Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG KĨ NĂNG ĐỌC – HIỂU MỘT SỐ VĂN BẢN MÔN NGỮ VĂN 12 TẬP 2 Người thực hiện: LÊ THỊ CẨM Lĩnh vực nghiên cứ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị Trường THPT Chu Văn An
Mã số: (Do HĐKH Sở GD&ĐT ghi)
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG KĨ NĂNG ĐỌC – HIỂU MỘT SỐ VĂN BẢN
MÔN NGỮ VĂN 12 (TẬP 2)
Người thực hiện: LÊ THỊ CẨM Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục:
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ Văn
- Lĩnh vực khác:
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
Mô hình Đĩa CD (DVD) Phim ảnh Hiện vật khác
(các phim, ảnh, sản phẩm phần mềm)
Năm học: 2016 - 2017
Trang 2SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1 Họ và tên: LÊ THỊ CẨM
2 Ngày tháng năm sinh: 17/11/1987
3 Nam, nữ: Nữ
4 Địa chỉ: 145/17/1/1, Tổ 44, KP.9, Tân Phong, BH - ĐN
7 Chức vụ: Giáo viên, Thư ký hội đồng SP
8 Nhiệm vụ được giao (quản lý, đoàn thể, công việc hành chính, công việc chuyên môn, giảng dạy môn, lớp, chủ nhiệm lớp,…): Thư ký hội đồng sư
phạm, giảng dạy bộ môn Ngữ văn lớp 10a1, 10a3 và 12a2
9 Đơn vị công tác: Trường THPT Chu Văn An
II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân sư phạm
- Năm nhận bằng: 2010
- Chuyên ngành đào tạo: Sư phạm Ngữ văn
III KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy Ngữ Văn THPT
- Số năm có kinh nghiệm: 7
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây: 02
Trang 3MỤC LỤC
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 4
II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.Cơ sở lý luận 4
2.Cơ sở thực tiễn 5
III TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP 5
1.Ôn tập kiến thức cũ 5
2.Thực hành dạng bài tập đọc – hiểu với ngữ liệu sách giáo khoa 6
IV HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI 14
V ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG 15
VI DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 4PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA HỌC SINH TRONG KĨ NĂNG ĐỌC –
HIỂU MỘT SỐ VĂN BẢN MÔN NGỮ VĂN 12 (TẬP 2)
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Một vài năm trở lại đây, môn Ngữ Văn có những thay đổi mạnh mẽ Trong
đó, chúng ta phải kể đến sự thay đổi ở khâu ra đề với những định hướng mới mẻ, mang tính chất phát huy năng lực cảm, hiểu, trình bày suy nghĩ của học sinh nhiều hơn là ghi nhớ các nội dung học tập như trước kia Đây là sự thay đổi cần thiết, phù hợp và có khả năng khơi gợi được tinh thần tự học, tích cực của học sinh Như vậy, rõ ràng cả người dạy và người học cũng cần có những động thái tự điều chỉnh trong quá trình dạy và học để bắt kịp xu thế chung cũng như đảm bảo chất lượng, hiệu quả học tập đạt ở mức tốt nhất Và một trong những điểm mấu chốt ở sự thay đổi ấy chính là cấu trúc của đề thi Ngoài phần nghị luận xã hội và nghị luận văn
học, đề thi Ngữ văn có sự thay đổi rõ rệt trong phần Đọc – hiểu, phần này chiếm tỉ
lệ điểm khoảng 30%, nghĩa là tỉ lệ cũng khá cân bằng và tương đương với hai phần
làm văn còn lại Những câu hỏi trong phần Đọc - hiểu có thể nói phong phú và đa
dạng, thông thường được sắp xếp theo trình tự tăng dần độ khó từ mức độ nhận
biết đến thông hiểu, vận dụng,…Lượng kiến thức được đưa vào phần Đọc – hiểu vì thế cũng mở rộng phạm vi hơn rất nhiều Phạm vi đề cho phần Đọc – hiểu là văn
bản trong hoặc ngoài chương trình sách giáo khoa phổ thông, các câu hỏi về kiến thức không chỉ giới hạn trong chương trình Ngữ văn 12 mà còn bao gồm cả những kiến thức cũ, thậm chí từ chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở Dạng đề như thế yêu cầu cả người dạy và người học phải thường xuyên tự cập nhật, tra cứu, tham khảo thêm các nguồn tài liệu khác nhau để bổ sung nguồn kiến thức
Với mong muốn giúp các em học sinh có thể rèn luyện và nâng cao kĩ năng
để giải quyết tốt các bài tập trong phần Đọc – hiểu, người viết cố gắng mang lại
cảm hứng và tạo điều kiện để học sinh của mình tự vận động, chủ động khám phá,
lĩnh hội tri thức trong quá trình học thông qua đề tài “Phát huy tính tích cực của học sinh trong kĩ năng Đọc – hiểu một số văn bản môn Ngữ Văn 12 (Tập 2)”.
Đề tài này giúp các em đào sâu, củng cố thêm kiến thức liên quan đối với các văn bản được tiếp cận trong sách giáo khoa Trên cơ sở đó, ở một mức độ nhất định, đề tài còn tạo nền tảng và tâm thế vững chắc, định hướng cho các em học sinh có thể
giải quyết những bài tập Đọc – hiểu ngoài phạm vi sách giáo khoa
1 Cơ sở lý luận
“Học” gắn với “hành” từ lâu đã là một yêu cầu quan trọng, đặc biệt lại càng
trở nên cấp thiết trong vấn đề dạy và học hiện nay Giáo viên không thể yêu cầu học sinh một cách chung chung mà nên có sự hướng dẫn để học sinh của mình tự chiếm lĩnh kiến thức, tự thực hành thêm ngoài giờ học trên lớp bằng những định hướng cụ thể, rõ ràng Vì vậy, giáo viên ngoài việc tổ chức để học sinh tiếp cận với các tác phẩm trong chương trình sách giáo khoa thì cũng cần có sự hướng dẫn cho học sinh tự tiếp cận và đào sâu kiến thức sau những tiết học được quy định trên lớp qua việc phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh
Trang 5Học sinh Trung học phổ thông, đặc biệt là học sinh lớp 12 là lứa tuổi đã có
độ trưởng thành nhất định, đã có những trải nghiệm trong cuộc sống, đã được đào tạo bài bản trên nhiều phương diện và có mong muốn được chủ động nhiều hơn, được phát huy nhiều hơn trong quá trình học tập Vì thế, việc giao nhiệm vụ để tăng tính tích cực là phù hợp với nguyện vọng của học sinh, tạo điều kiện để giáo viên có thể khai thác hết những tiềm năng của các em
Muốn giải quyết được các bài tập Đọc – hiểu với ngữ liệu mới theo dạng đề
thi hiện nay thì học sinh cần trải qua cả một quá trình, trong đó nhất thiết phải có thời gian ôn luyện và thực hành trên những ngữ liệu mình đã được học Công việc này sẽ là bước đệm để các em đủ tự tin, đủ kiến thức, đủ kĩ năng khi làm quen, tiếp
cận và giải quyết các bài tập Đọc – hiểu với ngữ liệu mới hoàn toàn Hay nói cách
khác, đó chính là bước chuẩn bị tâm thế thuận lợi cho học sinh, giúp các em yên tâm rằng bài tập với ngữ liệu mới cũng sẽ được giải quyết trên cơ sở dạng bài tập với ngữ liệu sách giáo khoa mà các em đã được ôn tập kĩ càng
2 Cơ sở thực tiễn
Đề tài này được áp dụng với học sinh lớp 12A2, đã có sự cân nhắc về đặc điểm và năng lực học sinh trong lớp Học sinh của lớp ngoài những ưu điểm như ham học hỏi, siêng năng, luôn nỗ lực hoàn thành những yêu cầu học tập mà giáo viên phân công thì còn một số mặt hạn chế nhất định: tính tích cực trong học tập chưa phát huy hết, nhiều kiến thức cũ học sinh đã quên, học sinh còn ngại ngần, e
dè với các ngữ liệu mới…Do đó, giáo viên nhận thấy cần tổ chức và hướng dẫn học sinh trên chính những ngữ liệu quen thuộc mà các em được học trước khi cho
học sinh vận dụng những kiến thức đó vào việc giải quyết các bài tập Đọc – hiểu
với ngữ liệu mới
1 Ôn tập kiến thức cũ
Ôn tập kiến thức cũ thực sự là bước quan trọng không thể bỏ qua Như đã
trình bày ở trên, phạm vi kiến thức được đưa vào trong phần Đọc – hiểu thực sự rất
rộng, có cả những đơn vị kiến thức ở cấp Trung học cơ sở Do đó, không thể không tiến hành bước ôn tập kiến thức cũ cho học sinh Bước này nếu không làm chắc thì cũng khó có thể phát huy được hiệu quả công việc khi giao các nhiệm vụ tiếp theo cho các em Tuy nhiên, đối với phần ôn tập này, giáo viên giảng dạy hoàn toàn có thể linh động để hướng dẫn cho học sinh của mình Tùy thuộc vào đặc điểm đối tượng học sinh, tùy vào tiến độ chương trình mà có thể quyết định thời gian ôn tập ngắn hay dài, cường độ ôn tập nhanh hay chậm, học sinh tự ôn tập tại nhà hay ôn tập trên lớp, hình thức ôn tập như thế nào,…Nội dung ôn tập có thể định hướng theo một vài nhóm đơn vị kiến thức như sau:
- Các phương thức biểu đạt
- Các phong cách ngôn ngữ chức năng
- Các biện pháp tu từ
- Các phép liên kết câu và liên kết đoạn văn
Trang 6- Các thao tác lập luận
- Nghĩa tường minh và hàm ý
- Cấu trúc câu
- Cách tạo lập một đoạn văn
- …
Ngoài ra, giáo viên cũng cần nhấn mạnh với học sinh rằng các câu hỏi Đọc
– hiểu luôn có thể mở ra theo nhiều hướng, nhiều chiều, nhiều dạng thức khác
nhau, học sinh cần tùy cơ ứng biến, nghĩa là phải linh hoạt khi giải quyết chứ không thể có sự rập khuôn, phải biết vận dụng cái chung được học để giải quyết cái riêng được hỏi Đối với thơ, cần chú ý các hình ảnh thơ, ngôn từ của thơ hay nhịp điệu thơ Đối với các tác phẩm truyện, giáo viên nên lưu ý học sinh: bất cứ một chi tiết nhỏ nào (lời nói, cử chỉ, hành động, diễn biến,…) trong tác phẩm cũng
có khả năng hàm chứa một ý nghĩa đặc biệt nên khi thực hành các dạng bài tập liên quan tới truyện, học sinh nhớ xoáy vào các chi tiết đó để hiểu tác phẩm sâu sắc hơn Đây cũng là dạng bài tập được thực hiện theo định hướng của đề tài này, nên giáo viên cần nhấn mạnh với học sinh
2 Thực hành dạng bài tập Đọc – hiểu với ngữ liệu sách giáo khoa
b Công tác chuẩn bị
Đây không phải là một dạng bài tập thông thường theo kiểu “Giáo viên giao việc, học sinh hoàn thành” mà là dạng bài tập cần có sự sát cánh của giáo viên Giáo viên nên theo sát học sinh trong suốt quá trình thực hiện thì mới có thể mang lại hiệu quả như mục đích đề ra ban đầu dù hiệu quả đó cũng còn chịu sự chi phối
từ nhiều yếu tố như năng lực của học sinh, khả năng truyền cảm hứng của giáo viên, quỹ thời gian học tập,…Do đó, giáo viên nhất thiết phải vạch sẵn tiến trình thực hiện với thời gian biểu chi tiết như sau (không tính thời gian ôn tập lại kiến thức cũ như đã trình bày ở phần trước):
- Một tuần cho việc hướng dẫn chung: Trong một tuần này, giáo viên triển khai
nhiệm vụ cho học sinh, phân nhóm, giao việc, hướng dẫn học sinh những dạng câu hỏi cụ thể bằng một số đề đã được giáo viên chuẩn bị sẵn để học sinh hình dung được nhiệm vụ của mình
+ Phân nhóm, giao việc:
Đối với chương trình Ngữ văn 12, các văn bản văn học trong phạm vi sách giáo khoa cũng khá đa dạng, phong phú, thường là những văn bản có dung lượng
lớn nên việc rèn luyện và phát triển kĩ năng Đọc – hiểu cho học sinh có thể bắt đầu
từ chính những văn bản đó Như vậy, giáo viên sẽ định hướng cho học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập một cách cụ thể với các văn bản sách giáo khoa
Ở dạng bài tập này, giáo viên yêu cầu học sinh chọn một đoạn trích bất kì trong văn bản đã học, sau đó các em tự đặt ra những câu hỏi về nội dung, ý nghĩa hay các chi tiết nghệ thuật quan trọng của đoạn trích v.v… Một tổ học sinh có thể chia thành hai nhóm nhỏ hơn chỉ khoảng 3– 4 thành viên tùy theo số lượng Một nhóm nhỏ chọn đoạn trích trong tác phẩm và đặt ra các câu hỏi xoay quanh đoạn
Trang 7văn bản đã chọn Nhóm nhỏ còn lại thực hiện nhiệm vụ trả lời các câu hỏi đó Sau cùng các nhóm nhỏ hợp nhất lại, cùng thảo luận và trao đổi một lần cuối để chốt lại các câu hỏi cũng như các phương án trả lời Sau khi đã thống nhất tất cả các nội dung thảo luận, học sinh từng tổ sẽ nộp lại sản phẩm làm việc của nhóm mình cho giáo viên Thời gian thực hiện nhiệm vụ cũng sẽ được giáo viên quy định rõ ràng,
cụ thể Học sinh cũng không nhất thiết phải chia thành các nhóm nhỏ hơn, nếu thời gian cho phép, các em có thể tổ chức thảo luận chung cho tất cả các phần việc của
tổ Nói chung, học sinh có thể tự điều chỉnh trong quá trình làm việc miễn sao các
em đảm bảo được đúng thời gian quy định của giáo viên là được
Đối với đề tài này, giáo viên chọn bốn tác phẩm trong chương trình sách
giáo khoa Ngữ Văn 12 (Tập 2) cho học sinh thực hành, bao gồm: Vợ nhặt – Kim Lân, Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành, Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi, Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu Lựa chọn như vậy để phù hợp
với quỹ thời gian ôn tập vì đây là những tác phẩm thuộc phần đầu của chương trình học kì 2, học sinh sẽ có thời gian để chuẩn bị bài tập và nhiệm vụ được giao
Để cho công bằng, giáo viên làm phiếu và cho học sinh bốc thăm, trúng bài nào, học sinh sẽ làm bài đó Giáo viên quy định mỗi tác phẩm như vậy, học sinh cần soạn tối thiểu hai đề, nếu nhóm nào soạn được hơn quy định và có chất lượng sẽ được xem xét cộng điểm ưu tiên Tương ứng với bốn tác phẩm, giáo viên cũng chia học sinh trong lớp thành bốn tổ để thực hành
Việc chia tổ và chọn tác phẩm tùy thuộc vào giáo viên và học sinh, có thể nhiều hơn hoặc ít hơn tùy theo những điều kiện thực tế
+ Triển khai một số bài tập mẫu:
Để hỗ trợ cho học sinh trong dạng bài tập này, giáo viên cũng nên có định hướng cụ thể rõ ràng và triển khai một số dạng câu hỏi trong bài tập mẫu để các
em học sinh nắm “tinh thần”, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho quá trình học sinh tự soạn một bài tập cho mình
Một số bài tập mẫu được giáo viên triển khai như sau:
Bài mẫu 1 Đọc đoạn văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
“Thị lẳng lặng theo hắn vào trong nhà, cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên
mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại Thị đảo mắt nhìn xung quanh, cái ngực gầy lép nhô lên, nén một tiếng thở dài Tràng xăm xăm bước vào trong nhà, nhấc tấm phên rách sang một bên…Cả hai bỗng cùng ngượng nghịu Tràng đứng tây ngây ra giữa nhà một lúc, chợt hắn thấy sờ sợ Chính hắn cũng không hiểu sao hắn sợ…” (Trích Vợ nhặt – Kim Lân)
Câu 1 Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn trên là gì?
Câu 2 Nêu nội dung của đoạn văn?
Câu 3 Chỉ ra những từ láy được tác giả sử dụng và cho biết chúng góp phần như
thế nào trong việc diễn đạt nội dung?
Trang 8Câu 4 Hãy lí giải vì sao thị “nén một tiếng thở dài”, cả Tràng và thị “bỗng cùng
ngượng nghịu” và Tràng “thấy sờ sợ” Từ đó, anh/chị có nhận xét như thế nào về
nghệ thuật miêu tả tâm lí của nhà văn Kim Lân?
Bài mẫu 2 Đọc đoạn văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
“Trong bóng tối, Mị đứng im lặng, như không biết mình đang bị trói Hơi
rượu còn nồng nàn, Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi, những đám chơi…Mị vùng bước đi Nhưng tay chân đau không cựa được Mị không nghe tiếng sáo nữa Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách Ngựa vẫn đứng yên, gãi chân, nhai cỏ Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa…Cả đêm ấy Mị phải trói đứng như thế Lúc thì khắp người bị dây trói thít lại, đau nhức Lúc lại nồng nàn tha thiết nhớ Hơi rượu tỏa Tiếng sáo.” (Trích Vợ chồng A Phủ – Tô
Hoài)
Câu 1 Đoạn văn trên được viết theo phương thức biểu đạt nào là chính?
Câu 2 Nêu nội dung chính của đoạn văn?
Câu 3 Chi tiết “Mị vùng bước đi” khi đang bị trói đứng mang ý nghĩa gì?
Câu 4 Hai câu văn đặc biệt cuối đoạn trích trên có giá trị nghệ thuật như thế nào? Câu 5 Viết một đoạn văn ngắn cảm nhận về tâm trạng của nhân vật Mị được thể
hiện qua đoạn trích trên? (7 - 10 câu)
- Hai tuần cho học sinh làm việc nhóm - soạn đề:
+ Tuần đầu tiên: Học sinh tìm kiếm ngữ liệu phù hợp trong tác phẩm nhóm mình bốc thăm được, thảo luận cùng nhóm và chốt phần ngữ liệu đã lựa chọn Sau
đó, các em tiếp tục họp nhóm, đặt ra những câu hỏi xoay quanh ngữ liệu đã lựa chọn Giáo viên lưu ý với học sinh, để có được những câu hỏi hay, xoáy sâu vào nội dung tác phẩm thì học sinh cũng phải chọn được những đoạn ngữ liệu “đắt”
+ Tuần thứ hai: Học sinh thảo luận để soạn đáp án cho chính những câu hỏi
đã được đặt ra trước đó; rà soát lại lần cuối hệ thống câu hỏi cũng như phần trả lời
để hạn chế việc sai sót Việc thảo luận đáp án là cần thiết Vì các bài tập này sau khi hoàn tất sẽ được đưa ra cho học sinh cả lớp thực hành chung Vậy nhóm nào soạn đề cũng cần chuẩn bị trước đáp án để sau này sẽ làm “chủ trì” những giờ thực hành khi có bài tập của nhóm mình
- Một tuần cho giáo viên thu sản phẩm và điều chỉnh, sửa chữa các câu hỏi của học sinh đối với phần nhiệm vụ các em được giao.
Như vậy, sau khi hoàn tất nhiệm vụ, học sinh sẽ nộp sản phẩm cho giáo viên kiểm tra và điều chỉnh Để khuyến khích học sinh hăng hái tham gia hoạt động và thực hiện đúng tiến độ thời gian đề ra ban đầu, giáo viên có thể áp dụng việc cộng điểm khuyến khích cho hai nhóm nộp sớm nhất và phải đảm bảo chất lượng bài tập
Lưu ý:
+ Học sinh có thể sắp xếp công việc học tập để hoàn tất nhiệm vụ được giao trong thời gian quy định hai tuần, chứ không nhất thiết phải chia công việc ra hai
Trang 9phần, hai tuần rõ ràng như trên Giáo viên chia như trên là để giảm bớt áp lực cho học sinh, tránh làm ảnh hưởng đến các môn học khác
+ Dạng bài tập này được triển khai sau khi học sinh đã học xong tất cả các tác phẩm trong phạm vi mà giáo viên dự định cho học sinh thực hành
+ Trong quá trình thực hành, giáo viên và học sinh linh hoạt xử lí các tình huống xảy ra sao cho phù hợp nhất với điều kiện thực tế
c Sản phẩm của học sinh
Học sinh sau khi được hướng dẫn một số điều cần thiết như đã trình bày ở trên sẽ tiến hành làm việc nhóm với quỹ thời gian quy định Sau đó, giáo viên sẽ trực tiếp gợi mở, trao đổi và góp ý đối với từng nhóm để các em có được những câu hỏi tốt nhất Giáo viên tập trung điều chỉnh để học sinh hướng những câu hỏi vào những vấn đề trọng tâm của tác phẩm, còn phần đáp án không nhất thiết các
em phải đưa ra thật chính xác và đầy đủ vì những bài tập này sẽ được sử dụng để
ôn tập và thực hành cho học sinh cả lớp, nên sau những buổi thảo luận, tranh luận trên lớp, học sinh và giáo viên mới chốt lại đáp án
Cụ thể, sản phẩm làm việc của học sinh như sau:
Đề 1: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
“Thế là thị ngồi sà xuống, ăn thật Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì Ăn xong thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng, thở:
- Hà, ngon! Về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố
Hắn cười:
- Làm đếch gì có vợ Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về
Nói thế Tràng cũng tưởng là nói đùa, ai ngờ thị về thật Mới đầu anh chàng cũng chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng Sau không biết nghĩ thế nào hắn tặc lưỡi một cái:
- Chậc, kệ!”
(Trích Vợ nhặt – Kim Lân)
Câu 1 Hình ảnh “Thị cắm đầu ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện
trò” gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về thân phận và phẩm chất của con người trong nạn đói?
Câu 2 Khi thị bất ngờ đồng ý theo Tràng về, anh có suy nghĩ như thế nào?
Câu 3 Trình bày cảm nhận về ý nghĩa của chi tiết Tràng tặc lưỡi “Chậc, kệ!” (có
thể trình bày bằng một đoạn văn ngắn khoảng 5 câu)
Đề 2: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
“Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành Bà
Trang 10cụ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia cảnh với con dâu Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này:
- Tràng ạ Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gà cho mà xem”
(Trích Vợ nhặt – Kim Lân)
Câu 1 Những hình ảnh nào trong đoạn trích trên tái hiện được cái nghèo, cái khổ
ngày đói?
Câu 2 Chỉ ra phép liên kết được sử dụng trong hai câu văn “Bà cụ vừa ăn vừa kể
chuyện làm ăn, gia cảnh với con dâu Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này”
Câu 3 Tại sao trong lúc ăn, bà lão nói toàn chuyện vui về sau?
Câu 4 Có ý kiến cho rằng các nhân vật trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân
luôn hướng về sự sống ngay cả khi cuộc sống của họ đang mấp mé bên bờ vực thẳm của cái chết Hãy chỉ ra điều đó qua nhân vật bà cụ Tứ ở đoạn trích trên
Đề 1: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
“Tnú không cứu sống được vợ con Tối đó, Mai chết Còn đứa con thì đã chết rồi Thằng lính to béo đánh một cây sắt vào ngang bụng nó, lúc mẹ nó ngã xuống, không kịp che cho nó Nhớ không, Tnú, mày cũng không cứu sống được vợ mày Còn mày thì chúng nó bắt mày, trong tay mày chỉ có hai bàn tay trắng, chúng
nó trói mày lại Còn tau thì lúc đó tau đứng sau gốc cây vả Tau thấy chúng nó trói mày bằng dây rừng Tau không nhảy ra cứu mày Tau cũng chỉ có hai bàn tay không Tau không ra, tau quay đi vào rừng, tau đi tìm bọn thanh niên Bọn thanh niên thì cũng đã đi vào rừng, chúng nó đi tìm giáo mác Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa? Nhớ lấy, ghi lấy Sau này tau chết rồi, bay còn sống phải nói lại cho con cháu: Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!…”
(Trích “Rừng xà nu” – Nguyễn Trung Thành)
Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt chính và phong cách ngôn ngữ của đoạn
văn?
Câu 2 Tại sao cụ Mết lại nhắc đi nhắc lại việc Tnú không cứu được vợ con của
mình?
Câu 3 Câu nói của cụ Mết “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!” có ý
nghĩa như thế nào?
Câu 4 Câu “Nghe rõ chưa, các con, rõ chưa? Nhớ lấy, ghi lấy” của cụ Mết nhằm
nhắn nhủ điều gì tới dân làng Xô man?
Đề 2: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
“Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy Cạnh một cây xà
nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi