý kiến thứ nhất tín nhiệm thành viên HĐQT độc
lập và cho thấy có sự tương quan dương giữa tính độc lập của HĐQT (đo bằng số
lượng thành viên không kiêm nhiệm) với hiệu quả hoạt động của công ty (Fama và Jensen, 1983; Bhagat và Black, 2000) Ý kiến thứ hai thì tín nhiệm thành viên HĐQT kiêm nhiệm vì cho rằng những thành viên này sẽ có được những thông tin tốt nhất giúp đánh giá hiệu quả hơn đối với các nhà quản trị cao cấp Ngoài ra, trường phái này cho rằng những thành viên độc lập làm việc bán thời gian và có thể cùng lúc tham gia HĐQT nhiều công ty nên không thể hiểu những khó khăn của công ty để đánh giá,
thực hiện tốt công việc (Baysinger và Hoskisson, 1990)
Sự ảnh hưởng của chủ tịch HĐQT kiêm nhiệm TGĐ và hiệu quả hoạt động của CTNY thì các nghiên cứu chưa có sự thống nhất về vấn đề này: Hướng nghiên cứu thứ nhất cho rằng Chủ tịch HĐQT kiêm nhiệm TGĐ sẽ có lợi cho công ty vì tạo ra sự
Trang 27thống nhất trong lãnh đạo công ty, nếu tách biệt sẽ tạo thêm chí phí mà công ty phải gánh chịu (Finkelstein và D‟Aveni, 1994; Brickley, Coles, và Jarrell, 1997; Dahya và Travlos, 2000; Faleye, 2007) Tuy nhiên, có nhiều nghiên cứu cho lập luận trái ngược, các nghiên cứu tìm thấy bằng chứng cho thấy không có mối quan hệ đáng kể giữa việc kiêm nhiệm và giá trị công ty, các công ty thay đổi cơ cấu lãnh đạo để đối phó tình trạng suy giảm hoạt động nhưng sau khi thay đổi tình hình không thay đổi (Daily và Dalton, 1997; Chen, Lin và Yi, 2008; Dahya, 2005)
c ) Tính chất Ban Giám đốc và hiệu quả hoạt động của CTNY
Khi Ban Giám đốc sở hữu một lượng cổ phần càng lớn thì họ sẽ có xu hướng
ra những quyết định để tối đa hóa giá trị tài sản chủ sở hữu, cũng chính là tối đa hóa giá trị tài sản của công ty Hiệu ứng này cho ta một trong những giải pháp để kiểm sóat vấn đề người đại diện ở những thị trường mà các công ty có sở hữu phân tán, nơi
cổ đông không phải là nhà quản lý bằng cách tạo cơ hội cho Ban Giám đốc sở hữu cổ phần của công ty (Jensen và Meckling, 1976) Trong khi đó, một số nghiên cứu cho rằng quy định, nguyên tắc của thị trường sẽ bắt buộc các nhà quản lý phải tập trung mục đích tối đa hóa giá trị tài sản chủ sở hữu dù họ sở hữu lượng cổ phiếu rất ít Nhưng, với một mức cổ phần sở hữu nhất định, những đặc quyền dành cho Ban Giám đốc như lương, thưởng… có thể còn vượt quá cả những thua lỗ mà họ phải gánh chịu khi giá trị công ty giảm Khi tỷ lệ sở hữu cổ phần tăng lên, họ sẽ có thêm quyền để có thể yêu cầu những đặc quyền lớn hơn dành cho họ, đôi khi hy sinh quyền lợi của cổ đông mà không sợ bị phản ứng hay trừng phạt Khi này, việc kiểm sóat các hoạt động của Ban Giám đốc sẽ trở nên khó khăn, và đó chính là hiệu ứng “Ngăn chặn” (Demsetz, 1983; Fama và Jensen, 1983) Một số nghiên cứu định lượng về sự ảnh hưởng của số lượng cổ phiếu BGĐ sở hữu và hiệu quả hoạt động tại những môi trường khác nhau cũng cho kết quả tương tự (Morck và cộng sự, 1988; McConnell và Servaes, 1990; Mudambi và Nicosia , 1998; Hermalin và Weisback, 1991)
d) Mức xếp hạng quản trị công ty và hiệu quả hoạt động của CTNY
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy có sự ảnh hưởng của mức xếp hạng quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động của công ty niêm yết Sự ảnh hưởng ở các quốc gia giữa các khu vực khác nhau là khác nhau vì mỗi quốc gia có hệ thống pháp luật, quy
Trang 28định về quản trị công ty riêng, cũng như tồn tại những khác biệt mang tính đặc thù như khác biệt về cơ chế sở hữu, điều hành công ty… Mức xếp hạng quản trị công ty được cấu thành bởi các yếu tố như quyền của cổ đông, quyền được đối xử bình đẳng của các
cổ đông, vai trò của các bên liên quan, minh bạch thông tin, trách nhiệm của HĐQT, chính vì vậy, khi công ty có mức xếp hạng quản trị công ty cao thì những yếu tố trên được bảo đảm và thực hiện tốt, và từ đó tác động tích cực đến hoạt động của công ty Khi quyền của cổ đông được đảm bảo và cổ đông được đối xử công bằng thì sẽ gắn kết
cổ đông với công ty, đây chính là nguồn cung cấp vốn giá rẻ cho công ty, khi các bên
có quyền lợi liên quan được đảm bảo và thông tin được minh bạch sẽ tạo ra sự tin tưởng của nhà đầu tư cũng như đối tác, đây chính là yếu tố quyết định sự sống còn của công ty trong giai đoạn khó khăn, khủng hoảng (Gompers và cộng sự, 2003; Brown và Caylor, 2006; Drobetz, Schillhofer, và Zimmermann, 2004; Jensen và Meckling, 1976; Zheka, 2003; Christina, 2002; Bauer và cộng sự, 2004; Chong và López, 2006; Klapper và Love, 2004; Gary và Gonzalez, 2008; Leal và Silva, 2005; Black, Jang và Kim, 2006; Facici và Aybar, 2012)
Tại một số nước đang phát triển, có nền kinh tế đang chuyển đổi cũng có những nghiên cứu về ảnh hưởng của mức xếp hạng quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động của CTNY Khi nghiên cứu tại Ukraina, Zheka (2006) cho thấy có sự quan hệ mật thiết giữa điểm quản trị công ty và doanh thu thuần, hồi quy tuyến tính của nghiên cứu cũng cho thấy các chỉ số về quyền cổ đông, tính minh bạch hay cơ cấu của HĐQT có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động Kanellos và George (2007) nghiên cứu 262 công ty ở Hy Lạp và cho thấy những công ty có chỉ số quản trị công ty thấp thì có giá trị Tobin‟q cao hơn những doanh nghiệp có chỉ số quản trị cao, và kết luận rằng thị trường đánh giá cao những thông lệ quản trị tốt so với quyền cổ đông thông qua giá cổ phiếu Tại Ấn Độ, Balasubramanian, Black và Khanna (2008) tìm thấy mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa thống kê giữa giá thị trường và điểm quản trị công ty, doanh nghiệp lớn hơn đo bằng log (tài sản) thì có giá trị Tobin‟q thấp hơn, những doanh nghiệp có sở hữu của cổ đông nội bộ hay cổ đông nước ngoài cao hơn thì có giá trị Tobin‟q cao hơn Nghiên cứu tại Thái Lan cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa điểm
Trang 29quản trị công ty và ROA, ROE, CFO, FCF, và doanh số của mỗi nhân viên (Hodgson, Lhaopadchan, và Buakes, 2011)
Ngoài ra, trên thế giới cũng có một số nghiên cứu, nghiên cứu sự ảnh hưởng các thành phần cấu thành mức xếp hạng quản trị công ty như tính minh bạch, quyền cổ đông, vai trò các bên liên quan… đến hiệu quả hoạt động, kết quả cho thấy có sự tác động của tính minh bạch và công bố thông tin trong hầu hết các nghiên cứu (Leal và Silva, 2005; Chong và López, 2006; Gary và Gonzalez, 2008; Gupta và Sharma (2014) Tác giả chưa thấy có nghiên cứu tương tự nào được thực hiện ở Việt Nam
1.1.4.2 Nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, Phạm (2010) nghiên cứu về mối quan hệ giữa các nhân tố quản trị công ty và hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần và cho thấy: Cấu trúc sở hữu tập trung có tương quan âm với hiệu quả hoạt động của công ty được xác nhận trong nhóm công ty có quy mô lao động nhỏ; Việc kiêm nhiệm chức vụ Tổng giám đốc của chủ tịch HĐQT có tương quan dương với hiệu quả hoạt động của công ty được xác nhận trong nhóm công ty có quy mô vốn nhỏ, hoặc nhóm công ty có tỷ lệ nợ thấp; Tỷ lệ sở hữu cổ phần của thành viên BKS có tương quan dương với hiệu quả hoạt động của công ty được xác nhận trong nhóm công ty có sở hữu nhà nước kiểm soát, hoặc nhóm công ty có quy mô vốn nhỏ; Tồn tại đồng thời hiệu ứng “hội tụ lợi ích” và hiệu ứng “ngăn chặn”, được xác nhận trong nhóm công ty có quy mô vốn nhỏ đối với thành viên nước ngoài trong BGĐ Ngoài ra, hiệu ứng “hội tụ lợi ích” còn được phát hiện thấy ở các nhóm công ty có quy mô lao động nhỏ, nhóm công ty
có chất lượng lao động cao, hoặc nhóm công ty có quy mô vốn lớn; Cấu trúc sở hữu phân tán có tương quan âm với hiệu quả hoạt động của công ty bị bác bỏ trong nhóm công ty có tỷ lệ nợ cao; Tỷ lệ sở hữu cổ phần nước ngoài có tương quan dương với hiệu quả hoạt động của công ty không được chứng minh, cũng không bị bác bỏ; Tỷ
lệ sở hữu cổ phần nhà nước có tương quan âm với hiệu quả hoạt động của công ty chưa được chứng minh hoặc bác bỏ
Trần và Dương (2011) cho thấy hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có quan
hệ chặt chẽ với sở hữu quản trị, tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư tổ chức không tác động đến hiệu quả hoạt động; tỷ lệ sở hữu nhà nước, tỷ lệ đầu tư tài sản cố định và tốc độ
Trang 30tăng trưởng không ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động đo bằng Tobin‟q, nhưng khi
đo hiệu quả hoạt động bằng ROE thì tỷ lệ sở hữu nhà nước, và tốc độ tăng trưởng ảnh hưởng thuận và tỷ lệ đầu tư tài sản cố định ảnh hưởng nghịch; quy mô doanh nghiệp và tỷ lệ nợ ảnh hưởng nghịch với hiệu quả hoạt động đo bằng Tobin‟q và ảnh hưởng thuận với hiệu quả hoạt động đo bằng ROE; ngành nghề không ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động
Đào và Hoàng (2012) đã phát hiện số lượng các thành viên trong Ban Giám đốc và các tỷ lệ an toàn vốn có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Võ và Phan (2013) khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa tính chất HĐQT và hiệu quả hoạt động cho thấy quy mô HĐQT tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động công ty do tiềm ẩn chi phí người đại diện Trái ngược với tác động ngược chiều thì thành viên nữ trong HĐQT, trình độ học vấn của HĐQT và quyền kiêm nhiệm có mối quan hệ tích cực với hiệu quả hoạt động công ty
Như vậy, những nghiên cứu về sự ảnh hưởng của quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động của công ty niêm yết thường theo hai hướng Hướng nghiên cứu thứ nhất nghiên cứu ảnh hưởng của những yếu tố thuộc quản trị công ty như sở hữu, tính chất của BGĐ, HĐQT đối với hiệu quả hoạt động đã cho kết quả khẳng định có sự ảnh hưởng, mặc dù sự ảnh hưởng của một số yếu tố chưa rõ ràng Hướng nghiên cứu thứ hai cho thấy kết quả rõ ràng hơn, đó là có sự tác động của mức xếp hạng quản trị công
ty đối với hiệu quả hoạt động của công ty
1.2 Lý do nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, một trong những mục tiêu lớn mà các lãnh đạo công ty mong muốn tạo ra đó là lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Những nghiên cứu đã cho thấy, việc quản trị công ty tốt giúp tăng cường khả năng ra quyết định, nâng cao hiệu quả hoạt động và giảm thiểu rủi ro, cân bằng lợi ích của tất cả các bên liên quan bao gồm cả giám đốc điều hành và không điều hành; cổ đông có thể tin rằng các công ty với thông lệ quản trị công ty tốt chắc chắn tiền đầu tư sẽ được trả lại cho các cổ đông là cổ tức chứ không phải bị chiếm dụng hay làm thất thoát bởi những
Trang 31người trong cuộc; các công ty với thông lệ quản trị công ty tốt hơn kiếm được lợi nhuận nhiều hơn và trả cổ tức bằng tiền mặt nhiều hơn cho các cổ đông của mình
Trong công ty cổ phần, quyền sở hữu và quyền quản lý, điều hành có quan hệ rất mật thiết, việc tách biệt hai quyền này tuy tạo ra tác động tích cực đối với việc huy động các nguồn vốn trong xã hội để phát triển hoạt động của các công ty, nhưng đồng thời lại sinh ra vấn đề mâu thuẫn về lợi ích của chủ sở hữu (cổ đông) và người đại diện (Ban giám đốc) Để giảm thiểu mâu thuẫn này, các quốc gia đã ban hành Quy chế quản trị công ty của riêng quốc gia mình dựa trên những Nguyên tắc Quản trị công ty
mà Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã đưa ra Bộ Nguyên tắc Quản trị công ty của OECD nhằm giúp chính phủ các nước đánh giá và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tổ chức và quản lý cho quản trị công ty ở quốc gia họ và cung cấp các hướng dẫn và khuyến nghị cho thị trường chứng khoán, nhà đầu tư, công ty và các bên khác
có vai trò trong quá trình phát triển quản trị công ty tốt
Trên thế giới, tại những nền kinh tế phát triển, quản trị công ty rất được coi trọng, các quốc gia đều ban hành Quy chế quản trị công ty dựa theo các nguyên tắc quản trị công ty của tổ chức OECD và có rất nhiều nghiên cứu về sự ảnh hưởng của quản trị công ty thông qua mức xếp hạng quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động của công ty niêm yết Đối với những quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi, việc tăng cường quản trị công ty có thể phục vụ cho rất nhiều các mục đích chính sách công quan trọng Việt Nam là nước có nền kinh tế đang phát triển và trong quá trình chuyển đổi, trong nền kinh tế này, luôn tồn tại những đặc thù trong các mối quan hệ sản xuất kinh doanh, quan hệ sở hữu và quan hệ xã hội, và luôn tiềm ẩn những rủi ro, thách thức Khi chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường thì
cơ chế quản trị, điều hành trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh thay đổi một cách toàn diện và mạnh mẽ Trong bối cảnh đó, với khung pháp lý chưa hoàn thiện thì quản trị công ty có vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra những chuẩn mực trong điều hành, giám sát hoạt động của công ty Quản trị công ty hiện nay là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu tại Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế, điều này được thể hiện qua việc Bộ Tài chính đã ban hành Quy chế Quản trị công ty niêm yết vào ngày 13/3/2007 áp dụng cho các công ty niêm yết trên SGDCK
Trang 32Tuy nhiên, quản trị công ty còn khá mới tại Việt Nam Kể từ năm 2000 đến nay, khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam đã phát triển hết sức năng động Số lượng các công ty, đặc biệt là các công ty cổ phần đại chúng đã gia tăng nhanh chóng Song song đó, nền kinh tế Việt Nam cũng đã hội nhập gần như toàn diện với mức độ liên kết ngày càng sâu sắc với kinh tế khu vực và thế giới Trong quá trình đó, áp lực cạnh tranh đối với các công ty ngày càng gay gắt dẫn tới yêu cầu phải hoàn thiện và nâng cao hiệu quả quản trị công ty, đảm bảo vừa phải tuân thủ đúng các quy định của quốc gia, vừa phải phù hợp với các nguyên tắc, tập quán và thông lệ tốt nhất của quốc tế
Có thể thấy tầm quan trọng của quản trị công ty qua trường hợp công ty Bông Bạch Tuyết niêm yết trên HOSE Từ một công lớn về lĩnh vực bông, chiếm 90% thị phần bông y tế và 30% thị phần băng vệ sinh phụ nữ nhưng việc quản trị điều hành công ty không được giám sát chặt chẽ đã dẫn đến những sai lầm về đầu tư, xung đột lợi ích dẫn đến thua lỗ và phải hủy niêm yết Thanh tra công ty cho thấy, quá trình hoạt động đã phát sinh mâu thuẫn trong nội bộ, có nhiều thiếu sót, sai phạm trong quản lý, điều hành khiến hoạt động của Công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết bị trì trệ, kém hiệu quả dẫn đến thua lỗ liên tục trong nhiều năm
Quản trị công ty là yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết hiện nay đối với doanh nghiệp Việt Nam Việt Nam đang nỗ lực xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý về quản trị công
ty, từng bước áp dụng những nguyên tắc quản trị công ty vào thực tế qua việc ban hành “ Quy chế Quản trị công ty”, yêu cầu các công ty niêm yết phải thực hiện và báo cáo tình hình quản trị công ty định kỳ Một trong những biện pháp đơn giản nhất để các công ty thực hiện nghiêm túc công tác quản trị công ty là phải giúp họ nhận thấy được tầm quan trọng của quản trị công ty, muốn làm được điều đó cần có những nghiên cứu để khẳng định sự ảnh hưởng của quản trị công ty đối với hoạt động của công ty, một mặt đóng góp vào hệ thống lý luận về quản trị công ty ở cấp độ vĩ mô, mặt khác hàm ý chính sách hoàn thiện hoạt động quản trị công ty ở cấp độ vi mô
Xuất phát từ vai trò và ý nghĩa của quản trị công ty, những minh chứng về sự ảnh hưởng của quản trị công ty qua các bài nghiên cứu và tình hình thực hiện quản trị công ty của các CTNY tại Việt Nam cũng như đặc điểm của quản trị công ty tại Việt Nam cho thấy, cần có nghiên cứu để chứng minh sự ảnh hưởng và tầm quan trọng của
Trang 33quản trị công ty trong điều kiện khung pháp lý về quản trị công ty chưa hoàn thiện đến hiệu quả tài chính của CTNY trên SGDCK TPHCM để hàm ý những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản trị công ty
Trên thế giới hiện có hai hướng nghiên cứu về quản trị công ty, hướng thứ nhất nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các yếu tố quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động, hướng nghiên cứu này đã có những nghiên cứu tương tự tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu cũng tương tự như những nghiên cứu trên thế giới Với hướng nghiên cứu này, vì xét trên những nhóm yếu tố mang tính chất cục bộ như cấu trúc sở hữu, tính chất BGĐ, tính chất HĐQT nên giá trị các yếu tố có thể thường xuyên thay đổi đối với các CTNY, kết quả nghiên cứu vẫn còn những điểm chưa có kết quả rõ ràng Ở hướng nghiên cứu thứ hai, nghiên cứu về sự ảnh hưởng của mức xếp hạng quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động thì chưa có nghiên cứu tương tự tại Việt Nam, ngoài ra, nghiên cứu theo hướng này cho kết quả khá rõ ràng, vì vậy, tác giả chọn nghiên cứu sự ảnh hưởng của mức xếp hạng quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động Để thực hiện nghiên cứu, tác giả tham khảo, nghiên cứu, xây dựng bảng câu hỏi để đánh giá mức xếp hạng quản trị công ty tại Việt Nam Mặc dù trên thế giới đã có những bài nghiên cứu về sự ảnh hưởng của mức xếp hạng quản trị công ty, cũng xây dựng bảng câu hỏi để đánh giá điểm quản trị công ty, nhưng Việt Nam có đặc thù là TTCK mới hoạt động một thời gian ngắn, khung pháp lý về quản trị công ty còn chưa hoàn thiện nên bảng câu hỏi sẽ được xây dựng theo hướng phù hợp với điều kiện của TTCK Việt Nam, nơi tính tuân thủ chưa được đảm bảo Từ kết quả đánh giá, sẽ nghiên cứu sự ảnh hưởng của mức xếp hạng quản trị công ty lên hiệu quả tài chính
1.3 Câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu
1.3.1 Câu hỏi nghiên cứu
Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu vể sự ảnh hưởng của các yếu tố quản trị công ty và mức xếp hạng quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động và hiệu quả tài chính của CTNY, và kết quả những nghiên cứu đã khẳng định sự ảnh hưởng đó ở những nước có nền kinh tế phát triển và những nước có nền kinh tế đang chuyển đổi
Ở Việt Nam, đã có nghiên cứu theo hướng thứ nhất tương tự với những nghiên cứu trên thế giới và kết quả nghiên cứu đã khẳng định được sự ảnh hưởng của các yếu tố
Trang 34quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động của công ty niêm yết Tuy nhiên, tác giả chưa thấy có nghiên cứu theo hướng thứ hai, là nghiên cứu sự ảnh hưởng của mức xếp hạng quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động Trong khi đó, hướng nghiên cứu này khá cần thiết Trong xu thế hội nhập của nền kinh tế, quản trị công ty tại Việt Nam đang gặp nhiều thách thức, phần lớn các doanh nghiệp vẫn chưa có sự quan tâm đúng mức và còn nhiều thiếu sót trong tuân thủ, cũng như chưa nhận thức đầy đủ về
sự ảnh hưởng của quản trị công ty đến hoạt động của doanh nghiệp Để giúp các doanh nghiệp xác định được mức độ tuân thủ cần xây dựng một bộ chỉ số quản trị công ty phù hợp, và để nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về quản trị công ty cần cho thấy sự tác động của quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động Từ yêu cầu khách quan đó, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu sự ảnh hưởng của mức xếp hạng quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của công ty niêm yết trên SGDCK TPHCM” , với câu hỏi nghiên cứu như sau:
Mức xếp hạng quản trị công ty và các thành phần cấu thành mức xếp hạng quản trị công ty có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả tài chính của công ty niêm yết?
1.3.2 Mục tiêu nghiên cứu
Quản trị công ty đã được chứng minh là yếu tố sống còn với các doanh nghiệp
để phát triển bền vững cũng như hội nhập quốc tế Trong xu thế hội nhập của nền kinh tế, quản trị công ty tại Việt Nam đang gặp nhiều thách thức, trong khi cần quan tâm nhiều hơn tới các tiêu chuẩn quản trị công ty như là một trong những bước quan trọng để tiến tới sự minh bạch và nhằm thu hút thêm sự quan tâm của các nhà đầu tư thì phần lớn các doanh nghiệp vẫn chưa có sự quan tâm đúng mức và còn nhiều thiếu sót trong tuân thủ, điều đó cho thấy các doanh nghiệp chưa nhận thức được vai trò của quản trị công ty, vẫn thi hành theo hướng phải làm theo quy định Trong bối cảnh đó, cần có nghiên cứu thể hiện sự ảnh hưởng của quản trị công ty đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần thúc đẩy nhận thức và tuân thủ các tiêu chuẩn về quản trị công ty tại Việt Nam, đó chính là mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài, mục tiêu cụ thể như sau:
- Mục tiêu chính của nghiên cứu là nghiên cứu sự ảnh hưởng của mức xếp hạng quản trị công ty đối với hiệu quả tài chính của công ty niêm yết, và nghiên cứu
Trang 35sự tác động của các thành phần cấu thành mức xếp hạng quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của công ty niêm yết, cụ thể là kiểm định mối tương quan giữa hiệu quả tài chính của công ty thể hiện qua giá trị thị trường, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của công ty niêm yết với các thành phần cấu thành mức xếp hạng quản trị công ty Sau khi chứng minh sự ảnh hưởng của mức xếp hạng quản tri công ty lên hiệu quả hoạt động, nghiên cứu sẽ đề xuất một số hàm
ý chính sách để nâng cao mức xếp hạng quản trị công ty
- Để thực hiện mục tiêu chính, trước tiên, cần xây dựng bảng câu hỏi để đánh giá mức xếp hạng quản trị công ty niêm yết tại Việt Nam Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị công ty, tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào xây dựng bảng câu hỏi để đánh giá mức xếp hạng quản trị công ty Việt Nam có đặc thù là TTCK mới hoạt động một thời gian ngắn, khung pháp lý về quản trị công ty còn chưa hoàn thiện nên bảng câu hỏi sẽ được xây dựng theo hướng phù hợp với điều kiện của TTCK Việt Nam, nơi tính tuân thủ chưa được đảm bảo, đây là đóng góp mới của đề tài
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Theo mục tiêu nghiên cứu đã được trình bày trên đây thì đối tượng nghiên cứu của luận án là mối quan hệ giữa mức xếp hạng quản trị công ty của công ty niêm yết
và hiệu quả tài chính Đối tượng nghiên cứu xác định phạm vi nghiên cứu, theo đó, phạm vi nghiên cứu của luận án là hiệu quả tài chính và mức xếp hạng quản trị công
ty đối với những công ty niêm yết, cụ thể là những công ty niêm yết trên SGDCK
TP.HCM Thời gian khảo sát và thu thập dữ liệu là năm 2015 Thời gian khảo sát là
1 năm do đặc điểm của quản trị công ty là ít biến động theo thời gian, điểm quản trị công ty thay đổi không nhiều qua các năm, vì vậy, không cần thiết phải nghiên cứu trong nhiều năm, biến thời gian sẽ ít ý nghĩa hoặc không có ý nghĩa Thực tế cho thấy, qua các đánh giá điểm quản trị công ty của IFC hay đánh giá điểm quản trị công ty khu vực Asean thì đều cho kết quả biến động rất ít qua các năm, từ năm
2009 đến 2011, điểm số quản trị công ty trung bình tăng giảm 1 điểm mỗi năm và từ năm 2012 đến 2014 tăng trung bình 6,36 điểm, về lý thuyết, những lĩnh vực của quản trị công ty cũng không thể thay đổi đột biến, mà chỉ có thể thay đổi từ từ qua từng
Trang 36năm
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được lựa chọn là phương pháp gắn kết, phương pháp định tính được sử dụng để làm rõ sự đánh giá của những người liên quan về vấn đề nghiên cứu, xây dựng bảng câu hỏi đánh giá điểm quản trị công ty, tiếp đó, phương pháp định lượng được sử dụng để kiểm định mối quan hệ giữa mức xếp hạng quản trị công ty và hiệu quả tài chính
1.6 Đóng góp mới của luận án
Đóng góp về học thuật: Quản trị công ty đã phổ biến trên thế giới từ lâu, nhưng ở Việt Nam, quản trị công ty mới được các doanh nghiệp quan tâm trong thời gian gần đây khi yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng cao, quản trị công ty tốt là một yêu cầu bắt buộc đối với những doanh nghiệp muốn phát triển bền vững hay hội nhập quốc tế sâu rộng Quản trị công ty là hệ thống các quy định, thông lệ và quy trình mà các công ty phải tuân thủ, và được đánh giá qua điểm quản trị công ty, những doanh nghiệp có điểm quản trị công ty cao thì sẽ có nhiều lợi thế trong hoạt động Để giúp các doanh nghiệp xác định được mức độ tuân thủ cần xây dựng một
bộ chỉ số quản trị công ty phù hợp Trên thế giới, các quốc gia rất coi trọng việc đánh giá điểm quản trị công ty, các công ty được đánh giá điểm quản trị công ty và công
bố hàng năm Tại Việt Nam, trong thời gian gần đây, mặc dù đã có những đánh giá điểm quản trị công ty nhưng khá phức tạp với nhiều câu hỏi, và đánh giá bởi các tổ chức, kết quả không được công bố cụ thể, chỉ mang tính đánh giá chung Các bài nghiên cứu cũng chưa nghiên cứu theo hướng đánh giá điểm quản trị công ty mà chỉ nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố của quản trị công ty Vì vậy, cần xây dựng bảng câu hỏi để đánh giá điểm quản trị công ty một cách đơn giản, dễ thực hiện, và nghiên cứu này góp phần xây dựng bảng câu hỏi để đánh giá điểm quản trị công ty phù hợp đặc thù của TTCK Việt Nam, thông qua việc tham khảo bảng câu hỏi đánh giá thẻ điểm của IFC, dựa trên những quy định pháp lý liên quan, tham khảo từ những nghiên cứu nước ngoài cũng như ý kiến của chuyên gia Bảng câu hỏi được xây dựng theo hướng rút bớt số lượng câu hỏi, các câu hỏi có nội dung rõ ràng, được trả lời dựa trên những dữ liệu có sẵn, công bố công khai, kết quả trả lời theo dạng
Trang 37định lượng nên hạn chế được tính chủ quan Mặt khác, kết quả nghiên cứu sẽ cho thấy sự ảnh hưởng của quản trị công ty đối với hiệu quả tài chính như thế nào trong điều kiện nền kinh tế đang chuyển đổi và khung pháp lý quản trị công ty chưa hoàn thiện, đây là cơ sở để tác giả hàm ý những chính sách để nâng cao mức xếp hạng quản trị các công ty niêm yết
Đóng góp về thực tiễn: Những phát hiện trong nghiên cứu này sẽ góp phần giúp các nhà quản lý, điều hành nhận biết được tầm quan trọng của quản trị công ty đối với hiệu quả hoạt động nói chung và hiệu quả tài chính nói riêng của công ty, qua
đó triển khai, áp dụng những nguyên tắc quản trị công ty và những thông lệ quản trị công ty tốt nhất để tạo ra những lợi thế, giúp doanh nghiệp duy trì sự ổn định, tăng trưởng và hoạt động hiệu quả
1.7 Cấu trúc của luận án
Việc phân chia kết cấu của Luận án dựa vào những yêu cầu, mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu được sử dụng Nghiên cứu trước hết dựa vào khe hổng lý thuyết và yêu cầu thực tế của lĩnh vực nghiên cứu để xác định nhu cầu và hình thành vấn đề nghiên cứu, từ đó, sẽ xác định được mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, sau
đó sẽ xác định phương pháp nghiên cứu Từ mục tiêu và phương pháp nghiên cứu sẽ hình thành các phần chính của nghiên cứu là các chương của Luận án nhằm giải quyết từng vấn đề để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu
Luận án bao gồm 5 chương, được trình bày theo trình tự như sau:
- Chương 1: giới thiệu sơ lược về nghiên cứu, tính cấp thiết của đề tài, mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, kết quả nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài cũng như cấu trúc của luận án
- Chương 2: trình bày cơ sở lý thuyết, phát triển các giả thuyết nghiên cứu và xây dựng mô hình nghiên cứu Chương này trình bày một số lý thuyết về mức xếp hạng quản trị công ty, hiệu quả tài chính, biện luận các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu
- Chương 3: trình bày thiết kế nghiên cứu, xây dựng quy trình nghiên cứu, trình bày thang đo các khái niệm, nghiên cứu sơ bộ đánh giá độ tin cậy của thang đo các khái niệm, hiệu chỉnh và hoàn thiện bảng câu hỏi nghiên cứu chính thức
Trang 38- Chương 4: trình bày nghiên cứu chính thức
- Chương 5: trình bày kết luận với một số hàm ý chính sách nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản trị công ty đối với nhóm công ty có sở hữu nhà nước Chương này cũng trình bày một số hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 39Trong chương 2, luận án sẽ trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu, biện luận giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu
Trang 40CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Hiệu quả tài chính của công ty niêm yết
2.1.1 Công ty niêm yết
Công ty cổ phần (CTCP) là doanh nghiệp, trong đó, vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp có quy định riêng CTCP là chủ thể pháp lý duy nhất được quyền phát hành cổ phiếu
Công ty niêm yết (CTNY) là CTCP được chấp thuận niêm yết cổ phiếu trên Sở Giao dịch Chứng khoán trên lãnh thổ Việt Nam Tính đến 31/12/2015, có 307 cổ phiếu, 1 chứng chỉ quỹ và 39 trái phiếu niêm yết trên SGDCK TP.HCM với tổng giá trị niêm yết là 434.071 tỷ đồng
Các công ty niêm yết được phân thành chín mã ngành theo chuẩn phân ngành toàn cầu (GICS®) được phát triển bởi MSCI Inc và Standard & Poor‟s Sau khi phân ngành, có ba ngành có nhiều công ty hoạt động nhất, chiếm hơn 60% tổng số công ty niêm yết là: công nghiệp, tài chính, và nguyên vật liệu Ba ngành ít công ty nhất là công nghệ thông tin, chăm sóc sức khỏe và năng lượng
2.1.2 Hiệu quả tài chính và tiêu chí đo lường
Có rất nhiều các tiêu chí đo lường hiệu quả tài chính doanh nghiệp, nhưng các tiêu chí thường được sử dụng nhất trong các nghiên cứu có thể chia thành hai loại chính: i) tiêu chí từ báo cáo tài chính; ii) tiêu chí theo thị trường
Có rất nhiều chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính từ cách tiếp cận báo cáo tài chính: ROI, ROA, ROE, DY, ROS, EBIT… Trong đó, các chỉ tiêu được dùng để đo lường hiệu quả tài chính nhiều nhất là lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) Nói chung, hai hệ số được sử dụng phổ biến nhất
là ROA và ROE, tuy nhiên, giá trị của hai hệ số này lại phụ thuộc vào cách tính lợi nhuận Trong khi một số nghiên cứu sử dụng lợi nhuận trước thuế và lãi vay để tính hai hệ số trên (Hu và Izumida, 2008; Le và Buck, 2011; Wang và Xiao, 2011), thì