MỞ ĐẦU Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đánh giá cao vai trò của lý luận và công tác nghiên cứu lý luận, kiên định chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng. Sau gần 30 năm kể từ khi bắt đầu thời kỳ đổi mới, công tác lý luận của Đảng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tháo gỡ nhiều vấn đề phức tạp đặt ra của thực tiễn, góp phần đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, từng bước tạo lập điều kiện để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Tuy nhiên, công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu, càng xuất hiện nhiều vấn đề mới phải giải quyết, đòi hỏi chúng ta phải nắm vững những kinh nghiệm, những kết quả nghiên cứu đã có. Trong không ít trường hợp, việc giải đáp nhiều vấn đề mới như vậy đòi hỏi phải có sự đột phá về lý luận. Đại hội XI của Đảng đã ban hành các văn kiện quan trọng, trong đó, chứa đựng những vấn đề lớn về đường lối, hàng loạt quan điểm, mục tiêu, chủ trương, giải pháp lớn đối với sự phát triển của đất nước trong thời hạn một nhiệm kỳ, 10 năm, đến giữa thế kỷ XXI và trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ đặt ra hiện nay là phải cụ thể hóa những vấn đề lý luận chung nêu trong Cương lĩnh, Chiến lược, Nghị quyết Đại hội, tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý luận, đưa các văn kiện trên vào cuộc sống. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải đánh giá tổng quát công tác lý luận của Đảng, trên cơ sở đó, xây dựng định hướng nghiên cứu, trước hết là từ nay đến năm 2020.
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đánh giá cao vai trò của lýluận và công tác nghiên cứu lý luận, kiên định chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng HồChí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng
Sau gần 30 năm kể từ khi bắt đầu thời kỳ đổi mới, công tác lý luận củaĐảng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tháo gỡ nhiều vấn đề phức tạp đặt
ra của thực tiễn, góp phần đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém pháttriển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, từng bước tạo lậpđiều kiện để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướnghiện đại
Tuy nhiên, công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu, càng xuất hiện nhiềuvấn đề mới phải giải quyết, đòi hỏi chúng ta phải nắm vững những kinh nghiệm,những kết quả nghiên cứu đã có Trong không ít trường hợp, việc giải đáp nhiều
vấn đề mới như vậy đòi hỏi phải có sự đột phá về lý luận.
Đại hội XI của Đảng đã ban hành các văn kiện quan trọng, trong đó, chứađựng những vấn đề lớn về đường lối, hàng loạt quan điểm, mục tiêu, chủ trương,giải pháp lớn đối với sự phát triển của đất nước trong thời hạn một nhiệm kỳ, 10năm, đến giữa thế kỷ XXI và trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.Nhiệm vụ đặt ra hiện nay là phải cụ thể hóa những vấn đề lý luận chung nêu trongCương lĩnh, Chiến lược, Nghị quyết Đại hội, tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý
luận, đưa các văn kiện trên vào cuộc sống Điều đó đòi hỏi chúng ta phải đánh giá tổng quát công tác lý luận của Đảng, trên cơ sở đó, xây dựng định hướng nghiên cứu, trước hết là từ nay đến năm 2020.
Trang 2Phần thứ nhất NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG ĐẢNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
I.1 Khái niệm về Lý luận
Chúng ta đều đã biết, con người khác con vật ở chỗ, làm việc gì cũng phải
có ý thức, có sự suy tính, định hướng trước, cao hơn nữa là phải có sự dẫn dắt của
lý luận Làm cách mạng là đổi cái cũ ra cái mới, là một loại hoạt động khó khănphức tạp, ở trình độ cao, cho nên lại càng cần phải có lý luận soi đường V.I Lê-nin khẳng định: "Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cáchmạng", "chỉ đảng nào được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả nănglàm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong" Hồ Chí Minh nói: Đảng mà không có lý luậndẫn đường thì "cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam"
Lý luận là cái phản ánh thực tiễn; lý luận được thể hiện dưới dạng hệ thống những tri thức đã được khái quát, tạo ra những quan niệm tương đối hoàn chỉnh
về các mối liên hệ cơ bản và các quy luật của hiện thực khách quan Nói cách khác, lý luận là kinh nghiệm thực tiễn đã được khái quát trong ý thức của con người, là hệ thống tương đối độc lập của các tri thức có tác dụng tái hiện trong lô- gíc của các khái niệm cái lô-gíc khách quan của hiện thực mà nó phản ánh.
I.2 Khái niệm Nghiên cứu lý luận
Lý luận là tổng hợp kiến thức, tri thức ở trình độ khái quát cao, bao hàm cácnguyên lý, nguyên tắc, quy luật, quan niệm, khái niệm, mối quan hệ phổ biến,mang tính bản chất, những nội dung tổng quát và những tri thức cụ thể đượckhái quát từ thực tiễn, được đúc rút từ những kinh nghiệm, được dự báo có căn cứkhoa học Như vậy, lý luận không bất biến, mà luôn thay đổi không ngừng, được
bổ sung, làm giàu qua thực tiễn, qua kinh nghiệm và những dự báo khoa học Trảiqua thời gian, với sự vận động không ngừng của cuộc sống, có những vấn đề lýluận trở nên lỗi thời, lạc hậu, không còn phù hợp với thực tiễn; cũng có những vấn
đề mới nảy sinh từ chính thực tế cuộc sống, đòi hỏi phải được phát hiện, lý giảibản chất, tính quy luật, dự báo khả năng xu hướng vận động của nó để đề ra nhữngquyết sách kịp thời, đúng đắn trong quản lý, phát triển đất nước
Trang 3Công tác nghiên cứu lý luận là công tác thường xuyên của Đảng Để lãnh
đạo thành công sự nghiệp cách mạng, đòi hỏi Đảng Cộng sản phải không ngừngđổi mới, phát triển, hoàn thiện hệ thống lý luận cách mạng Muốn đổi mới, pháttriển, hoàn thiện hệ thống lý luận cách mạng, trước hết phải nhận thức đúng đắn,đầy đủ vai trò, vị trí, tầm quan trọng của công tác lý luận
II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG ĐẢNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
II.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế
II.1.1 Bối cảnh quốc tế
Công tác lý luận bước vào thời kỳ mới trong bối cảnh thế giới thay đổinhanh và biến động rất khó lường với những thuận lợi và khó khăn cơ bản là:
II.1.1.1 Thuận lợi
- Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức và quá trình toàncầu hoá tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến sự phát triển của nhiềunước Hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là những xu thếlớn
- Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và Đông Nam Á tiếp tục là khu vựcphát triển năng động, tạo thời cơ phát triển đối với những nước đang và kém pháttriển
- Một số nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, vẫnkiên định mục tiêu, lý tưởng, tiến hành cải cách, đổi mới, giành được những thànhtựu to lớn, tiếp tục phát triển; phong trào cộng sản và công nhân quốc tế tiếp tục
có những bước hồi phục
- Các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại,vừa hợp tác vừa đấu tranh Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hoà bình, độclập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội có những bước tiến mới
Các yếu tố trên có tác động mạnh mẽ đến công tác lý luận, nhất là tạo môitrường thuận lợi về cơ sở vật chất, kỹ thuật, phương pháp nghiên cứu Hợp tácquốc tế về lý luận sẽ có cơ hội mở rộng, phát triển
Đất nước ta sẽ có bước phát triển mới về chất, tiến gần tới nước côngnghiệp Điều đó đặt ra yêu cầu mới cho công tác nghiên cứu lý luận, tổng kếtthực tiễn để theo kịp bước phát triển mới của thế giới cũng như trình độ phát triểncủa đất nước Diễn biến mới của tình hình thế giới và trong nước sẽ có tác độngmạnh đến quá trình đổi mới tư duy lý luận
II.1.1.2 Khó khăn
Trang 4- Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức vàmức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển Cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giaicấp, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũtrang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ, biển, đảo, tàinguyên và cạnh tranh quyết liệt về lợi ích kinh tế tiếp tục diễn ra phức tạp
- Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và Đông Nam Á còn tiềm ẩn nhữngnhân tố mất ổn định, đặt ra những thách thức gay gắt cho nước ta
- Các nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và cánh
tả còn gặp nhiều khó khăn, các thế lực thù địch tiếp tục chống phá, tìm cách xoá
bỏ chủ nghĩa xã hội
- Chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển; về bản chất vẫn là một chế độ
áp bức, bóc lột và bất công Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản,nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuấtvới chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không giải quyếtđược mà ngày càng trở nên sâu sắc Các cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị, xãhội vẫn tiếp tục xảy ra
- Nhân dân thế giới vẫn đang đứng trước những vấn đề toàn cầu cấp bách cóliên quan đến vận mệnh loài người Đó là giữ gìn hoà bình, đẩy lùi nguy cơ chiếntranh, chống khủng bố, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu,hạn chế sự bùng nổ về dân số, phòng ngừa và đẩy lùi những dịch bệnh hiểm nghèo
- Các nước cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc Cuộc đấu tranhcủa nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ
xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức
Những khó khăn trên có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nước ta, đếncác mặt của đời sống xã hội, trong đó có công tác lý luận Đồng thời, tình hình thếgiới và trong nước như vậy cũng đặt ra cho công tác lý luận phải nghiên cứunhững vấn đề vô cùng mới và phức tạp; tham gia tích cực vào việc giải quyếtnhững khó khăn, vướng mắc đặt ra cho đất nước
II.1.2 Bối cảnh trong nước
Trong nước, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta nỗ lực phấn đấu hoànthành những mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội XI đề ra Do điều kiện quốc tế vàtrong nước khó khăn nên chắc chắn nhiều chỉ tiêu mà Đại hội XI đề ra không hoànthành Nhưng xét điều kiện khó khăn chung của thế giới thì đó cũng đã là một cốgắng lớn Đại hội XII sẽ diễn ra vào tháng 01 năm 2016, sẽ đề ra nhiệm vụ cho kếhoạch 5 năm 2016-2020, đồng thời, vạch ra những công việc khẩn trương thực
Trang 5hiện để hoàn thành những nhiệm vụ trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội2011-2020.
Với những nhiệm vụ rất khó khăn và nặng nề nêu trên, giai đoạn từ nay đếnnăm 2020 có những điều kiện thuận lợi, nhưng cũng đòi hỏi rất cao ở công tác lýluận
Công tác lý luận cần đem lại nhận thức mới về lý luận để có thể góp phầngiải quyết những khó khăn chung Đồng thời, với chức năng "vượt trước" củamình, công tác nghiên cứu lý luận ngay từ bây giờ phải nắm bắt hoàn cảnh, sớm
dự báo được tình hình từ nay đến 2020 để có lộ trình, bước đi hợp lý, hiệu quả
II.2 Thực trạng công tác nghiên cứu lý luận chính trị trong Đảng thời
kỳ đổi mới
II.2.1 Những mặt đã làm được
Nhận thức tầm quan trọng của công tác lý luận một cách thật sự khoa học,
là cơ sở để nâng cao vai trò tiền phong lãnh đạo của Đảng trong hoạt động thựctiễn, là cơ sở để giáo dục lý tưởng, nâng cao niềm tin của cán bộ, đảng viên vàquần chúng nhân dân vào Đảng Công tác lãnh đạo, chỉ đạo về lý luận tiếp tụcđược quan tâm; tiếp tục phát triển, hoàn thiện chủ trương, đường lối về công tác lýluận; nhận thức của các cấp lãnh đạo ngày càng được nâng lên
Sau các kỳ Đại hội Đảng, Đảng ta đều tiến hành tổng kết công tác lý luận, đề
ra phương hướng cho nhiệm kỳ tiếp Tại Đại hội VIII, Đảng ta tiến hành tổng kết 10năm đổi mới, Đại hội IX, tổng kết 15 năm đổi mới, Đại hội X, tổng kết 20 năm đổimới và Đại hội XI, tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 Đặc biệt, sau khi Nghị quyết 01-NQ/TW ban hành về công tác lý luận, ở Trung ương, Ban Bí thư phối hợp chặtchẽ với Chính phủ trực tiếp chỉ đạo công tác lý luận; nghe các cơ quan tham mưu,nghiên cứu, các nhà lý luận trình bày kết quả nghiên cứu, đóng góp ý kiến vềnhững vấn đề mà Đảng và Nhà nước quan tâm; định kỳ 5 năm báo cáo và xin ýkiến Bộ Chính trị
Các cấp uỷ đảng ngày càng coi trọng hơn đến công tác lý luận, thườngxuyên tổng kết thực tiễn, đúc kết lý luận, tăng cường giáo dục để nâng cao trình độ
lý luận cho đảng viên theo kịp yêu cầu của công cuộc đổi mới Bản thân cán bộlãnh đạo có chế độ thường xuyên học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ lý luận
II.2.1.1 Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn
Quán triệt sâu sắc tinh thần của Nghị quyết 01-NQ/TW của Bộ Chính trị về
lý luận một cách thật sự khoa học là cơ sở để nâng cao vai trò tiền phong lãnh đạo
Trang 6của Đảng trong hoạt động thực tiễn, là cơ sở để giáo dục lý tưởng, nâng cao niềmtin; xuất phát từ những đòi hỏi bức xúc của thực tiễn đối với công tác lý luận,Đảng ta tiếp tục hoàn thiện và phát triển các chủ trương, đường lối về công tác lýluận mà Nghị quyết 01-NQ/TW đã đề ra.
Sau khi Nghị quyết 01-NQ/TW ban hành, ở Trung ương, Ban Bí thư phốihợp chặt chẽ với Chính phủ trực tiếp chỉ đạo công tác lý luận; nghe các cơ quannghiên cứu, các nhà lý luận trình bày kết quả nghiên cứu, đóng góp ý kiến vềnhững vấn đề mà Đảng và Nhà nước quan tâm; định kỳ báo cáo và xin ý kiến BộChính trị về kết quả nghiên cứu và về những vấn đề cần thiết khác, bảo đảm chocông tác lý luận phát triển thuận lợi
Định kỳ 5 năm, theo nhiệm kỳ của Đại hội Đảng, các cơ quan tham mưucủa Đảng về công tác lý luận phối hợp với các cơ quan quản lý khoa học của Nhànước xây dựng các định hướng nghiên cứu lớn trong nhiệm kỳ trình Ban Bí thưphê duyệt Trên cơ sở các định hướng của Ban Bí thư, Chính phủ phê duyệt cácchương trình nghiên cứu khoa học trọng điểm quốc gia, trong đó có các chươngtrình nghiên cứu lý luận Năm 1996, Hội đồng Lý luận Trung ương đã được thànhlập để tư vấn cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư về những vấn đề lý luận lớn, cấp bách
Hệ thống các chương trình, đề tài khoa học cấp nhà nước về lý luận được tổ chứchoạt động thành nề nếp nhằm nghiên cứu những vấn đề trọng tâm mà các nghịquyết Đại hội, Nghị quyết Trung ương đề ra
Các cấp uỷ đảng ngày càng coi trọng hơn đến công tác lý luận, thườngxuyên tổng kết thực tiễn, đúc kết lý luận, tăng cường giáo dục để nâng cao trình độ
lý luận cho đảng viên theo kịp yêu cầu của công cuộc đổi mới Bản thân cán bộlãnh đạo có chế độ thường xuyên học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ lý luận.Năm 1999, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định 54-QĐ/TW về chế độ học tập lýluận chính trị Năm 2013, Bộ Chính trị ban hành Quy định 164-QĐ/TW về chế độbồi dưỡng, cập nhật kiến thức cho cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trong đó,trọng tâm là việc bồi dưỡng, cập nhật kiến thức lý luận chính trị
Sau các kỳ Đại hội Đảng, Đảng ta đều tiến hành tổng kết công tác lý luận, đề
ra phương hướng cho nhiệm kỳ tiếp Tại Đại hội VIII, Đảng ta tiến hành tổng kết 10năm đổi mới; Đại hội IX, tổng kết 15 năm đổi mới; Đại hội X, tổng kết 20 năm đổimới và Đại hội XI, tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, tổng kết 20 năm thực hiện Hiến pháp
1992 và hiện nay đang tiến hành tổng kết 30 năm đổi mới, chuẩn bị cho văn kiệnĐại hội XII Đặc biệt, trong nhiệm kỳ khóa IX, Ban Chấp hành Trung ương đã ban
Trang 7hành Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 "Về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới" và trong nhiệm kỳ khóa X, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 "Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới".
Việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học, xây dựng các luận cứ choviệc hình thành chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo… đang trở thành côngviệc phổ biến của nhiều cấp ủy đảng Các cơ quan nghiên cứu lý luận của Trungương và một số ngành, địa phương đã có nhiều cố gắng triển khai việc nghiên cứu
lý luận, tổng kết thực tiễn, coi trọng hợp tác quốc tế về lý luận và tiếp thu có chọnlọc kinh nghiệm nước ngoài; chất lượng và khả năng ứng dụng các kết quả nghiêncứu lý luận đã tiến bộ hơn trước
Các ngành, các cấp ngày càng coi trọng và không ngừng nâng cao trình độtổng kết thực tiễn Hệ thống chương trình, đề tài nghiên cứu ngày càng cụ thể vàthiết thực; kinh phí cần thiết để thực hiện các chương trình đó ngày càng tăng lên.Công tác quản lý việc thực hiện các chương trình, đề tài, đặc biệt khâu đánh giá,nghiệm thu để bảo đảm chất lượng các công trình nghiên cứu, ngày càng được cảitiến, hoàn thiện hơn
Một số ngành khoa học quan trọng đã được tăng cường và củng cố như kinh
tế học phát triển, chính trị học, văn hóa và phát triển Đặc biệt, ngành khoa họcnghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh và vận dụng trong thực tiễn có bước pháttriển nhanh và đi vào chiều sâu Việc tập trung nghiên cứu, truyền bá tư tưởng HồChí Minh đã bước đầu đạt kết quả tốt, tính thuyết phục được nâng cao, tạo đượcnhững tác động tích cực trong đời sống xã hội
II.2.1.2 Công tác tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị
Các cấp uỷ đảng nhận thức ngày càng rõ hơn về tuyên truyền, giáo dục chủnghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trước yêu cầu của sự nghiệp đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Việc tuyên truyền lý luận đã thườngxuyên được quan tâm định hướng về nội dung Hình thức tuyên truyền đa dạng,phong phú, được thể hiện qua lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của đảng viên và nhândân để xây dựng đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước; qua triển khai quán triệt các nghị quyết, kết luận của Đảng; qua các báo, tạpchí của Đảng; qua giáo dục lý luận trong hệ thống học viện và nhà trường từTrung ương tới địa phương và các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện; quacác hội thảo, tọa đàm và triển khai các nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực lý luậnchính trị và trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Môi trường cho tuyên
Trang 8truyền lý luận dân chủ hơn, đã lắng nghe, tiếp thu những ý kiến khác, từng bướckhắc phục tình trạng quy chụp Phần lớn cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnhđạo, quản lý đều ý thức được nhiệm vụ học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị,tích cực, tự giác học tập các chương trình đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức
lý luận chính trị theo quy định
Công tác giáo dục lý luận chính trị được triển khai sâu rộng trong hệ thốnggiáo dục của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể chính trị- xã hội; hệ thống học viện,các trường chính trị tỉnh, các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện đã đào tạo,bồi dưỡng, cập nhật kiến thức lý luận chính trị cho hầu hết cán bộ, công chứctrong hệ thống chính trị Trình độ lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên, nhất làcán bộ, đảng viên giữ cương vị chủ chốt từng bước được tiêu chuẩn hóa Việc bồidưỡng, cập nhật kiến thức cho cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, đào tạo cán bộnguồn, cán bộ chủ chốt được triển khai thông qua một số lớp Hầu hết đối tượngcán bộ, đảng viên cơ sở được bồi dưỡng kiến thức lý luận chính trị thông qua hệthống trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện
Hệ thống các trường chính trị đã điều chỉnh quy mô đào tạo theo hướngtăng tỷ lệ đào tạo tập trung và từng bước giảm mạnh đào tạo tại chức, tăng cường
mở các lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới theo các chức danh lãnh đạo, quản
lý, nhất là việc mở lớp cán bộ dự nguồn cao cấp Thực hiện chiêu sinh đúng đốitượng theo phân cấp, bảo đảm quy mô đào tạo hợp lý, nhất là những lớp học tậptrung Từng bước hoàn thiện quy chế đào tạo, quản lý chặt chẽ đội ngũ giảng viên
và học viên theo quy chế Gần đây, Hội đồng Lý luận Trung ương đã xây dựngchương trình bồi dưỡng cập nhật kiến thức cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư Học việnChính trị quốc gia Hồ Chí Minh xây dựng chương trình và tổ chức bồi dưỡng cán
bộ nguồn cho Trung ương…
Về mặt nội dung, đã quan tâm xây dựng, bổ sung, hoàn thiện chương trình,giáo trình, chuyên đề giảng dạy lý luận chính trị trong hệ thống Đảng, quân đội,công an và các đoàn thể chính trị - xã hội phù hợp với yêu cầu mới; đưa thực tiễnvào trong nội dung giảng dạy; chú trọng xây dựng chương trình, nội dung bồidưỡng, cập nhật kiến thức lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên các cấp, nhất làcán bộ chủ chốt và đặc biệt cho cán bộ cao cấp của Đảng Hệ thống các nhà xuấtbản của Đảng đã xuất bản nhiều ấn phẩm phục vụ công tác giáo dục, bồi dưỡng lýluận chính trị, trong đó đã biên tập bộ sách kinh điển và các giáo trình về chủnghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Về phương pháp, chú trọng đối thoại,từng bước hạn chế độc thoại, tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn
Trang 9Phương pháp giảng dạy hiện đại được áp dụng ngày càng nhiều, góp phần pháthuy vai trò hướng dẫn của giảng viên và tính chủ động, tích cực, khả năng độc lậpsuy nghĩ, sáng tạo của người học
Trong hệ thống giáo dục quốc dân vẫn luôn duy trì và tăng cường các mônhọc về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tích cực đổi mới chươngtrình, nội dung, phương pháp giáo dục, chú trọng đảm bảo định hướng chính trị vàtính thiết thực, hiệu quả Các chương trình đào tạo lý luận chính trị đã được rútngắn tương đối hợp lý, từng bước khắc phục sự lạc hậu về nội dung, phương phápdạy và học, bảo đảm tính cơ bản, hệ thống, hiện đại và phù hợp với thực tiễn ViệtNam Công tác giáo dục đạo đức, lối sống và rèn luyện tác phong công tác cho họcsinh, sinh viên ngay trong quá trình học tập đã được quan tâm hơn
Việc học tập và làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đãđược triển khai trong Đảng và trong xã hội, được các ngành, các cấp từ Trungương tới địa phương quan tâm, thực hiện nghiêm túc; đã thành lập Ban Chỉ đạo,
bộ phận giúp việc để triển khai nhiệm vụ này một cách thường xuyên, sâu rộng
II.2.1.3 Công tác đấu tranh lý luận
Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch được chú trọng và từngbước chủ động, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan ở Trung ương, giữa
Trung ương và địa phương Chủ động nắm bắt, nhận diện, nghiên cứu, phân thành
các nhóm luận điểm chống phá của các thế lực thù địch về chủ nghĩa Mác- Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, về đường lối, chủtrương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, về các vấn đề dân chủ,nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, về đoàn kết giai cấp, dân tộc, Đấu tranh lý luậnđược thực hiện trên tất cả các lĩnh vực như nghiên cứu lý luận, văn học nghệ thuật
và báo chí, xuất bản với nhiều hình thức da dạng phong phú như: qua các bài viết,hội thảo, diễn đàn; qua tuyên truyền những thành tựu về kinh tế, xã hội, và nhânquyền của Việt Nam để bác bỏ những luận điệu sai trái, bịa đặt Từng bước xâydựng tổ chức bộ máy đấu tranh chống ‘‘diễn biến hòa bình’’, phối hợp giữa các
bộ, ngành, giữa Trung ương và địa phương, phân công viết bài phản bác các thôngtin, quan điểm sai trái; tăng cường các bộ phận làm công tác thông tin đối ngoại
II.2.1.4 Công tác xây dựng, tổ chức lực lượng nghiên cứu, đào tạo bồi dưỡng lý luận chính trị được quan tâm thường xuyên hơn; cơ chế, chính sách,
cơ sở vật chất được tăng cường
Trong hơn 20 năm qua, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị địnhhướng việc xây dựng mạng lưới các cơ quan nghiên cứu, xây dựng đội ngũ cán bộ
Trang 10nghiên cứu lý luận, xây dựng các chính sách khuyến khích tài năng và lao độngsáng tạo, phát huy tự do tư tưởng, tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động nghiêncứu và các mặt công tác khác trên lĩnh vực lý luận; tổ chức, thu hút cán bộ khoahọc và các cơ quan khoa học tham gia tích cực vào quá trình hoạch định đườnglối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Các cơ quan lý luận của Đảng, của Nhà nước đã được tổ chức, sắp xếp lạinhằm khắc phục tình trạng xa rời thực tiễn, tình trạng phân tán, trùng lắp và kémhiệu quả; phân định rõ chức năng và nhiệm vụ, có sự phân công và phối hợp giữacác cơ quan nghiên cứu, các cơ sở đào tạo Đã tiến hành sắp xếp lại hệ thốngtrường đảng; chuyển Trường đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc thành Học việnNguyễn Ái Quốc, rồi Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh…; chuyển cáckhoa thành các viện nghiên cứu; xây dựng hệ thống Học viện thành trung tâm đàotạo, nghiên cứu lý luận chính trị; xây dựng các trường chính trị ở địa phươngthành các trung tâm đào tạo, bồi dưỡng lý luận ở địa phương
Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia cũng được củng cố trởthành Viện Khoa học xã hội Việt Nam, rồi Viện Hàn lâm Khoa học xã hội ViệtNam Một số trường đại học lớn cũng được quan tâm phát triển, tăng cường chứcnăng nghiên cứu lý luận như 02 Đại học quốc gia, Đại học Kinh tế quốc dân
Công tác bồi dưỡng lý luận đã dần đi vào nề nếp; việc bố trí, sử dụng độingũ cán bộ lý luận đã hợp lý hơn Các cơ quan lý luận chú ý nâng cao quan điểmchính trị, trình độ chuyên môn, ngoại ngữ cho cán bộ lý luận và gửi một số cán bộtrẻ, có triển vọng đi đào tạo ở nước ngoài Sau 20 năm củng cố và phát triển, độingũ cán bộ và các nhà khoa học lý luận có bước phát triển cả về số lượng và chấtlượng với trình độ ngày càng cao Bước đầu đã có chính sách và biện pháp sửdụng những cán bộ nghỉ chức vụ hay nghỉ hưu nhưng còn sức đóng góp cho côngtác lý luận Công tác đào tạo cán bộ lý luận từ quy hoạch đến tuyển chọn bước đầuđược thực hiện
Cơ chế hoạt động nghiên cứu và quản lý công tác lý luận nhằm phát huy tự
do sáng tạo trong quá trình tìm tòi, khám phá chân lý; xây dựng không khí dânchủ, cởi mở trong thảo luận, tranh luận khoa học đã được thực hiện và bước đầu
có bước phát triển Quy chế dân chủ trong nghiên cứu khoa học xã hội đã đượcquan tâm và hiện nay các cơ quan chức năng của Trung ương Đảng đang tích cựchoàn thiện xây dựng Quy chế dân chủ trong nghiên cứu lý luận chính trị Các cơquan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đã quan tâm lắng nghe ý kiến, phát huy tàinăng, trí tuệ, thu hút đội ngũ cán bộ lý luận và các cơ quan nghiên cứu tham gia
Trang 11vào quá trình hoạch định đường lối, chiến lược, chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước Một số cơ chế, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trịđược ban hành kịp thời và có tác dụng thiết thực như: về chế độ học tập lý luậnchính trị bắt buộc đối với đảng viên; về xác định trình độ lý luận chính trị; về việcthành lập trường chính trị cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; về tổ chức
và hoạt động của Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện; chính sách phụ cấpgiảng viên; chính sách thâm niên nhà giáo
Ngân sách đầu tư cho các hoạt động lý luận được tăng cường; nguồn kinh phínhà nước cấp cho khoa học ngày càng tăng lên nhằm bảo đảm từng bước hiện đại hoá
cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nghiên cứu lý luận, hiện đại hoá hệ thống thông tin vàbảo đảm cung cấp thông tin, tạo điều kiện cho việc khảo sát, nghiên cứu thực tế
II.2.1.5 Hợp tác quốc tế trong công tác lý luận
Thực hiện chủ trương của Đảng, các cơ quan nghiên cứu, các học viện, nhàtrường ở nước ta đã chủ động thực hiện công tác hợp tác quốc tế trong nghiên cứu
lý luận Trong hơn 20 năm qua, đã gửi đi đào tạo được một số lượng không nhỏcán bộ có trình độ cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ các chuyên ngành lý luận ở một sốnước bạn góp phần tăng thêm số lượng và chất lượng đội ngũ những người làmcông tác lý luận Đã chú trọng hợp tác nghiên cứu với nước ngoài về một số vấn
đề lý luận để góp phần vào việc hoàn thiện dự thảo sửa đổi Hiến pháp cũng như bổsung, hoàn thiện một số chính sách của Đảng và Nhà nước ta Hoạt động trao đổi,tham vấn trong lĩnh vực lý luận cũng đã có bước tiến thông qua nhiều cuộc traođổi lý luận với một số Đảng bạn như với Đảng Nhân dân Cách mạng Lào; ĐảngCộng sản Trung Quốc; Đảng Cộng sản Cu Ba; Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộngsản Nhật Bản và một số Đảng cánh tả Châu Âu Trong hệ thống Đảng cũng đã cóchương trình gửi đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn và lý luận ở nước ngoài
II.2.2 Hạn chế, bất cập
II.2.2.1 Trong công tác nghiên cứu lý luận
II.2.2.1.1.Công tác nghiên cứu lý luận chưa được quan tâm đúng mức, chưa tương xứng với vị trí, vai trò, nhiệm vụ được giao
Ở Trung ương, công tác nghiên cứu lý luận được đánh giá cao, được quantâm chỉ đạo, nhưng sự quan tâm đôi khi chưa cụ thể, chỉ đạo tổ chức thực hiệnchưa quyết liệt Chính vì vậy, một số chủ trương ở nhiệm kỳ nào cũng đặt ra màkhông ban hành được Có một số nghị quyết về lý luận mà nhiều năm không sơkết, tổng kết Sự lạc hậu, xa rời thực tiễn của công tác lý luận có một phần tráchnhiệm thuộc về sự lãnh đạo, chỉ đạo, nhất là sự chỉ đạo tổ chức thực hiện
Trang 12Nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền đối với công tác nghiên cứu lýluận chưa tương xứng với vị trí, vai trò của công tác này Nhiều cấp ủy đảng ở địaphương đồng nhất công tác lý luận với công tác giáo dục lý luận; do đó, khôngchú ý đến việc tổ chức thực hiện công tác nghiên cứu lý luận trên địa bàn Việc tổchức thực hiện nhiệm vụ tổng kết thực tiễn còn thụ động; chưa thấy hết giá trị, vaitrò của nó đối với công tác lãnh đạo của đảng bộ, của địa phương.
II.2.2.2.2 Công tác nghiên cứu lý luận còn trong tình trạng lạc hậu trên một số mặt, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn đang vận động nhanh chóng, phong phú và phức tạp; nhiều sản phẩm nghiên cứu lý luận chưa được ứng dụng vào đời sống
Nhiều vấn đề lớn, bức xúc đặt ra từ thực tiễn trong nước và quốc tế chưatìm ra hướng giải quyết hoặc giải đáp chưa có sức thuyết phục Một số vấn đề lýluận đã thảo luận, làm rõ, nhưng chậm được kết luận, khẳng định để đưa vào thựchiện Kết quả các công trình nghiên cứu khoa học lý luận chính trị, khoa học xãhội và nhân văn có chất lượng chưa cao, ít có kết quả được ứng dụng, vận dụng.Hiệu quả nghiên cứu chưa tương xứng với sự đầu tư của Đảng và Nhà nước.Nhiều kết quả nghiên cứu lý luận có giá trị chưa được tổ chức chắt lọc và sử dụng
Cho đến nay, công tác nghiệm thu, thẩm định, đánh giá chất lượng cácchương trình, đề tài chưa thực sự khách quan, khoa học Hầu như chưa có chươngtrình, đề tài nào bị đánh giá không đạt yêu cầu về chất lượng Các kết quả nghiêncứu sau khi nghiệm thu không được xã hội hóa, không được công khai đánh giá vềgiá trị ứng dụng như thế nào, tác động, ảnh hưởng đến đời sống xã hội ra sao.Chưa có một văn bản nào nói rõ kết quả của đề tài nào, chương trình nghiên cứunào đã thực sự có đóng góp về mặt lý luận góp phần xây dựng Cương lĩnh, Chiếnlược hay Nghị quyết các đại hội Đảng, và các hội nghị Trung ương Tình trạngnày đã không khuyến khích, động viên hoạt động nghiên cứu lý luận bởi bản thânnhững nhà nghiên cứu cũng không biết kết quả nghiên cứu của mình có thànhcông không? Có được sử dụng không và sử dụng như thế nào? Có hữu ích khônghay nghiên cứu chỉ để nghiên cứu Hơn thế, những sáng tạo trong nghiên cứu lýluận cũng cần được khẳng định quyền tác giả và có cơ chế trả thù lao tương xứngkhi được ứng dụng
Chính sự không công khai, minh bạch trong thẩm định, đánh giá, sử dụngcác kết quả nghiên cứu lý luận và khẳng định những sáng tạo của cá nhân hay tậpthể trong hoạt động nghiên cứu lý luận đã góp phần làm mất động lực nghiên cứu,sáng tạo lý luận trong thời gian qua
Trang 13II.2.2.2.3 Chưa xây dựng được mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa nhà lý luận và đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn, giữa công tác nghiên cứu lý luận và công tác giảng dạy, đào tạo lý luận
Trên thực tế có sự tách rời giữa nghiên cứu lý luận với công tác lãnh đạo,chỉ đạo trong thực tiễn Một mặt, sản phẩm nghiên cứu lý luận chưa ứng dụng vàothực hiện nhiệm vụ của địa phương, đơn vị; mặt khác trong hoạt động lãnh đạo,chỉ đạo chưa coi trọng áp dụng lý luận, các kết quả nghiên cứu lý luận, còn nặng
về kinh nghiệm
Giữa nghiên cứu lý luận và đào tạo giảng dạy lý luận có sự tách rời nhau.Những vấn đề, những sự kiện giới nghiên cứu lý luận quan tâm, những chươngtrình, đề tài đang được triển khai nghiên cứu không thu hút sự chú ý của nhữngsinh viên, học viên lý luận Bản thân các kết quả nghiên cứu lý luận không được
cọ sát, kiểm nghiệm trong môi trường học thuật, đào tạo Do đó, những người sẽlàm công tác lý luận và công tác nghiên cứu lý luận trong tương lai cũng không códịp tiếp xúc với nhưng thành tựu mới nhất của nghiên cứu lý luận Trong hơn 20năm qua, công tác đào tạo, giảng dạy lý luận có biểu hiện thương mại hóa, không
ít giảng viên không dành thời gian cho nghiên cứu lý luận mà chỉ tập trung vàogiảng dạy lý luận để tìm kiếm thu nhập Sự tách rời giữa nghiên cứu và đào tạo đãphần nào hạn chế sự phát triển của cả nghiên cứu lý luận và đào tạo lý luận
II.2.2.2.4 Các cơ quan nghiên cứu lý luận chưa được kiện toàn thành hệ thống xuyên suốt; đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận còn nhiều bất cập; chưa thực
sự phát huy được tiềm năng sáng tạo trong nghiên cứu lý luận
Hoạt động nghiên cứu lý luận chưa được quy hoạch, chưa có chiến lượcphát triển lâu dài, chưa có cơ chế, chính sách riêng phù hợp với tính chất đặc thùcủa hoạt động này Kinh phí đầu tư cho hoạt động nghiên cứu lý luận hầu nhưkhông đáng kể; vừa thiếu, vừa lãng phí, chủ yếu thông qua hệ thống chương trình,
đề tài khoa học các cấp mang tính chất phong trào, mùa vụ, tạm thời Không cónhững chương trình nghiên cứu chiến lược dài hơi, liên tục nhiều năm, được đầu
tư kinh phí và cơ sở vật chất tương xứng để các nhà nghiên cứu tập trung toàn bộsức lực, trí tuệ chuyên tâm và yên tâm nghiên cứu thấu đáo, có đủ điều kiện vàthời gian để giải quyết những vấn đề mang tính chiến lược cho cả một giai đoạnlâu dài của đất nước một cách toàn diện
Cơ quan nghiên cứu lý luận chưa được đầu tư xây dựng thành hệ thống,không có cơ quan mang tính trung tâm đủ mạnh, đủ sức quy tụ các đơn vị nghiêncứu thành một khối thống nhất, cùng phối - kết hợp giải quyết các chương trình,
Trang 14đề tài chung Ngoài Hội đồng Lý luận Trung ương chuyên tâm về công tác lý luận,nhưng các thành viên lại chỉ kiêm nhiệm; không có đơn vị nào mang tính chất một
cơ quan nghiên cứu lý luận chuyên nghiệp Hoạt động nghiên cứu lý luận ở cácđơn vị khác đều mang tính nghiệp dư, chỉ được thực hiện khi được giao đề tàinghiên cứu trong khi đề tài nghiên cứu lý luận vừa nhỏ hẹp, vừa bị xé lẻ phân chiacho nhiều đầu mối rời rạc, nhiều đơn vị phải cạnh tranh, đấu thầu mới có được.Nhiều viện nghiên cứu nhiều năm liên tục không có các đề tài nghiên cứu lý luận
Số lượng cơ quan thực hiện nghiên cứu lý luận thì nhiều nhưng lại yếu vì vừaphân tán, biệt lập, chồng chéo, vừa không có sự liên kết, phối hợp, vừa mang tínhnghiệp dư, hoạt động cầm chừng, thụ động
Đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận mặc dù có được đào tạo tương đối chínhquy, bài bản, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức trong sáng vàtuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân, nhưng, dođược đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau; hơn thế, phương pháp đào tạo lý luận,chính trị của chúng ta ở các trường đại học, các học viện thời gian qua lại hết sứclạc hậu, các phương pháp nghiên cứu tiên tiến và các cách tiếp cận hiện đại ít đượccập nhật Đối với đội ngũ các nhà nghiên cứu cao niên thì sự tâm huyết, bản lĩnhchính trị vững vàng, vốn kiến thức lý luận và văn hóa sâu rộng, nhiều kinh nghiệmnhưng để đổi mới tư duy lý luận không phải là việc đơn giản Do đó, để có một tưduy mới trong nhận thức và khám phá những vấn đề mới của thực tiễn đổi mới đốivới đội ngũ này cũng không dễ dàng Đối với đội ngũ cán bộ cán bộ nghiên cứu lýluận trẻ dù có tâm huyết, bản lĩnh và lòng say mê khám phá lý luận, khoa họcnhưng đời sống lại hết sức khó khăn, trình độ học vấn, vốn kiến thức thiếu hụt,khả năng sử dụng ngoại ngữ kém… nên đã hạn chế hiệu quả và chất lượng nghiêncứu lý luận của họ Hơn thế, bản thân họ cũng ít có điều kiện và cơ hội tham giathực hiện các đề tài nghiên cứu lý luận quan trọng
Nhìn chung, đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận hiện nay thiếu về số lượng,yếu chuyên môn, nghiệp vụ, lòng nhiệt tình, sự say mê nghiên cứu bị chi phối bởinhiều nhân tố xã hội Đội ngũ cán bộ nghiên cứu trẻ gặp nhiều khó khăn trong đờisống, do đó, chưa thực sự yên tâm, chuyên tâm với công tác nghiên cứu lý luậntrong điều kiện hiện nay
Hiện nay không khí dân chủ cũng là một thành tựu quan trọng của côngcuộc đổi mới Dân chủ trong nghiên cứu lý luận cũng đã được mở rộng Chúng ta
đã thực hiện và triển khai Pháp lệnh Dân chủ ở cơ sở gần 15 năm, trong khi đóhoạt động nghiên cứu lý luận chưa có quy chế dân chủ Không có quy chế dân chủ
Trang 15sẽ hạn chế tư duy sáng tạo trong nghiên cứu lý luận, không phát huy và khai tháchết tiềm năng sáng tạo của cả xã hội trong công tác lý luận Mặt khác, không ítnhững kết quả nghiên cứu lý luận mới cũng không được khai thác và ứng dụngtrong thực tiễn Đây thực sự là một sự lãng phí nguồn lực trí tuệ của xã hội.
II.2.2.2 Trong công tác tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị
Việc tuyên truyền, phổ biến lý luận còn chưa hấp dẫn; triển khai nghị quyết,kết luận của Đảng còn hình thức, thiếu chiều sâu về lý luận Nghiên cứu, tuyêntruyền và giải thích chưa đủ sức thuyết phục về một số luận điểm quan trọng, cơbản của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, phápluật của Nhà nước trong điều kiện mới Còn ít biện pháp cụ thể, khoa học để xâydựng, củng cố niềm tin của nhân dân trên cơ sở giải đáp những băn khoăn, vướngmắc, những vấn đề phức tạp và những mâu thuẫn mới nảy sinh trong quá trình đổimới Tuyên truyền những thành tựu mới về lý luận của thế giới vào Việt Nam cònhạn chế Các binh chủng tuyên truyền chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm trongphổ biến những kết quả nghiên cứu lý luận
Việc học tập lý luận chính trị trong Đảng còn có những khuyết điểm, yếukém cần khắc phục: Hệ thống chương trình đào tạo, bồi dưỡng còn nhiều bất hợplý; thời gian và nội dung chương trình chưa phù hợp; phương pháp giảng dạy, họctập còn lạc hậu; đội ngũ giảng viên còn yếu và thiếu, chưa được quan tâm đúngmức; chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị hạn chế, nhiều trường hợphọc lý luận chính trị để đủ điều kiện nâng ngạch, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, khôngđáp ứng yêu cầu trình độ công tác
Công tác giáo dục tư tưởng còn lúng túng, bị động, lúc “tả khuynh”, lúc “hữukhuynh”, có lúc buông lỏng, chưa gắn chặt chẽ với nhiệm vụ chính trị của từng giaiđoạn cách mạng; coi nhẹ quan điểm giai cấp, bản chất giai cấp của Đảng, né tránhnhiều vấn đề có tính thời sự, nhạy cảm; chưa quan tâm đến giáo dục đạo đức, lốisống, vấn đề văn hóa- xã hội, nên đạo đức xã hội xuống cấp nghiêm trọng và có sựsuy thoái tư tưởng chính trị trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên…
Chưa chú trọng chỉ đạo để nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan củaĐảng và Nhà nước trong việc triển khai, nâng cao chất lượng công tác giáo dụcchính trị tư tưởng; chưa thực hiện tốt việc kiểm tra chất lượng nội dung chươngtrình và kiểm soát việc chấp hành nội dung tư tưởng trong giảng dạy; việc chỉ đạoxây dựng chế độ, chính sách cho người dạy và người học lý luận chính trị chưa kịpthời; việc nghiên cứu những vấn đề lý luận chưa rõ, những vấn đề mới nảy sinh vàgắn nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn với đào tạo bồi dưỡng cán bộ chưa được
Trang 16quan tâm đúng mức dẫn đến nội dung chương trình cũ, lạc hậu gây nhàm chán đốivới người học Đội ngũ giảng viên coi nhẹ nghiên cứu lý luận, coi nặng việc giảngdạy thêm nên chất lượng bài giảng thấp.
Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho người giáo dục tư tưởng còn bịxem nhẹ Không ít cán bộ, đảng viên là giảng viên chưa có kế hoạch đào tạo nângcao, đào tạo lại dẫn đến lạc hậu cả về kiến thức lẫn phương pháp Ở một số trườngđại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, số giờ giảng môn học Chủ nghĩa Mác– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bị cắt giảm và chất lượng thấp Nhiều cơ sở đàotạo và sinh viên chưa thực sự coi trọng môn học học này
Trong hệ thống các học viện, trường chính trị toàn quốc, một số chươngtrình đào tạo, nhất là bồi dưỡng theo chức danh vẫn chưa thực sự đáp ứng đượcyêu cầu của người học Nội dung đào tạo vẫn còn nặng về lý thuyết, thiếu tínhthực tiễn, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, nhất là việc trang bị kỹ năng làm việccủa người học Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vẫn còn chồng chéo, trùng lắp
về nội dung Chương trình đào tạo sau đại học về lý luận chính trị còn dàn trải vớinhiều môn học, có môn không gắn với chuyên ngành; thời gian dành cho nghiêncứu tác phẩm kinh điển chưa nhiều; dung lượng các kiến thức liên ngành, cập nhậtkiến thức còn nhiều hạn chế
Phương pháp giảng dạy vẫn chưa đổi mới thực sự Dân chủ trong giảng dạy,học tập chưa được phát huy đầy đủ, hiệu quả tương tác giữa người dạy và ngườihọc còn thấp Chất lượng học tập lý luận chính trị, nhất là các lớp tại chức cònthấp Công tác quản lý học viên (kể cả việc tham gia học tập và rèn luyện) chưađạt được hiệu quả tích cực Một số cơ sở đào tạo chưa coi trọng gắn liền việc trang
bị tri thức, kỹ năng nghiệp vụ với rèn luyện tư tưởng, chính trị, đạo đức cáchmạng, lối sống cho học viên
Cách đánh giá chất lượng đào tạo chưa có sự thay đổi đáng kể nên việcđánh giá chất lượng đào tạo vẫn chưa đảm bảo thực chất Tiêu cực, nể nang, bệnhthành tích và chủ nghĩa hình thức trong học tập vẫn còn Kết quả học tập lý luậnchính trị vẫn chưa gắn với công tác đề bạt, bổ nhiệm và đãi ngộ cán bộ nên chưakhuyến khích được người học Không ít cán bộ tham gia các lớp học theo nghĩa vụbắt buộc, chạy theo nhu cầu về chứng chỉ, bằng cấp để được cất nhắc, đề bạt
Đầu tư cho đổi mới nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy chủnghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa xứng tầm, còn dàn trải và hiệuquả chưa cao Chưa thực sự tạo nên bước đột phá trong đổi mới chương trình, nộidung, phương thức giảng dạy lý luận chính trị (tiếp thu kinh nghiệm từ các nước
Trang 17tiên tiến, chế độ dân chủ trong giảng dạy – học tập; tính hiệu quả trong tổng kếtthực tiễn) Không ít giảng viên giảng dạy môn học lý luận chính trị còn yếu vềkiến thức, kỹ năng sư phạm, thậm chí là thiếu niềm tin vào chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhànước, bất mãn với chế độ, phê phán Đảng, rất phản tác dụng Chính sách, cơ chếcòn chưa hoàn thiện, chưa tạo được nền nếp trong quá trình học tập, rèn luyện vàbồi dưỡng thường xuyên của cán bộ, đảng viên1
Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chưa thực sự đivào chiều sâu, ở một số nơi còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, làm theochưa đạt yêu cầu
II.2.2.3 Công tác đấu tranh lý luận
Đấu tranh lý luận có lúc còn bị động, nội dung, phương thức đấu tranh trênlĩnh vực lý luận chậm đổi mới, còn lúng túng, thiếu sắc bén, chất lượng khoa họcthấp, tính thuyết phục và tính chiến đấu chưa cao, phương pháp chưa linh hoạt,hiệu quả thấp Chưa tập hợp, phát huy đầy đủ sức mạnh của các lực lượng thamgia trên mặt trận đấu tranh tư tưởng, lý luận; chưa huy động được các chuyên giagiỏi tham gia vào đấu tranh lý luận
II.2.2.4 Hợp tác quốc tế trong công tác lý luận
Việc hợp tác quốc tế về công tác lý luận vẫn thiếu thống nhất, thiếu tập trung,chưa có được mục tiêu chung Vẫn còn hiện tượng “mạnh ai người ấy lo”, cho nênchưa mang lại hiệu quả tối ưu Sự hợp tác quốc tế của các cơ quan đào tạo, nghiêncứu trong hệ thống Đảng, đoàn thể còn hạn chế so với các cơ quan nghiên cứu,đào tạo bên hệ thống nhà nước Kết quả và hiệu quả trong hợp tác lý luận chưanhiều Năng lực hợp tác quốc tế trong công tác lý luận còn hạn chế, nhất là khảnăng giao tiếp ngoại ngữ và trao đổi lý luận của đa số cán bộ, các nhà nghiên cứutrong nước
II.2.2.3 Nguyên nhân
Những hạn chế yếu kém nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khácnhau, cả chủ quan và khách quan, trong đó, các nguyên nhân nổi lên là:
Thứ nhất, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước là quá trình đấu tranh gay
go, phức tạp giữa cái cũ và cái mới, giữa con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và phi
1 Chậm ban hành quy định về chế độ bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp (Quy định 164 của Ban Bí thư mới ban hành 01/02/2013); chính sách đề bạt cán bộ có thành tích học tập cao; quy chế giảng viên lý luận chính trị kiêm chức; chính sách đặc thù đủ sức thu hút cán bộ giảng viên đủ đức, thực tài tham gia giảng dạy lý luận chính trị