1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ở việt nam trong thời kỳ đổi mới

86 467 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 446,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đạt được mục tiêu đề ra, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiêncứu cụ thể là:  Sử dụng phương pháp Logic-Lịch sử để nghiên cứu sự thay đổi về kinh tế, x ãhội của Việt Nam tron

Trang 1

ĐỖ LÂM HOÀNG TRANG

MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TR ƯỞNG KINH TẾ

VỚI TIẾN BỘ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh - năm 2008

Trang 2

ĐỖ LÂM HOÀNG TRANG

MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TR ƯỞNG KINH TẾ

VỚI TIẾN BỘ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị

Mã số: 60.31.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS TRẦN VĂN NHƯNG

TP Hồ CHí Minh - năm 2008

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết và lý do chọn đề tài.

Công bằng xã hội là vấn đề được đặt ra từ lâu trong lịch sử x ã hội loài người,ngay từ khi con người ý thức được những bất công trong x ã hội Tiến bộ và côngbằng xã hội là mục tiêu mà Đảng Cộng sản Việt Nam xác định ngay từ những ngàyđầu bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội

Tăng trưởng kinh tế với tiến bộ v à công bằng xã hội có mối quan hệ biệnchứng gắn bó chặt chẽ với nhau Quá chú trọng tới tăng tr ưởng kinh tế, không quantâm giải quyết các vấn đề x ã hội sẽ để lại nhiều hậu quả nghi êm trọng Ngược lại,chỉ chú trọng tới việc giải quyết các vấn đề x ã hội sẽ làm triệt tiêu các động lực pháttriển kinh tế Việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng tr ưởng kinh tế với tiến bộ v àcông bằng xã hội chịu ảnh hưởng bởi bản chất xã hội và điều kiện cụ thể của từngnước Trong chủ nghĩa tư bản, vấn đề tiến bộ và công bằng xã hội chỉ được đặt rakhi các vấn đề xã hội trở nên gay gắt, tiềm ẩn nguy cơ bùng nổ xung đột xã hội, đedọa sự tồn tại của chủ nghĩa t ư bản Song trong chế độ tư bản chủ nghĩa, các giảipháp nhằm kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ v à công bằng xã hội chỉ mangtính nửa vời Đối với nước ta, một nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ

tư bản chủ nghĩa, vấn đề về tiến bộ v à công bằng xã hội không chỉ là phương tiện đểphát triển kinh tế mà còn là mục tiêu của chế độ xã hội mới Sự thành công của nềnkinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ biểu hiện ở tốc độtăng trưởng cao, mà còn ở mức sống thực tế của các tầng lớp dân cư được nâng lên,

y tế, giáo dục đều phát triển, khoảng cách gi àu nghèo được thu hẹp, môi trường sinhthái được bảo vệ Do vậy, tăng trưởng kinh tế phải gắn với tiến bộ v à công bằng xãhội trong từng bước và từng chính sách phát triển l à chủ trương cơ bản đã đượcĐảng và Nhà nước ta xác định trong suốt quá tr ình đổi mới

Để hiện thực hóa chủ tr ương trên, trong những năm vừa qua, bên cạnh việcquan tâm tới phát triển kinh tế, sớm đ ưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển thì

Trang 4

các vấn đề xã hội cũng là một mục tiêu được Đảng và Nhà nước ta quan tâm ngay từđầu Tuy nhiên, không phải cứ tăng trưởng kinh tế cao là có thể đạt được tiến bộ vàcông bằng xã hội Thực tế những năm qua cho thấy, nền kinh tế Việt Nam đ ã có sựtăng trưởng liên tục với tốc độ cao Nhờ đó, Việt Nam đã thoát khỏi cuộc khủnghoảng kinh tế kéo dài nhiều năm; đời sống vật chất v à tinh thần của người dân đãđược cải thiện một cách đáng kể; nền kinh tế Việt Nam đ ã và đang từng bước hộinhập với nền kinh tế khu vực v à thế giới Nhưng nếu xem xét một cách nghiêm túcthì có thể thấy chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam c òn thấp, chưa tươngxứng với tiềm năng; sự phân phối những th ành quả của tăng trưởng thiếu công bằng,chưa thật hợp lý; tình trạng tham nhũng, buôn lậu, tệ nạn x ã hội có xu hướng giatăng; môi trường sinh thái bị tàn phá nghiêm trọng Để giải quyết tốt mối quan hệgiữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ v à công bằng xã hội đòi hỏi phải có sự nghiêncứu, hoạch định và thực thi các chính sách một cách đồng bộ trên cơ sở đánh giáđúng thực trạng của nền kinh tế - xã hội Với mong muốn góp phần giải quyết vấn

đề này, tôi quyết định chọn đề tài “Mối quan hệ giữa tăng tr ưởng kinh tế với tiến bộ

và công bằng xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”

2 Mục tiêu nghiên cứu.

 Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận chung về tăng tr ưởng kinh tế, tiến

bộ xã hội và công bằng xã hội

 Nghiên cứu bài học kinh nghiệm của một số n ước trong việc giải quyết mốiquan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ v à công bằng xã hội

 Tìm ra mối quan hệ và cơ chế tác động giữa tăng tr ưởng kinh tế và tiến bộ xãhội của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

 Đề xuất những giải pháp c ơ bản nhằm kết hợp tăng tr ưởng kinh tế với côngbằng xã hội

Trang 5

3 Phạm vi nghiên cứu.

Về thời gian: luận văn nghiên cứu vấn đề kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến

bộ và công bằng xã hội trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt l à giai đoạn từ năm 1990đến năm nay và những giải pháp cho những năm sắp tới

Về không gian: luận văn nghiên cứu những vấn đề kinh tế, x ã hội trên lãnh

thổ nước Việt Nam

4 Phương pháp nghiên c ứu.

Để đạt được mục tiêu đề ra, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiêncứu cụ thể là:

 Sử dụng phương pháp Logic-Lịch sử để nghiên cứu sự thay đổi về kinh tế, x ãhội của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, sự cần thiết khách quan phải kết hợptăng trưởng kinh tế với tiến bộ v à công bằng xã hội trong điều kiện nước tahiện nay

 Sử dụng phương pháp phân tích và t ổng hợp các số liệu thống k ê và các tàiliệu liên quan đến vấn đề này để làm rõ cơ chế tác động của tăng tr ưởng kinh

tế với tiến bộ và công bằng xã hội, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp v àkiến nghị nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng tr ưởng kinh tế với tiến

bộ và công bằng xã hội

5 Tình hình nghiên c ứu.

Tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội là một vấn đề đã đượcĐảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội cũng như các cơ quan thông t ấn báochí, các nhà nghiên cứu quan tâm trong suốt thời kỳ đổi mới V ì vậy đã có rất nhiềubài báo, công trình nghiên c ứu đề cập đến vấn đề tr ên Nhưng những công trìnhnghiên cứu ấy chỉ nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế với công bằng x ã hội chứ chưabao gồm phần nghiên cứu về tiến bộ xã hội Do đó, đề tài này được thực hiện dựatrên sự kế thừa nhất định những công tr ình nghiên cứu trên, đồng thời nghiên cứuvấn đề tăng trưởng kinh tế với tiến bộ v à công bằng xã hội một cách hệ thống h ơn

Trang 6

6 Những đóng góp của luận văn.

- Nghiên cứu một cách có hệ thống c ơ sở lý luận về mối quan hệ giữa tăngtrưởng kinh tế với tiến bộ v à công bằng xã hội

- Phân tích những thành tựu về tăng trưởng kinh tế, về việc kết hợp tăngtrưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội

- Phân tích những tồn tại, hạn chế trong quá trình giải quyết mối quan hệ giữatăng trưởng kinh tế với tiến bộ v à công bằng xã hội

- Đề ra hệ thống giải pháp v à một số kiến nghị có tính khả thi v à thực tiễn

7 Kết cấu của luận văn.

Kết cấu của luận văn bao gồm phần mở đầu, 3 ch ương về nội dung và phầnkết luận Trong đó, 3 chương về nội dung gồm:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về mối quan hệ giữa tăng tr ưởng kinh

tế với tiến bộ và công bằng xã hội

Chương 2: Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ v à công bằng xãhội trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam: thực trạng v à những vấn đề đặt ra

Chương 3: Một số quan điểm và giải pháp nhằm giải quyết mối quan hệ giữatăng trưởng kinh tế với tiến bộ v à công bằng xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới

Trang 7

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI TIẾN BỘ V À CÔNG BẰNG XÃ HỘI.

1.1 Tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và công bằng xã hội.

1.1.1 Tăng trưởng kinh tế.

1.1.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế.

Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về số lượng, chất lượng, tốc độ và quy môsản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Sự tăng trưởng được so sánhtheo các thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng tr ưởng Đó là sự gia tăng quy mô sảnlượng nhanh hay chậm so với thời điểm gốc Quy mô v à tốc độ tăng trưởng là “cặpđôi” trong nội dung khái niệm tăng tr ưởng kinh tế Hiện nay, tr ên thế giới người tathường tính mức gia tăng về tổng giá trị của cải của xã hội bằng các đại lượng tổngsản phẩm quốc dân hay tổng sản phẩm quốc nội

Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) l à tổng giá trị tính bằng tiền của n hững hànghoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra từ các yếu tố sản xuất của m ình (dù là sảnxuất ở trong nước hay ở nước ngoài) trong một thời kỳ nhất định (th ường là mộtnăm)

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) l à tổng giá trị tính bằng tiền của to àn bộ hànghoá và dịch vụ mà một nước sản xuất ra trên lãnh thổ của nước đó (dù nó thuộc vềngười trong nước hay nước ngoài) trong một thời kỳ nhất định (th ường là một năm)

1.1.1.2 Chất lượng tăng trưởng kinh tế.

Về chất lượng tăng trưởng kinh tế cũng có nhiều ý kiến khác nhau Có ý kiếncho rằng, tăng trưởng kinh tế là sự tăng theo chiều rộng, nghĩa l à thêm nhiều vốn,tăng lao động và khai thác tài nguyên Ngoài ra, nó còn là s ự tăng theo chiều sâu thểhiện ở tăng hiệu quả vốn sản xuất, tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực ápdụng khoa học, công nghệ, ho àn thiện môi trường kinh doanh, môi tr ường pháp lý…

Trang 8

Có ý kiến cho rằng, chất lượng tăng trưởng kinh tế là nâng cao phúc lợi củacông dân; gắn liền tăng trưởng kinh tế với công bằng x ã hội Theo quan điểm này,thước đo của tăng trưởng kinh tế là sự đáp ứng phúc lợi của nhân dân đ ược thể hiệnnhư thế nào Phúc lợi xã hội không chỉ thể hiện ở thu nhập b ình quân đầu người màcòn là chất lượng cuộc sống, môi trường xã hội, môi trường tự nhiên, cơ hội học tập

và chăm lo sức khoẻ

Có quan niệm cho rằng, chất lượng tăng trưởng kinh tế là phát triển bềnvững Điều này có nghĩa tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với việc bảo tồn v à pháttriển các nguồn vốn nh ư tài nguyên môi trường, vốn nhân lực và cơ sở vật chất - kỹthuật của nền kinh tế…

Còn nhiều ý kiến khác nhau, song các nh à nghiên cứu ở Việt Nam cho rằng:Chất lượng tăng trưởng kinh tế cao là sự phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững củanền kinh tế, thể hiện qua năng suất nhân tố tổng hợp , năng suất lao động xã hội tăng

và ổn định, mức sống của ng ười dân được nâng cao không ngừng; c ơ cấu kinh tếchuyển dịch phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất n ước, sản xuất có tính cạnhtranh cao, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ v à công bằng xã hội và bảo vệ môitrường, quản lý kinh tế của nhà nước có hiệu quả

Như vậy, theo nghĩa hẹp, tăng trưởng kinh tế chỉ phản ánh sự g ia tăng vềlượng của nền kinh tế, song nếu hiểu theo nghĩa rộng th ì tăng trưởng kinh tế khôngchỉ phản ánh sự gia tăng về l ượng mà còn về chất của nền kinh tế Theo nghĩa này,

nó cũng gắn với khái niệm phát triển kinh tế hiện nay vẫn d ùng

Trong báo cáo về phát triển thế giới năm 1992, Ngân h àng Thế giới đưa rađịnh nghĩa về phát triển kinh tế nh ư sau: Phát triển là nâng cao phúc lợi của nhândân, nâng cao tiêu chu ẩn sống và cải tiến giáo dục, sức khỏe v à bình đẳng về cơ hội

là tất cả những thành phần cơ bản của phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế là mộtcách cơ bản để có thể có được sự phát triển, nhưng trong bản thân nó là một đại diệnkhông toàn vẹn của sự tiến bộ

Trang 9

Như vậy, hiện nay, xu hướng nhìn nhận tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tếkhông thuần tuý là kinh tế mà còn bao hàm các yếu tố chính trị - xã hội, nhân văn.Muốn đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và liên tục, các nền kinh tế phải pháthuy được những yếu tố sau:

Một là, tư liệu sản xuất ngày càng tiên tiến, hiện đại, tạo ra năng suấ t laođộng ngày càng cao, nhờ vậy, số lượng hàng hóa và dịch vụ ngày càng tăng lên Quátrình phát triển kinh tế thế giới ng ày nay cho thấy vai trò của cuộc cách mạng khoahọc - công nghệ hết sức to lớn, có tác động quyết định không những đến tốc độ tăngtrưởng kinh tế, mà còn cải thiện đáng kể mọi hoạt động của đời sống x ã hội

Hai là, nguồn vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh ng ày càng tăng Không cóvốn không thể mở rộng quy mô sản xuất, không thể đổi mới trang thiết bị kỹ thuật,công nghệ hiện đại để phát triển sản xuất theo chiều sâu… V ì vậy, những nền kinh

tế mới phát triển cần có chính sách động vi ên, thu hút trong dân, kết hợp với thu hútvốn từ nước ngoài, thực hiện tiết kiệm trong sản xuất v à tiêu dùng để đầu tư tăngthêm cho sản xuất kinh doanh

Ba là, tăng cường số lượng và chất lượng lao động Muốn tăng tr ưởng kinh tếphải mở rộng quy mô sản xuất, phát triển nhiều ng ành nghề mới, đưa khoa học -công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh Để l àm được như vậy, phải tăng số lượng

và đặc biệt là tăng chất lượng đội ngũ lao động V ì vậy, nâng cao dân trí, đ ào tạonhân lực, bồi dưỡng nhân tài, tăng cường vốn nhân lực có ý nghĩa hết sức quantrọng, thậm chí là quyết định đối với tăng tr ưởng kinh tế

Bốn là, khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, lợi thế về địahình kinh tế Đây là yếu tố không phải nước nào, vùng nào cũng có thế mạnh, cũngkhông phải nơi nào cũng có trình độ khai thác, sử dụng đúng đắn và có hiệu quảnhững yếu tố này

Năm là, yếu tố về dân số có ảnh h ưởng quan trọng đến tăng trưởng kinh tế.Dân số đông làm cho tiêu dùng xã hội phục vụ đời sống nhân dân cao, đầu t ư chosản xuất để tăng trưởng kinh tế vì vậy mà giảm xuống Tuy nhiên, nếu mức tăng dân

Trang 10

số quá thấp dẫn đến thiếu hụt nguồn nhân lực cũng ảnh h ưởng không tốt đến tăngtrưởng kinh tế Theo tính toán của các nhà khoa học, nếu mức tăng dân số l à1%/năm, GDP tăng 2% m ới chỉ bù đắp cho số dân tăng l ên, GDP phải tăng từ 3%trở lên thì đời sống nhân dân mới đ ược coi là có cải thiện Vì vậy, phát triển dân sốmột cách hợp lý là một trong những yếu tố góp phần quan trọng v ào tăng trưởngkinh tế.

1.1.2 Tiến bộ xã hội.

Tiến bộ xã hội là một khái niệm phản ánh sự vận động của x ã hội từ thấp đếncao, từ đơn giản đến phức tạp, là sự vận động của xã hội loài người từ hình thái kinh

tế - xã hội này lên hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn, hoàn thiện hơn cả về cơ

sở hạ tầng kinh tế lẫn kiến trúc th ượng tầng về pháp lý, chính trị v à các hình thái ýthức xã hội Lịch sử loài người nói chung bao giờ cũng vận động theo h ướng tiến bộ

mà mỗi hình thái kinh tế - xã hội là một nấc thang của tiến bộ x ã hội

Tiến bộ xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta có nhữngtiêu chí sau:

- Lực lượng sản xuất phát triển với h àm lượng khoa học ngày càng cao và vớiquan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế tăng tr ưởngnhanh, có chất lượng cao và bền vững

- Quyền làm chủ của nhân dân đối với mọi mặt đời sống x ã hội được bảo đảm;Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, v ì dân, trong sạch, vữngmạnh; dân chủ được phát huy; kỷ luật, kỷ c ương được tôn trọng

- Văn hóa, giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ đuợc mở mang, trình độdân trí phát triển cao, quan hệ giữa ng ười với người lành mạnh, những thói hư, tậtxấu được đẩy lùi Đây là thước đo trí tuệ và đạo đức của tiến bộ xã hội

- Môi trường sinh thái được bảo vệ và cải thiện

- Con người có điều kiện từng b ước phát triển về thể chất, trí tuệ, đạo đức,nghề nghiệp; có cuộc sống ng ày càng ấm no, tự do, hạnh phúc; được cống hiến vàhưởng thụ công bằng thành quả của sự phát triển

Trang 11

- Một xã hội vận động theo hướng đi lên chủ nghĩa xã hội phải là một xã hộingày càng giàu có về của cải vật chất; đem lại cho con ng ười cuộc sống ngày càngđầy đủ, sung túc hơn Cái đích hướng tới của tiến bộ xã hội phải là con người, là sựphát triển toàn diện của con người.

1.1.3 Công bằng xã hội

Từ điển Bách khoa Triết học định nghĩa: Công bằng l à khái niệm đạo đức pháp quyền, đồng thời là khái niệm chính trị - xã hội Khái niệm công bằng bao h àmtrong nó yêu cầu về sự phối hợp giữa vai trò thực tiễn của cá nhân (nhóm x ã hội) vớiđịa vị của họ trong đời sống x ã hội, giữa những quyền v à nghĩa vụ của họ, giữa làm

-và hưởng, giữa lao động -và sự trả công, giữa phạm tội -và sự trừng phạt, giữa cônglao và sự thừa nhận của xã hội Sự không phối hợp giữa những quan hệ đó đượcđánh giá là sự bất công Trong một nghiên cứu khác, người ta đã khái quát: Côngbằng xã hội là một phạm trù xã hội dùng để chỉ trình độ phát triển về phương diện

xã hội của con người (cá nhân và cộng đồng) được thực hiện và thể hiện trên tất cảcác lĩnh vực của đời sống x ã hội như: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tinh thần m àtrước hết là lĩnh vực xã hội Nó phản ánh mối quan hệ về nghĩa vụ và quyền lợi giữa

xã hội và cá nhân, nhằm đảm bảo sự phát triển h ài hòa của con người, của xã hộiphù hợp với xu thế và tiến bộ xã hội Công bằng xã hội vừa là khát vọng của conngười, vừa là động lực, là mục tiêu của sự phát triển xã hội, của cách mạng xã hộichủ nghĩa, của sự nghiệp đổi mới theo định h ướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Như vậy, công bằng xã hội là khái niệm có nội dung kinh tế, chính trị phứctạp hơn nhiều so với khái niệm tăng tr ưởng kinh tế Công bằng x ã hội hiểu theonghĩa chung nhất là sự ngang bằng nhau trong mối quan hệ giữa ng ười và người dựatrên nguyên tắc thống nhất giữa nghĩa vụ v à quyền lợi, giữa cống hiến v à hưởng thụ.Từng thành viên gắn bó với cộng đồng x ã hội trong mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị,văn hóa, xã hội thông qua sự cống hiến theo khả năng trí tuệ, sức lực của m ình cho

sự phát triển xã hội và được xã hội bù đắp, chăm sóc trở lại một cách t ương xứng.Việc thực hiện công bằng x ã hội về thực chất, là sự ứng xử một cách hợp lý nhằm

Trang 12

điều tiết mối quan hệ x ã hội giữa các cá nhân, các nhóm x ã hội, các vùng, miền…trong quá trình tìm kiếm lợi ích.

Do nội hàm của công bằng xã hội phức tạp như vậy, nên việc định lượng mức

độ thực hiện công bằng x ã hội là rất khó khăn Người ta đã sử dụng nhiều thước đokhác nhau nhưng kết quả cũng chỉ mang tính t ương đối

Phương pháp phổ biến nhất để đo mức độ công bằn g trong phân phối thunhập là tính tỷ lệ thu nhập giữa 20% số ng ười giàu nhất với 20% số người nghèonhất Tỷ lệ này càng lớn, mức độ bất công c àng cao và ngược lại Để thấy rõ hơnmức độ phân cực trong thu nhập, ng ười ta còn so sánh mức thu nhập của 5% sốngười giàu nhất với thu nhập của 5% số ng ười nghèo nhất

Một công cụ để biểu đạt m ức độ bất công bằng trong thu nhập đ ược sử dụngtrong kinh tế học là đường cong Lorenz Đường cong Lorenz được biểu thị trongmột hình vuông, cạnh bên trái thể hiện số phần trăm thu nhập, cạnh đáy là phần trămdân số xếp từ nhóm có thu nhập thấp đến cao

Trong trường hợp bất công bằng tuyệt đối , đường cong Lorenz chạy theo cạnhđáy và cạnh bên phải (tức là 1% dân số nhận được 100% thu nhập) Thông th ườngđường cong Lorenz nằm ở khoảng giữa đường công bằng và đường bất công bằng

Đường

bình

đẳng

Phần trăm dân sốA

B

100

ĐườngLorenz

Đườngbìnhđẳng

Phần trăm dân sốA

Trang 13

tuyệt đối, đường cong càng xa đường chéo thì mức độ bất công bằng c àng cao.

Hệ số Gini tính bằng tỷ lệ giữa h ình được tạo bởi đường chéo của hình vuôngvới đường cong Lorenz và tam giác vuông đư ợc tạo bởi đường chéo của hình vuôngvới cạnh đáy và cạnh bên phải Hệ số này tính từ 0 đến 1, trong đó 0 là công bằnghoàn toàn, 1 là bất công bằng hoàn toàn Hiện nay, theo tính toán của Chương trìnhPhát triển Liên Hiệp Quốc, hệ số Gini bằng 0,4 là giới hạn giữa công bằng và bấtcông bằng

Các phương pháp đo mức độ chênh lệch trong thu nhập ch ưa đủ để xác địnhmức độ bất công bằng trong một quốc gia, chẳng hạn có thể có sự công bằng trongphân phối thu nhập nhưng xét thêm những yếu tố khác như điều kiện sống, các dịch

vụ được hưởng thì có thể mức độ công bằng x ã hội lại khác đi Bởi thế, người tacòn đưa ra nhiều tiêu chí xác định khác như:

- Mức độ nghèo khổ: xác định ranh giới tối thiểu về thu nhập để tính số ngườinghèo trong một quốc gia, chẳng hạn, những người có mức sống dưới 1 USD/ngày ởcác nước đang phát triển và dưới 14 USD/ngày ở các nước phát triển được coi lànghèo Hoặc người ta quy định những chuẩn ngh èo quốc gia để xác định số ng ườinghèo trong từng nước

- Mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người bao gồm mức tối thiểu

về dinh dưỡng, sức khỏe, mức sống, nh à ở và các điều kiện đảm bảo sự phát triểncủa cá nhân Những nhu cầu n ày được thực hiện khác nhau ở mỗi n ước Tuy nhiên,một xã hội không thể được coi là công bằng khi đại bộ phận dân cư không được đảmbảo những nhu cầu tối thiểu

- Chỉ số phát triển xã hội tổng hợp do Liên Hiệp Quốc đưa ra với 73 chỉ tiêubao gồm cả các chỉ tiêu về phát triển kinh tế, về chăm sóc sức khỏe nhân dân , về vănhóa, giáo dục

- Chỉ số phát triển con người (HDI) được sử dụng khá phổ biến để đánh giá

sự phát triển của một n ước Chỉ số này được tính toán theo 3 ti êu chí có tính baoquát, thể hiện được những yếu tố quan trọng nhất trong phát triển con người, đó là

Trang 14

tuổi tác, trí tuệ và mức sống Cụ thể là: GDP bình quân đầu người, tỷ lệ biết chữ củangười lớn, tuổi thọ bình quân của dân số Chỉ số này được tính theo dãy giá trị từ 0(mức độ phát triển con ng ười thấp nhất) đến 1 (mức độ phát triển con ng ười caonhất).

sự là người chủ của xã hội, được hưởng tự do, ấm no, hạnh phúc Tăng trưởng kinh

tế với tiến bộ và công bằng xã hội có mối quan hệ biện chứng với nhau Tăng tr ưởngkinh tế là cơ sở và tiền đề thực hiện tiến bộ v à công bằng xã hội Ngược lại, tiến bộ

và công bằng xã hội sẽ tác động trở lại thúc đẩy tăng tr ưởng kinh tế nhanh và bềnvững hơn Nếu không tăng trưởng kinh tế thì chúng ta không xây d ựng được cơ sởkinh tế để xây dựng chủ nghĩa x ã hội không tăng trưởng và phát triển kinh tế thìlàm sao xây dựng được một xã hội “ấm no, hạnh phúc” Ng ược lại, nếu tăng trưởngkinh tế mà tiến bộ và công bằng xã hội không được đảm bảo thì trong xã hội ngườidân vẫn chưa thực sự được hưởng hạnh phúc, những hình thức áp bức, boác lột v àbất công vẫn còn Cho nên phải giải quyết đồng thời cả hai nhiệm vụ n ày trong thời

kỳ đổi mới Chủ tịch Hồ Chí Minh đ ã khẳng định, chế độ xã hội mà chúng ta xâydựng là một chế độ mà ở đó “nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn

tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” [13, 161]

1.2.2 Mối quan hệ giữa tăng tr ưởng kinh tế với tiến bộ xã hội.

Tăng trưởng và phát triển kinh tế là cơ sở vật chất cho tiến bộ x ã hội vàngược lại, tiến bộ xã hội thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Tiến bộ xã hội làkết quả của mọi sự phát triển kinh tế v à mọi sự phát triển được coi là tiến bộ trướchết phải là sự phát triển thúc đẩy sự tiến bộ x ã hội

Trang 15

Tiến bộ xã hội xét về thực chất là giải phóng và phát triển con người toàndiện, mà nhân tố con người là chủ thể, là nguồn lực quyết định sự phát triển kinh tếbền vững Tiến bộ xã hội xác định rõ các nhu cầu xã hội, nhu cầu đời sống cần phảiđáp ứng những nhu cầu đó l à động lực thúc đẩy phát triển kinh tế đến l ượt nó, pháttriển kinh tế lại tạo ra những nhu cầu mới thúc đẩy sự tiến bộ x ã hội.

Quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế với tiến bộ x ã hội về thực chất

là mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất với sự phát triển của quan hệ sảnxuất và của kiến trúc thượng tầng, tức là sự phát triển của hình thái kinh tế - xã hội.Trong đó, không phải chỉ có sự tác động một chiều của sự phát triển kinh tế, sự pháttriển của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển của quan hệ sản xuất v à kiến trúcthượng tầng mà là mối quan hệ biện chứng, c ó sự tác động qua lại, quan hệ sản xuấtr

và kiến trúc thượng tầng có thể thúc đẩy hoặc k ìm hãm sự phát triển của lực l ượngsản xuất

1.2.3 Mối quan hệ giữa tăng tr ưởng kinh tế với công bằng xã hội.

Công bằng xã hội được coi là động lực, là mục tiêu quan trọng của sự nghiệpđổi mới Về nguyên tắc, đảm bảo công bằng x ã hội phải được đặt trong mối quan hệgiữa tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị và giải quyết đúng đắn các vấn đề x ã hội.công bằng xã hội không chỉ là phương tiện để phát triển nền kinh tế thị tr ường màcòn là mục tiêu của chế độ xã hội mới Sự thành công của nền kinh tế thị tr ườngtheo định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ biểu hiện ở tốc độ tăng tr ưởng cao, màcòn ở mức sống thực tế của các tầng lớp dân c ư được nâng lên, y tế, giáo dục đềuphát triển, khoảng cách giàu nghèo được thu hẹp, đảm bảo chế độ bảo hiểm x ã hội,chính sách phân phối thu nhập, hỗ trợ khó khăn cho những gia đ ình đặc biệt (giađình có công với cách mạng, thương binh, người tàn tật ), môi trường sinh tháiđược bảo vệ Nếu không có tăng trưởng thì không thể phát triển kinh tế và do đócũng kéo theo hệ quả l à khó có thể thực hiện tốt công bằng x ã hội trong đời sốngkinh tế xã hội của các tầng lớp dân c ư Ngược lại, tăng trưởng và phát triển kinh tế

Trang 16

tạo ra cơ sở vật chất cho việc thực hiện tốt công bằng x ã hội, việc thực hiện tốt côngbằng xã hội lại trở thành động lực to lớn thúc đẩy nhanh sự tă ng trưởng kinh tế.

1.2.4 Mối quan hệ giữa tiến bộ x ã hội với công bằng xã hội.

Trước hết, công bằng xã hội là động lực của sự phát triển x ã hội Xã hội làhình thái vận động cao nhất của vật chất H ình thái vận động này lấy mối quan hệcủa con người và sự tác động lẫn nhau giữa người với người làm nền tảng Mác chorằng xã hội không phải gồm các cá nhân, m à xã hội là tổng hòa của những mối liên

hệ của các cá nhân đối với nhau “Xã hội – cho dù nó có hình thức gì đi nữa là sảnphẩm của sự tác động qua lại giữa những con ng ười” [4, 657] Sự tác động của quyluật xã hội diễn ra thông qua hoạt động của con ng ười Động lực thúc đẩy con ng ườihoạt động trong mọi thời đại, mọi xã hội là lợi ích của chủ thể hoạt động Do vậy,lợi ích trở thành yếu tố quan trọng trong c ơ chế hoạt động của quy luật x ã hội vàtrong nhận thức của con người về nó Như vậy, xã hội là sản phẩm của sự tác độngqua lại giữa những con người có khi phù hợp nhau, có khi lệch nhau thậm chí đốilập nhau Vì vậy, việc phân chia giữa các th ành viên cùng hoạt động với nhau phảiđược tiến hành theo một nguyên tắc phân chia lợi ích nhất định Điều kiện kinh tế -

xã hội trong lịch sử đã có những cách phân chia khác nhau Thước đo của nguyêntắc phân chia lợi ích l à sự bình đẳng giữa lao động và trả công, giữa cống hiến v àhưởng thụ Nguyên tắc này quy định lao động ngang nhau th ì trả công ngang nhau,được thực hiện trên cơ sở sự đồng thuận, tự nguyện của các thành viên tham gia vàomột quan hệ lợi ích Vì vậy, công bằng xã hội cũng là một nguyên tắc phân chia lợiích, thông qua thước đo bình đẳng đã làm cho các thành viên tham gia vào quan h ệlợi ích không thấy mình bị thiệt thòi Mặt khác lại kích thích họ tự nguyện lao độnghơn nữa, góp phần thúc đẩy x ã hội phát triển Công bằng xã hội thực sự là động lựccủa sự vận động và phát triển xã hội

Thứ hai, công bằng xã hội là thước đo về mặt xã hội của tiến bộ xã hội.Nguyên tắc phân phối trong chế độ cộng sản nguyên thủy là bình quân; trong chế độ

nô lệ là quan hệ bất công, bất bình đẳng giữa chủ nô và nô lệ; trong chế độ phong

Trang 17

kiến là quan hệ bất công, bất bình đẳng giữa giai cấp nông dân v à giai cấp địa chủ.Trong chủ nghĩa tư bản, tư liệu sản xuất thuộc về giai cấp t ư sản, vì vậy nguyên tắcphân phối chủ đạo trong xã hội này là quan hệ bất công, bất bình đẳng giữa giai cấp

tư sản và giai cấp công nhân So với các nguyên tắc phân phối của các x ã hội trước

tư bản, thì việc phân phối theo lao độ ng đã được thực hiện ở mức độ nhất định Nhà

tư bản trả tiền công cho ng ười lao động theo nguyên tắc “thuận mua, vừa bán”

Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, quan hệ sản xuất công hữu là chủ đạo, quan

hệ giữa người với người về tư liệu sản xuất là bình đẳng, cho nên nguyên tắc phânphối theo lao động là chủ đạo và là nguyên tắc công bằng hơn trong thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội Đến chủ nghĩa cộng sản, khi lực l ượng sản xuất phát triển cao,năng suất lao động cao, sản phẩm x ã hội dồi dào thì nguyên tắc làm theo năng lực,hưởng theo nhu cầu sẽ hình thành, trình độ bình đẳng xã hội sẽ cao hơn rất nhiều sovới các giai đoạn trước

Sự phát triển của các h ình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên.Trong lịch sử phát triển ấy, tiến bộ x ã hội được thể hiện thông qua sự tiến bộ của cáchình thái kinh tế - xã hội Qua các hình thái kinh tế - xã hội đã có trong lịch sử, tathấy rõ mức độ bất công trong phân phối sản phẩm của lao động đ ã giảm dần vàmứa độ công bằng tăng dần Nh ư vậy, trình độ công bằng xã hội đạt được trong từnghình thái kinh tế - xã hội chính là thước đo về mặt xã hội của tiến bộ xã hội tươngứng với hình thái kinh tế - xã hội ấy

1.3 Kinh nghiệm của các nước về giải quyết mối quan hệ giữa tăng tr ưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.

1.3.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản.

Vào nửa cuối thế kỷ XX, Nhật Bản đ ã để lại những dấu ấn trong lịch sử nhânloại bằng việc đạt được sự tiến bộ kinh tế “thần kỳ” Từ một nước bại trận trongChiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đ ã trở thành cường quốc kinh tế thứ hai trênthế giới sau Mỹ chỉ trong v òng hơn hai thập kỷ

Trang 18

Một trong những nguyên nhân thành công đó là chính sách “tăng trư ởng kinh

tế cao đi liền với công bằng x ã hội” Đối với người Nhật, công bằng xã hội không cónghĩa là mọi người đều được hưởng như nhau những thành quả xã hội Công bằng

xã hội cũng không đơn thuần chỉ là các khoản phúc lợi xã hội, các khoản trợ cấp xãhội của chính phủ Theo họ, công bằng xã hội không chỉ là toàn bộ những gì màngười dân đã, đang và sẽ được hưởng từ sự tăng trưởng kinh tế tương ứng với phầnđóng góp của họ, mà còn là quyền và những cơ hội tạo điều kiện cho họ đ ược thamgia đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế Các nhà kinh tế Nhật Bản gọi đó là “sựtăng trưởng kinh tế cùng chia sẻ” Các biện pháp và chính sách mà Nhật Bản đã thựchiện là:

Thứ nhất, tạo cho mọi ng ười có một môi trường thuận lợi để được tham giađóng góp phần mình cho xã hội, cũng như được hưởng một phần thành quả tươngứng với sự đóng góp của m ình do sự tăng trưởng đem lại

Trong lĩnh vực chính trị, chủ nghĩa Thiên Hoàng bị lật đổ, nhà nước đượctách ra khỏi tôn giáo Thần Đạo Mọi ảnh hưởng của giới quân sự v à tư tưởng quân

sự đối với đời sống kinh tế, chính trị v à xã hội được loại bỏ Nhà nước khẳng định

và khuyến khích các tư tưởng dân sự trong nền ki nh tế

Trong lĩnh vực kinh tế, tiến h ành đồng thời ba cuộc cải cách lớn nhằm dânchủ hóa đời sống kinh tế v à tái lập nền kinh tế thị trường

Thủ tiêu tình trạng tập trung quá mức sức mạnh kinh tế thông qua việc giảitán và chia nhỏ các tập đoàn tài phiệt, tạo điều kiện cho sự cạnh tranh mạnh mẽtrong tất cả các ngành công nghiệp

Cải cách ruộng đất được tiến hành chặt chẽ với nội dung c ơ bản là chuyểnquyền sở hữu ruộng đất cho thuê sang cho những tá điền đã từng trồng trọt trênnhững mảnh đất đó, giảm bớt tình trạng bất bình đẳng về sở hữu ruộng đất , kíchthích tính tích cực sản xuất và nâng cao thu nhập cho người nông dân

Trang 19

Tiến hành dân chủ hóa lao động bằng việc ban h ành các đạo luật về lao độngnhư Luật công đoàn, Luật điều chỉnh quan hệ lao động v à Luật cơ bản về lao động.Nhờ đó, thu nhập, điều kiện sống v à nhu cầu tiêu dùng của công nhân tăng lên.

Thứ hai, thu hút hết số lao động thất nghiệp , tạo công ăn việc làm và thunhập, phát huy năng lực của họ để đóng góp cho x ã hội bằng cách, một mặt , tậptrung các nguồn lực trong xã hội vào phát triển kinh tế; phát triển một cơ cấu côngnghiệp với công nghiệp nặng v à hóa chất có đặc điểm hướng vào xuất khẩu và cầnnhiều lao động làm chủ đạo Mặt khác, phát triển một số xí nghiệp hay tập đo àn kinh

tế lớn làm đầu tàu lôi kéo nền kinh tế, đồng thời hỗ trợ để các xí nghiệp vừa v à nhỏphát triển bằng các khoản tín dụng ưu đãi và các dịch vụ hỗ trợ đặc biệt

Thứ ba, xây dựng được một bộ máy công chức có năng lực v à trong sạch nhờthi hành theo cơ chế sau:

+ Việc tuyển mộ và đề bạt cần phải dựa vào năng lực và có tính cạnh tranhcao

+ Toàn bộ sự đền bù, bao gồm cả tiền công, phụ cấp v à uy tín phải cạnh tranhđược với khu vực tư nhân

+Những người có năng lực luôn đ ược đền bù xứng đáng trong lúc đươngnhiệm và trong thời gian nghỉ hưu

Thứ tư, phát triển và sử dụng tốt nguồn nhân lực Ngay sau Chiến tranh thếgiới thứ hai, Nhật Bản đ ã tiến hành cải cách giáo dục, nâng hệ giáo dục bắt buộcmiễn phí từ 6 năm lên 9 năm Một trong những nguyên tắc cơ bản của hệ thống giáodục là “mọi người đều được bình đẳng trong giáo dục, cấm phân biệt đối xử tr ên cơ

sở chủng tộc, tín ngưỡng, giới tính, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế hoặc bối cảnhgia đình” Ngoài ra, chính quyền trung ương và các địa phương còn tạo điều kiện

mở các trung tâm giáo dục từ xa, các trường đặc biệt cho người khuyết tật nhằmgiúp cho bất kỳ người dân nào cũng được đi học Sau khi được đào tạo, người laođộng được sử dụng và đãi ngộ theo năng lực và nỗ lực của mỗi người Hơn nữa,chính phủ còn khuyến khích các doanh nghiệp duy trì chế độ quản lý lao động

Trang 20

truyền thống (chế độ làm việc suốt đời, trả lương theo thâm niên) Ở các công tyNhật Bản, mặc dù có sự chênh lệch tiền lương giữa những người có thâm niên khácnhau đủ để khuyến khích những ng ười có thâm niên cao tiếp tục gắn bó và trungthành với công ty, song đồng thời sự ch ênh lệch đó cũng được trung hòa một phần

do có tính đến tính năng động, sáng tạo v à trình độ học vấn của tuổi trẻ

Thứ năm, công bằng x ã hội ở Nhật Bản còn được thực hiện thông qua việc đề

ra và thực hiện nghiêm chỉnh các đạo luật, thông qua việc quản lý xã hội, quản lýnền kinh tế bằng pháp luật, duy tr ì một xã hội có trật tự, có luật pháp v à an toàn

Thứ sáu, thực hiện công bằng trong phân phối thu nhập Thay v ì đề cao chủnghĩa cá nhân như Mỹ, người Nhật lại đề cao chủ nghĩa tập thể với quy tắc sống

“chia phần công bằng” Chính phủ Nhật Bản đ ã thực thi nhiều chính sách khác nhau

để điều tiết thu nhập cho ph ù hợp, tránh gây ra sự ch ênh lệch quá đáng giữa các tầnglớp dân cư bằng các chính sách tạo việc làm, trợ cấp cho những ng ười thất nghiệp,

có thu nhập thấp hoặc mất khả năng lao động, đánh thuế lũy tiến vào những người

có thu nhập cao, trợ cấp cho nông dân để đảm bảo cho họ có thu nhập tạm chấpnhận được so với dân cư đô thị, đầu tư cho cơ sở hạ tầng xã hội cũng như các điềukiện phúc lợi phục vụ đông đảo mọi ng ười

1.3.2 Kinh nghiệm Hàn Quốc.

Ở Hàn Quốc, mục đích cuối cùng của tăng trưởng kinh tế là nâng cao chấtlượng cuộc sống của người dân sao cho tương đương với mức sống của người dân ởcác nước công nghiệp phát triển Hàn Quốc đã kết hợp tăng trưởng kinh tế với thựchiện công bằng xã hội thông qua các chính sách sau:

Thứ nhất, làm giảm bớt bất bình đẳng về thu nhập Sự phân phối thu nhậptrong toàn xã hội Hàn Quốc được cải thiện mạnh, người dân nhận được nhiều phúclợi dưới các hình thức thu nhập gián tiếp như phúc lợi về giáo dục, y tế, nh à ở và các

cơ hội việc làm Phân phối thu nhập ở Hàn Quốc được thực hiện thông qua việcgiảm dần các khoản trợ cấp và tín dụng ưu đãi cho các tập đoàn kinh doanh lớn vàtăng tiền công cho các giới lao động Nhờ vậy, hệ số Gini của H àn Quốc đã giảm từ

Trang 21

0,3114 vào năm 1985 xu ống còn 0,2817 năm 1993, đưa Hàn Quốc vào nhóm cácnước có mức độ bình đẳng về thu nhập cao nhất thế giới, cao h ơn các nước và vùnglãnh thổ khác trong khu vực (trừ Nhật Bản và Đài Loan).

Thứ hai, công bằng xã hội được thực hiện thông qua việc tạo dựng các cơ hộiviệc làm và phúc lợi xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân

Cùng với cuộc cải cách đất đai sau chiến tranh , hàng loạt chính sách vàchương trình đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế hướng vào xuất khẩu, cân đối nhập khẩu

và phát triển mức cầu về lao động đ ã làm cho các cơ hội việc làm và tiền lương củanhững người lao động ở Hàn Quốc được nâng cao Chính phủ Hàn Quốc đã chútrọng phát triển các ngành công nghi ệp cần nhiều lao động lành nghề, tăng cườngđội ngũ khoa học bằng cách đẩy mạnh đào tạo kỹ thuật và dạy nghề Tỷ lệ thấtnghiệp của Hàn Quốc đã giảm từ 8,2 % năm 1963 xuống c òn 2,4% năm 1992

Các hình thức bảo hiểm và trợ giúp y tế được mở rộng tới đại đa số nhân dân.Mạng lưới y tế toàn quốc dược cơ cấu lại theo hướng tăng cường sức khỏe cộngđồng Tiếp tục xây dựng các dự án cải thiện chế độ dinh d ưỡng cho những người cóthu nhập thấp, thành lập các phòng khám cho bà mẹ và trẻ em, tổ chức các việndưỡng lão…

Các phúc lợi xã hội khác như bảo vệ các giá trị truyền thống, bảo đảm anninh xã hội, các chương cứu trợ xã hội, chế độ hưu trí… đều trở thành mục tiêu quốcgia nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống ở Hàn Quốc

Thứ ba, đẩy mạnh đầu tư phát triển giáo dục Giáo dục ở H àn Quốc luôn lànhân tố cơ bản, quan trọng trong việc tạo ra nguồn lực cần thiết cho phát triển kinh

tế và khoa học - kỹ thuật Đặc điểm nổi bật của nền giáo dục H àn Quốc thể hiện trênnhững đặc điểm sau:

+ Ngân sách nhà nước dành cho giáo dục thường xuyên chiếm từ 16-20%tổng kinh phí của nhà nước

Trang 22

+ Sáu năm phổ thông cơ sở là bắt buộc và hoàn toàn miễn phí Hiện nay, giaiđoạn bắt buộc được mở rộng 3 năm đối với các tr ường trung học ở các v ùng nôngthôn.

+ Luôn thừa nhận tầm quan trọng của giáo dục tiểu học v à trung học đối vớitriển vọng của tăng trưởng và phát triển kinh của đất nước

+ Hệ thống trường học đa dạng và phong phú ở tất cả các cấp và các lĩnh vựckhoa học tự nhiên và xã hội

Điều đáng lưu ý là để thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, chính phủHàn Quốc đã thiết lập và phát triển hệ thống giáo dục phi chính quy, nghĩa l à xâydựng các chương trình giảng dạy liên tục cho thanh niên và những người vì lý donào đó không được hưởng quyền lợi của một chế độ giáo dục chính quy, hoặc xâydựng các khóa bồi dưỡng kỹ thuật ngắn hạn cho những ng ười đang đi làm Cácchương trình phi chính quy nhìn chung th ường hướng tới mục tiêu xóa nạn mù chữ,giáo dục trẻ em lớn tuổi, bồi d ưỡng kiến thức cho người lớn Hệ thống giáo dụ c củaHàn Quốc bao phủ hết cả nước cả ở vùng sâu, vùng xa Có th ể nói Hàn Quốc đã đạtđược một nền giáo dục to àn diện

1.3.3 Kinh nghiệm Trung Quốc.

Nhờ có quyết tâm đổi mới với những b ước đi và nhiệm vụ cụ thể, trong hơn

20 năm cải cách, mở cửa kinh tế Trung Qu ốc đã phát triển với tốc độ cao Mức tăngtrưởng kinh tế của Trung Quốc 25 năm qua đứng h àng đầu thế giới Trong giai đoạn

1979 – 1998, bình quân GDP t ăng 9,8%/năm Những năm 1997 – 1999, do ảnhhưởng của khủng hoảng t ài chính trong khu vực, mức tăng GDP của kinh tế TrungQuốc có giảm, nhưng vẫn đạt mức trên 7%/năm Năm 2000, ti ếp tục tăng 7,6%, năm

2003 lại tăng ở mức cao 9,15% Trung Quốc đ ã hoàn thành cơ bản mục tiêu đã đặt

ra về phát triển kinh tế theo c ơ chế thị trường và mở cửa với bên ngoài GDP đã tăng

từ 568,9 tỷ nhân dân tệ năm 1979 l ên 11.669,9 tỷ nhân dân tệ năm 2003, trừ yếu tốtrượt giá tăng 8,4 lần Năm 1996, GDP b ình quân đầu người của Trung Quốc đ ãvượt qua 650 USD, thoát khỏi danh sách các nước có thu nhập thấp, chuyển sang

Trang 23

các nước có thu nhập trung bình Năm 2002, GDP bình quân đầu người đạt 1.000USD, năm 2003 đạt 1.090 USD (theo phân loại của ngân hàng thế giới, GDP bìnhquân/người dưới 650USD là quốc gia có thu nhập thấp, từ 650 USD – 2.555 USD làquốc gia có thu nhập trung b ình, từ 2.555 USD – 7.911 USD là quốc gia có thu nhậptrên trung bình).

Trên thực tế, việc ưu tiên quá mức cho tăng trưởng ở Trung Quốc hiện naykhông giải quyết được mọi vấn đề Theo giáo s ư Chi Fulin – Chủ tịch Viện Nghiêncứu và phát triển Trung Quốc, thách thức lớn nhất mà Trung Quốc phải đối mặt hiệnnay là sự mất cân đối ngày càng tăng trong phát tri ển kinh tế và phát triển xã hội, cónguy cơ tiềm ẩn mâu thuẫn xã hội và khủng hoảng xã hội đang cản trở sự phát triểncủa Trung Quốc Điều n ày được biểu hiện cụ thể:

Thứ nhất, do quá ưu tiên tăng trưởng kinh tế, xem nhẹ sự phối hợp phát triểnkinh tế - xã hội, phần lớn nhân dân ít đ ược hưởng lợi tức tăng trưởng kinh tế

Hệ thống chăm sóc sức khỏe v à y tế công cộng hiện đang trong t ình trạngđáng lo ngại Vừa qua, sự lúng túng, bất cập trong phòng chống bệnh SARS đã chothấy điều đó Theo đánh giá của Tổ chức y tế thế giới, chỉ số về chăm sóc sức khỏe

và y tế công cộng của Trung Quốc năm 2001 xếp thứ ba từ d ưới lên trong danh sáchcác nước toàn thế giới Hầu hết số người nghèo và cư dân nông thôn không đ ủ khảnăng chi trả các dịch vụ y tế tư nhân giá cao hiện nay Nhà nước đầu tư cho giáo dụccũng rất thấp, trung bình khoảng 2%GDP, trong khi tỷ lệ n ày ở 120 nước trên thếgiới trung bình là 5% Trung Qu ốc vẫn còn 450 huyện không có khả năng cung cấp

hệ thống giáo dục bắt buộc cho h àng chục triệu người Năm 2002 có tới 20 – 30triệu trẻ em không thể tiếp tục đi học v ì những khó khăn kinh tế Thiếu sự chăm sócsức khỏe và y tế, thiếu điều kiện tiếp cận với giáo dục l àm cho nguồn lực con người

bị giảm sút, cản trở quá tr ình phát triển kinh tế đất nước, nhất là trong giai đoạn hiệnnay, nguồn lực con người giữ vị trí trọng yếu trong phát triển

Thứ hai, sự chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các nhóm x ã hội, cácvùng miền ngày càng tăng Thời kỳ đầu của công cuộc cải cách, Trung Quốc thực

Trang 24

hiện chính sách cho phép một bộ phận dân c ư và một số khu vực giàu lên trước,nhằm mục đích giải phóng năng lực sản xuất v à khả năng sáng tạo của lực l ượng sảnxuất Thực hiện chính sách n ày là tất yếu để thúc đẩy tăng tr ưởng kinh tế Tuy vậy,

do thiếu quan tâm cải thiện điều kiện sống v à lao động cho các vùng nghèo, nhữngngười nghèo, đến nay tình trạng phân hóa giàu nghèo quá lớn đe dọa sự ổn định v àphát triển của Trung Quốc Ch ênh lệch về thu nhập giữa các tỉnh bờ biển miền Đông– Nam với các tỉnh miền Tây l ên tới 6 lần Sự cách biệt ng ày càng tăng giữa thànhthị và nông thôn về thu nhập, về cung cấp dịch vụ công, về năng suất lao động hiệnđang là trở lực lớn đối với quá tr ình phát triển lực lượng sản xuất và tiến bộ xã hội.Mức độ tiêu dùng của cư dân nông thôn hiện thua kém 6 lần so với c ư dân thành thị

Hệ số Gini của Trung Quốc năm 2002 đ ã lên đến 0.5 Theo ước tính của Ngân hàngThế giới, có khoảng h ơn 100 triệu dân Trung Quốc đang sống dưới mức nghèo,phần lớn trong số họ là nông dân đang sống ở các tỉnh miền Tây v à các nhóm dântộc ít người

Sự phân biệt giàu – nghèo ngày càng sâu s ắc do nhóm người nghèo mặc dù

có quy mô dân số đông nhưng không có khả năng tự bảo vệ lợi ích của m ình Nếu sốngười nghèo vẫn chiếm tỷ lệ cao nh ư hiện nay tất yếu dẫn đến ti êu dùng xã hộigiảm, ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế, mặt khác c òn tích tụ những rủi ro vềmặt xã hội

Đồng thời, với nỗ lực tăng tr ưởng kinh tế cao, Trung Quốc đ ã đi sâu cải cáchnền kinh tế theo hướng hoàn thiện thể chế kinh tế thị tr ường, đa dạng hóa sở hữu,phát triển các thành phần kinh tế theo hướng tăng tính cạnh tranh v à hiệu quả, tỷtrọng kinh tế nhà nước giảm xuống đáng kể, nh ưng chưa có giải pháp tích cực giảiquyết việc làm cho số lao động bị mất việc ở khu vực n ày, nên nạn thất nghiệp tăngcao Theo đánh giá của nhiều nhà phân tích Trung Quốc, ở thành thị hiện tỷ lệ thấtnghiệp vào khoảng 8 - 10%, ở nông thôn khoảng 150 triệu dân có rất ít hoặc không

có việc làm Lực lượng đông đảo này sẽ di cư ra các thành phố lớn, gây áp lực vềviệc làm cũng đang gay gắt ở các v ùng đô thị Người dân không cảm thấy an to àn

Trang 25

trước sự tăng trưởng kinh tế, bởi bản thân họ cũng nh ư tương lai con cái h ọ rất khókiếm được việc làm, trong khi đó giá cả sinh hoạt, dịch vụ tăng cao Nạn thất nghiệpcao, một mặt dẫn đến giảm cầu về sản phẩm h àng hóa, ảnh hưởng xấu đến sản xuất;mặt khác gây bất ổn x ã hội Đình công, biểu tình ngày càng diễn ra thường xuyênhơn trong các xí nghi ệp, có khi lên đến hàng chục nghìn người, gây tác động tiêucực đến tăng trưởng kinh tế.

Tình trạng môi trường sinh thái xấu đi đồng nghĩa với những tổn thất về thi êntai tăng lên Trong nh ững năm 90 của thế kỷ XX, thiệt hại về kinh tế của TrungQuốc do thiên tai chiếm 3 – 5% GDP Khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên,hủy hoại môi trường sống không chỉ gây ra sự mất cân bằng trong hiện tại, m à còncướp đi nguồn sống của các thế hệ t ương lai, cản trở sự phát triển bền vững của đấtnước

Thực tế cho thấy Trung Quốc đang đứng trước nhiều thách thức đối với quátrình phát triển kinh tế - xã hội tiếp theo, đặc biệt mâu thuẫn ng ày càng nghiêmtrọng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Từ đầu năm 2004, Trung Quốc

đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm giảm bớt những mâu thuẫn này với những hướng

cơ bản: chuyển từ chính sách ưu tiên cao độ cho tăng trưởng kinh tế sang ưu tiênđảm bảo công bằng xã hội, thực hiện phát triển h ài hòa giữa tăng trưởng kinh tế vàcông bằng xã hội; rút ngắn khoảng cách thu nhập giữa các v ùng miền, giữa nôngthôn và thành thị; thực hiện chiến lược phát triển bền vững; đảm bảo sự phát triểnhài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển dân số, t ài nguyên, môi trường…Từthực tế của Trung Quốc trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng tr ưởng kinh tế

và công bằng xã hội gợi mở những bài học đối với các nước trong đó có Việt Namchúng ta

Trang 26

Kết luận chương 1:

Kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ v à công bằng xã hội là một chủtrương lớn của Đảng và Nhà nước ta xuyên suốt thời kỳ đổi mới Một số mô hìnhphát triển kinh tế của các nước đã cho thấy việc kết hợp mục ti êu tăng trưởng kinh tếvới thực hiện tiến bộ v à công bằng xã hội là một tất yếu khách quan

Tuy nhiên, trên thực tế, không phải lúc n ào tăng trưởng kinh tế và tiến bộ,công bằng xã hội cũng đồng thuận với nhau Để có thể duy trì tốc độ tăng trưởngcao, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng tr ưởng kinh tế với công bằng x ã hội, cầnphải đánh giá đúng thực trạng của nền kinh tế, vạch ra những yếu kém, bất cập còntồn tại từ đó đề ra những giải ph áp cụ thể để khắc phục

Trang 27

CHƯƠNG 2

MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI TIẾN BỘ

VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Ở VIỆT NAM : THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA.

2.1 Một số thành tựu về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trong thời kỳ

đổi mới.

2.1.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao v à toàn diện.

Đối với Việt Nam, tăng tr ưởng kinh tế có vai trò rất quan trọng không chỉ doxuất phát điểm của nước ta còn thấp, phải tăng trưởng nhanh để chống nguy c ơ tụthậu xa hơn về kinh tế, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, mà nó còn

là tiền đề để thực hiện nhiều mục ti êu kinh tế - xã hội khác như chống lạm phát,giảm thất nghiệp, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu ngân sách, phát triển giáodục, y tế, văn hóa, xóa đói giảm nghèo Với ý nghĩa này, những thành tựu về tăngtrưởng kinh tế của Việt Nam trong những thập kỷ qua l à rất đáng tự hào, cả trong sosánh với giai đoạn trước đổi mới lẫn trong so sánh với các n ước trong khu vực vàtrên thế giới

So với các thời kỳ 1976-1985 (đạt khoảng 2%/năm), 1986 -1990 (xấp xỉ3,9%/năm), thì tốc độ tăng trưởng bình quân năm thời kỳ 1991-1995 (8,2%), 1996-

2000 (7,0%), 2001-2005 (7,5%)

Thời kỳ 1991-1995 thể hiện những bước chuyển đầu tiên của nền kinh tếsang cơ chế thị trường Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh phát triển mạnh mẽ , đưanền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng, đạt đỉnh điểm v ào năm 1995 (9,54%) S ự tăngtrưởng nhanh trong giai đoạn n ày là do tác động của nhiều cải cách lớn như: banhành và sữa chữa nhiều bộ luật có li ên quan đến ngân sách nhà nước, doanh nghiệpquốc doanh và ngoài quốc doanh, tín dụng và ngân hàng, khuyến khích đầu tư trong

và ngoài nước, mở rộng các quan hệ th ương mại và tài chính với cộng đồng quốc tế

Trang 28

thông qua đàm phán và t ự do hóa cao hơn Nhìn chung giai đoạn này đã xây dựngnền móng cơ sở cho cơ chế thị trường phát triển những năm sau đó.

Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam qua các năm

Đơn vị: %

Nguồn: Niên giám Thống kê qua các năm.

Thời kỳ 1996-2000 là khoảng thời gian tốc độ tăng tr ưởng kinh tế có chiềuhướng đi xuống, do tác đ ộng của cuộc khủng hoảng t ài chính - tiền tệ Châu Á Đây

có thể coi là thách thức đầu tiên đối với nền kinh tế thị tr ường non trẻ ở Việt Nam.Nền kinh tế Việt Nam tuy không chịu ảnh h ưởng trực tiếp do có mức kiểm soát tàikhoản vốn cao, nhưng việc nguồn vốn FDI suy giảm v à sự cạnh tranh ngày càngkhốc liệt trên các thị trường xuất khẩu thực sự tác động tiêu cực đến nền kinh tế.Tốc độ tăng trưởng giảm đáng kể trong giai đoạn n ày từ 8,2% năm 1997 xuống4,8% năm 1999

Thời kỳ 2001-2005, sau khi cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu Á đãlắng xuống, cùng với các chương trình cải cách hướng vào cải tổ cơ cấu kinh tế, baogồm thúc đẩy phát triển khu vực ngo ài quốc doanh và cổ phần hóa các doanh nghiệpnhà nước, sự gia tăng số lượng các doanh nghiệp ngo ài khu vực nhà nước vừa huyđộng được tiết kiệm trong dân c ư, vừa tạo động lực cạnh tranh trong nền kinh tế.Khu vực kinh tế nông nghiệp v à nông thôn cũng có những bước chuyển mạnh mẽ

Trang 29

dưới tác động của các chính sách phát triển kinh tế trang trại và cải cách phân phốisản phẩm Tất cả những thay đổi n ày đưa nền kinh tế trở lại đà tăng trưởng.

Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng tr ưởng khá trong giai đoạn tiếp theo Năm

2006, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt 8,17% Trong bối cảnh phảiđương đầu với rất nhiều khó khăn, năm 2007, nền kinh tế Việt Nam vẫn đạt tốc độtăng trưởng 8,48% Đây được cho là một thành công rất lớn của đất nước

2.1.2 Chiến lược xóa đói giảm nghèo được thực hiện tốt.

Xóa đói, giảm nghèo đã trở thành một phong trào rộng khắp trong cả nước

Sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, nỗ lực, quyết tâm của các bộ, ng ành, địa phươngcùng với sự tham gia, hưởng ứng của các tổ chức x ã hội, doanh nghiệp, đông đảotầng lớp nhân dân, đặc biệt, phong tr ào ủng hộ người nghèo, quỹ vì ngườinghèo,…đã góp phần quan trọng thực hiện th ành công các chương tr ình giảm nghèo

Trong 2 năm 2006-2007, tổng kinh phí từ ngân sách Trung ương để thực hiệncác dự án của Chương trình giảm nghèo là 344,4 tỉ đồng, cùng với nguồn kinh phícủa địa phương và huy động trong nước, quốc tế đã tạo ra nguồn lực to lớn để tổchức thực hiện đồng bộ ch ương trình trên phạm vi cả nước: cho vay ưu đãi 2,866triệu hộ nghèo; hướng dẫn cách làm ăn cho 1,330 triệu lượt người nghèo; hỗ trợ đầu

tư xây dựng 347 công trình kết cấu hạ tầng cho 157 x ã đặc biệt khó khăn bãi ngangven biển, hải đảo; cấp thẻ bảo hiểm y tế cho khoảng 29 triệu l ượt người nghèo; 4,7triệu lượt học sinh nghèo được miễn giảm học phí; 230 ng àn hộ nghèo được hỗ trợ

về nhà ở từ các nguồn kinh phí trợ giúp người nghèo về nhà ở

Triển khai Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khănvùng đồng bào dân tộc và miền núi (Chương trình 135 giai đoạn 2), trong 2 năm2006-2007, ngân sách nhà nư ớc đầu tư cho chương trình 3.483 tỉ đồng cùng vớinguồn huy động từ các nh à tài trợ quốc tế và ngân sách địa phương, đóng góp củanhân dân, doanh nghiệp đã tạo nguồn lực to lớn để thực hiện ch ương trình Các địaphương đã đầu tư xây dựng 8.413 công trình hạ tầng, tạo ra năng lực mới phục vụsản xuất và đời sống của nhân dân, góp phần l àm thay đổi bộ mặt nông thôn miền

Trang 30

núi Theo báo cáo của các địa phương, đến nay, 96% xã có đường ô tô đến trung tâm

xã, 97% xã có trạm y tế xã, 84% xã có đủ trường lớp học tiểu học v à trung học cơ

sở, 90% xã có điện lưới quốc gia, 81% xã có công trình thủy lợi nhỏ…Những kếtquả đạt được đã tác động tích cực đến việc phát triển kinh tế - xã hội của các xã đặcbiệt khó khăn, các chỉ ti êu về kinh tế - xã hội chủ yếu đã đạt mục tiêu đề ra, đời sốngcủa đồng bào các dân tộc tiếp tục được cải thiện

Nhờ thực hiện đồng bộ các dự án, chính sách của các ch ương trình giảmnghèo, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm nhanh Hàng năm, hộ nghèo cả nước giảm bình quân3-4%, vượt mức kế hoạch đề ra Theo chuẩn quốc tế, tỷ lệ ngh èo của Việt Nam đãgiảm liên tục từ hơn 60% năm 1990 xuống còn 58,1% năm 1993, 37,4% (1998),32% (2000), 28,9% (2002), 18,1% (2004), 15,47% (2006) và tiếp tục giảm xuốngcòn 14,75% năm 2007 Một số địa phương đã cơ bản xóa hết hộ nghèo theo tiêuchuẩn quốc gia như Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và áp dụng chuẩn nghèo mớicủa địa phương cao hơn từ 1 đến 2 lần chuẩn quốc gia

2.1.3 Thu nhập bình quân đầu người tăng.

Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng lên đáng kể từ 114 USDnăm 1990 lên 397 USD năm 2000, 545 USD nă m 2004, 644 USD năm 2005 và 835USD năm 2007 Theo báo cáo phát tri ển con người năm 2006 của UNDP th ì GDPbình quân đầu người (tính theo PPP) của Việt Nam năm 2004 đạt 2.745 USD, đếnnăm 2005 đạt 3.076 USD

2.1.4 Chỉ số phát triển con ng ười tăng.

Việt Nam được đánh giá là nước tiến nhanh nhất trong các n ước Ðông - Nam

Á (ASEAN) về tăng chỉ số HDI Ðây là bằng chứng và là sự ghi nhận của cộngđồng quốc tế đối với nỗ lực của Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong sựnghiệp phát triển kinh tế gắn liền với s ự quan tâm phát triển con ng ười

So sánh với các nước có cùng trình độ phát triển về kinh tế v à thu nhập, ViệtNam được coi là một thí dụ tiêu biểu cho sự thành công về khả năng cân bằng giữaphát triển kinh tế và phát triển con người Cùng là những nước có chỉ số kinh tế

Trang 31

tương đương, nhưng chỉ số phát triển con người của Việt Nam ở một đẳng cấp khác.Ðạt được thành tựu này là do Ðảng và Nhà nước ta thực hiện nhất quán chủ tr ươnggắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết tốt các vấn đề x ã hội ngay trong từng bướcphát triển, chú trọng nhân tố con ng ười Trưởng Ðại diện UNDP tại Việt Nam , ôngJordan Ryan đánh giá cao nh ững thành công của Việt Nam trong việc bảo đảm côngbằng xã hội, thực hiện tốt công tác xóa đói, giảm ngh èo.

Bảng 2: Chỉ số phát triển con ng ười (HDI) qua các năm c ủa Việt Nam

Báo cáo năm Số liệu năm HDI Xếp thứ/số nước xếp hạng

Nguồn: Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP).

Theo các báo cáo thường niên của UNDP thì chỉ số HDI của Việt Nam đ ãtăng liên tục trong hai thập kỷ qua: từ 0,540 trong báo cáo năm 1995 tăng l ên 0,671

Trang 32

năm 2000 và đạt 0,709 trong báo cáo năm 2006 Năm 2007, VIệt Nam tiếp tục giatăng tiến bộ trong chỉ số HDI.

Theo Báo cáo Phát triển con người 2007-2008 của Chương trình Phát triểnLiên Hợp Quốc công bố tại H à Nội ngày 28/11/2007, thì chỉ số HDI của Việt Nam

là 0,733 đứng thứ 105/177 nước được xếp hạng (tăng 4 bậc so với năm 2006) Sovới các nước trong khu vực, Việt Nam đứn g sau Singapore (25), Thái Lan (78),Philippines (90), đứng trên Indonesia (107), Lào (130), Campuchia (131) , Myanmar(132) Đáng chú ý là Việt Nam đã vượt xa nhiều nước có thu nhập cao hơn trong cáclĩnh vực như tuổi thọ (73,7 tuổi, đứng thứ 56/177 n ước), tỷ lệ biết chữ ở người lớn(90,3%, đứng thứ 57/177 nước) [10, 37]

2.1.5 Hệ thống y tế và chăm sóc sức khỏe có nhiều tiến bộ.

Những kết quả đã đạt được về tăng trưởng kinh tế cũng đã mang lại nhữngthay đổi quan trọng đối với lĩnh vực y tế Hệ thống y tế tạo điều kiện cho tất cảngười dân có nhu cầu đều đ ược thụ hưởng các dịch vụ khám, chữa bệnh ở các bệnhviện công và ngoài công lập Số lượng cán bộ ngành y tế tăng lên nhanh chóng; hệthống bệnh viện, cơ sở y tế đã được trang bị mới máy móc thiết bị khám, chữa bệnh

và mạng lưới y tế được tổ chức rộng khắp tạo điều kiện nâng cao tính b ình đẳngtrong chăm sóc sức khỏe của các tầng lớp dân c ư

Theo số liệu của Tổng cục Thống k ê, số cơ sở khám chữa bệnh công lập năm

1995 là 12.970, năm 2000 là 13.120 , năm 2004 là 13.150; số lượng bác sĩ tính bìnhquân trên 1 vạn dân năm 1995 là 4,3; năm 2000 là 5,0; năm 2004 là 6,1 Nh ờ đó,những chỉ tiêu về sức khỏe của người dân Việt Nam được nâng cao rõ rệt trongnhững năm qua Tuổi thọ bình quân tăng từ 65,2 tuổi năm 1995 lên 73,7 tuổi năm

2007 Tuổi thọ bình quân tăng do nhiều nguyên nhân, trong đó có nh ững nguyênnhân quan trọng liên quan đến các thành tựu y tế và chăm sóc sức khỏe Nhiều mụctiêu đề ra đã đạt được hoặc vượt trội như tỷ lệ trẻ tử vong dưới 5 tuổi từ 8,1% năm

1995 giảm xuống còn 3,15% năm 2005, tỷ lệ trẻ sơ sinh cân nặng dưới 2.500g chỉcòn dưới 5,8% (năm 1997 là 7,97%), tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi còn 25%

Trang 33

(năm 1995 là 38%), tỷ lệ mẹ tử vong sau khi sinh chỉ c òn 85 trên 100 nghìn bà m ẹsinh con, tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ đạt 96,7%

Các chỉ số cơ bản về sức khỏe, dinh d ưỡng và chăm sóc sức khỏe đã phầnnào nói lên được những tác động tích cực về nhiều mặt của tăng tr ưởng kinh tế đếnnâng cao sức khỏe, dinh dưỡng cho người dân Tuy nhiên, lĩnh vực này hiện vẫn cònnhiều khó khăn Tình trạng quá tải của các c ơ sở khám chữa bệnh, đặc biệt là ở cáctrung tâm, các thành ph ố lớn, các tuyến trên còn ở mức rất cao và kéo dài Việcchăm sóc sức khỏe cho người nghèo còn hạn chế, chi phí cho y tế c òn cao, an toànthực phẩm còn thấp, quản lý nhà nước đối với một số lĩnh vực y tế c òn lỏng lẻo

2.1.6 Giáo dục - đào tạo đã đạt được một số thành tựu quan trọng.

Sự tăng trưởng rõ rệt về quy mô ở tất cả các bậc học đ ã làm cho tình hìnhphát triển giáo dục ổn định H ệ thống tổ chức sự nghiệp thuộc ng ành giáo dục vàđào tạo chiếm tỷ trọng cao nhất so với tất cả các ng ành, lĩnh vực khác Các cơ sởgiáo dục phổ thông từ bậc mẫu giáo - mầm non, bậc tiểu học, trung học c ơ sở, trunghọc phổ thông được tổ chức ở tất cả các x ã, phường trong cả nước, có hàng vạntrường với quy mô khác nhau

Năm học 2006-2007, cả nước có 322 trường đại học, cao đẳng, trong đó có

275 trường đại học, cao đẳng công lập v à 47 trường đại học, cao đẳng ngo ài cônglập Hệ trung học chuyên nghiệp có 274 trường, trong đó có 262 tr ường công lập, 12trường ngoài công lập Hệ đào tạo nghề 227 trường, trong đó có 157 tr ường cônglập, 70 trường ngoài công lập

Số lượng sinh viên theo học tại các trường đại học và cao đẳng cũng đangtrong xu hướng gia tăng Niên học 2006-2007, số lượng sinh viên tại các trường đạihọc, cao đẳng lên tới trên 1,5 triệu người, tăng gần gấp đôi so với ni ên học 1999-

2000 (893.754 sinh viên) Điều đáng chú ý là tỷ trọng nữ sinh viên và sinh viênngười dân tộc thiểu số đang gia tăng

Trong những năm gần đây, giáo dục v à đào tạo ở Việt Nam đã có bước pháttriển, góp phần quan trọng v ào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội đất nước Các

Trang 34

cấp trường đều có tiến bộ về mục ti êu, nội dung, chương trình, đa dạng hóa các loạihình đào tạo, đổi mới cơ chế quản lý trường học nhằm phát huy tính chủ động sángtạo của nhà trường; quy định thỏa đáng h ơn trách nhiệm quản lý nhà nước của cáccấp Bộ, ngành và địa phương; áp dụng các cơ chế tài chính, cơ chế quản lý biên chế,

cơ chế tiền lương và thu nhập, để tách quản lý hành chính nhà nước ra khỏi hoạtđộng của các nhà trường theo hướng đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đầy

đủ nhằm nâng cao chất l ượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo, cung cấp nguồn nhânlực tốt hơn cho xã hội

Trong những năm qua, giáo dục và đào tạo vẫn được ưu tiên đầu tư cao cả ởTrung ương và địa phương Từ năm 2001 đến nay, Nh à nước đã dành một tỷ lệ ngânsách đáng kể đầu tư cho GD-ĐT Tỷ lệ chi cho GD-ĐT trong tổng ngân sách nhànước đã tăng từ 15,2% năm 2001 (chiếm 3,01 % GDP) lên đến 18% năm 2005(5,04% GDP) và năm 2006 tăng lên x ấp xỉ 20% Chi ngân sách nh à nước cho giáodục và đào tạo tính trên đầu người tăng từ 149.999đ (11 USD) năm 1998 l ên210.000đ (14 USD) năm 2000, năm 2004 là 352.000đ (23 USD) và năm 2007 là trên700.000đ

Cơ cấu chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo cũng được cải thiệntheo hướng tập trung nhiều h ơn cho các bậc học phổ cập, các v ùng khó khăn, cáclĩnh vực ưu tiên cho đào tạo nguồn nhân lực Chi đầu t ư xây dựng cơ bản cho giáodục so với tổng chi xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách tập trung của Nh à nước đãtăng từ 3,9% năm 1998 lên 10,4% năm 2004; tăng g ấp 4 lần so với giai đoạn 1990 -

1995 và chiếm tỷ trọng cao nhất trong các lĩnh vực x ã hội Chi chương trình mụctiêu quốc gia tăng từ 600 t ỷ đồng năm 2000 lên 1.250 tỷ đồng năm 2004, đã gópphần giải quyết kinh phí cho việc thực hiện các mục ti êu ưu tiên như: đổi mới giáodục, tăng cường năng lực đào tạo nghề, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin

Trang 35

Bảng 3: Chi ngân sách Nh à nước cho giáo dục

Chi tường xuyên cho

giáo dục và đào tạo 12.649 16.906 18.625 27.830 35.007 45.595 55.240Kinh phí chương

Nguồn: Bộ giáo dục và đào tạo [1,61]

Nhiều địa phương, bên cạnh ngân sách trung ương cung cấp còn đầu tư thêm

từ ngân sách địa phương cho giáo dục và đào tạo, đồng thời huy động nguồn lực củanhân dân để tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật nhà trường, đảm bảo chất lượngdạy và học

Đội ngũ cán bộ giáo vi ên ngành giáo dục rất đông đảo, chiếm gần 70% tổng

số cán bộ, viên chức sự nghiệp cả nước Số giáo viên phổ thông đang từng bướcđược chuẩn hóa theo quy định của Luật Giáo dụ c Số lượng của giáo viên đại học vàcao đẳng tăng đều qua các năm Tới năm 2006 -2007, cả nước có 53.518 giáo viênđại học và cao đẳng, tăng trên 1,5 lần so với con số 30.309 giáo vi ên năm 1999-2000

Trang 36

Trong việc thực hiện tư tưởng chỉ đạo xây dựng nền giáo dục toàn dân, vìdân, đã có nhiều chính sách, biện pháp tăng quy mô, mở rộng mạng l ưới trường lớptới xã, đảm bảo cho con em đồng b ào các dân tộc được học tập ngay tại xã, thôn,bản; tăng đầu tư cho các vùng khó khăn, có chính sách h ỗ trợ các đối tượng chínhsách và người nghèo tạo điều kiện cho mọi ng ười được học hành; về cơ bản đãgiúp một bộ phận khá lớn con em các gia đ ình nghèo, diện chính sách được học tập.Riêng ở bậc đại học, số sinh vi ên tuyển hàng năm từ khu vực nông thôn, miền núinhững năm gần đây đều giữ ở mức gần 70% tổng số sinh vi ên, tương ứng với tỷ lệkhoảng 75% dân số sống ở các v ùng này.

Về việc thực hiện các mục ti êu lớn trong chiến lược phát triển giáo dục, đ ã cónhiều địa phương hoàn thành và c ủng cố kết quả xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểuhọc, hoàn thành đúng tiến độ phổ cập trung học c ơ sở theo tiêu chuẩn quốc gia; một

số thành phố như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Tuyên Quang, đã bắt đầu thực hiệnphổ cập giáo dục bậc trung học Số năm đi học b ình quân của một người dân đạtmức 7,3 – mức trung bình của các nước trong khu vực ASEAN B ình đẳng nam, nữ

về giáo dục được đảm bảo Giáo dục v ùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa cótiến bộ rõ rệt Đây là một thành tích lớn được quốc tế thừa nhận trong so sánh vớicác nước có trình độ phát triển kinh tế và thu nhập tương đương

2.1.7 Quá trình đô thị hoá được đẩy mạnh.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa v à đô thị hóa là con đường phát triển của mọiquốc gia trên thế giới Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia tr ên thế giới cho thấy,công nghiệp hóa, hiện đại hóa v à đô thị hóa là nhân tố quyết định làm thay đổi cănbản phương thức sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống,tiểu nông sang phương thức sản xuất mới, hiện đại, do đó cũng l àm thay đổi nộidung kinh tế - xã hội nông thôn Trong quá trình công nghi ệp hóa, hiện đại hóa, tiếntrình phát triển xã hội đã có sự thay đổi cơ bản đó là: i) phát triển đô thị kèm theo sựthu hẹp xã hội nông thôn; ii) làm thay đổi căn bản xã hội nông thôn theo hướng côngnghiệp

Trang 37

Đối với nước ta, 80% dân cư sống ở nông thôn và khoảng 60% lực lượng laođộng làm việc trong khu vực nông nghiệp, muốn trở th ành nước công nghiệp theohướng hiện đại như mục tiêu Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đề ra, thì con đườngduy nhất là phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Công nghiệp hóa, hiện đạihóa ở nước ta cũng đi liền với quá tr ình đô thị hóa, quá trình nâng cấp, phát triển hệthống kết cấu hạ tầng v à các công trình phục vụ lợi ích cộng đồng, lợi ích quốc gia.Tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa càng nhanh thì trình độ đô thị hóa càng cao,

hệ thống kết cấu hạ tầng v à các công trình công cộng càng đồng bộ, hiện đại

Thực tế ở nước ta, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đang diễn ra với quy

mô lớn và tốc độ nhanh Theo Phó chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, Phạm SĩLiêm, năm 2007 cả nước đang có 729 đô thị bao gồm hai đô thị đặc biệt l à TP HCM,

Hà Nội Bốn đô thị loại 1 l à Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, và Huế; 13 đô thị loại 2;

36 đô thị loại 3; 39 đô thị loại 4 v à 635 đô thị loại 5 Từ năm 1990, đô thị Việt Nammới bắt đầu phát triển Từ đó đến nay, đặc biệt l à vài năm trở lại đây tốc độ đô thịhóa càng diễn ra nhanh chóng Theo số liệu thống kê của Vụ Kiến trúc Quy hoạchXây dựng (Bộ xây dựng), tốc độ đô thị hóa của Việt Nam tăng mạnh, tỉ l ệ đô thị hóanăm 1989 là 18,5% năm 1999 là 23,6%, năm 2004 là 25,8%, năm 1999 đạt 23,6%đến năm 2006 đạt 27%, dự báo năm 2010 sẽ tăng l ên 33% và đến năm 2025 sẽ đạtđến 45% Riêng hai thành phố loại đặc biệt: Hà Nội dự kiến tỷ lệ đô thị hóa đạt 30 -32% năm 2010 và 55-62,5% trong năm 2020 và dân s ố đô thị đến năm 2010 l à 3,9 -4,2 triệu người, năm 2020 là 7,9 - 8,5 triệu người; tại Tp.HCM, tỷ lệ đô thị hóa đạtcao nhất so với cả nước, dự kiến năm 2010 đạt 58% v à 2025 đạt 77- 80%

Với dân số đô thị năm 2010 l à 10 triệu người, đến 2025 là 16-17 triệu người,Tp.HCM sẽ đứng trong hàng ngũ các thành phố có dân số lớn hơn 10 triệu ngườicủa thế giới

2.2 Những hạn chế trong quá trình thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn với tiến

bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay.

Trang 38

Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn vềkinh tế, xã hội, tốc độ tăng trưởng luôn đạt mức 7-8%/năm, thuộc nhóm những nước

có tốc độ tăng trưởng cao trên thế giới; những thành tựu về tăng trưởng kinh tế cũng

đã góp một phần lớn vào việc thực hiện các mục ti êu xã hội, phát triển con người.Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu thì vẫn còn một số vấn đề còn tồn tại khiếncho việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng tr ưởng kinh tế với tiến bộ v à công bằng

xã hội gặp nhiều khó khăn, hạn chế

2.2.1 Yêu cầu nền kinh tế phải tăng tr ưởng cao, bền vững nh ưng thực tế chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp.

- Hiệu quả sử dụng vốn thấp.

Năng lực sản xuất của vốn đầu t ư đang giảm thấp đến mức báo động Hệ sốICOR có xu hướng tăng trong giai đoạn 1991-2005 và thể hiện tính chu kỳ rõ rệtcùng với tăng trưởng kinh tế Sự gia tăng đột ngột của hệ số ICOR trong các năm1998-2000 phản ánh những yếu kém nội tại của nền kinh tế v à tác động xấu củacuộc khủng hoảng tài chính châu Á

Bảng 4: Hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 1991 -2005

GDP

ICOR Năm

Tăng trưởng

Trang 39

vòng 15 năm, hệ số ICOR đã tăng 1,6 lần Chưa kể có thời điểm, hệ số ICOR l ên tới6,5 (năm 1999) Tính chung hệ số ICOR của Việt Nam trong thời kỳ 1991 -2007 là4,86 lần.

- Tỷ lệ thất nghiệp còn cao.

Ở nước ta, nguồn thu nhập chủ yếu của các hộ dân c ư là từ lao động, vì vậy,việc quan tâm giải quyết vấn đề việc l àm là một trong những nhân tố c ơ bản để tăngtrưởng và thực hiện công bằng xã hội Giải quyết việc làm theo mục tiêu gắn tăngtrưởng kinh tế với công bằng x ã hội là việc mở rộng điều kiện, c ơ hội tham gia vàocác hoạt động sản xuất, kinh doanh, tăng thu nhập v à mức sống cho người lao động

Hiện nay, vấn đề lao động, việc l àm đang là một vấn đề nan giải ở n ước ta.Tình trạng thiếu việc làm ngày càng tăng, t ỷ lệ thời gian sử dụng lao động thấp, thunhập của người lao động không cao Nhữ ng điều đó đã tác động mạnh tới mọi mặtcủa đời sống xã hội

Theo số liệu của Tổng cục Thống k ê, số lao động đang làm việc tại thời điểm1-7 hàng năm qua các năm là:

Bảng 5: Số lao động đang l àm việc tại thời điểm 1-7 hàng năm qua các năm

Trang 40

Về thời gian sử dụng lao động v à tỷ lệ thất nghiệp:

Bảng 6: Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực th ành thị phân theo vùng

Nguồn: Niên giám Thống kê các năm

Nguồn: Niên giám Thống kê các năm

So sánh giữa các tỉnh, thành phố cho thấy, nơi nào có trình độ phát triển càng caothì tỷ lệ thất nghiệp càng cao Tiêu biểu là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh

Ngày đăng: 07/08/2017, 11:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam qua các năm - Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ở việt nam trong thời kỳ đổi mới
Bảng 1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam qua các năm (Trang 28)
Bảng 2: Chỉ số phát triển con ng ười (HDI) qua các  năm c ủa Việt Nam Báo cáo năm Số liệu năm HDI Xếp thứ/số nước xếp hạng - Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ở việt nam trong thời kỳ đổi mới
Bảng 2 Chỉ số phát triển con ng ười (HDI) qua các năm c ủa Việt Nam Báo cáo năm Số liệu năm HDI Xếp thứ/số nước xếp hạng (Trang 31)
Bảng 3: Chi ngân sách Nh à nước cho giáo dục - Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ở việt nam trong thời kỳ đổi mới
Bảng 3 Chi ngân sách Nh à nước cho giáo dục (Trang 35)
Bảng 4: Hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 1991 -2005 - Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ở việt nam trong thời kỳ đổi mới
Bảng 4 Hệ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 1991 -2005 (Trang 38)
Bảng 5: Số lao động đang l àm việc tại thời điểm 1 -7 hàng năm qua các năm - Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ở việt nam trong thời kỳ đổi mới
Bảng 5 Số lao động đang l àm việc tại thời điểm 1 -7 hàng năm qua các năm (Trang 39)
Bảng 6: Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực th ành thị phân theo vùng - Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ở việt nam trong thời kỳ đổi mới
Bảng 6 Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực th ành thị phân theo vùng (Trang 40)
Bảng 7: Tỷ lệ thất nghiệp ở một số th ành phố - Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ở việt nam trong thời kỳ đổi mới
Bảng 7 Tỷ lệ thất nghiệp ở một số th ành phố (Trang 40)
Bảng 8: Tỷ lệ thời gia n làm việc được sử dụng của lao động trong độ tuổi ở khu - Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ở việt nam trong thời kỳ đổi mới
Bảng 8 Tỷ lệ thời gia n làm việc được sử dụng của lao động trong độ tuổi ở khu (Trang 41)
Bảng 10: Chỉ tiêu thực tế sử dụng nước của một số ngành công nghiệp VN. Ngành Mức độ tiêu hao nước trên 1 đơn vị sản phẩm (m 3 ) - Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ở việt nam trong thời kỳ đổi mới
Bảng 10 Chỉ tiêu thực tế sử dụng nước của một số ngành công nghiệp VN. Ngành Mức độ tiêu hao nước trên 1 đơn vị sản phẩm (m 3 ) (Trang 43)
Bảng 11: Chỉ tiêu thực tế tiêu hao năng lượng của một số ng ành - Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ở việt nam trong thời kỳ đổi mới
Bảng 11 Chỉ tiêu thực tế tiêu hao năng lượng của một số ng ành (Trang 44)
Bảng 12: Mối quan hệ giữa tăng tr ưởng kinh tế v à lạm phát ở Việt Nam - Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ở việt nam trong thời kỳ đổi mới
Bảng 12 Mối quan hệ giữa tăng tr ưởng kinh tế v à lạm phát ở Việt Nam (Trang 51)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w