ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM VŨ THỊ HÀ LINH VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CAO LỘC - TỈNH LẠNG SƠN Chuyên ngành: Ph
Trang 1………
………
………
………
………
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ THỊ HÀ LINH
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN CAO LỘC - TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SỸ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Thái Nguyên - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ THỊ HÀ LINH
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN CAO LỘC - TỈNH LẠNG SƠN
Chuyên ngành: Phát triển nông thôn
Mã số ngành: 60.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SỸ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Ngọc Lan
Thái Nguyên - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Các số liệu trích dẫn trong quá trình nghiên cứu đã được trích dẫn và ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Vũ Thị Hà Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi đã được
sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân Nhân đây:
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo, Phòng Sau Đại học, Ban chủ nhiệm Khoa KT&PTNT cùng các thầy cô Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện về mọi mặt để tôi thực hiện đề tài này Đặc biệt tôi xin cảm ơn PGS.TS Đinh Ngọc Lan, đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể gồm: Huyện uỷ Cao Lộc, UBND huyện Cao Lộc, Phòng LĐ-XH huyện Cao Lộc, Phòng Nông nghiệp huyện Cao Lộc, Các tổ chức hội đoàn thể huyện Cao Lộc, UBND các xã Gia Cát, Yên Trạch và xã Hợp Thành
Cuối cùng tôi xin trân thành cảm ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè, những người đã chia sẻ, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành tốt luận văn của mình
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu của các tập thể và cá nhân đã dành cho tôi
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Vũ Thị Hà Linh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
5 Bố cục luận văn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Cơ sở khoa học 5
1.1.1 Giới tính và Giới 5
1.1.1.1 Khái niệm Giới tính và Giới 5
1.1.1.2 Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới 6
1.1.1.3 Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới 7
1.1.1.4 Vai trò của giới 8
1.1.1.5 Quan điểm về giới 9
1.1.2 Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội nông hộ 9
1.1.2.1 Một số khái niệm 9
1.1.2.2 Vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội 11
Trang 61.1.2.3 Vị trí, vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ12
1.2 Cơ sở thực tiễn 13
1.2.1 Thực trạng vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam 13
1.2.1.1 Khái quát về vai trò của phụ nữ ở một số nước trên thế giới 13
1.2.1.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay 15
1.2.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của DTTS (dân tộc Tày, Nùng) 20
1.2.2.1 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc Tày 20
1.2.2.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc Nùng 23
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Nội dung nghiên cứu 27
2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 27
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 28
2.2.2.1 Số liệu thứ cấp 28
2.2.2.2 Số liệu sơ cấp 29
2.2.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 29
2.2.3.1 Phương pháp xử lý số liệu 29
2.2.3.2 Phương pháp phân tổ thống kê 29
2.2.3.3 Phương pháp thống kê so sánh 30
2.2.3.4 Phương pháp phân tích giới 30
2.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 30
2.2.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất của hộ 30
2.2.4.2 Các chỉ tiêu biểu hiện sự đóng góp của hai giới trong kinh tế hộ 30
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn 32
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 32
3.1.1.1 Vị trí địa lý 32
Trang 73.1.1.2 Địa hình 34
3.1.1.3 Khí hậu, thủy văn 35
3.1.1.4 Tài nguyên rừng 36
3.1.1.5 Tài nguyên đất 37
3.1.1.6 Đặc điểm cảnh quan môi trường 38
3.1.2 Điều kiên kinh tế - xã hội 39
3.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế 39
3.1.2.2 Tình hình xã hội 44
3.2 Thực trạng của các hộ điều tra trên địa bàn huyện Cao Lộc 45
3.2.1 Tình hình chung của hộ nghiên cứu 45
3.2.2 Các yếu tố sản xuất của hộ 47
3.2.2.1 Các yếu tố về con người 47
3.2.2.2 Các yếu tố tự nhiên 49
3.2.2.3 Các yếu tố vật chất 52
3.3 Thực trạng vai trò của phụ nữ DTTS trên địa bàn huyện Cao Lộc trong phát triển kinh tế hộ gia đình 56
3.3.1 Vai trò của phụ nữ DTTS trong hoạt động sản xuất 56
3.3.2 Vai trò của phụ nữ DTTS trong hoạt động tái sản xuất và hoạt động cộng đồng 66
3.3.3 Quyền ra quyết định chính trong các hoạt động 69
3.3.4 Vấn đề tiếp cận thông tin khoa học của phụ nữ DTTS 72
3.3.5 Sử dụng quỹ thời gian của phụ nữ DTTS 73
3.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ DTTS trong phát triển kinh tế hộ gia đình 74
3.4.1 Yếu tố chủ quan 75
3.4.2 Yếu tố khách quan 76
3.5 Những thuận lợi và khó khăn trong việc phát huy vai trò của phụ nữ DTTS trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Cao Lộc 78
Trang 83.5.1 Thuận lợi 78
3.5.2 Khó khăn 79
3.6 Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của mỗi giới trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Cao Lộc 81
3.6.1 Nâng cao trình độ cho giới 81
3.6.2 Nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò của phụ nữ DTTS 82
3.6.3 Tăng cường khả năng tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình 83
3.6.4 Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào hoạt động cộng đồng 84
3.6.5 Làm tốt công tác kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe của phụ nữ DTTS 84
3.6.6 Trong việc thực hiện các chính sách, kế hoạch, chương trình dự án phát triển của địa phương cần đặc biệt quan tâm đến vai trò, sự tham gia của phụ nữ DTTS 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87
1 Kết luận 87
2 Kiến nghị 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC
Trang 911 GDI Gender Development Index - Chỉ số phát triển giới
12 HDI Chỉ số phát triển con người
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả lựa chọn nhóm hộ điều tra 28
Bảng 3.1: Diện tích đất phân theo loại đất của huyện Cao Lộc 33
Bảng 3.2: Tình hình sử dụng đất của huyện Cao Lộc
giai đoạn 2013 - 2015 37
Bảng 3.3: Diện tích, năng xuất, sản lượng 1 số cây trồng chính
của huyện năm 2015 40
Bảng 3.4: Số lượng gia súc, gia cầm của huyện Cao Lộc
giai đoạn 2013-2015 41
Bàng 3.5: Tình hình chung của các hộ điều tra 46
Bảng 3.6: Bình quân lao động và nhân khẩu của hộ điều tra 47
Bảng 3.7: Trình độ học vấn của chủ hộ theo giới tính 48
Bảng 3.8: Người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 50
Bảng 3.9: Bình quân đất đai của hộ 51
Bảng 3.10: Tài sản sinh hoạt của hộ gia đình 53
Bảng 3.11: Phương tiện sản xuất của hộ 55
Bảng 3.12: Sự phân công lao động trong hoạt động trồng trọt 57
Bảng 3.13: Mong muốn của phụ nữ DTTS trong việc phân công lao động trong hoạt động trồng trọt 60
Bảng 3.14: Đối tượng thực hiện chính trong hoạt động chăn nuôi 61
Bảng 3.15: Mong muốn của phụ nữ DTTS đối tượng thực hiện trong hoạt động chăn nuôi 61
Bảng 3.16: Đối tượng thực hiện chính trong hoạt động lâm nghiệp 63
Bảng 3.17: Mong muốn của phụ nữ DTTS trong hoạt động lâm nghiệp 64
Bảng 3.18: Sự phân công lao động trong các hoạt động khác 65
Bảng 3.19: Đối tượng thực hiện chính trong hoạt động tái sản xuất và hoạt động cộng đồng 66
Trang 11Bảng 3.20: Quyền ra quyết định của phụ nữ DTTS trong các hoạt động 69
Bảng 3.21: Mong muốn của phụ nữ DTTS về quyền ra quyết định
trong các hoạt động 71
Bảng 3.22: Tỷ lệ tham gia các lớp tập huấn của hộ theo giới 72
Bảng 3.23: Thời gian lao động sản xuất và thực hiện một số công việc 73
Bảng 3.24: Quan điểm của các hộ điều tra về các vấn đề 76
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ ngàn xưa phụ nữ Việt Nam giữ một vị trí và vai trò quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Các tấm gương tiêu biểu như Hai Bà trưng, chị Võ Thị Sáu, và các mẹ Việt Nam anh hùng Ngày nay phụ
nữ Việt Nam vẫn đang tiếp nối truyền thống tốt đẹp ấy, những người phụ nữ Việt Nam đang cùng tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Các chị vừa là người vợ, người mẹ, người con trong gia đình, các chị đang phải gánh trên vai cả trọng trách đối với gia đình và cả xã hội Vai trò của người phụ nữ đang được xã hội công nhận Tuy nhiên đối với đồng bào dân tộc thiểu số, nơi còn nhiều khó khăn và phụ nữ còn chịu nhiều thiệt thòi, vai trò của họ vẫn chưa được nhìn nhận đúng Nước ta có tới 54 dân tộc mà dân tộc Kinh chiếm đa số, trong đó có tới 53 dân tộc ít người, họ sống trải dài trên mảnh đất hình chữ S Phụ nữ DTTS nước ta là những chủ nhân của đất nước,
có tiềm năng lớn tác động trực tiếp đến sự phát triển ngay trên chính quê hương họ Nhưng thực trạng hiện nay cho thấy, vấn đề việc làm, thu nhập, địa
vị của người phụ nữ là những vấn đề bức xúc đối với phụ nữ vùng dân tộc thiểu số Bởi vì, đại bộ phận các gia đình ở các dân tộc thiểu số đang sống ở mức nghèo đói, nhất là ở vùng cao, vùng sâu, miền núi Trong bộ phận dân cư
ấy, phụ nữ lại là nhóm xã hội cực khổ nhất Họ vừa tham gia lao động sản xuất ngoài xã hội, cộng đồng, lại vừa trực tiếp chăm lo công việc gia đình nên cường độ lao động và thời gian lao động đối với họ là quá tải trong khi mức thu nhập lại thấp, thậm chí họ lao động vất vả nhưng ít được cộng đồng, xã hội quan tâm Bên cạnh đó, điều kiện để phát triển sản xuất, nâng cao đời sống còn rất nhiều hạn chế, yếu kém: trình độ sản xuất, tư liệu lao động, kết cấu hạ tầng, nguồn vốn Hơn thế nữa, phụ nữ vùng dân tộc thiểu số chính là người trực tiếp tham gia các hoạt động kinh tế, trực tiếp sản xuất nhưng ít có
cơ hội, điều kiện tiếp thu khoa học kỹ thuật Trình độ học vấn nói chung là thấp, công việc nội trợ gia đình, sinh đẻ và nuôi dạy con cái cũng làm hạn chế
Trang 13năng lực sản xuất của phụ nữ Do đó cần quan tâm hơn tới họ, tạo điều kiện cho họ phát huy được vai trò của mình trong phát triển kinh tế cũng như vai trò đối với xã hội Nhằm từng bước đẩy lùi bất bình đẳng giới, thay đổi nhận thức của người dân về vai trò của người phụ nữ, phát triển kinh tế xã hội và giữ vững an ninh quốc phòng
Cao Lộc có điều kiện tương đối phát triển là một huyện trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, huyện có cơ sở hạ tầng còn kém phát triển, nhất là giao thông đường
bộ ở một số xã xa trung tâm còn gây khó khăn cho việc đi lại, giao lưu buôn bán với các địa phương khác, là nơi sinh sống của 3 dân tộc anh em bao gồm Tày, Nùng, Kinh Trình độ dân trí của người dân còn thấp, nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp Trong đó dân tộc Tày và Nùng chiếm đại đa số nên
sự phát triển của đồng bào các dân tộc gắn liền với sự phát triển của huyện Cao Lộc
Trong khi họ lại là người trực tiếp tham gia sản xuất, do đó hiệu quả canh tác không cao, đời sống không được cải thiện Vậy vấn đề đặt ra ở đây là: Làm sao để nâng cao nhận thức về vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số cho người dân và cho chính người phụ nữ? Làm sao để phát huy hơn nữa vai trò của người phụ nữ trong việc phát triển kinh tế cho chính gia đình mình? Xuất
phát từ vấn đề thực tiễn đó đó nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Vai trò
của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Cao Lộc - tỉnh Lạng Sơn"
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng hoạt động của phụ nữ DTTS trong phát triển kinh
tế hộ nông thôn, đưa ra giải pháp và kiến nghị nhằm tạo cơ hội cho phụ nữ phát huy tiềm năng về mọi mặt để phát triển kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện đời sống gia đình, góp phần vào sự phát triển kinh tế- xã hội huyện Cao Lộc
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Từ điều tra thực tiễn nêu lên vai trò của phụ nữ DTTS trong phát triển kinh tế hộ nông thôn miền núi
Trang 14- Phân tích và đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ DTTS trong từng hoạt động sản xuất, trong phát triển kinh tế hộ nông thôn tại huyện Cao Lộc
- Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đóng góp của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ nông thôn Qua đó, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của phụ nữ DTTS trong phát triển kinh tế nông thôn miền núi trên địa bàn huyện Cao Lộc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là phụ nữ DTTS trong các hộ gia đình trên địa bàn huyện Cao Lộc, thành phố Lạng Sơn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: nghiên cứu vai trò của phụ nữ DTTS trong phát triển kinh tế nông thôn
- Về không gian nghiên cứu: đề tài được thực hiện tại một số cơ quan,
tổ chức kinh tế chính trị- xã hội, một số nhóm hộ sản xuất nông, lâm nghiệp, dịch vụ trong nông nghiệp trên địa bàn huyện Cao Lộc
- Về thời gian nghiên cứu: tổng quan về vai trò của phụ nữ DTTS được phân tích thông qua số liệu của các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị, kinh tế- xã hội trong thời gian gần đây, chủ yếu từ năm 2011 đến năm 2015 Các số liệu điều tra thực hiện trong năm 2015
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Cùng với sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước thì vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng có những chuyển biến rõ rệt và được quan tâm đặc biệt Nếu như trước đây người phụ nữ chỉ có biết nội trợ, nuôi dạy con cái, hầu hạ chồng con thì ngày nay phụ nữ đã tích cực tham gia vào các hoạt động của xã hội, nhất là đối với phụ nữ DTTS Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, là một kênh thông tin để Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ huyện tham mưu, giúp Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn Xây dựng giải pháp thực hiện chương trình hành động của
Trang 15Ban Chấp hành Đảng bộ huyện nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ DTTS trong phát triển kinh tế
5 Bố cục luận văn
Luận văn gồm 3 chương
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 Giới tính và Giới
1.1.1.1 Khái niệm Giới tính và Giới
* Giới tính: Theo Tổ chức lao động quốc tế: giới tính chỉ sự khác biệt
về sinh học giữa nam giới và nữ giới mang tính toàn cầu và không thay đổi.[16]
- Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ ra rằng: giới tính là một thuật ngữ chỉ sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới xét về mặt sinh học, sự khác biệt căn bản về hình dáng bên ngoài của cơ thể, sự khác nhau về chức năng sinh học tạo nên vai trò của giới tính như: phụ nữ mang thai, sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ Về mặt sinh học, nam và nữ không giống nhau trên nhiều phương diện nhưng chủ yếu nhất là hình dáng, giọng nói và chức năng sinh sản [15]
Nam giới hay nữ giới trên khắp thế giới đều có có chức năng/cơ quan sinh sản giống nhau, đều tham gia và mang các yếu tố đóng góp vào quá trình sinh sản như nhau Đây được gọi là tính đồng nhất Sự khác biệt về giới tính hầu như bất biến cả về thời gian cũng như về không gian [6]
* Giới: Theo Tổ chức lao động quốc tế, Thúc đẩy bình đẳng giới, năm 2002: sự khác biệt về xã hội và quan hệ (quyền lực) giữa trẻ em trai và trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới, được hình thành và khác nhau ngay trong một nền văn hóa, giữa các nền văn hóa và thay đổi theo thời gian Sự khác biệt này được nhận thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm, nhu cầu, khó khăn, thuận lợi của các giới tính [16]
Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ Giới đề cập đến
Trang 17vấn đề phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam
và nữ trong một bối cảnh cụ thể.[1]
Giới là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã hội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay đổi Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể "Giới là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan
hệ nam và nữ Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm bảo công bằng trong xã hội
1.1.1.2 Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới
* Đặc điểm về giới
- Không tự nhiên mà có
- Học được từ gia đình và xã hội
- Đa dạng (khác nhau giữa các vùng miền)
- Có thể thay đổi được
* Nguồn gốc giới:
- Trong gia đình, bắt đầu từ khi sinh ra, đứa trẻ được đối xử tuỳ theo nó
là trai hay gái Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà,
bố mẹ, anh chị Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình
- Trong nhà trường, các thầy cô giáo cũng định hướng theo sự khác biệt
về giới cho học sinh Học sinh nam được hướng theo các ngành kỹ thuật, điện
tử, các ngành cần có thể lực tốt Học sinh nữ được hướng theo các ngành như may, thêu, trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỷ mỷ
Trang 18Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình Họ cứng rắn hơn
về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc Đặc trưng này cho phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội, ít bị ràng buộc bởi con cái và gia đình Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độ khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau [19]
1.1.1.3 Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới
* Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu thực tế): là những nhu cầu xuất phát
từ công việc và hoạt động hiện tại của phụ nữ và nam giới Nếu những nhu cầu này được đáp ứng thì sẽ giúp cho họ làm tốt vai trò sẵn có của mình.[17]
Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu được hình thành từ những điều kiện cụ thể mà phụ nữ trải qua Chúng nảy sinh từ những vị trí của họ trong phân công lao động theo giới, cùng với lợi ích giới thực tế của họ là sự tồn tại của con người Khác với nhu cầu chiến lược, chúng được chính phụ nữ đưa ra
từ vị trí của họ chứ không phải qua can thiệp từ bên ngoài Vì vậy nhu cầu giới thực tế thường là sự hưởng ứng đối với sự cần thiết được nhận thức ngay
do phụ nữ xác định trong hoàn cảnh cụ thể
* Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu chiến lược): là những nhu cầu của
phụ nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị xã hội của họ Những lợi ích này khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo hướng bình đẳng.[17]
Trang 19* Bình đẳng giới: Theo Trần Thị Vân Anh: nam giới và nữ giới được
coi trọng như nhau, cùng được công nhận và có vị thế bình đẳng [17]
Nam giới và phụ nữ được bình đẳng về:
- Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng
- Các cơ hội để tham gia đóng góp, hưởng lợi trong quá trình phát triển
- Quyền tự do và chất lượng cuộc sống
Bên cạnh quy định về những quyền và nghĩa vụ chung, bình đẳng cho
cả nam và nữ, pháp luật còn xác định những đặc quyền chỉ áp dụng cho phụ
nữ nhằm bù đắp cho phụ nữ những thiệt thòi, đặt họ vào vị trí xuất phát ngang bằng với đàn ông trong các quan hệ xã hội, đảm bảo cho họ có thể tiếp nhận các cơ hội và thụ hưởng các quyền một cách bình đẳng như nam giới Đây là quan điểm bình đẳng giới thực chất [18]
Luật Bình đẳng giới (2007) tại Điều 5 chỉ rõ: Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó [15]
1.1.1.4 Vai trò của giới
- Vai trò sản xuất: là những hoạt động do phụ nữ và nam giới thực hiện
để làm ra của cải vật chất hoặc tinh thần đem lại thu nhập hoặc để tự tiêu dùng Ví dụ: trồng lúa, nuôi gà, dạy học, …
- Vai trò tái sản xuất (còn gọi là công việc gia đình): Bao gồm các hoạt
động nhằm duy trì nòi giống, tái tạo sức lao động Vai trò này không chỉ đơn thuần là tái sản xuất sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực lượng lao động cho hiện tại và tương lai như: nuôi dạy con cái, nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, làm công việc nội trợ… vai trò này hầu như của người phụ nữ
- Vai trò cộng đồng: Thể hiện ở những hoạt động tham gia thực hiện ở mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng, thực hiện
Trang 20các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng Những hoạt động tự nguyện mang lại phúc lợi cho cộng đồng như: dọn đường sạch sẽ, bảo vệ nguồn nước sạch, hoạt động từ thiện,… Hoạt động lãnh đạo ra quyết định như: tham gia cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, lãnh đạo đoàn thể
Tuy phụ nữ và nam giới thực hiện ba vai trò, xong lại được phân công lao động khác nhau Phụ nữ thường làm những việc đơn giản, ít kỹ thuật nên thu nhập thấp và giá trị công việc bị đánh giá thấp
Trên thực tế, đặc điểm giới tính là một trong những cơ sở để phân công lao động trong một xã hội nhất định Do đó, khi xem xét vai trò giới chính là xem xét phụ nữ và nam giới trong 3 vai trò: vai trò sản xuất, tái sản xuất, cộng đồng [14]
1.1.1.5 Quan điểm về giới
Quan điểm giới khẳng định và đánh giá cao vai trò của người phụ nữ Quan điểm này cho rằng để đạt đến bình đẳng nam nữ cần thay đổi cơ chế phân công lao động hiện đang quá nhấn mạnh đến mức khác biệt giữa phụ nữ
và nam giới (Bùi Thị Hồng Vân, 2002)
Vào những năm 1970 người ta đã tìm cách đưa các vấn đề của phụ nữ vào các chính sách phát triển nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu cũng như các nhà làm chính sách đã không thấy hết được vai trò kinh tế to lớn của phụ
nữ Nhà kinh tế người Đan Mạch là Ester Boserup với cuốn “Vai trò của người phụ nữ trong phát triển kinh tế” (1970) được coi là người đầu tiên đặt lại vấn đề về cách nhìn nhận vai trò của người phụ nữ Điểm hạn chế của cách tiếp cận này là coi phụ nữ như một nhóm đặc thù và những giải pháp được đưa ra cũng là những giải pháp đặc thù (Bùi Thị Hồng Vân, 2002)
1.1.2 Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội nông hộ
1.1.2.1 Một số khái niệm
* Vai trò: là một tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ được gán cho một địa vị cụ thể mà địa vị là một sự xác định vị trí xã hội trong một cơ cấu xã hội.[19]
Trang 21* Phát triển: là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sự tăng thêm về quy mô sản lượng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống [10]
- Các nhà kinh tế học đã chỉ ra rằng: Phát triển không chỉ bao gồm tăng trưởng kinh tế mà còn phải bao gồm cả thu hẹp sự bất bình đẳng, xoá bỏ đói nghèo, cải cách cơ cấu xã hội và thể chế quốc gia để đảm bảo quyền lợi của
đa số dân cư tham gia hoạt động chính trị - kinh tế - xã hội, nâng cao phúc lợi
xã hội và trình độ văn hoá của đa số nông dân Trọng tâm phát triển là sự phát triển con người, tức là đảm bảo đời sống con người, tôn trọng con người, tạo mọi điều kiện để hộ tham gia hoạt động về các mặt văn hoá - kinh tế - chính trị - xã hội [3]
* Phát triển kinh tế: là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh
tế Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt
cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống.[3]
* Hộ: Theo một số từ điển chuyên ngành kinh tế, từ điển ngôn ngữ thì
hộ được hiểu là: tất cả những người cùng sống trong một mái nhà, bao gồm những người có cùng huyết tộc và những người làm công [4]
- Về phương diện thống kê, các nhà nghiên cứu Liên hợp quốc cho rằng: hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung
và có chung một ngân quỹ [4]
Từ các quan niệm trên cho thấy hộ được hiểu như sau:
- Trước hết, hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có chung huyết thống, tuy nhiên cũng có thể trường hợp thành viên của
hộ không cùng chung huyết thống như con nuôi, người tình nguyện và được
sự đồng ý của các thành viên trong hộ công nhận cùng chung hoạt động kinh
tế lâu dài
* Hộ nông dân: Theo Frank Ellis cho rằng: "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ
Trang 22thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao" [2]
Đối với nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc (năm 2001) thì: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp" [1]
Xuất phát từ những khái niệm trên, có thể chỉ ra một số đặc điểm chung của hộ như sau:
- Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp Hộ có nguồn thu nhập chủ yếu bằng nghề nông Ngoài
ra, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi nông nghiệp, chẳng hạn tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ ở các mức độ khác nhau
1.1.2.2 Vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội
Gia đình là một tế bào của xã hội và tồn tại cùng với sự tồn tại của xã hội Người phụ nữ là người thiết tha nhất với hạnh phúc gia đình, đóng vai trò rất quan trọng giữa gia đình và xã hội trong mọi thời đại Qua các chặng đường lịch sử loài người, vai trò người phụ nữ trong gia đình có những biến đổi rõ rệt [7]
Phụ nữ vừa là người công dân, người lao động, vừa là người mẹ và người thầy đầu tiên của con người; Phụ nữ có vai trò quan trọng trong xây dựng gia đình cần tạo điều kiện để phụ nữ kết hợp hài hòa giữa nghĩa vụ công dân và chức năng người mẹ trong việc xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc [6]
Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trước cho biết: Phụ nữ
là người tạo ra phần lớn lương thực tiêu dùng cho gia đình 1/4 số hộ gia đình trên thế giới do nữ làm chủ hộ và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vào thu nhập của lao động nữ.[5]
Trang 23Tuy vậy, sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rất nhiều nước trên thế giới Đặc biệt là ở các vùng nông thôn, phụ nữ bị hạn chế về mọi mặt, đời sống, điều kiện sống và làm việc khó khăn, địa vị trong xã hội thấp Trong số hơn 1,3 tỷ người trên thế giới ở trong tình trạng nghèo khổ thì có đến 70% là nữ Có ít nhất 1/2 triệu phụ nữ tử vong do các biến chứng về mang thai, sinh đẻ…
Theo Quyền Đình Hà và cộng sự (2006), ngoài việc đồng áng và chăn nuôi, thời gian dành cho nội trợ cũng chiếm 15,5% quỹ thời gian trong ngày tức 3,7 giờ/ngày cho công tác nội trợ trong gia đình, cao nhất tới 7 giờ (29%) quỹ thời gian, thấp nhất 1 giờ (4,1%) quỹ thời gian trong ngày
Phụ nữ luôn là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của gia đình và
xã hội Nghĩa vụ công dân và thiên chức làm vợ, làm mẹ của phụ nữ được thực hiện tốt là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước Ngày càng có nhiều phụ nữ thành đạt trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, chính trị và xã hội Điều đó cho thấy phụ nữ ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong các lĩnh vực của xã hội
1.1.2.3 Vị trí, vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh tế hộ
Việt nam là một quốc gia của 54 dân tộc cùng chung sống hòa thuận, trong đó dân tộc kinh chiếm 86% dân số; 53 dân tộc còn lại có số lượng lao động trên dưới một triệu người như: Tày, Nùng, Thái, Mường, Khmer cho đến vài trăm người như dân tộc Ơ Đu và Brâu Dân tộc kinh sống dải rác trên khắp lãnh thổ, nhưng tập trung nhiều nhất ở đồng bằng và châu thổ các con sông Họ là chủ nhân của nền văn minh lúa nước Đa số các dân tộc còn lại sinh sống ở miền núi và trung du, trải dài từ bắc vào nam; hầu hết trong số họ sống xen kẽ nhau, điển hình là cộng đồng dân tộc thiểu số ở phía bắc và bắc trung bộ Do đó cuộc sống của họ khắc nghiệt hơn và họ còn chịu nhiều thiệt thòi do trình độ phát triển ở những nơi đó chưa cao, thiếu điện, đường, trường, trạm và ít được tiếp cận các phương tiện thông tin đại chúng Do đó nhận thức của người dân còn chưa cao, còn mang nặng lễ giáo phong kiến,
Trang 24trọng nam khinh nữ, bất bình đẳng giới Nguyên nhân xuất phát từ chính những quan niệm của cộng đồng người DTTS và chính bản thân người phụ
xã hội Một số tấm gương tiêu biểu như: Bà Tòng Thị Phóng (Bí thư Trung ương Đảng, Phó chủ tịch Quốc hội), bà Hà Thị Khiết (Uỷ viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương) và còn rất nhiều tấm gương người phụ nữ DTTS nỗ lực vươn lên trong học tập để thoát nghèo và đóng góp cho
sự phát triển của quê hương Có thể nhận thấy rằng nâng cao năng lực cho người phụ nữ DTTS có ý nghĩa rất to lớn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo.Và việc xóa đói giảm nghèo cũng có tác động tích cực đối với sự phát triển, tiến bộ và bình đẳng của phụ nữ, nhất là phụ nữ DTTS Trong những năm qua, Trung ương Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam đã tập trung nguồn lực, hướng mạnh các hoạt động về cơ sở, nhất là về vùng sâu, vùng xa nơi có đông đảo phụ nữ dân tộc thiểu số sinh sống nhằm xóa đói giảm nghèo, phát triển bền vững thông qua các hoạt động như : làm nhà tình thương, hỗ trợ vốn kiến thức và xây dựng các mô hình xóa đói giảm nghèo để phụ nữ DTTS có vốn phát triển sản xuất, Hội LHPN Việt Nam đã và đang quản lý nguồn vốn trên
42 nghìn tỷ đồng, giúp cho gần 17 triệu lượt phụ nữ vay, đã có trên 8 nghìn gia đình phụ nữ DTTS thoát nghèo
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1.1 Khái quát về vai trò của phụ nữ ở một số nước trên thế giới
Tại châu Phi, Châu Á và Thái Bình Dương, trung bình một tuần phụ nữ
Trang 25làm việc nhiều hơn nam giới 12-13 giờ và có ít thời gian để nghỉ ngơi hơn Hầu hết mọi nơi trên thế giới, phụ nữ được trả công thấp hơn nam giới cho cùng một loại công việc Thu nhập của phụ nữ bằng khoảng 50%-90% thu nhập của nam giới (Vương Thị Vân, 2009) [6]
* Phụ nữ chiếm một tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động
Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế theo các nhóm tuổi rất cao Một số tài liệu thống kê sau đây sẽ chứng minh cho nhận định đó:
- Bangladesh: có 67,3% phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động
so với 82,5% nam giới Tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị (28,9%) Theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nhiều nhất ở độ tuổi 30-49, tiếp đó là các nhóm tuổi 25-29, 50-54 Đáng chú ý rằng, gần 61% phụ nữ nông thôn ở độ tuổi 60-64 vẫn tham gia lực lượng lao động, cao gần gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi Đặc biệt phụ nữ nông thôn trên 65 tuổi vẫn có 36% tham gia lực lượng lao động (Vương Thị Vân, 2009) [6]
- Trung Quốc: nhóm phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động cao nhất từ 20-29 tuổi, tiếp đó là nhóm 30-39 tuổi, và giảm dần theo các nhóm tuổi cao hơn Giống như ở Bangladesh, ở nông thôn Trung Quốc phụ nữ ở độ tuổi 60-64 vẫn còn 32,53% tham gia lực lượng lao động, con số này cao gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi (Vương Thị Vân, 2009) [6]
* Trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp
Nhìn chung, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ nông thôn ở các nước đang phát triển còn rất thấp Ở các nước đang phát triển cho đến nay
có tới 31,6% lao động nữ không được học hành, 5,2% mới chỉ học xong phổ thông và 0,4% mới tốt nghiệp cấp hai Vì ít có điều kiện học hành nên những người phụ nữ này không có điều kiện tiếp cận một cách bài bản với các kiến thức về công nghệ trồng trọt và chăn nuôi theo phương thức tiên tiến, những kiến thức họ có được chủ yếu là do tự học từ họ hàng, bạn bè hay từ kinh nghiệm của những người thân của mình Một hạn chế lớn là những loại kinh
Trang 26nghiệm được truyền đạt theo phương pháp này thường ít khi làm thay đổi được mô hình, cách thức sản xuất của họ.[19]
* Bất bình đẳng giới mang tính phổ biến
Bất bình đẳng giới tồn tại ở hầu hết các nước đang phát triển Điều đó trước hết bắt nguồn từ tình trạng phụ nữ có trình độ học vấn thấp Một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng là những định kiến xã hội không coi trọng phụ nữ đã được hình thành ở hầu hết các nước đang phát triển Do vậy, ngay cả khi phụ nữ có bằng cấp cao và kỹ năng tốt thì những công việc họ làm vẫn không được ghi nhận một cách xứng đáng Đấu tranh để đạt được sự bình đẳng thực sự giữa nam và nữ trong xã hội ta nói riêng và trên thế giới nói chung là vấn đề lâu dài và còn nhiều khó khăn, thử thách Đây là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ và lạc hậu Đất nước ta đã trải qua hàng ngàn năm phong kiến, tư tưởng “Trọng nam khinh nữ” vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng, nhất là ở những vùng, miền còn nặng nề về hủ tục lạc hậu… Ngay tại các bộ, ngành và những đơn vị hành chính, kinh tế lớn, vấn đề bình đẳng giới vẫn còn gặp những khó khăn nhất định Việc bồi dưỡng phát triển cán bộ nữ có lúc, có nơi còn bị hạn chế, một
số đơn vị kinh tế thậm chí không muốn nhận lao động nữ… Như vậy, mặc dù
đã đạt được những thành quả nhất định nhưng vấn đề bình đẳng về giới vẫn còn những bất cập mà chúng ta còn phải tiếp tục phấn đấu để đạt được mục tiêu bình đẳng thật sự
1.2.1.2 Thực trạng vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số trong phát triển kinh
tế ở nước ta hiện nay
Hiện nay trong xu thế hội nhập, Đảng và Nhà nước ta đã và đang cố gắng giảm thiểu và dần đi đến xóa bỏ tình trạng bất bình đẳng giới, đặc biệt là
ở vùng đồng bào DTTS Bảo đảm quyền bình đẳng về kinh tế cho phụ nữ là một nội dung cực kỳ quan trọng trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020, tạo cơ sở để phụ nữ có các quyền bình đẳng khác nhất là trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông
Trang 27thôn ở nước ta hiện nay Vấn đề này căn bản đã được Nhà nước công bố trong Hiến pháp, luật pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trước đây, cũng như nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay Nó được coi là một nội dung cách mạng thực hiện quyền con người - quyền cơ bản, tối thượng và bất khả xâm phạm của mọi người - mà trong Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố với toàn thế giới Trong quá trình thực hiện quyền bình đẳng giới giữa nữ và nam từ năm 1945 đến nay, nhìn chung, chúng ta đã đạt được nhiều thành tích quan trọng, giảm bớt sự bất bình đẳng nam nữ do lịch sử trọng nam khinh nữ từ hàng nghìn năm để lại Tuy nhiên, do bề dày lịch sử của truyền thống, tập tục của các dân tộc, vùng, miền có những đặc trưng khác nhau, đã từng khắc sâu vào tâm khảm, vào tư duy của từng tộc người, từng giới, đồng thời, do trình độ học vấn, kiến thức, sự hiểu biết về luật, về giới, bình đẳng giới, hòa nhập giới từ cán bộ đến người dân, nhất là trong khoảng 70% dân số gồm các thế hệ nam, nữ nông dân sống khắp các vùng nông thôn, đặc biệt là các vùng núi cao, hải đảo còn hạn chế, nên còn rất nhiều vấn đề bất bình đẳng về giới đang tồn tại Chẳng hạn, nếu tính tất cả lượng hao phí lao động ra thời gian lao động thì nữ nông dân đã làm nhiều hơn nam nông dân, nhưng tính chi dùng cho ăn uống thì họ chỉ bằng 0,7 lần so với nam nông dân Như vậy, số lượng hao phí lao động của phụ nữ nông nghiệp là nhiều nhất, với điều kiện lao động khó khăn, nặng nhọc nhất, nhưng hưởng thụ lại ít nhất [12]
Điều này lại diễn ra như có tính quy luật và chừng nào nền kinh tế của đất nước, của từng vùng, từng tộc người và từng gia đình còn gặp nhiều khó khăn, thì người nữ nông dân ở đó còn phải gánh chịu đói nghèo nhiều nhất
Cùng với sự cố gắng của Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền ở địa phương, cùng với sự cố gắng vươn lên của bản thân người phụ nữ Những người phụ nữ dân tộc thiểu số đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ Tiêu biểu là sự vươn lên của phụ nữ các dân tộc thiểu số ở các tỉnh thành trên
cả nước Các phong trào “phụ nữ giúp nhau làm kinh tế”; “ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo”; “giúp phụ nữ nghèo có địa chỉ” đã khơi dậy được tiềm năng
Trang 28to lớn, sức sáng tạo và truyền thống nhân ái, ý thức tự nguyện giúp nhau giống, vốn, kinh nghiêm, ngày công sản xuất trong phụ nữ các DTTS Các mô hình lồng ghép dân số, sức khỏe sinh sản với xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, xóa mù chữ đã thu hút nhiều phụ nữ các DTTS tham gia
* Những chính sách trong phát triển phụ nữ DTTS ở Việt Nam
Ngay từ khi mới thành lập, Đảng Cộng Sản Việt Nam với Cương lĩnh chính trị đầu tiên tháng 10/1930 đã khẳng định: “Vấn đề giải phóng phụ nữ và
sự nghiệp giải phóng phụ nữ là một trong mười nhiệm vụ quan trọng của Đảng” Phụ nữ đã được Đảng và Nhà nước quan tâm nhiều mặt, phụ nữ không chỉ là người được hưởng lợi từ nhiều thành quả của đất nước mà còn là nhân tố quan trọng tham gia vào hoạt động sản xuất, công tác quản lý xã hội
Theo Điều 6, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 đã quy định: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang nhau về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa” Theo điều 9, Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định: “Mọi quyền lực trong nước thuộc về nhân dân Việt Nam, không phân biệt chủng tộc, nam, nữ, giàu, nghèo, giai cấp…” và “phụ nữ bình đẳng với nam giới trên mọi phương diện”
Hiến pháp năm 1954, Điều 24 có nêu: “Phụ nữ được hưởng quyền bình đẳng với nam giới trong mọi lĩnh vực hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa và
xã hội” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Phải đặc biệt chú ý đến sức lao động phụ nữ, phụ nữ là đội quân rất đông Phải giữ gìn sức khỏe cho họ để chị em tham gia lao động sản xuất được tốt”
Hiến pháp được bổ sung và sửa đổi năm 1959, 1980 và 1992 đều thể hiện quyền bình đẳng nam nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Theo quy định của hiến pháp năm 1992, phụ nữ có quyền và ngang quyền với nam giới trong việc tham gia bầu cử và ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân, tham gia quản lý Nhà nước và tham gia vào các hoạt động chính trị; công dân nam nữ có quyền ngang nhau về kinh tế Hiến pháp năm 1992 cũng quy định phụ nữ có quyền cơ bản đối với văn hóa, giáo dục,
Trang 29ghi nhận các quyền tự do cá nhân của phụ nữ như tự do tín ngưỡng, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về thư tín, điện thoại, điện tín…
Năm 1993, Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam được thành lập (là cơ quan Nhà nước chính thức chịu trách nhiệm trong việc tăng cường bình đẳng giới, đây là ủy ban phối hợp đa lĩnh vực cấp cao được báo cáo trực tiếp với Thủ tướng Chính phủ) với mạng lưới các ban vì sự tiến bộ của phụ nữ ở tất cả các bộ, ngành và 63 tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương Tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kế hoạch hoạt động đến năm 2005 của Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ đã được phê duyệt vào tháng 12/2002 Nghị quyết 04/NQ - TW ban hành ngày 12/07/1993 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII “Về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới” đã khẳng định giải phóng phụ nữ là một mục tiêu và nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xác định sự nghiệp giải phóng phụ nữ và công tác phụ nữ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, của toàn xã hội và từng gia đình
Tháng 6/1994, Bộ luật lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc Hội khóa IX thông qua, được sửa đổi và bổ sung một số điều vào năm 2002, đã dành một chương gồm 10 điều quy định riêng đối với lao động nữ như quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng mọi mặt với nam giới, chăm sóc sức khỏe, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần của lao động nữ, mở rộng nhiều loại hình đào tạo thuận lợi cho lao động nữ, nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm danh dự và nhân phẩm phụ nữ
Quyết định số 19/2002/QĐ - TTg ngày 21/01/2002 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010 với mục tiêu tổng quát là: “Nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ Tạo mọi điều kiện thuận lợi để thực hiện các
Trang 30quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”
Nghị quyết 11/NQ - TW ngày 24/07/2007 của Bộ Chính trị về “Công tác phụ nữ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” với mục tiêu là phấn đấu đến năm 2020, phụ nữ được nâng cao trình độ mọi mặt, có trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; phụ nữ có việc làm, được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần, tham gia ngày càng nhiều công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực; phụ nữ đóng góp ngày càng to lớn cho xã hội và gia đình, phấn đấu để nước ta là một quốc gia có thành tựu về bình đẳng giới tiến bộ nhất khu vực
Quyết định số 2531/QĐ - TTg ngày 24/12/2010 phê duyệt Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020 với mục tiêu tổng quát
“Đến năm 2020, về cơ bản, đảm bảo bình đẳng thực chất giũa nam và nữ về
cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa
và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước” Chiến lược xác định 7 mục tiêu và 22 chỉ tiêu cụ thể trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động - việc làm, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa và thông tin, gia đình và nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về bình đẳng giới Đây là lần đầu tiên chính phủ ban hành các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới, làm cơ
sở cho việc ban hành các giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới
Đó là những Chỉ thị, Nghị quyết thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng
về công tác phụ nữ nói chung, giúp cho phụ nữ phát huy được vai trò của mình Về phụ nữ DTTS có:
Quyết định 554/QĐ-TTg ngày 4/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Tuyên truyền phổ biến pháp luật cho người dân nông thôn và đồng bào DTTS từ năm 2009 đến năm 2012” Trong đó có Tiểu đề án 4 là:
“Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho phụ nữ nông dân và phụ nữ DTTS” Tiểu đề án này có cơ quan chủ trì là Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Trang 31Nam, cơ quan phối hợp là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban Dân tộc, Trung ương Hội Nông dân Việt Nam, các Bộ, ngành, địa phương liên quan Mục tiêu của đề án này là nâng cao hiểu biết của phụ nữ nông dân
và phụ nữ DTTS về những quy định của pháp luật liên quan đến bình đẳng giới, hôn nhân gia đình, phòng, chống bạo lực gia đình, buôn bán phụ nữ trẻ
em, nuôi con nuôi, khiếu nại, tố cáo, ma túy, mại dâm, phòng, chống tội phạm Qua đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, giảm thiểu các hành vi vi phạm pháp luật cho phụ nữ nông dân và phụ nữ DTTS; Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho phụ nữ nông dân và phụ nữ DTTS
Chính sự nhận thức đúng đắn của Đảng và Nhà nước về vai trò to lớn của phụ nữ trong xây dựng đất nước, đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa được thể hiện trong các văn bản trên đã tạo điều kiện cho phụ nữ nói chung và phụ nữ DTTS nói riêng phát huy được tiềm năng to lớn của mình, đóng góp cho sự phát triển của đất nước
1.2.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của DTTS (dân tộc Tày, Nùng)
1.2.2.1 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc Tày
Người Tày có mặt ở Việt Nam từ rất sớm, có thể từ nửa cuối thiên niên
kỷ thứ nhất trước Công nguyên,có dân số đông nhất trong các DTTS ở nước
ta, với 1.626.392 người (2009) Người Tày cư trú ở vùng thung lũng các tỉnh Đông Bắc, từ Quảng Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang đến Lào Cai, Yên Bái Có mối quan hệ thân thuộc và gần gũi với các dân tộc cùng nhóm ngôn ngữ như Nùng, Giáy, Bố Y, Cao Lan - Sán Chỉ ở Việt Nam và dân tộc Choang ở Trung Quốc, có giao lưu ảnh hưởng tiếp thu lẫn nhau về các mặt văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng với các
cư dân khác cùng cư trú trong vùng
* Đặc điểm kinh tế
Người Tày có một nền nông nghiệp cổ truyền khá phát triển với đủ loại
Trang 32cây trồng như lúa nước, ngô, khoai… và rau quả mùa nào thức đó Người Tày có truyền thống làm ruộng nước, từ lâu đời đã biết thâm canh và áp dụng rộng rãi các biện pháp thủy lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn nước lấy nước tưới ruộng Họ có tập quán đập lúa ở ngoài đồng trên những máng gỗ mà
họ gọi là loỏng rồi mới dùng dậu gánh thóc về nhà Ngoài lúa nước, người Tày còn trồng ngô, hoa màu, cây ăn quả… Chăn nuôi phát triển với nhiều loại gia súc, gia cầm nhưng cách nuôi thả rông vẫn còn khá phổ biến Các nghề thủ công gia đình được chú ý Nổi tiếng nhất là nghề dệt thổ cẩm với nhiều loại hoa văn đẹp và độc đáo Chợ là một hoạt động kinh tế quan trọng
* Tổ chức cộng đồng
Bản của người Tày thường ở chân núi hay ven suối, tên bản thường gọi theo tên đồi núi, đồng ruộng, khúc sông Họ thích sống thành bản làng đông đúc, mỗi bản có từ 15 đến 20 nóc nhà, nhiều bản có tới hàng trăm nóc nhà Bản lớn chia ra nhiều xóm nhỏ Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo 4, 5, 6 hoặc 7 hàng cột, họ thường chọn những loại gỗ quý để dựng nhà Nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hoặc lá
cọ Xung quanh nhà thưng ván gỗ hoặc che bằng liếp nứa Khi làm nhà phải chọn đất xem hướng, xem tuổi, chọn ngày tốt [21]
* Hôn nhân và gia đình
Gia đình người Tày thường quý con trai hơn và có quy định rõ ràng trong quan hệ giữa các thành viên trong nhà Vợ chồng yêu thương nhau, ít li hôn Đã từ lâu không còn tục ở rể Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu nhưng có thành vợ thành chồng hay không lại tùy thuộc vào bố mẹ hai bên và
“số mệnh” của họ có hợp nhau hay không Vì thế trong quá trình đi tới hôn nhân phải có bước nhà trai xin lá số của cô gái về so với lá số của con mình Hôn lễ truyền thống của người Tày được tiến hành qua các nghi thức: Lễ dạm,
lễ ăn hỏi, lễ sêu tết, lễ báo ngày cưới, lễ cưới, lễ đón dâu, đưa dâu…, thể hiện
Trang 33bản sắc văn hoá của một tộc người Sau khi cưới, cô dâu ở nhà bố mẹ đẻ cho đến khi có mang thai sắp đến ngày sinh nở mới về ở hẳn bên nhà chồng [9]
* Văn hóa
Người Tày có một nền văn nghệ cổ truyền phong phú, đủ các thể loại thơ, ca, múa, nhạc… Tục ngữ, ca dao chiếm một khối lượng đáng kể Các điệu dân ca phổ biến nhất là hát lượn, hát đám cưới, hát ru con Có nhiều điệu lượn như lượn Slương, lượn Then, lượn Nàng Hai Người Tày còn có các điệu hát Then, gọi là Văn ca, được ngâm hát trong đám tang, gọi là hát hội trong các hội Lồng tồng, gọi là Cỏ lẩu trong hát đám cưới Đàn tính là loại nhạc cụ có mặt trong tất cả những sinh hoạt văn hoá tinh thần của đồng bào Tày Nó như linh hồn trong nghệ thuật dân ca dân vũ Tày Bao đời nay đàn tính như một phương tiện giao tiếp mang đậm bản sắc dân tộc Người Tày mến khách, cởi mở, dễ làm quen và thích nói chuyện Họ rất coi trọng người cùng tuổi, khi đã kết nghĩa bạn bè thì coi nhau như anh em ruột thịt, bà con thân thích của mình.[9]
* Ăn uống
Trước kia, ở một số nơi, người Tày ăn nếp là chính và hầu như gia đình nào cũng có ninh và chõ đồ xôi Trong các ngày Tết, ngày lễ, người Tày thường làm nhiều loại bánh như bánh chưng, bánh dày, bánh gai, bánh dợm, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh khảo… Đặc biệt có loại bánh bột hấp dẫn nhân bằng trứng kiến và cốm được làm từ thóc nếp non hơ lửa, hoặc rang rồi đem giã [9]
Trang 34sườn bên phải, quần dài, thắt lưng, khăn Ngày lễ hội, mặc thêm áo cánh trắng bên trong Trước kia, phụ nữ Tày nhiều vùng cũng mặc váy, gần đây chuyển sang mặc quần, dài chấm gót, quần chân què, đũng rộng, cạp lá tọa Phụ nữ Tày còn có áo dài kiểu như áo ngắn, vạt buông dài quá đầu gối Đồ trang sức
có vòng cổ, vòng tay, vòng chân và dây xà tích bằng bạc.Trang phục của nam giới có quần chân què, đũng rộng, cạp lá tọa, áo ngắn cũng may năm thân, cổ đứng Nam cũng có áo dài như cái áo ngắn kéo dài vạt xuống quá đầu gối [9]
* Thờ cúng
Người Tày chủ yếu thờ cúng tổ tiên Ngoài ra còn thờ cúng thổ công, vua bếp, bà mụ
1.2.2.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc Nùng
Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây (Trung Quốc) di cư sang cách đây khoảng 200 - 300 năm Đến năm 2009, người Nùng có khoảng 968.800 người Người Nùng tập trung ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Tuyên Quang Người Nùng có quan hệ gần gũi với người Tày và người Choang sống dọc biên giới với Trung Quốc
* Đặc điểm kinh tế
Nguồn sống chính của người Nùng là cây lúa và cây ngô Họ kết hợp làm ruộng nước ở các vùng khe dọc với trồng lúa cạn trên các sườn đồi Người Nùng làm việc rất thành thạo nhưng do cư trú ở những vùng không có điều kiện khai phá ruộng nước cho nên nhiều nơi họ phải sống bằng nương rẫy là chính Ngoài ngô, lúa, họ còn trồng các loại củ, bầu bí, rau xanh…
Đồng bào Nùng còn trồng nhiều cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm như quýt, hồng… Hồi là cây quý nhất của đồng bào, hàng năm mang lại nguồn lợi đáng kể Các ngành nghề thủ công đã phát triển, phổ biến nhất là nghề dệt, tiếp đến là nghề mộc, đan lát và nghề rèn, nghề gốm.[9]
Họ biết làm nhiều nghề thủ công: dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, làm giấy dó, làm ngói âm dương… Nhiều nghề có truyền thống lâu đời nhưng vẫn
Trang 35là nghề phụ gia đình, thường chỉ làm vào lúc nông nhàn và sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu của gia đình là chính Hiện nay, một số nghề có xu hướng mai một dần (dệt), một số nghề được duy trì và phát triển (rèn)
Chợ ở vùng người Nùng phát triển, người ta đi chợ phiên để trao đổi mua bán các sản phẩm
* Tổ chức cộng đồng
Đồng bào Nùng sống thành từng bản trên các sườn đồi, thông thường trước bản là ruộng nước, sau bản là nương và vườn cây ăn quả Người Nùng thường sống xen kẽ với người Tày, phần lớn là nhà sàn, một số ở nhà đất Làm nhà mới là một trong nhiều công việc hệ trọng, vì thế họ rất chú ý tới xem hướng, chọn đất, chọn ngày dựng nhà và lên nhà mới với ước mong có cuộc sống yên vui, làm ăn phát đạt.[9]
* Hôn nhân và gia đình
Nam nữ được tự do yêu đương, tìm hiểu và khi yêu nhau họ thường trao tặng một số kỷ vật Các chàng trai tặng các cô gái đòn gánh, giỏ đựng bong và giỏ đựng con sợi Còn các cô gái tặng các chàng trai áo và túi thêu
Tuy nhiên hôn nhân lại hoàn toàn do bố mẹ quyết định, trên cơ sở hai gia đình môn đăng hộ đối không và lá số đôi trai gái hợp nhau hay không Nhà gái thường thách cưới bằng thịt, gạo, rượu và tiền Số lượng đồ dẫn cưới càng nhiều thì giá trị của người con giá càng cao Việc cưới xin gồm nhiều nghi lễ, quan trọng nhất là lễ đưa dâu về nhà chồng Sau ngày cưới, cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến sắp có con mới về ở hẳn nhà chồng
Trong gia đình, quan hệ giữa bố chồng, anh chồng với nàng dâu có
sự cách biệt nghiêm ngặt Theo phong tục Nùng, dù là con anh, con em, con chị ai nhiều tuổi hơn được gọi là anh, là chị Người Nùng có thói quen ít khi gọi thẳng tên người ông, người bố mà thường gọi theo tên của đứa cháu đầu, con đầu của họ Khi đặt tên con phải tuân theo hệ thống tên đệm của dòng họ [9]
Trang 36* Văn hóa
Đồng bào Nùng có một kho tàng văn hóa dân gian phong phú và có nhiều làn điệu dân ca đậm đà màu sắc dân tộc Lễ hội nổi tiếng thu hút được nhiều người, nhiều lứa tuổi khác nhau là hội "Lùng tùng" (còn có nghĩa là hội xuống đồng) được tổ chức vào tháng giêng hàng năm Sli là hát giao duyên của thanh niên nam nữ dưới hình thức diễn xướng tập thể, thường là đôi nam, đôi nữ hát đối đáp với nhau và được hát theo hai bè Người ta thường Sli với nhau trong những ngày hội, lễ, chợ phiên Người Nùng ăn Tết giống như người Kinh và người Tày.[9]
* Ăn uống
Ở nhiều vùng, người Nùng ăn ngô là chính Ngô được xay thành bột để nấu cháo đặc như bánh đúc Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, nấu, ít khi luộc Nhiều người kiêng ăn thịt trâu, thịt bò, thịt chó Người Nùng thích ăn các món xào mỡ lợn Món ăn độc đáo và được coi trọng là
“Khau nhục” Tục mới nhau uống rượu chéo chén có lịch sử từ lâu đời, nay đã thành tập quán của đồng bào.[9]
* Trang phục
Nam, nữ đến tuổi trưởng thành đều bịt một chiếc răng bằng vàng ở hàm trên và như thế được xem là làm đẹp, là người sang trọng Phụ nữ mặc áo năm thân và cài một hàng cúc bằng nút vải phía bên nách phải Tùy từng nhóm Nùng địa phương mà áo dài, ngắn, rộng, hẹp khác nhau, nhưng ở đoạn cổ tay
và lá sen bao giờ cũng đắp một miếng vải và bốn túi áo không có nắp Nam,
nữ đều mặc một loại quần nhuộm màu chàm, cạp to, ống rộng, dài tới tận mắt
cá chân
Phụ nữ Nùng thường đeo tạp dề trước bụng, khi gồng gánh còn mang thêm miếng nệm vai Điểm khác nhau giữa các nhóm, một trong những biểu hiện là cách đội khăn và các loại khăn trang trí khác nhau đôi chút Người
Trang 37Nùng có 13 nhánh và mỗi nhánh lại có ngôn ngữ cũng như trang phục khác nhau.[9]
* Thờ cúng
Người Nùng thờ cúng tổ tiên là chính Bàn thờ đặt ở nơi trang trọng, được trang hoàng đẹp, ở vị trí trung tâm là bức phùng slằn viết bằng chữ Hán cho biết tổ tiên thuộc dòng họ nào Ngoài ra còn thờ thổ công, Phật bà Quan
âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, ma ngoài sàn (phi hang chàn) và tổ chức cầu cúng khi thiên tai, dịch bệnh Khác với người Tày, người Nùng tổ chức mừng sinh nhật và không cúng giỗ.[9]
Trang 38CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
- Thực trạng vai trò của giới trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Cao Lộc
- Một số yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của giới trong phát triển kinh tế
hộ gia đình
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của mỗi giới trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Cao Lộc
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu phải đại diện về các điều kiện tự nhiên, KTXH, văn hóa, môi trường, chủ yếu là người DTTS… để làm rõ được vai trò của giới trong phát triển kinh tế hộ gia đình
Tôi chọn ra 3 xã đại diện để nghiên cứu:
+ Xã Gia Cát thuộc vùng 1, nằm ở phía đông huyện Cao Lộc, xã nằm
trong vùng sinh thái nông nghiệp và lâm nghiệp, được thiên nhiên ưu đãi đất dai màu mỡ, có hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp,
có trục đường 4B chạy qua thuận lợi cho việc giao lưu trao đổi hàng hóa, thích hợp với phát triển trồng rừng, chăn nuôi gia súc
+ Xã Hợp Thành nằm tiếp giáp với trung tâm thị trấn Cao Lộc, có
nhiều điều kiện thuận lợi giao lưu văn hóa kinh tế với các xã lân cận tốt hơn Phát triển các ngành dịch vụ tốt hơn
+ Xã Yên Trạch nằm cách xa thị trấn 15 km Địa bàn cách khá xa
trung tâm nên việc tiếp cận nguồn thông tin cong hạn chế xã chủ yếu là sinh thái rừng do địa hình đồi núi bát úp và phát triển nông nghiệp
Trang 39- Chọn mẫu điều tra: Mỗi xã tôi chọn ngẫu nhiên 30 hộ gia đình thuộc các dân tộc thiểu gồm dân tộc tày và nùng để điều tra Tổng số mẫu trên ba xã
là 90 hộ Số mẫu được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.1: Kết quả lựa chọn nhóm hộ điều tra
Tên xã Số hộ điều tra Phân theo dân tộc
- Thu thập tình hình của hộ bằng phiếu điều tra xây dựng trước Qua phiếu điều tra này sẽ cho phép thu thập được các thông tin định tính và định lươ ̣ng về vấn đề liên quan đến sản xuất và nguyên nhân nghèo đói của hô ̣
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.2.1 Số liệu thứ cấp
* Nguồn số liệu
- Số liệu thống kê của các bộ, ngành có liên quan
- Báo cáo tổng kết của UBND huyện, Phòng LĐ&TBXH, Báo cáo tổng kết các hoạt động của Hội Liên Hiệp phụ nữ của huyện Cao Lộc và của một
số xã
Trang 40- Một số sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề về vai trò giới trong phát triển kinh tế hộ gia đình
* Phương pháp thu thập: Qua việc ghi chép, thống kê các dữ liệu cần
thiết cho đề tài với một số chỉ tiêu được chuẩn bị sẵn
2.2.2.2 Số liệu sơ cấp
* Nguồn số liệu: Trên cơ sở các mẫu điều tra 90 hộ đã chọn, thu thập
thông tin bằng cách tiến hành phỏng vấn trực tiếp
* Phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi: Thu thập
các số liệu bằng hệ thống các câu hỏi đã đươ ̣c soạn thảo trước
- Câu hỏi được soạn thảo bao gồm các câu hỏi đóng và câu hỏi mở
- Nội dung các câu hỏi phu ̣c vu ̣ cho đề tài nghiên cứu được thiết kế theo các nhóm thông tin sau:
1 Nhóm thông tin chung về hộ gia đình
2 Nhóm thông tin về điều kiện sản xuất kinh doanh của hộ
3 Nhóm thông tin về các nguồn thu nhập, nguồn vốn vay của hộ
4 Nhóm thông tin về vai trò giới trong hoạt động sản xuất
5 Nhóm thông tin về vai trò giới trong hoạt động tái sản xuất và hoạt động cộng đồng
6 Nhóm thông tin về tiếp cận thông tin của giới
7 Nhóm thông tin về người ra quyết định chính trong các hoạt động
8 Nhóm thông tin về sử dụng quỹ thời gian, sức khỏe của giới
9 Nhóm thông tin về một số ý kiến về quan điểm giới
2.2.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
2.2.3.1 Phương pháp xử lý số liệu
Thông tin và các số liệu sau khi thu thập đươ ̣c sẽ đươ ̣c cập nhật và tính toán trên chương trình Excel 2010 của Microsoft
2.2.3.2 Phương pháp phân tổ thống kê
Được sử dụng để phân loại theo các mức độ khác nhau, phân loại giới theo tuổi, ngành nghề, văn hoá