TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI TẠ PHƯƠNG LINH KHÓA 2013-2015 QUẢN LÝ KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN TUYẾN PHỐ TÔN ĐỨC THẮNG, QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI Chuyên ngành: Quản lý đô th
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC HÀ NỘI
TẠ PHƯƠNG LINH KHÓA 2013-2015
QUẢN LÝ KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN TUYẾN PHỐ TÔN ĐỨC THẮNG, QUẬN ĐỐNG ĐA,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý đô thị và công trình
Mã số: 60.58.01.06 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ VÀ CÔNG TRÌNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN MINH SƠN
Trang 4Để hoàn thành luận văn Thạc sỹ Quản lý đô thị và công trình, với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành bày tỏ lời cảm ơn tới PGS.TS, Nguyễn Minh Sơn đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của Khoa Sau đại học – Đại học Kiến trúc Hà Nội, sự tận tình giảng dạy của các thầy cô trong suốt thời gian học và sự giúp đỡ của bạn bè cùng lớp
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội, UBND quận Đống Đa đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ tài liệu phục vụ nghiên cứu để hoàn thành luận văn Thạc sỹ Quản lý đô thị và công trình
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp, những người đã chia sẻ khó khăn, động viên, tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tuy đã rất cố gắng nhưng do điều kiện thời gian, kiến thức của bản thân còn hạn chế nên nội dung Luận văn cũng không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, đặc biệt là các thầy
cô trực tiếp phản biện luận văn này để nội dung luận văn hoàn thiện hơn, có tính thực tiễn hơn, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý kiến trúc cảnh quan
đô thị
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Tạ Phương Linh
Trang 5Tôi xin cam đơn Luận văn thạc sỹ là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu khoa học, kết quả nghiên cứu của Luận văn là trung thực
và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Tạ Phương Linh
Trang 6MỤC LỤC Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục sơ đồ, bảng biểu
Danh mục hình minh họa
MỞ ĐẦU 1
Tính cấp thiết của đề tài 1
Mục đích nghiên cứu 2
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
Nội dung nghiên cứu 2
Phương pháp nghiên cứu 2
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
Các khái niệm dùng trong luận văn 3
NỘI DUNG 7
Chương I: Tổng quan về không gian kiến trúc cảnh quan và công tác quản lý không gian kiến trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội 7 1.1 Khái quát về tuyến phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội 7
Trang 71.2 Hiện trạng không gian kiến trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng,
quận Đống Đa, thành phố Hà Nội 11
1.2.1 Hiện trạng các công trình kiến trúc 11
1.2.2 Hiện trạng cây xanh, vỉa hè 19
1.2.3 Hiện trạng các công trình hạ tầng kỹ thuật có liên quan đến không gian kiến trúc cảnh quan và các tiện ích đô thị 22
1.3 Thực trạng công tác quản lý kiến trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội 26
1.3.1 Thực trạng cơ chế quản lý kiến trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội 26
1.3.2.Thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý không gian kiến trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội 31
1.3.2 Sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý kiến trúc cảnh quan 35 1.4 Những vấn đề còn tồn tại 36
Chương II: Cơ sở khoa học quản lý kiến trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội 39
2.1 Cơ sở lý luận về kiến trúc cảnh quan và quản lý kiến trúc cảnh quan 39
2.2.1 Các lý thuyết về kiến trúc cảnh quan 39
2.1.2 Quản lý Nhà nước về kiến trúc cảnh quan 43
2.2 Cơ sở pháp lý 45
2.2.1 Các văn bản pháp luật 45
Trang 82.2.2 Các đồ án quy hoạch được phê duyệt trong phạm vi nghiên cứu không gian kiến trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, thành phố
Hà Nội 48
2.2.3 Quy chế quản lý kiến trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội 51
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến trúc cảnh quan và quản lý kiến trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội 53
2.3.1 Yếu tố tự nhiên 53
2.3.2 Yếu tố kinh tế - xã hội 54
2.3.3 Cơ chế quản lý 55
2.4 Sự tham gia của cộng đồng 56
2.5 Bài học kinh nghiệm 60
2.5.1 Kinh nghiệm trong nước 60
2.5.2 Kinh nghiệm của một số nước có điều kiện tương đồng 62
Chương III: Đề xuất giải pháp quản lý không gian kiến trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội 65
3.1 Quan điểm và mục tiêu 65
3.1.1 Quan điểm 65
3.1.2 Mục tiêu 65
3.2 Đề xuất giải pháp quản lý kiến trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội 66
Trang 93.2.1 Phân vùng quản lý không gian kiến trúc cảnh quan 66 3.2.2 Quản lý các công trình kiến trúc 68 3.2.3 Quản lý hệ thống cây xanh, vỉa hè 74 3.2.4 Quản lý hệ thống hạ tầng kỹ thuật có liên quan đến không gian kiến trúc cảnh quan và các tiện tích đô thị: 77 3.2.5 Giải pháp về cơ chế quản lý kiến trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng 80 3.2.6 Giải pháp nâng cao cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 83 3.2.3 Giải pháp quản lý kiến trúc cảnh quan với sự tham gia của cộng đồng 87 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89 Kết luận 89 Kiến nghị 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1.1 Thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý kiến
trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
32
Sơ đồ 3.1 Đề xuất sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
không gian kiến trúc cảnh quan
85
Trang 11DANH MỤC HÌNH MINH HỌA
Hình 1.1 Vị trí quận Đống Đa trong quy hoạch thành phố Hà Nội 8 Hình 1.2 Vị trí và giới hạn nghiên cứu tuyến phố Tôn Đức Thắng trên địa bàn quận Đống Đa 10
Hình 1.3 Bản đồ hiện trạng các công trình công cộng và di tích, công trình tôn giáo hai bên tuyến phố Tôn
Hình 1.4 Thực trạng kiến trúc hai bên tuyến phố Tôn Đức Thắng 13 Hình 1.5 Thực trạng màu sắc công trình hai bên tuyến phố Tôn Đức Thắng 13 Hình 1.6 Nhà dân xây dựng lấn chiếm vỉa hè, lòng đường 14
Hình 1.12 Hiện trạng các công trình kiến trúc đoạn phố Tôn Đức Thắng đi qua Văn Miếu – Quốc Tử Giám 18
Hình 1.14 Một đoạn trên tuyến phố Tôn Đức Thắng hầu như không có cây xanh 20 Hình 1.15 Vườn hoa Văn Miếu nhìn từ ngã tư Tôn Đức Thắng – Cát Linh 21
Trang 12Hình 1.16 Vườn hoa Văn Miếu 21 Hình 1.17 Đoạn phố đi qua Nhà thờ giáo xứ Hàng Bột không có vỉa hè 22 Hình 1.18 Vỉa hè bị đào xới để thi công hạ tầng kỹ thuật và lấp lại không đảm bảo thẩm mỹ 22 Hình 1.19 Hiện trạng đường dây hạ tầng kỹ thuật tại ngõ Thịnh Hào giao cắt với phố Tôn Đức Thắng 24 Hình 1.20 Rác thải được vứt ra ngoài vỉa hè cạnh tủ điện do không có hệ thống thùng thu gom rác 25 Hình 1.21 Điểm chờ xe buýt, điểm tập kết của xe rác, bốt điện ở cùng một vị trí 26
Hình 3.1 Minh họa giải pháp trồng cây xanh trên mặt đứng công trình 75
Hình 3.3 Hình ảnh minh họa cải tạo vỉa hè và bồn cây 77
Trang 13MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài
Không gian cảnh quan là một bộ phận không thể thiếu trong bất kỳ một tổng thể kiến trúc nào Không gian cảnh quan của đô thị nói chung và của đường phố nói riêng cũng vậy Có thể nói kiến trúc cảnh quan đường phố chính là bộ mặt của một đô thị Nó góp phần tạo nên hình ảnh của một đô thị văn minh, sạch đẹp đồng thời nói lên đặc trưng cũng như lịch sử của đô thị đấy
Phố Tôn Đức Thắng nằm ở trung tâm quận Đống Đa, một quận giàu truyền thống lịch sử với nhiều di tích lịch sử văn hóa có giá trị Tuyến phố Tôn Đức Thắng có vai trò quan trọng về giao thông, nằm trên trục giao thông quan trọng của quận Đống Đa kết nối khu vực trung tâm thành phố Hà Nội Nằm trên trục Tôn Đức Thắng còn có những công trình có giá trị lớn về văn hóa lịch sử như: Văn Miếu Quốc Tử Giám, tuy nhiên kiến trúc cảnh quan khu vực vẫn chưa được chú trọng Các công trình kiến trúc đa dạng, nhà dân tự xây không có sự thống nhất về phong cách kiến trúc, sử dụng vật liệu hoàn thiện, màu sắc công trình còn tùy tiện Thêm vào đó, trong quá trình phát triển; nhiều hộ dân, doanh nghiệp kinh doanh tận dụng mặt tiền để quảng cáo gây nên mất mỹ quan đô thị Tình trạng lấn chiếm vỉa hè, lòng đường thường xuyên diễn ra làm ảnh hưởng nhiều đến không gian kiến trúc cảnh quan Công tác quản lý quy hoạch, kiến trúc cảnh quan còn nhiều bất cập, chưa có sự thống nhất giữa các cơ quan chức năng
và giữa các địa bàn quản lý
Nhằm giải quyết vấn đề về không gian cảnh quan, phát huy những giá trị của tuyến phố, tạo cảnh quan và môi trường sống xứng đáng với tuyến phố trung
Trang 14tâm của quận Đống Đa; đề tài “Quản lý kiến trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội” là cần thiết, giải quyết được các vấn
đề cấp bách về kiến trúc cảnh quan của tuyến đường
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý không gian kiến trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng nhằm đảm bảo tính thống nhất và phát huy hình ảnh kiến trúc cảnh quan đặc trưng của tuyến phố Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý kiến trúc cảnh quan đường phố
Phạm vi nghiên cứu: Tuyến phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
Khu vực nghiên cứu thuộc địa phận quận Đống Đa; chạy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam Giới hạn hai đầu là nút giao với đường Đê La Thành, Khâm Thiên và nút giao với phố Nguyễn Thái Học Chiều dài toàn tuyến khoảng 1,5 km, mặt cắt ngang đường từ 15-20m Ranh giới nghiên cứu được lấy từ tim phố Tôn Đức Thắng về hai phía khoảng 25m
Nội dung nghiên cứu
Thực trạng quản lý kiến trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý kiến trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
Đề xuất giải pháp quản lý kiến trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
Phương pháp nghiên cứu
Trang 15 Khảo sát hiện trạng, điều tra thu thập số liệu Phương pháp này trình bày các thành phần chủ yếu, các bước thực hiện bắt đầu bằng việc thảo luận mục đích điều tra, nêu rõ thành phần và mẫu nghiên cứu, các công cụ điều tra được sử dụng, mối quan hệ giữa các biến số, các câu hỏi nghiên cứu, các khoản mục điều tra cụ thể và các bước thực hiện trong phất tích số liệu điều tra
Phương pháp so sánh đối chiếu, vận dụng có tính kế thừa, sáng tạo các kinh nghiệm ở một số đô thị trong và ngoài nước Công việc này yêu cầu các đối tượng nghiên cứu phải được xem xét dựa trên mối tương quan của chúng với nhau, với các thành tố bên ngoài
Phương pháp phân tích và tổng hợp phương án, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý hữu hiệu Quá trình này bao gồm từ việc phân tích các yếu tố, tìm
ra các luận điểm cần nghiên cứu và rút ra điểm chung, riêng của các yếu tố đó
Phương pháp thống kê các giải pháp quản lý kiến trúc cảnh quan
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần hoàn chỉnh cơ
sở lý luận trong quản lý kiến trúc cảnh quan Đề tài có thể làm tài liệu để nghiên cứu đào tạo các chuyên ngành quản lý quy hoạch, kiến trúc cảnh quan
Ý nghĩa thực tiễn: Áp dụng vào thực tiễn các giải pháp quản lý kiến trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng Thêm vào đó có thể tham khảo để áp dụng cho một số tuyến đường khác có tính chất tương tự của thành phố Hà Nội
Các khái niệm dùng trong luận văn
- Kiến trúc cảnh quan: là hoạt động định của con người tác động vào môi trường nhân tạo để làm cân bằng mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố thiên nhiên
và nhân tạo, tạo nên sự thống nhất, hài hòa Kiến trúc cảnh quan là một môn khoa học tổng hợp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều chuyên ngành khác nhau
Trang 16như: quy hoạch không gian, quy hoạch hạ tầng kỹ thuật, kiến trúc công trình, điêu khắc, hội họa,… nhằm giải quyết những vấn đề tổ chức môi trường nghỉ ngơi giải trí, thiết lập và cải thiện môi sinh, bảo vệ môi trường, tổ chức nghệ thuật kiến trúc
Kiến trúc cảnh quan bao gồm các thành phần tự nhiên (địa hình, mặt nước, cây xanh, không trung,…) và thành phần nhân tạo (kiến trúc công trình, giao thông, trang thiết bị hoàn thiện kỹ thuật, tranh tượng trang trí,…)
- Quản lý kiến trúc cảnh quan đô thị: là một trong những nội dung của công tác quản lý quy hoạch và xây dựng đô thị, nó góp phần tạo lập hình ảnh cấu trúc không gian của đô thị, kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên và cảnh quan nhân tạo, xác lập trật tự đô thị nhằm nâng cao chất lượng sống
- Quản lý không gian kiến trúc cảnh quan tuyến đường Công tác quản lý không gian kiến trúc cảnh quan tuyến đường có thể được hiểu là toàn bộ các hoạt động quản lý nhằm tạo lập các không gian công cộng, cảnh quan tuyến phố hài hoà và nâng cao chất lượng, môi trường đô thị, các công trình đảm bảo khoảng lùi theo quy định, chiều cao công trình, khối đế công trình, mái nhà, chiều cao và
độ vươn cùa ô văng tầng 1, các phân vị đứng, ngang, độ đặc rỗng, bố trí cửa sổ, cửa đi về phía mặt phố đảm bảo tính liên tục, hài hòa cho kiến trúc của toàn tuyến Tại các tuyến phố chính, trục đường chính của đô thị, khu vực quảng trường trung tâm thì việc dùng màu sắc, vật liệu hoàn thiện bên ngoài công trình phải đảm bảo sự hài hòa chung cho toàn tuyến, khu vực và phải được quy định trong giấy phép xây dựng; tùy vị trí mà thể hiện rõ tính trang trọng, tính tiêu biểu, hài hòa, trang nhã hoặc yêu cầu bảo tồn nguyên trạng.Các tiện ích đô thị như ghế ngồi nghỉ, tuyến dành cho người khuyết tật, cột đèn chiếu sáng, biển hiệu, biển chỉ dẫn phải đảm bảo mỹ quan, an toàn, thuận tiện, thống nhất, hài hòa
Trang 17với tỷ lệ công trình kiến trúc Hè phố, đường đi bộ trong đô thị phải được xây dựng đồng bộ, phù hợp về cao độ, vật liệu, màu sắc từng tuyến phố, khu vực trong đô thị; hố trồng cây phải có kích thước phù hợp, đảm bảo an toàn cho người đi bộ, đặc biệt đối với người khuyết tật; thuận tiện cho việc bảo vệ, chăm sóc cây Cáo đối tượng kỉến trúc thề hiện mối tương quan tỷ lệ hợp lý
- Thiết kế đô thị: được xác định như một hoạt động có tính chất đa ngành tạo nên cấu trúc và quản lý môi trường không gian đô thị Theo Urban design group thì thiết kế đô thị là một quá trình có sự tham gia của nhiều ngành liên quan nhằm định hình cấu trúc hình thể không gian của đời sống người dân đô thị
và là nghệ thuật tạo nên đặc trưng của địa điểm và nới chốn Đối với Việt Nam thiết kế đô thị là một khái niệm mới, thiết kế đô thị trong luật xây dựng năm
2003 được định nghĩa “Thiết kế đô thị là việc cụ thể hóa nội dung quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị về kiến trúc các công trình trong đô thị, cảnh quan cho từng khu chức năng, tuyến phố và các khu không gian công cộng khác trong đô thị
Các khái niệm trong Luật Quy hoạch đô thị [19]:
+ Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh
tế – xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn
+ Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để
Trang 18tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị
+ Kiến trúc đô thị là tổ hợp các vật thể trong đô thị, bao gồm các công trình kiến trúc, kỹ thuật, nghệ thuật, quảng cáo mà sự tồn tại, hình ảnh, kiểu dáng của chúng chi phối hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan đô thị
+ Không gian đô thị là không gian bao gồm các vật thể kiến trúc đô thị, cây xanh, mặt nước trong đô thị có ảnh hưởng trực tiếp đến cảnh quan đô thị
+ Cảnh quan đô thị là không gian cụ thể có nhiều hướng quan sát ở trong
đô thị như không gian trước tổ hợp kiến trúc, quảng trường, đường phố, hè, đường đi bộ, công viên, thảm thực vật, vườn cây, vườn hoa, đồi, núi, gò đất, đảo,
cù lao, triền đất tự nhiên, dải đất ven bờ biển, mặt hồ, mặt sông, kênh, rạch trong
đô thị và không gian sử dụng chung thuộc đô thị
Trang 19NỘI DUNG
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC CẢNH QUAN TUYẾN PHỐ TÔN ĐỨC THẮNG, QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1 Khái quát về tuyến phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
Ngày 26 tháng 7 năm 2011, Thủ tướng chính phủ có quyết định số 1259/QĐ-TTg về việc phê duyệt quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 Trong đó khu vực đô thị trung tâm thành phố Hà Nội được chia thành 38 phân khu Phân khu đô thị H1-3 (Quận Đống Đa) là một trong 4 quận nội thành cũ trong khu vực nội đô lịch sử Phân khu nằm
về phái Tây Nam trung tâm Thủ đô Hà Nội Với vị trí nằm trên trục phát triển phía Tây của Thành phố Hà Nội và là cửa ngõ thông thương với tỉnh Hòa Bình nên thuận lợi cho giao lưu thương mại và hợp tác phát triển kinh tế - xã hội Trục tuyến phố Tôn Đức Thắng – Nguyễn Lương Bằng – Tây Sơn nối với phố Nguyễn Trãi đi Hà Đông và Hòa Bình là trục giao thông chính của Quận Các tuyến đường Lê Duẩn – Giải Phóng, Giảng Võ – Láng Hạ, Nguyễn Chí Thanh là các trục đường hướng tâm kết nối với trung tâm Thủ đô Ngoài ra liên kết theo hướng Đông – Tây, phân khu H1-3 còn có các tuyến đường vành đai I, vành đai
II ( Kim Liên – Xã Đàn – La Thành – Voi Phục; Trường Chinh – Láng)
Trang 20Hình 1.1: Vị trí quận Đống Đa trong quy hoạch thành phố Hà Nội
Trang 21So với các Quận khác trong Thành phố, Quận Đống Đa có các tính chất đặc trưng sau:
- Nằm toàn bộ trong khu vực hạn chế phát triển của Thành phố với các trung tâm chính: Ô Chợ Dừa, Ngã tư Sở
- Là khu vực có nhiều cơ quan, trường đại học và bệnh viện cấp Thành phố
- Là Quận có nhiều di tích lịch sử, văn hóa đặc biệt quan trọng của Thủ đô như Văn Miếu - Quốc Tử Giám, đình Kim Liên – một trong “Tứ Trấn” của Kinh thành Thăng Long, Khu tượng đài Quang Trung, Gò Đống Đa…
- Là một Quận có diện tích lớn nhưng quỹ đất để khai thác, đầu tư phát triển ít, mật độ xây dựng trong khu vực khá cao
Trong phạm vi địa giới hành chính, Quận Đống Đa bao gồm 21 phường với tổng diện tích đất khoảng 996 Ha Dân số hiện trạng 395402 người (số liệu thống kê của Quận Đống Đa đến 31/12/2012) Chỉ tiêu đất bình quân cho một người hiện nay là 25,2 m2/người
Theo định hướng của Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô đến năm 2030
và tầm nhìn đến năm 2050, đất xây dựng phân khu đô thị H1-3 khoảng 998,05
Ha với quy mô dân số 255000 người Chỉ tiêu đất xây dựng đô thị cho một người khoảng 39 m2/người
Phố Tôn Đức Thắng nằm trong quy hoạch phân khu H1-3, tại vị trí trung tâm quận Đống Đa (hình 1.2) dài khoảng 1,5 km theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, , giới hạn bởi nút giao Ô Chợ Dừa và nút giao với phố Nguyễn Thái Học
Trang 22Tuyến phố Tôn Đức Thắng nằm trên địa bàn các phường Hàng Bột, Quốc Tử Giám, Cát Linh
Ranh giới nghiên cứu được tính từ tim đường về phía hai bên từ 20-25m Tổng diện tích khu vực nghiên cứu khoảng 4ha
Hình 1.2: Vị trí và giới hạn nghiên cứu tuyến phố Tôn Đức Thắng trên địa bàn
quận Đống Đa Phố Tôn Đức Thắng có lịch sử lâu đời Bản đồ Hà Nội năm 1831 đã xuất hiện phố Tôn Đức Thắng, nằm trên con đường đi vào cửa ngõ phía Nam để vào
Trang 23thành Hà Nội qua cửa Ô Chợ Dừa Trước kia đây là phố Hàng Bột, sang đến thời Pháp thuộc, phố có tên là Soeur Antoine Vào tháng 7 năm 1988, phố có tên chính thức là phố Tôn Đức Thắng [19] Chính vì có lịch sử lâu đời như vậy nên trên tuyến phố còn lưu giữ được nhiều di tích, công trình có giá trị lịch sử lớn, đặc biệt là quần thể di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám
- Tính chất của tuyến phố Tôn Đức Thắng:
+ Là tuyến phố trung tâm của quận Đống Đa, tập trung nhiều hộ kinh
doanh, buôn bán
+ Tuyến phố có vai trò quan trọng về giao thông: nằm trên trục giao thông chính kết nối khu vực ngoại thành phía Tây và nội thành Hà Nội, thường xuyên
có mật độ giao thông cao
+ Có lịch sử hình thành từ lâu đời do đó lưu giữ nhiều giá trị lịch sử và nghệ thuật cần được bảo vệ và phát huy
1.2 Hiện trạng không gian kiến trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
1.2.1 Hiện trạng các công trình kiến trúc
Các công trình hai bên tuyến phố Tôn Đức Thắng chủ yếu là công trình nhà ở, nhà ở - thương mại Phần lớn các công trình được xây dựng từ thời gian khoảng 20 năm trở lại đây, nhiều công trình đã được cải tạo lại Các công trình này được xây dựng với tầng cao trung bình là 3 - 4 tầng, chủ yếu là nhà chia lô,
bề ngang mặt tiền từ 3-5m, tầng 1 thường được sử dụng với mục đích kinh doanh buôn bán, các tầng trên sử dụng với mục đích ở của người dân
Trang 24Hình1.3: Bản đồ hiện trạng các công trình công cộng và di tích, công trình tôn
giáo hai bên tuyến phố Tôn Đức Thắng
Trang 25Nhiều công trình được xây dựng từ lâu và công trình bán kiên cố chủ yếu được sử dụng với mục đích thương mại hiện đã xuống cấp gây ảnh hưởng đến an toàn và mỹ quan đô thị Đồng thời những công trình này không có sự đồng nhất
về chiều cao của toàn công trình cũng như chiều cao từng tầng gây nên hình ảnh
về một đô thị lộn xộn, không có sự quy củ (hình 1.4)
Hình 1.4: Thực trạng kiến trúc hai bên tuyến phố Tôn Đức Thắng
Phong cách kiến trúc không có sự đặc sắc, hầu hết các công trình chưa chú trọng tính thẩm mỹ mà chỉ quan tâm đến yếu tố kinh tế, không có sự thống nhất, kết nối giữa các công trình với nhau Màu sắc công trình: Các công trình kiến trúc hai bên đường sử dụng màu sắc đa dạng, không có sự thống nhất, không có nét đặc sắc (hình 1.5)
Hình 1.5: Thực trạng màu sắc công trình hai bên tuyến phố Tôn Đức Thắng
Trang 26Vật liệu sử dụng: Các công trình được sử dụng với các loại vật liệu đa dạng: gạch, kính, gỗ, nhựa, aluminium composite,… mà không có sự hài hòa trong một tổng thể gây nên sự hỗn loạn về kiến trúc cảnh quan
Các công trình nhà dân tự xây không có sự đồng nhất về ranh giới và phạm vi xây dựng, nhiều công trình xây lấn ra vỉa hè, lòng đường ảnh hưởng rất xấu đến cảnh quan và tiện ích đô thị (hình 1.6)
Hình 1.6: Nhà dân xây dựng lấn chiếm vỉa hè, lòng đường
+ Các công trình công cộng: các công trình công cộng trên tuyến phố Tôn Đức Thắng bao gồm: công trình trụ sở cơ quan Nhà nước (UBND quận (hình 1.7), phường; Trụ sở công an phường), bệnh viện, văn phòng, thương mại (hình 1.8)
Hầu hết các công trình công cộng trên tuyến phố Tôn Đức Thắng đều có khoảng lùi so với mặt phố vừa tạo khoảng ùn người, vừa góp phần vào cảnh quan chung của toàn tuyến phố
Trang 27Hình 1.7: UBND quận Đống Đa Hình 1.8: Tòa nhà văn phòng
+ Các công trình tôn giáo, tín ngưỡng: Nhà thờ giáo xứ Hàng Bột (hình 1.9), ở số nhà 162 Trước kia khu đất này là khuôn viên của khu nhà nuôi người tàn tật và trẻ mồ côi của bà phước Antoine (do đó trong thời kỳ pháp thuộc phố được đặt tên là Soeur Antoine Năm 1907, khu nhà thờ được xây dựng theo phong cách kiến trúc Đông Dương, đến năm 1995 nhà thờ chính được xây dựng lại
Hình 1.9: Nhà thờ giáo xứ Hàng Bột
Trang 28Công trình đền Sòng Sơn nằm ở số nhà 35 (hình 1.10) Trước đây, đền là một kiến trúc hoàn chỉnh gồm các kiến trúc bộ phận và khuôn viên bao quanh
Do quá trình đô thị hoá đầu thế kỉ thứ XX, khuôn viên của đền bị thu hẹp dần Năm 1947, thực dân Pháp đã đốt phá ngôi đền Quá trình phục dựng di tích trong những năm 1949 - 1951 đã quy hoạch lại toàn bộ vị trí, quy mô của từng kiến trúc để cho đền Sòng Sơn hoà nhập với môi trường đô thị mới Tính từ ngoài vào, kiến trúc đền bao gồm cổng tam quan, một khoảng sân hẹp và khu thờ tự Tam quan đền Sòng Sơn là một kiến trúc gạch nhỏ, được xây dựng theo chiều ngang của nhà tiền tế Cổng có kết cấu đơn giản, cửa chính được khuôn bằng hai tục biểu thấp, đỉnh tục đắp tượng nghê, hướng mặt vào nhau Phần trên lối vào xây hình cuốn thư, vòm, cuốn trang trí hoa dây Hai cửa nách được xây dựng cân đối, bên trên làm 4 mái nhỏ, qua cổng vào là khoảng sân hẹp, theo chiều ngang của đền đến nơi thờ tự
Hình 1.10: Đền Sòng Sơn
Trang 29+ Di tích lịch sử: Ngoài ra trên tuyến phố Tôn Đức Thắng còn có di tích quần thể Văn Miếu – Quốc Tử Giám rất có giá trị về lịch sử và nghệ thuật Quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám bao gồm: hồ Văn, khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám và vườn Giám và kiến trúc chủ thể là Văn Miếu - nơi thờ Khổng
Tử và Quốc Tử Giám - trường đại học đầu tiên của Việt Nam Khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám có tường gạch vồ bao quanh, phía trong chia thành 5 lớp không gian với các kiến trúc khác nhau Mỗi lớp không gian đó được giới hạn bởi các tường gạch có 3 cửa để thông với nhau Hình 1.11 mô tả Văn Miếu Quốc Tử Giám nhìn từ trên cao, bên trái là phố Tôn Đức Thắng
Hinh1.11: Văn Miếu – Quốc Tử Giám
Đoạn phố Tôn Đức Thắng đi qua Văn Miếu – Quốc Tử Giám dài khoảng 350m giới hạn bởi nút giao giữa phố Tôn Đức Thắng với phố Cát Linh và phố
Trang 30Nguyễn Thái Học Trên đoạn phố này, một bên tiếp giáp với vườn hoa Văn Miếu – Quốc Tử Giám, một bên là các công trình nhà dân tự xây với kiến trúc không
có sự thống nhất Nhiều công trình có mặt đứng hẹp, xây dựng cao tầng trong khu vực gần di tích (hình 1.12) làm ảnh hưởng đến cảnh quan khu vực xung quanh di tích
Hình 1.12: Hiện trạng các công trình kiến trúc đoạn phố Tôn Đức Thắng
đi qua Văn Miếu – Quốc Tử Giám Nhìn chung, không gian kiến trúc tổng thể của tuyến phố Tôn Đức Thắng không có gì nổi bật, các công trình xây dựng (chủ yếu là nhà dân) là nhà ống với mặt tiền từ 3m đến 5m chưa có sự thống nhất về mặt kiến trúc, màu sắc cũng như vật liệu xây dựng Các chỉ tiêu xây dựng như: tầng cao công trình chưa có
sự kiểm soát chặt chẽ khiến cho tổng thể mặt đứng tuyến đường nhấp nhô, lộn xộn
+ Biển quảng cáo: Là một tuyến đường ở trung tâm kinh tế dịch vụ của quận Đống Đa nên các bảng biển quảng cáo rất phong phú và đa dạng Hệ thống biển quảng cáo đủ chủng loại, nhiều màu sắc, kích cỡ được treo ở mọi vị trí gây
Trang 31ra sự lộn xộn, thiếu thẩm mỹ thậm chí gây mất tầm nhìn và ảnh hưởng đến giao thông đi lại Nguyên nhân là do thiếu sự quản lý mặt tiền cửa hàng và biển hiện Theo quy chế quản lý hoạt động quảng cáo trên địa bàn thành phố Hà Nội, quảng cáo tại mặt tiền nhà, mặt hông tường nhà và công trình xây dựng lớn phải có giấy phép do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp và phải đảm bảo các quy định
về biển quảng cáo đã được cơ quan Nhà nước ban hành Tuy nhiên trường hợp các hộ kinh doanh trên tuyến phố tự ý dựng biển quảng cáo không theo quy định vẫn còn xảy ra; nhiều biển hiệu thậm chí che lấp toàn bộ mặt đứng công trình (hình 1.13)
Hình 1.13: Hiện trạng biển quảng cáo 1.2.2 Hiện trạng cây xanh, vỉa hè
- Hiện trạng hệ thống cây xanh: Cây xanh trên tuyến phố Tôn Đức Thắng rất ít, cây xanh tập trung chủ yếu ở khu vực hai đầu đường, đoạn giữa tuyến phố Tôn Đức Thắng (từ UBND quận Đống Đa đến Nhà thờ giáo xứ Hàng Bột) hầu
Trang 32như không có bóng dáng cây xanh (hình 1.14) Mật độ cây xanh trồng hai bên phố rất thấp, khoảng cách trung bình giữa các cây xanh tuyến phố là 50m/cây không mang lại hiệu quả che nắng cho toàn tuyến phố cũng như không đóng góp được vào cảnh quan của phố Cây xanh phân bố không đồng đều, có những vị trí cách 200-300m mới có 1 cây xanh
Hình 1.14: Một đoạn trên tuyến phố Tôn Đức Thắng
hầu như không có cây xanh
Khu vực tập trung nhiều cây xanh nhất là ở vườn hoa Văn Miếu (hình 1.15, 1.16) với diện tích 1,4ha
Hình 1.15: Vườn hoa Văn Miếu nhìn từ ngã tư Tôn Đức Thắng – Cát Linh
Trang 33Hình 1.16: Vườn hoa Văn Miếu Cây xanh trên tuyến đường chưa có sự đầu tư, nhiều cây xanh do người dân tự trồng ở vỉa hè trước cửa nhà Chủng loại cây cũng đa dạng và không đồng nhất trên toàn tuyến phố
- Vỉa hè: Hiện tại, vỉa hè tuyến phố Tôn Đức Thắng có chiều rộng từ 2m Nhiều đoạn phố không có vỉa hè do công trình xây dựng ra đến sát vỉa hè (hình 1.17) gây nên nhiều khó khăn và nguy hiểm cho người đi bộ khi phải đi xuống lòng đường Đồng thời sự nhô ra thụt vào của các công trình xây dựng làm ảnh hưởng không nhỏ đến cảnh quan chung tuyến phố
0-Hình 1.17: Đoạn phố đi qua Nhà thờ giáo xứ Hàng Bột không có vỉa hè
Trang 34Vỉa hè tuyến phố Tôn Đức Thắng rất hẹp lại thường xuyên bị lấn chiếm làm chỗ để xe và kinh doanh vừa ảnh hưởng đến không gian cảnh quan vừa ảnh hưởng đến việc đi lại của người đi bộ
Hình 1.18: Vỉa hè bị đào xới để thi công hạ tầng kỹ thuật và lấp lại không
đảm bảo thẩm mỹ
Vỉa hè tuyến phố Tôn Đức Thắng được sử dụng gạch block bát giác màu
đỏ thẫm trên hầu như toàn bộ tuyến phố Riêng phần vỉa hè qua Văn Miếu – Quốc Tử Giám sử dụng gạch vuông đỏ 30x30cm Trên tuyến phố, nhiều đoạn vỉa hè bị sụt lún hoặc bị đào xới và lấp lại không đúng kỹ thuật gây khó khăn cho người đi bộ Vỉa hè tuyến phố Tôn Đức Thắng chưa được đầu tư lối đi, vạch chỉ dẫn cho người khuyết tật
1.2.3 Hiện trạng các công trình hạ tầng kỹ thuật có liên quan đến không gian kiến trúc cảnh quan và các tiện ích đô thị
- Các công trình giao thông: Theo quy hoạch được duyệt, phố Tôn Đức Thắng có mặt cắt ngang từ 15-20m, dọc hai bên đường là hệ thống đèn chiếu
Trang 35sáng Một đặc điểm về giao thông trên tuyến phố Tôn Đức Thắng là sự giao cắt với rất nhiều ngõ nhỏ tập trung đông dân cư, lưu lượng người đi lại lớn Thêm vào đó những ngõ này thường nhỏ và sâu tạo thành những khe hở lộn xộn trên mặt đứng tuyến phố
Giao thông công cộng có xe buýt với 4 điểm chờ xe buýt mỗi bên đường Giao thông cho người đi bộ, đi qua đường bằng các dải vạch sơn qua đường được bố trí tại các nút giao thông và các khu vực tập trung đông người Giao thông cho người khuyết tật trên tuyến đường vẫn chưa có
Bãi đỗ xe: trên tuyến phố Tôn Đức Thắng hiện nay chỉ có duy nhất bãi đỗ
xe nằm ở phố Phan Văn Trị do UBND quận Đống Đa quản lý Hầu hết xe máy
đỗ dọc vỉa hè ở trước cửa các hộ kinh doanh, ô tô đỗ dọc lề đường gây ảnh hưởng nhiều đến giao thông
- Cấp điện, thông tin liên lạc: Nguồn điện cấp cho phụ tải khu vực tuyến phố Tôn Đức Thắng ở quận Đống Đa từ trạm 110kv Hàng Bột 1 ở đường Tôn Đức Thắng
Một sự thuận lợi cho công tác quản lý không gian cảnh quan tại tuyến phố Tôn Đức Thắng là toàn bộ hệ thống điện trung, thông tin liên lạc trên toàn tuyến
đã được hạ ngầm, đảm bảo cho không gian trên cao thông thoáng, an toàn Tuy nhiên hệ thống cáp điện, thông tin liên lạc tại các ngõ thông ra phố Tôn Đức Thắng vẫn chưa được hạ ngầm, số lượng các ngõ trên tuyến phố và số dân cư trong một ngõ lại rất lớn, do đó hệ thống đường dây điện tại các ngõ này cũng rất nhiều, đan xem dày đặc dẫn đến không gian trên cao tại những điểm giao cắt tại các ngõ trở nên lộn xộn, không đảm bảo an toàn (hình 1.19); đồng thời làm xấu
bộ mặt cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng
Trang 36Hình 1.19: Hiện trạng hạ tầng kỹ thuật tại khu vực ngõ Thịnh Hào giao cắt với
phố Tôn Đức Thắng
- Hệ thống chiếu sáng đô thị: Hệ thống chiếu sáng trên tuyến phố Tôn Đức Thắng bao gồm: hệ thống chiếu sáng giao thông và chiếu sáng trang trí cho công trình Hiện nay hệ thống chiếu sáng giao thông được sử dụng là đèn thủy ngân cao áp đảm bảo chiếu sáng cho đường giao thông
Hệ thống đèn chiếu sáng trang trí được sử dụng ở các công trình công cộng và một số công trình nhà dân tuy nhiên chưa hợp lý và còn tùy tiện
- Hệ thống thùng rác và điểm thu gom rác thải: Một số đoạn trên tuyến phố Tôn Đức Thắng đã được trang bị thùng rác như đoạn đi qua địa phận phường Hàng Bột Tuy nhiên ở các phường Quốc Tử Giám, Văn Miếu, Cát Linh lại chưa có hệ thống thùng đựng và thu gom rác thải dẫn tới việc người dân phải
đổ rác ra đường, trên vỉa hè tại các gốc cây xanh, các tủ điện (hình 1.20) Điều này gây mất vệ sinh môi trường, ảnh hưởng không tốt tới hình ảnh đô thị
Trang 37Hình 1.20: Rác thải được vứt ra ngoài vỉa hè cạnh tủ điện do không có hệ thống
thùng thu gom rác
Đối với khu vực đã được trang bị thùng rác, vị trí thùng đựng rác chưa được nghiên cứu và bố trí hợp lý Một số chỗ thùng rác được bố trí ở những nơi
có vỉa hè hẹp, hoặc không có vỉa hè như ở Nhà thờ giáo xứ Hàng Bột Thêm vào
đó, chưa có quy hoạch điểm tập kết rác nên hiện nay xe rác phải đi thu gom rác một cách rải rác gây ảnh hưởng lớn đến môi trường và mỹ quan đô thị
- Điểm dừng chờ xe buýt: hiện nay, trên tuyến phố Tôn Đức Thắng có 03 điểm dừng chờ xe buýt ở mỗi hai bên đường, mỗi điểm chờ xe buýt cách nhau khoảng 400-500m Do đặc điểm của tuyến phố Tôn Đức Thắng có vỉa hè nhỏ hẹp nên các điểm dừng chờ xe buýt chỉ có cột biển báo chứ không có nhà chờ xe buýt
- Hệ thống ATM: Các cây ATM trên tuyến phố Tôn Đức Thắng không nhiều và nằm rải rác, thường nằm ở văn phòng giao dịch, chi nhánh của Ngân hàng
Nhìn chung, các tiện ích đô thị trên tuyến phố Tôn Đức Thắng còn hạn chế
về số lượng và chất lượng; chưa tạo được điều kiện sống tốt cho cư dân và khách
Trang 38thăm quan, du lịch Hệ thống tiện ích đô thị chưa được bố trí một cách hợp lý Tại một số vị trí, các tiện ích đô thị được bố trí quá nhiều trong một khu vực (điểm chờ xe buýt, thùng rác, điểm tập kết rác được bố trí trong cùng một vị trí (hình 1.21)) gây mất mỹ quan đô thị, ảnh hưởng không tốt đến chất lượng cuộc sống và văn minh đô thị
Hình 1.21: Điểm chờ xe buýt, điểm tập kết của xe rác, bốt điện ở cùng một vị trí Việc nghiên cứu, cung cấp và đổi mới các tiện ích đô thị là cần thiết để xây dựng một đô thị hiện đại, văn minh với đầy đủ các điều kiện đảm bảo cho dân cư xung quanh
1.3 Thực trạng công tác quản lý kiến trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
1.3.1 Thực trạng cơ chế quản lý kiến trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
- Công tác ban hành quy hoạch, thiết kế đô thị:
Trang 39Song song với sự phát triển đô thị, công tác lập, phê duyệt, ban hành các
đồ án quy hoạch và các văn bản pháp luật ngày càng được chú trọng Đây là một trong những công cụ quan trọng nhất để phục vụ công tác quản lý đô thị nói chung và quản lý không gian kiến trúc cảnh quan nói riêng một cách hiệu quả Ngày càng nhiều các quy hoạch vùng, quy hoạch chung, chi tiết, phân khu được lập và phê duyệt với chất lượng khá tốt Đối với tuyến phố Tôn Đức Thắng nằm
ở Hà Nội, công cụ về mặt pháp lý, về văn bản được thể hiện ở Quy hoạch Chi tiết quận Đống Đa tỷ lệ 1/2000 (phần quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch giao thông) được phê duyệt năm 2000, Quy hoạch chung thành phố Hà Nội năm 2030 tầm nhìn 2050 phê duyệt năm 2011 và quy hoạch chi tiết các dự án trên tuyến phố đã được phê duyệt
Hiện nay, căn cứ vào Quy hoạch chung thành phố Hà Nội năm 2030 tầm nhìn 2050 và các quy hoạch các quận đã được phê duyệt, thành phố Hà Nội đang hoàn thiện các quy hoạch phân khu (bao gồm 38 phân khu) Trong đó các phân khu thuộc khu vực nội đô lịch sử - trong đó có quận Đống Đa – là quy hoạch cải tạo, chỉnh trang đô thị Tuyến phố Tôn Đức Thắng nằm trong phân khu quy hoạch H1-3 (quận Đống Đa) Hiện nay, quy hoạch phân khu H1-3 đã được phê duyệt nhiệm vụ thiết kế và đồ án quy hoạch đang được thẩm định chờ phê duyệt Quy chế quản lý quy hoạch – kiến trúc tuân theo quy hoạch chi tiết 1/2000 (phần quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch giao thông) đã có nhưng chưa được quy định cụ thể về:hình thức, kích thước, biển quảng cáo; màu sắc công trình, vật liệu xây dựng, Bên cạnh đó, với sự phát triển của đô thị, quy chế đã phần nào không còn phù hợp với thực tế và chưa chú trọng đến việc bảo tồn, phát huy giá trị lịch sử của các công trình kiến trúc cũ, các di tích lịch sử Đây là một khó
Trang 40khăn rất lớn cho công tác quản lý kiến trúc cảnh quan khi thiếu công cụ để quản
lý một cách hiệu quả
Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 và Thiết kế đô thị tuyến phố Tôn Đức Thắng hiện nay đã được chấp thuận về mặt chủ trương và đang được thực hiện bởi Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội và Viện Quy hoạch vùng Toulouse (Cộng hòa Pháp)
Như vậy, hiện tại cơ sở pháp lý về quy hoạch, văn bản quy định, quy chế quản lý kiến trúc cảnh quan tuyến phố Tôn Đức Thắng chưa được hoàn tất gây nên nhiều khó khăn cho công tác quản lý không gian kiến trúc cảnh quan tuyến phố
- Công tác quản lý xây dựng:
+ Quản lý các công trình kiến trúc cũ: phố Tôn Đức Thắng là một trong những con phố có lịch sử hình thành lâu đời so với nhiều đường phố ở Hà Nội Hiện nay, trên phố Tôn Đức Thắng vẫn còn một số công trình kiến trúc từ thời Pháp thuộc, tuy nhiên các công trình này chưa được các chủ sở hữu và chính quyền địa phương quan tâm để bảo tồn và giữ gìn, thể hiện ở chỗ: công trình không được cải tạo, hoặc cải tạo không giữ được những giá trị về kiến trúc của công trình, sử dụng biển quảng cáo che lấp phần lớn công trình làm giảm giá trị
về kiến trúc cũng như lịch sử Những công trình này mang trong mình giá trị lịch
sử cũng như văn hóa, là một nét đặc trưng của thủ đô Hà Nội, cần phải được quan tâm hơn nữa trong việc bảo tồn, tôn tạo và giữ gìn những giá trị của chúng
+ Quản lý các công trình cải tạo và xây mới: các công trình trước khi cải tạo hoặc xây mới đều phải xin cấp giấy phép xây dựng, đây là điều kiện tiên quyết để quản lý các công trình xây dựng Hiện nay, theo quy định về cấp giấy phép xây dựng, nội dung của giấy phép xây dựng mới chỉ quan tâm đến các chỉ