1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Kiểm soát những tác động của sự dịch chuyển đất trong xây dựng hầm đô thị

16 230 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 442,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY DỊCH CHUYỂN ĐẤT TRONG KHI ĐÀO Các nguyên nhân gây dịch đất ngoài phạm vi hố đào có thể phân làm hai loại chung: 1 Biến dạng của các thành phần của hệ chống vách.. Sự

Trang 1

Nguyễn Đức Toản, June 2001

Kiểm soát những tác động của sự dịch

chuyển đất trong xây dựng hầm đô thị

Tác giả: Brian Brenner, David L Druss & Beatrice J Nessen

Tư vấn Bechtel/Parsons Brinckerhoff, Boston, Massachusetts, USA

Biên dịch: KS CN Nguyễn Đức Toản

Bài đã đăng trên Tạp chí Cầu Đường Việt Nam tháng 6 năm 2001

Tóm tắt: Tham luận này nhìn lại các vấn đề quản lý và

kỹ thuật liên quan đến xây dựng gây ra sự di chuyển đất

trong quá trình đào hầm trong thành phố

1 GIỚI THIỆU

Các kỹ sư và nhà quy hoạch ở Bostơn (Mỹ) hiện đang

làm việc tại một trong những công trình hầm khó khăn

nhất đất nước Dự án khổng lồ Hầm/Đường trục chính

Trung tâm bao gồm xây dựng một hầm ngầm cao tốc

8-10 làn qua trung tâm lịch sử, đông đúc của Boston,

cùng với xây dựng một công trình vượt cảng mới có các

đường dẫn và các giao cắt phức tạp

Vấn đề "địa hình khó khăn" được đề cập bởi bài báo

này liên quan tới nhiều thách thức về mặt tổ chức và kỹ

thuật gặp phải khi xây dựng một hầm sâu theo phương

pháp đào-và-lấp qua khu đô thị đông dân Những điểm

bàn đến bao gồm các tác động gây bởi việc đào hầm ở

khu buôn bán kinh doanh của Bôxtơn

Các nhà thiết kế và các nhà thầu thi công phải làm việc

trong điều kiện hạn chế: một mặt phải thoả mãn các chủ

tài sản kế bên và nhiều tổ chức khác, vì họ yêu cầu việc

xây dựng không được gây ra bất cứ hậu quả nào cho

xung quanh, mặt khác thực tế xây dựng dự án lại khó có

thể cho phép tiến hành mà không gây ra một sự xáo

trộn nào Các vấn đề được đề cập bao gồm:

• Xem xét các phương pháp dự đoán chuyển dịch đất

do đào và tác động của nó tới các công trình kế cận

• Phương pháp thi công làm giảm nhẹ sự chuyển dịch

đất

• Các vấn đề liên quan đến việc kiểm soát dịch đất hố

đào và các tác động của nó

Một phần bài báo nói về cơ cấu tổ chức của dự án

Hầm/Đường trục chính Trung tâm, có thể được mô tả

như sau:

Dự án được thiết kế và thi công bởi Phòng Đường bộ Massachusetts (PĐM) Vốn đầu tư cho hầu hết các phần của dự án được cấp bởi Cục Đường bộ Liên bang theo Đạo luật Đường bộ Liên bang Nghĩa là Chính phủ Liên bang cấp 90% vốn thiết kế và thi công trong khi đó Cộng đồng Massachusetts lo phần còn lại

PĐM đã thuê liên doanh Bechtel/Parsons Brinckerhoff làm Tư vấn giám sát, chịu trách nhiệm thiết kế sơ bộ, duyệt thiết kế cuối cùng, và giám sát xây dựng Việc thiết kế cuối cùng của nhiều đoạn tuyến hầm được thực hiện bởi hơn 20 nhà Tư vấn Thiết kế Đoạn tuyến (TVTKĐT) Công việc của họ được kiểm tra và điều phối bởi Bechtel/Parsons Brinckerhoff Ngoài ra, còn

có bốn nhà Tư vấn Địa chất Khu vực (TVĐCKV) được giao nhiệm vụ lấy mẫu đất, thử vật liệu, và lập báo cáo

kỹ thuật chi tiết khuyến cáo các nhà thiết kế cuối cùng

về các vấn đề địa chất Mỗi một nhà TVTKĐT đối với các hợp đồng hầm tuyến chính đều có một nhóm các hãng thiết kế, trong số đó nhiều hãng có tư vấn địa chất riêng của họ

Chúng ta hãy bắt đầu bằng việc xem xét các nhân tố đa dạng gây trượt đất khi đào

2 CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY DỊCH CHUYỂN ĐẤT TRONG KHI ĐÀO

Các nguyên nhân gây dịch đất ngoài phạm vi hố đào có thể phân làm hai loại chung:

1) Biến dạng của các thành phần của hệ chống vách 2) Biến dạng của đất do do tương tác của khối đất xung quanh và nước ngầm đối với các hoạt động đào

Để đơn giản, hai loại này sẽ được gọi tương ứng là biến dạng trong và biến dạng ngoài

Trung tâm Nghiên c ứ u và Ứ ng d ụ ng K ỹ thu ậ t Xây d ự ng (CERA) - Đạ i h ọ c SPKT TP HCM S ố 1 Võ V ă n Ngân - Q Th ủ Đứ c - TP HCM

Trang 2

Nguyễn Đức Toản, June 2001 Nguồn biến dạng bên trong chủ yếu liên quan đến sự

làm việc của hệ tường chắn Trong quá trình đào, tường

bị biến dạng uốn giữa các điểm gối và như một

công-xon ở phía trên điểm gối trên cùng Các thanh giằng

chịu kéo, hoặc các thanh chống chịu nén Nguyên nhân

biến dạng ngoài liên quan tới sự làm việc của toàn bộ

khối đất và kết quả của sự cố kết

2.1 Nguồn biến dạng trong

Áp lực ngang Độ lớn của áp lực ngang - áp lực đất và

áp lực thủy tĩnh - tác động lên hệ chống là một nhân tố

quan trọng ảnh hưởng đến dịch đất khi đào Trong bài

báo này, hệ chống bao gồm các tường, các bộ phận liên

kết và các thanh giằng

Lý thuyết áp lực ngang của đất là một chủ đề cho các

nghiên cứu rộng rãi trong vài thập kỷ qua Nhiều

phương pháp tính áp lực đất đã được đưa ra Song

không thể coi một lý thuyết đơn lẻ nào là chính xác, vì

tính không đồng nhất của khối đất (giữa các điều kiện

mô hình hóa và thực tế), và vì không thể đo áp lực đất

với sự chính xác đầy đủ trong quá trình xây dựng Hơn

nữa, các điều kiện địa chất liên quan tới sự thấm nước

ngầm, và độ lớn áp lực thủy tĩnh của nó, cũng gây ra

những khó khăn tương tự khi tiến hành mô hình hóa sự

làm việc giữa kết cấu/khối đất

Độ lớn áp lực đất nói chung tỷ lệ nghịch với cường độ

đất, đặc biệt là khi sử dụng các thông số Coulomb và

Rankine

Lịch sử hình thành ứng suất của khối đất cũng ảnh

hưởng đến độ lớn của các hệ số áp lực đất ngang, đặc

biệt là đối với đất sét

Độ lớn áp lực đất tỷ lệ lớn với mức độ đàn hồi của hệ

tường chống Đối với một hệ chống không đàn hồi về

mặt lý thuyết, thông số dừng Ko (góc ma sát của các vật

thể rời - N.D) áp dụng để tính toán áp lực đất Tuy

nhiên, khi hệ chống bị biến dạng đàn hồi, hệ số áp lực

đất tiến tới trị số âm, hay là điều kiện Ka Nói chung sẽ

là không thực tế nếu thiết kế một hệ chống tạm không

đàn hồi Việc thiết kế với điều kiện dừng, do đó, thường

được áp dụng khi thiết kế các kết cấu dùng lâu dài Tuy

vậy, trong khi thực tế thì ta có thể chờ đợi một hệ chống

tạm thời tương đối cứng, nhưng có thể cần phải áp dụng

một hệ số áp lực đất nằm giữa giá trị dừng và điều kiện

chủ động Việc quyết định giá trị một hệ số như vậy đòi

hỏi có sự xem xét kỹ lưỡng

Trong trường hợp dùng tường chống không thấm, áp

lực thủy tĩnh có thể lớn hơn áp lực đất Do đó, sự phân

bố áp lực thủy tĩnh dọc theo chiều dài tường chắn có

ảnh hưởng lớn đến toàn bộ hợp lực tác dụng lên tường

chắn Dạng biểu đồ áp lực thủy tĩnh được quy định bởi khả nămg thấm của tường chắn và các điều kiện thấm gây ra do sự bơm hút nước trong hố đào Tổ hợp của một tường không thấm và giả thiết không có sự thấm nước vào hố đào sẽ cho ta trường hợp áp lực thủy tĩnh lớn nhất tác dụng lên tường Áp lực sẽ tăng lên tỷ lệ với chiều sâu, từ mực nước ngầm thiết kế tới chân tường Khi giả thiết là có thấm nước, độ lớn phân bố áp lực sẽ giảm đáng kể so với trường hợp có thấm nước, đặc biệt

là khi đào càng sâu Một phân tích về thấm nước có thể được thực hiện để đánh giá phân bố áp lực trạng thái ổn định dọc theo chiều dài tường chắn

Áp lực ngang tác dụng lên hệ chống sẽ gây biến dạng đàn hồi cho các bộ phận của hệ Tường dịch vào trong, gây ra một phạm vi chuyển dịch ngang và đứng của khối đất ngoài hố đào Giai đoạn đầu của hầu hết các hố đào kiểu đào-và-lấp đều làm cho tường bị hẫng công-xon Tình trạng này tồn tại cả trước và sau khi lắp đặt

hệ giằng đầu tiên Ở trạng thái ban đầu, các lớp đất trung gian đóng vai trò là điểm ngàm công-xon Chiều dài có hiệu của công-xon vượt quá chiều sâu đào vì điểm cố định không thể xảy ra tại bề mặt đã đào Chiều sâu ngàm được quy định bởi cường độ đất và độ cứng của tường Sau khi lắp liên kết giằng đầu tiên, chiều dài hẫng giảm đi nhiều Nhưng, độ lún bên ngoài hố đào xảy ra ở giai đoạn trước đó không thể hồi phục được Nghĩa là, trong khi đào theo giai đoạn, độ lún của đất được dần dần tích lũy

Ở các giai đoạn sau của quá trình đào, tường làm việc như một dầm liên tục, các điểm nối thanh giằng được coi là các gối Lúc này biến dạng của tường phần nào trở thành một hệ số của chiều dài nhịp giữa các điểm giằng Về điều kiện hẫng, điều kiện mà ảnh hưởng tới

độ lớn của biến dạng chính là trạng thái tồn tại ngay trước khi lắp thanh giằng, trong đó chiều dài nhịp có hiệu lớn hơn khoảng cách đứng giữa các lớp thanh giằng Kết quả là, đất bị biến dạng dưới đáy hố đào trước khi lớp thanh giằng tiếp theo được lắp ráp Hiện tượng này, trong đó đất nền biến dạng cùng với tải trọng tường, được gọi là "hiệu ứng trồi" và được trình bày kỹ hơn dưới đây

Nói chung có hai loại giằng - trong và ngoài Các thanh giằng trong, thường gồm các thanh chống và bộ phận gia cố ngang, làm việc chịu nén Các thanh giằng ngoài làm bằng các thanh néo (dây néo) hoặc cọc neo và chịu kéo

Các thanh chống ngang biến dạng do co ngắn đàn hồi Biến dạng co ngắn đàn hồi của thanh chống có thể được giảm đi bằng cách gia tải trước (sẽ bàn đến sau) Dù sao thì, co ngắn đàn hồi tính được của một thanh chống thường không thể hiện được phần lớn tổng biến dạng của hệ chống Vì các thanh chống ngang chịu nén,

Trang 3

Nguyễn Đức Toản, June 2001 chúng cần có tiết diện lớn để chống uốn Diện tích mặt

cắt tăng lên sẽ cho ta độ co ngắn tính toán khá bé

Các thanh néo (dây néo) và cọc neo là các dạng giằng

liên kết ngoài Trong vùng nội đô, việc áp dụng các loại

giằng này bị hạn chế vì có xung đột về khoảng trống

với các công trình ngầm hiện có kề cận với tuyến hầm

Cơ cấu cơ bản về gia tải trước và kiểm soát biến dạng là

tương tự với giằng bên trong, mặc dù các thanh giằng

ngoài làm việc chịu kéo hơn là chịu nén Ngoài ra, do

có tiết diện khá nhỏ (cáp), biến dạng đàn hồi có xu

hướng lớn hơn so với các thanh giằng trong

Hiệu ứng trồi Khi thi công hầm theo cách đào-và-lấp

ở nơi đất khả nén, “hiệu ứng phình” thường là nguồn

gây biến dạng duy nhất lớn nhất và khó kiểm soát nhất

Khi lớp đất nền ngay dưới hố đào làm việc như là một

phản lực với tải trọng tường, khối đất này nằm trong

trạng thái nén Tường tác dụng lên nó như một dạng áp

lực đất bị động Kết quả là khối đất biến dạng và làm

cho tường chuyển dịch vào phía trong Độ lún cứ tích

lũy theo quá trình đào vì không thể hồi phục được Tình

trạng trở nên khó giải quyết hơn nếu lớp đất chịu nén

mở rộng tới độ sâu ngoài phạm vi cao độ đào cuối cùng

Các biện pháp để hạn chế biến dạng này có những hạn

chế tại những độ sâu mà tại đó chúng vẫn còn khả thi về

mặt kinh tế và kỹ thuật

2.2 Nguồn biến dạng ngoài

Cố kết do Thấm và Bơm nước Tác động của sự thấm

nước lên áp lực thủy tĩnh đã được trình bày ở trên Tuy

vậy, việc thấm vào hố đào có một tác động trực tiếp hơn

đối với biến dạng ở ngoài phạm vi hố đào Khi lớp đất

nén nằm trong mặt cắt đứng hố đào, lún cố kết sẽ xảy ra

nếu cột áp thủy tĩnh thay đổi Việc thoát nước cho tầng

ngậm nước nông nằm trên lớp đất chịu nén, hoặc sự hạ

áp của tầng thấm được nằm bên dưới lớp đất chịu nén,

đều có khả năng gây ra lún Trong trường hợp đầu, sự

thoát nước gây ra mất mát sức nổi do vậy làm tăng áp

lực thẳng đứng tác dụng lên lớp đất chịu nén Trường

hợp sau tạo ra một gradient thấm hướng xuống dưới, do

đó làm giảm áp lực lỗ rỗng trong lớp đất chịu nén ở

trên

Độ lớn của lún cố kết thực ra là một hàm số của bề dày,

tốc độ cố kết hoặc trương nở, và lịch sử hình thành ứng

suất của lớp đất khả nén; mức độ và hướng của sự tụt

nước ngầm, và tính thấm của tầng ngậm nước đã được

tháo nước

Tháo nước hầu như không thể tránh được khi làm hầm

theo cách đào-và-lấp Rất hiếm trường hợp mà nước

đọng trong hố đào, dù ở bất kỳ giai đoạn thi công nào,

lại được cho phép Việc tháo nước được thực hiện nhờ

đặt các giếng bơm bên ngoài hố đào, hố thu và bơm đặt bên trong hố đào, hoặc áp dụng cả hai Nhưng nếu cần duy trì mực nước ngầm bên ngoài hố đào thì không được phép đặt các giếng bơm bên ngoài

Sự hạ thấp áp suất, một dạng thức tháo khô, được yêu cầu khi cần đề phòng sự nâng thủy tĩnh của cao độ lòng

hố đào Một điều kiện như vậy có thể xảy ra khi một tầng đất tương đối chống thấm nằm trong giới hạn đào được đỡ bởi một tầng tương đối dễ thấm nằm bên dưới Nếu trọng lượng của lớp đất không thấm còn lại nhỏ hơn áp lực thủy tĩnh tác dụng lên đáy lớp, thì sự nâng lên có thể xảy ra Để tránh điều này, phải làm một loạt giếng hạ áp xuyên qua lớp thấm nằm bên dưới để tạo ra

sự giảm áp Dù vậy, nếu các tường hố đào không xuyên sâu tới lớp không thấm nằm bên dưới lớp dễ thấm, việc

hạ áp suất sẽ có tác dụng vượt ra khỏi phạm vi hố đào, như thế gây nên khả năng lún cố kết

Cần lưu ý rằng tốc độ hạ thấp mực nước ngầm trong khi làm hầm không phải luôn luôn làm cân bằng lún bất lợi, đặc biệt là trong nội thành Tầng khả nén có thể đã được tiền cố kết do quá trình hạ mực nước ngầm trong lịch sử hoặc hiện tại đang diễn ra Mực nước ngầm đã

có thể bị nén xuống do các hoạt động xây dựng trước

đó Còn có những lý do khác đang gây ra sự hạ mực nước ngầm trong vùng đã cho, như các hầm nằm bên cạnh, duy trì hoạt động các hố thu nước nền móng, hay các tuyến phục vụ công cộng nằm dưới sâu, tại đó lớp vật liệu móng dạng hạt hoặc đắp trả đã thay thế cho lớp đất ít thấm hơn

Sự ổn định hố đào Khi làm hầm qua đất yếu, một mục

tiêu thiết kế quan trọng là ổn định hố đào Sự ổn định theo nghĩa này nói tới khả năng của hệ tường chắn chống lại sự quay của tường và biến dạng đất tổng thể

đi kèm với các biến dạng cắt quay lớn (hay sự phá hỏng cắt) của đất Biến dạng gây ra từ tình huống như vậy có

xu hướng phát triển theo chiều đi xuống (lún), bên ngoài và lên trên (bùng nền) trong phạm vi hố đào Hình dạng của hố đào và hệ tường chắn cần phải thỏa mãn hai chế độ ổn định Hố đào phải được thiết kế với

hệ số an toàn đủ để chống lại sự bùng nền Bài toán này

đã được Terzaghi phân tích (năm 1949) và sau đó được cải tiến bởi Bjurrum và Eide (1956), được minh họa như Hình 2 Hệ số an toàn cho chế độ này về cơ bản là một hàm số của cường độ chống cắt của đất và chiều sâu đào Chiều sâu chân tường dưới cao độ đáy hố đào không ảnh hưởng lớn tới tính ổn định cho tới khi cao độ mũi đạt tới đỉnh của một lớp đất cứng

Trang 4

Nguyễn Đức Toản, June 2001

Điều kiện thứ hai cần phải thoả mãn là ổn định toàn bộ hay tổng thể Ổn định tổng thể, vì phụ thuộc vào trường hợp bùng nền có tính cục bộ hơn, đưa đến việc phân tích các cung trượt bắt đầu từ đáy hố móng, vòng qua dưới chân tường và đi lên cắt mặt đất tại một điểm khá

xa tường chắn (xem Hình 3) Trong trường hợp này cung trượt xảy ra trong một khối đất lớn hơn nhiều so với trường hợp bùng nền mang tính cục bộ hơn

Cả hai điều kiện ổn định trên đều có khả năng gây

biến dạng lớn Ngay cả khi phá hoại không xảy ra, nếu

hệ số an toàn thấp sẽ tạo sự phát triển tương đối lớn

các biến dạng cắt Để giữ cho biến dạng nằm trong

phạm vi chấp nhận được và tránh trượt lớn, điều quan

trọng là phải có các biện pháp thiết kế và đề phòng

thích hợp khi thi công Ví dụ, tại vùng đất sét nhạy

cảm, cần dùng hệ số an toàn lớn hơn so với các trường

hợp tạm thời thông thường, tính tới sự chùng biến

dạng (ứng suất) Trong quá trình xây dựng, các công

việc bên trong hố móng mà có thể gây phá hoại đất nền, chẳng hạn như đóng cọc, cần phải tránh hoặc được kiểm soát cẩn thận

3 CÁC PHƯƠNG PHÁP DỰ ĐOÁN BIẾN DẠNG

Xét các chế độ dịch đất, nhiệm vụ đặt ra là dự đoán nó

sẽ xảy ra ở mức độ nào khi xây dựng hầm Mức độ và

vị trí trượt đất bên ngoài hố đào rất quan trọng, vì nó

2

B

D

2

2

B

Pv

45 D.s

Hình 2 - Sự bùng nền (Bjerrum và Eide, 1956)

Hình 3 - Ổn định tổng thể

Lún mặt

Lớp đất dính

Mặt trượt Thanh neo Tường bị

quay

Trang 5

Nguyễn Đức Toản, June 2001 trực tiếp ảnh hưởng đến các công trình dọc theo dải

đất dành cho tuyến hầm Biến dạng đất quá nhiều hay

tụt mực nước ngầm khá lớn có thể dẫn tới hư hỏng

nghiêm trọng và tính an toàn của các công trình hiện

có Điều này lại càng có ý nghĩa đối với các công trình

lịch sử cũ

Khả năng của chúng ta về dự báo dịch đất đã được

nâng cao rất nhiều nhờ có các mô hình tương tác

đất-kết cấu phức tạp, cùng với các phần mềm và phần

cứng máy tính để thực hiện sự phân tích tính toán

Mặc dù máy tính ngày càng mạnh hơn và các công cụ

tính toán càng chính xác hơn, các dữ liệu về đất mà

các tính toán dựa vào lại có tính tin cậy chưa cao và

không đầy đủ so với bản chất chặt chẽ của các mô

hình toán học

3.1 Kinh nghiệm trước đây

Do thiếu các phương pháp chính xác thích đáng để dự

đoán biến dạng đất, các kỹ sư và nhà quy hoạch phải

dựa vào kinh nghiệm có sẵn để đánh giá sự làm việc

của hố đào Dù sao, tính thích dụng của dữ liệu có sẵn

bị hạn chế bởi các nguyên nhân:

• Các kết quả thực nghiệm từ công trình khác hiếm

khi có sự tương quan trực tiếp với dự án hiện tại

đang đặt ra

• Dữ liệu thực nghiệm đôi khi bao gồm các báo cáo

về biến dạng đất xét đến tất cả các nguyên nhân

Ví dụ, một hố đào có thể đã bị chuyển vị ngang

tường đáng kể bởi vì nhà thầu đã lắp ráp không

chính xác một thanh chống ngang Hầu hết các

báo cáo không phân biệt một cách chi tiết các

nhân tố riêng biệt gây ra biến dạng đất

Do đó, nếu chỉ dựa vào kinh nghiệm trước đó như vậy,

thật khó tiến hành các nghiên cứu thông số để thử

nghiệm các biện pháp khác nhau nhằm hạn chế chuyển

dịch đất

3.2 Các phương pháp bán kinh nghiệm

Các nghiên cứu gần đây đã cố gắng kết hợp kinh

nghiệm có trước với phân tích chung hệ tường và

thanh chống Tác giả Clough và O’Rourke đã đưa ra

một kết quả nghiên cứu, trong đó những quan trắc về

biến dạng của một số hố đào, được lập thành bảng và

so sánh với độ cứng của tường chắn, và tương quan

giữa hệ số an toàn với sự bùng nền Hình 4, lấy từ

nghiên cứu đó, minh họa một vài kết quả từ việc ứng

dụng phương pháp ấy Đối với hố đào trong đất sét

mềm tới cứng vừa, hình vẽ đã so sánh chuyển vị

ngang tường lớn nhất đã tiêu chuẩn hoá với độ cứng

của hệ tường, được tính theo:

4

EI γW

trong đó E là môđun đàn hồi của tường, I là mômen chống uốn, h là khoảng cách trung bình giữa các lớp thanh chống Các đường cong khác thể hiện quan hệ giữa các hệ số an toàn khác nhau với độ bùng nền FS, trong đó FS được định nghĩa là:

Nc s / (γ D + p) với D là chiều sâu hố đào, γ là tỷ trọng đất sét, s là cường độ chống cắt không thoát nước của đất sét tại đáy hố đào, p là tải trọng đất mặt, Nc là hệ số phụ thuộc kích thước hố móng

Nghiên cứu và hình vẽ đi kèm trên đây là kết quả của

sự kết hợp các phân tích tương tác tường-đất với các tính toán chuyển vị tường quan trắc từ các hố đào thực

tế Từ hình vẽ này, có thể rút ra một số điểm về sự làm việc chung của một hệ tường chống hố đào:

• Chuyển vị của tường mềm bị quy định chủ yếu bởi độ cứng của nó Khi tường trở nên cứng hơn,

sẽ có một sự giảm nhỏ chuyển vị tường Điều này

có nghĩa, cách thức quy định biến dạng đất thay đổi từ các tác động lớn về mặt kết cấu của độ cứng

hệ tường đến các tác động lớn về mặt địa chất của

sự chuyển dịch khối đất, tức là "hiệu ứng bùng nền"

• Đối với hệ tường rất cứng, khi thay đổi các bộ phận kết cấu của tường chắn và hệ giằng, sẽ ít có thêm sự giảm nhỏ chuyển vị tường

Phương pháp mô tả bởi Clough và O’Rourke cho ta một cách kết hợp giữa điều tra thực nghiệm có trước với sự phân tích đánh giá của một hố đào nhất định

Dù vậy, vẫn có những hạn chế:

• Một lần nữa, việc xem xét các hố đào trước đó lại

có xu hướng gộp mọi nguyên nhân gây chuyển vị tường Do đó, phương pháp này không phân tích các yếu tố riêng phần như phân kỳ xây dựng, trình

độ tay nghề kém, và các vấn đề dịch tường khác

• Phép phân tích này so sánh dữ liệu hố đào thực tế với các thông số đất nhận được từ sự phân tích ngược từ hình vẽ có một số giả thiết chung về hệ tường chắn hố đào Các giả thiết chung này có thể chưa thích hợp cho mọi loại hố đào Ví dụ, các mô hình có chân tường ăn sâu một khoảng nhất định dưới hố móng đất mềm Không có sự tính đến các trường hợp tường ngàm vào tầng cứng như đá hoặc tảng sét cát cuội lăn do băng tan

Năm 1992, O’Rourke đưa ra cách giải quyết ngàm tường ngăn vào tầng cứng để giải quyết hạn chế trên

Trang 6

Nguyễn Đức Toản, June 2001 Việc dự báo tường sẽ chuyển vị bao nhiêu thực ra chỉ

là một phần công việc Các công trình kế bên bị ảnh

hưởng không chỉ bởi độ chuyển vị tường mà còn bởi

khối đất sẽ dịch chuyển bao nhiều đằng sau tường

Lún lệch là mối quan tâm chính Một tòa nhà có thể

lún đều vài in-sơ và ít bị hư hại Nhưng, lún lệch giữa

các điểm gối móng có thể gây ra ứng suất lớn cho

tường, sàn, dầm và các mối nối kết cấu, sinh ra sự cố

và, trong trường hợp xấu nhất, sụp đổ

Dạng chuyển dịch là một hàm của loại tường chắn,

loại đất và tính phân lớp, các bước thi công và các

nhân tố khác Một điều cũng cần xem xét khi xét sự

ảnh hưởng của dịch đất lên kết cấu hiện có là vị trí và

chiều sâu của các bộ phận nền móng của nó

Các phương pháp bán thực nghiệm hiện có các giả

thiết chung về việc đất dịch chuyển ra sao phía sau

tường chắn Ví dụ, Clough và O'Rourke đề nghị rằng

tỷ số giữa chuyển vị đất thẳng đứng lớn nhất và

chuyển vị ngang tường lấy là 1 Hình 5, nhận được từ

Clough và O'Rourke, tổng kết các dạng lún đề nghị

cho một loạt các điều kiện tổng quát Dựa vào một

chuyển vị ngang tường tính toán được, các hình vẽ

này có thể được dùng để tính ra chuyển vị đứng Các

công trình hiện có dọc theo dải đất dành cho hầm có

thể được thử nghiệm để biết ứng xử của chúng dưới

các độ lún dự báo này

Một lần nữa, về bản chất, phương pháp này lại mang tính tổng quát, và được sinh ra từ việc thống kê nhiều

dự án, với tất cả các chuyển vị được gộp lại với nhau Các tác giả nhận xét rằng các kết quả nên được sử dụng thận trọng

3.3 Phân tích tương tác Kết cấu - đất

Dự báo chuyển vị đất và tường bằng phân tích tính toán kỹ lưỡng là một sự phát triển tương đối mới Các phương trình cần để tiến hành các tính toán đó đã có trong nhiều năm, nhưng chỉ gần đây mới được máy tính cấp cho sinh lực để có được lời giải thực tế Trong thực tế, các ví dụ về loại công việc này bên ngoài giới học viện chỉ có thể tìm thấy trong vòng mười năm trở lại đây với sự bùng nổ máy tính cá nhân và sự phát triển các chương trình phần mềm phân tích tương tác tường-đất để chạy trên chúng

Đối với phân tích này, đất và tường được mô hình hóa như một khối Khối này được phân thành các phần tử riêng rẽ có tính chất đàn hồi hoặc không Dùng phương pháp phần tử hữu hạn hoặc sai phân hữu hạn

để tính toán ứng suất và biến dạng cho mỗi vật liệu trong mô hình Mô hình này sẽ dự báo chuyển vị tường và đất bằng cách tái tạo các trạng thái ứng suất gây bởi quá trình xây dựng

0 0.5 1 1.5 2 2.5 3

EI/yh4: §é cøng hÖ thèng

0.9 1.0 1.1 1.4 2.0 3.0

Hệ số an toàn chống bùng nền

Hình 4 - Đường cong thiết kế cho Chuyển dịch tường lớn nhất

(Clough và O'Rourke, 1990)

10

Trang 7

Nguyễn Đức Toản, June 2001

Việc ứng dụng chương trình SOILSTRUCT là một ví

dụ về phép phân tích này SOILSTRUCT có các mô

hình đàn hồi có sẵn cho tường và các bộ phận liên kết,

quan hệ hyperbolic giữa ứng suất và biến dạng để lập

mô hình làm việc của khối đất, và khả năng tái tạo sự

thi công theo giai đoạn Nhờ đó, các kỹ sư đặt ra các

giả thiết về tiến trình đào, bao gồm chiều sâu mỗi cấp

đào và lắp đặt thanh giằng Mô hình này lần lượt khử

kích hoạt các khối đất và gia tải thêm cho hệ liên kết

Khối đất đằng sau tường tác động lại phương án thi

công đã mô hình hoá dựa trên các tính chất vật liệu

thành phần đã được nhập vào chương trình

Phân tích tương tác đất-tường có các ưu điểm sau so

với phương pháp kinh nghiệm và bán thực nghiệm:

• Phân tích được tùy biến theo hiện trường Không

cần các giả thiết chung

• Có thể tạo các phương án phụ thuộc tham số Ví

dụ, nhà thiết kế có thể thử các kích cỡ và vị trí các

thành giằng bên trong khác nhau, các độ cứng

tường chắn khác nhau, và các thông số khác nhằm

hoàn thiện thiết kế và giảm chuyển vị tường Mô

hình này sẽ dự báo các kết quả cho mỗi điều kiện

riêng biệt

• Phép phân tích tương tác tường-đất sẽ dự báo một

trường biến dạng đất phía sau tường chắn Mức độ

(độ lớn) và vị trí biến dạng đất có thể được xem

xét để biết sự tác động tới công trình thực tế trong

dải đất dành cho hầm Các kết quả chuyển vị có

tính đặc thù hơn này chính là một ưu điểm so với

phương pháp tính toán thực nghiệm và bán thực

nghiệm có tính dè dặt và chung chung

Mặt khác, sự phân tích kỹ lưỡng tương tác tường-đất cũng không phải là phương thuốc bách bệnh khi đánh giá chuyển dịch đất, lý do là vì:

• Mức độ phân tích thường tốt hơn dữ liệu đầu vào của nó Với mục đích đánh giá chuyển vị đất, các thông số địa chất rất khó đo lường với độ tin cậy cao Phương pháp phần tử hữu hạn và sai phân hữu hạn dùng cho mục đích này rất dễ mắc (dễ nhạy cảm với) vấn đề máy tính "rác vào, rác ra"1

• Sự phân tích tương tác tường-đất rất phức tạp và đòi hỏi sự thông dịch cẩn thận Không nghi ngờ gì nữa, các phần mềm tương lai sẽ tân tiến hơn, nhưng quả là ngày ấy chưa đến để có được một sự tính toán tương tác tường-đất theo phương pháp phần tử hữu hạn một cách dễ dàng, không phiền phức

• Mô hình có thể tinh vi hơn, song nó vẫn tiềm ẩn một sự đơn giản hóa toán học so với những gì xảy

ra trong thực tế Thiếu sót điển hình là những xem xét về độ cứng theo chiều dọc (phân tích 3 chiều),

mô hình hóa chính xác sự chùng thanh chống, và các yếu tố khác Có lẽ quan trọng nhất, không ai

có thể đạt tới được sự mô hình hóa một cách hiệu quả cách thức thi công lõng bõng đầy nước Cũng như trong các lĩnh vực khác, sự ngu muội của con người vẫn chưa tìm ra cách biến nó thành các thuật toán toán học

3.4 Phân tích Cố kết

Phần trước đã nói về phân tích hệ tường chống và chuyển vị tường Như chúng ta đã thấy, sự cố kết cũng

1 Dữ liệu vào vô nghĩa hoặc không thích hợp sẽ cho ra kết quả vô nghĩa hoặc không thích hợp - N.D

0 10 20 30 40 50 60

ChiÒu s©u (m)

Hình 5 - Ảnh hưởng của Độ cứng Tường (Rough và O'Rourke, 1990)

Trang 8

Nguyễn Đức Toản, June 2001

có thể gây ra biến dạng lớn phía sau tường chắn

Ngoài độ lún này, tác động của việc bơm nước có thể

làm lộ ra các bộ phận móng mà trước đây chúng nằm

dưới mực nước ngầm Các kết cấu tựa trên móng cọc

gỗ đặc biệt dễ bị hư hại trong mức nước ngầm hạ

xuống Các cọc gỗ lộ ra trong không khí và vi khuẩn

là những nhân tố gây mục nát nhanh chóng và hao hụt

tiết diện

Khi phân tích, cần phân biệt giữa hai loại hệ tường

chống: kín nước và không kín nước Hệ tường như các

cọc chống, cọc ván thép được xem là không kín nước

Các loại tường này cho phép rò rỉ lớn và không tin cậy

khi cần duy trì mực nước ngầm phía sau tường chắn

Các tường vữa và tường bêtông dạng cọc ống chống

được xem là kín nước, mặc dù đây là một thuật ngữ

tương đối vì luôn luôn có một lượng thấm nước nào

đó Trong những vùng nước ngầm cao và cần phải duy

trì trong khi thi công, cần phải định rõ loại tường kín

nước Vấn đề lúc này trở thành đánh giá xem cần phải

tháo nước bao nhiêu cho thi công và nó có hậu quả gì

đối với khu vực bên ngoài hố đào

Để xác định các tác động của sự cố kết bên ngoài hố

đào, cần phân tích dự đoán lượng tháo nước và cố kết

sinh ra Phương pháp cổ điển phải chuẩn bị một phân

tích thấm hai chiều đối với dòng nước bên dưới tường

chắn Phân tích được thực hiện bằng cách vẽ lưới

đường thấm, hay gần đây hơn, nhờ áp dụng các

chương trình phần tử hữu hạn hay sai phân hữu hạn để

giải các phương trình cơ bản của chất lỏng (Brenner,

1984) Sự tụt áp suất cột nước gây ra bên ngoài tường

chắn dẫn tới sự cố kết của một lớp đất khả nén và

chuyển vị do cố kết Đối với phân tích này, một mức

tháo nước ngầm được giả thiết trong lòng hố đào Có

thể thử liên hệ mức nước cần tháo và sự điều chỉnh

tháo nước với sự phân kỳ xây dựng thực tế Tuy nhiên,

sự tinh chỉnh này thường không được dùng đến trong

khi thiết kế vì sự phân kỳ có thể thay đổi khi bắt đầu

thi công

3.5 Các Yếu tố Phân tích Bổ sung

Sự áp dụng Tường Vữa trong Kết cấu Hầm Hoàn

thiện Một xu hướng gần đây trong làm hầm theo lối

cắt-lấp trong thành phố là sử dụng tường chắn như là

một phần của kết cấu vỏ hầm Khi một tường chắn

cứng như tường vữa được lựa chọn vì độ cứng và độ

chống thấm của nó, thì nó cũng được dùng luôn làm

một bộ phận vỏ hầm

Việc dùng tường vây theo cách này gây ra phức tạp

trong tính toán mà đáng lẽ đã không cần xét tới đối với

tường vây tạm thời Hãy xét bài toán tính toán chuyển

vị đất, cũng cần phải tính tới các giai đoạn thi công phụ như việc nối bản đáy với bản nắp Iffland (1980) minh họa một loạt các giai đoạn thi công và áp lực đất sinh ra cho một bài toán hầm giả định Việc chất tải có thể thực hiện lên mô hình kết cấu để dự báo chuyển vị tường Cách tiếp cận khác có thể là tiến hành phân tích đầy đủ tương tác công trình-đất của quá trình thi công phân kỳ Với bài toán này, phần mềm máy tính có thể tính toán tải trọng đất rất hiệu quả trong khi phân kỳ xây dựng Có lẽ không cần thiết phải sử dụng các phép gần đúng cho áp lực đất trong mỗi giai đoạn xây dựng Tuy vậy, các điều kiện trước đó về phân tích tương tác kết cấu-đất vẫn có thể đúng

Trình độ Thi công Kém Khi cố gắng đánh giá

chuyển động đất đằng sau tường chắn hầm, với trình

độ thi công tốt đã là rất khó dự báo chính xác Hầu như là không thể xác định được các tác động của việc thi công tồi Có thể kể ra các mặt thi công kém như:

• Các thanh giằng không liên kết khít khao, hay tiến hành gia tải không đúng cách

• Chậm trễ trong việc lắp ráp hệ thanh giằng, hay đào quá nhiều trước khi lắp thanh giằng

• Tháo hút nước không đúng hoặc quá nhiều

Giai đoạn phân tích dự án thường được dựa vào để cung cấp một "trường hợp cơ sở" cho việc dự báo chuyển vị đất Một cách để đối phó với kỹ thuật thi công kém là dự đoán chuyển vị một cách dè dặt (cẩn trọng) Mặc dầu vậy, không thể quá dè dặt đến mức các kết quả dự báo có thể gây phương hại không cần thiết đến ngân quỹ và tiến độ của dự án Các dự báo về chuyển dịch đất chấp nhận được có xét tới khả năng thi công tồi luôn là một vấn đề gây tranh cãi

Đánh giá các Công trình Hiện có

Việc phân tích sẽ không đầy đủ nếu thiếu một đánh giá về các tác động của chuyển vị đất đối với các công trình lân cận dọc theo tuyến hầm Phân tích về chuyển

vị tường chắn và hố đào sẽ cho phép ta đánh giá được phạm vi chuyển dịch đất sau tường chắn Có thể tác dụng giá trị chuyển dịch này lên mô hình các công trình nhà cửa hiện có để biết trước được hậu quả Ví

dụ, đối với một dạng khung nhà và nền móng nhất định, một số điểm gối nhất định có thể bị uốn dựa vào phân tích chuyển vị tường Do vậy các tác động lên kết cấu nhà cửa có thể được định lượng

Phép phân tích cũng cần xét tới các tác động không dễ định lượng, như điều kiện của một tòa nhà hiện tại mà

nó phải chịu đựng biến dạng Có thể phân biệt "hư hại

về mặt kết cấu" và "hư hại về mặt kiến trúc" Hư hại

về kết cấu do hố đào bên cạnh bao gồm hư hỏng đáng

Trang 9

Nguyễn Đức Toản, June 2001

kể hoặc sụp đổ đối với các bộ phận kết cấu chính của

ngôi nhà Hư hại về kiến trúc chủ yếu là về tính thẩm

mỹ: bề mặt bị nứt, cửa không còn thẳng đứng, v.v

Hư hại về kiến trúc có thể dễ dàng xử lý được sau khi

hoàn thành xây dựng Dù sao, đối với công trình lịch

sử, ngay cả việc gây nên hư hại về kiến trúc cũng

không được phép

Boscardin và Cording (1989) đã có các nghiên cứu

phân tích tác động của chuyển dịch đất bên dưới công

trình nhà cửa Các nghiên cứu của họ đã cố gắng

lượng hóa nhiều thông số liên quan đến chuyển động

đất, và họ đã so sánh các kết quả áp dụng phương

pháp của họ vào một số công trình xây dựng hầm

3.6 Dự báo Chuyển động Đất trong Dự án

Hầm/Đường trục Trung tâm

Tại Dự án Hầm/Đường trục chính Trung tâm, trách

nhiệm của Tư vấn Địa chất Khu vực là đưa ra các

khuyến cáo ban đầu cho các nhà thiết kế cuối cùng về

các vấn đề chuyển động đất

Ví dụ, Tư vấn Địa chất Khu vực (TVĐCKV) của khu

vực đông dân của dự án, có đặc điểm là nhà cửa kế

bên dày đặc nhất, đã đưa ra các khuyến nghị sau đây

để tính toán chuyển vị đất:

- Độ lớn và phân bố chuyển vị đất do hoạt động đào

có thể ước lượng nhờ phân tích phần tử hữu hạn hay

phương pháp bán thực nghiệm đã tóm tắt bởi Clough

và O'Rourke (1990) Chúng tôi đề nghị dùng phương

pháp bán thực nghiệm để đánh giá ban đầu chuyển vị

đất và tác động có thể của nó lên các công trình kế

bên Tại các vị trí quan trọng đòi hỏi có sự phân tích

chi tiết hơn về chuyển vị đất và đánh giá các biện pháp

đặc biệt để giảm chuyển vị đất, việc dùng phương

pháp phần tử hữu hạn là hợp lý

- Vì vậy, cách làm tốt nhất là trước hết dùng phương

pháp bán thực nghiệm để loại ra các khu vực có vấn

đề, sau đó nghiên cứu các bộ phận này kỹ hơn bằng

phân tích phần tử hữu hạn Dựa trên khuyến cáo này,

trách nhiệm của Tư vấn Thiết kế Khu vực là tính toán

chuyển vị cho các thiết kế hầm đặc biệt

- Cố kết đã được phân tích bằng việc giả thiết có được

sự tháo nước hoàn toàn bên ngoài hố đào và tiến hành

phân tích cố kết một chiều của lớp đất sét; và nhờ

phân tích thấm hai chiều Trong trường hợp thứ nhất,

các nhà thiết kế đã phát hiện một lớp rất dễ thấm gồm

sét cát cuội lăn và đá dăm tại chân tường chắn Điều

này dẫn đến một giả thuyết thận trọng rằng: tác động

của việc bơm nước trong lòng hố móng có thể được

cảm nhận hầu như là ở ngay bên ngoài hố móng trong

lớp này, do đó gây ra sự giảm áp tại đáy lớp đất sét nằm phía trên lớp sét tảng lăn

4 CÁC PHƯƠNG PHÁP THI CÔNG NHẰM GIẢM CHUYỂN DỊCH ĐẤT

Đối mặt với thách thức về thiết kế và thi công một hầm đào-và-lấp trong một khu vực xây dựng dày đặc, nhà thiết kế và nhà thầu cần xem xét nhiều phương pháp để hạn chế chuyển dịch đất Trong phần trước, chúng ta đã xét cách tiếp cận để đánh giá chuyển dịch đất Theo kết quả phân tích, chuyển dịch đất có thể cần phải bị hạn chế để bảo vệ các công trình hiện có Các phương pháp hạn chế chuyển dịch đất cần phải xét đến hai nguyên nhân chính, chuyển dịch tường và chuyển dịch do cố kết Các phương pháp giải quyết vấn đề bao gồm:

• Làm tường cứng hơn, sâu hơn, hay ít thấm hơn

• Dùng các thanh giằng cứng hơn hoặc số lượng nhiều hơn

• Gia tải trước các thanh giằng

• Các phương pháp phân kỳ thi công

• Áp dụng các phương pháp cổ điển ít hơn

• Gia cố cho các công trình hiện tại

4.1 Thi công Tường Chắn

Điểm khởi đầu cho hầu hết các kế hoạch đào móng là giả thiết các mái dốc hố đào khi không có tường chắn Trong vùng đô thị, điều này thường là không thực tế, bởi vì ngay cả với một độ dốc rất đứng cũng có thể làm tăng đáng kể chiều rộng dải đất dành cho hầm và tác động đến mọi thứ xung quanh Do đó, cần làm các tường đứng Loại tường chắn rẻ nhất là loại tường cọc

cừ dạng chống và tường hộ bảo vệ mái dốc Công việc đào tiến triển sâu dần và các lớp tường hộ kế tiếp được lắp đặt Các cọc chống có thể liên kết với các thanh chống ngang, với các liên kết góc hay được giữ bởi các thanh neo

Thật không may, tường cọc chống và tường hộ không được cứng lắm, và chúng có chiều hướng bị rò rỉ Tính mềm dẻo của tường có thể sinh ra chuyển dịch đất ngang không cho phép đằng sau tường Thiếu độ kín nước có thể dẫn đến hạ nước ngầm bên ngoài hố móng, tạo nên lún cố kết

Để khắc phục những vấn đề này, có thể làm tường chống có độ mềm dẻo ít hơn Đó là tường được làm

Trang 10

Nguyễn Đức Toản, June 2001 dày từ 0,6 - 1,2 m bằng phương pháp hào vữa Phương

pháp khác bao gồm làm cọc tiếp tuyến hay tường bằng

cọc nhồi, chúng có thể được khoan hay đào bằng hào

vữa Ta sẽ có một tường cứng hơn nhiều và kín nước

hơn loại cọc chống và tường hộ hay cọc ván thép

Tường vữa với một chiều dày nhất định có giằng

chống thích hợp sẽ đủ cứng nếu chuyển dịch phía sau

hố đào được quy định bởi "hiệu ứng bùng nền" dưới

chân hố đào

Tường chắn bằng vữa có hai loại: tường vữa bêtông

thông thường và tường bêtông dạng cọc ống chống

Tường bêtông cọc ống có các đoạn thép chôn trong

bêtông và cứng hơn một tường vữa bêtông cốt thép

thông thường có cùng độ dày Tuy thế, sẽ không có

hiệu quả lớn nếu phải tăng thêm độ cứng của tường để

làm giảm chuyển dịch đất bên ngoài hố móng Như

chúng ta đã biết, chuyển dịch đất bị khống chế nhiều

hơn bởi hiệu ứng "bùng" và ít hơn bởi độ võng của

tường phía trên hố đào khi tường được gia cứng thêm

Tác động của cố kết có thể giảm nhẹ nhờ dùng một

tường chống sâu hơn Tường sâu hơn làm việc như

một ngưỡng cắt, làm giảm lượng tụt áp bên ngoài hố

đào Một tường sâu hơn cũng giúp giảm hiệu ứng

bùng nền và sự "phình" tường Trong một hố đào qua

đất yếu mà phía dưới có sét cứng hoặc đá, khi tường

được ngàm vào lớp địa chất cứng, chuyển vị tường sẽ

giảm đi

4.2 Sử dụng Thanh chống Nhiều hơn hay Cứng

hơn

Bằng cách tăng số lượng và kích thước các thanh

chống, chuyển dịch tường có thể được hạn chế

Chuyển vị tường giữa các thanh chống được quy định

bởi độ cứng chống uốn của tường và chiều dài nhịp, l,

giữa các điểm chống Mức độ uốn tỷ lệ nghịch với lũy

thừa bậc 4 của l Nếu nhịp là quá lớn, việc giảm

khoảng cách sẽ làm giảm đáng kể sự uốn Mặc dù vậy,

có một giới hạn thực tế về mặt có thể giảm khoảng

cách tới bao nhiêu để có thể thi công được Mặt khác,

tại một điểm nhất định, các chế độ uốn khác như

"phình" dưới tường sẽ kiểm soát sự tính toán chuyển

vị Giới hạn thực tế cho khoảng cách đứng của các

thanh chống là 3,6 - 4,6 m

Khi được chất tải, các thanh chống sẽ biến dạng nén

Thiết kế giả thiết rằng thanh chống sẽ không bị oằn

khi nén Do đó, biến dạng được quy định bởi độ cứng

dọc trục, AE/L, trong đó A là diện tích mặt cắt ngang

thanh chống, E là môđun đàn hồi, và L là chiều dài

chịu nén Có thể giảm uốn nhờ tăng diện tích mặt cắt

ngang Về mặt này, cũng lại có hạn chế nhất định

Một điều quan tâm khi thiết kế hệ chống là mối nối vào tường Hansen (1981) đã đề nghị một cách để mô hình hóa sự trượt tại điểm nối Một cách khác là gia tải trước thanh chống

Một điều quan trọng khi quyết định vị trí thanh chống

là hiệu ứng dầm chìa Tường bị hẫng kể từ lớp thanh chống trên cùng Nếu đoạn hẫng quá lớn, sẽ có thể xảy

ra sự chuyển dịch tường lớn nhất tại phía đỉnh tường

4.3 Gia tải trước cho Thanh chống

Thông thường người ta hay gia tải trước cho thanh giằng tại những nơi cần hạn chế dịch chuyển tường Gia tải trước tạo một lực nén vào đất tương ứng với diện tích xung quanh thanh chống Tải đặt trước truyền vào đất theo cùng cách mà áp lực đất truyền lên thanh chống Gia tải trước sẽ có ích lợi nhiều nhất trong trường hợp lớp đất khả nén nằm bên cạnh hố móng và độ cứng thanh chống lớn hơn nhiều so với độ cứng của đất Độ lớn biến dạng, hay tổng chuyển vị hướng ra ngoài của tường chắn, cần có để phát triển và duy trì lực kháng của đất, có thể lớn hơn nhiều so với

độ co ngắn đàn hồi tính toán của thanh chống Do vậy, nguyên nhân biến dạng được giảm nhẹ nhờ quá trình gia tải trước được thể hiện ở sự nén của đất, co ngắn đàn hồi của thanh chống, và sự loại bỏ sự "chùng" của toàn hệ thống Có thể thực hiện gia tải trước bằng chêm và kích thủy lực Thường thì, người ta quy định dùng một tải trọng khoảng 50% toàn bộ tải trọng thanh chống tính toán để gia tải trước

4.4 Các Phương pháp Phân kỳ Xây dựng

Chuyển dịch tường trong khi đào đất chủ yếu là do ứng xử cục bộ của khối đất bị chia cắt qua tầng lớp Song, hố đào cũng còn có độ cứng theo chiều dọc Bằng cách giới hạn chiều dài đào đất, độ cứng theo chiều dọc của tường và đất có thể được huy động để giảm sự chuyển dịch tường vào phía trong

Cũng thế, việc cẩn thận tạo các bậc thềm thi công trong giai đoạn giằng chống cũng rất có ích Ví dụ, khi đào ga điện ngầm Shot Tower ở Baltimore, việc đào tiến hành ở giữa hành lang (rãnh cắt) thăm dò, có hai bậc thềm tạo bằng vật liệu tại chỗ để lại sát tường bêtông dạng cọc ống chống Sau đó Nhà thầu đào các hào ở bên mỗi tường vữa để lắp đặt lớp thanh chống tiếp theo thấp hơn Sau khi gia tải trước hệ thanh chống, các thềm đất còn lại được phá bỏ Bằng cách này, các bậc thềm được giữ nguyên càng lâu càng tốt nhằm hạn chế chuyển vị tường

Ngày đăng: 06/08/2017, 23:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2 - Sự bùng nền  (Bjerrum và Eide, 1956) - Kiểm soát những tác động của sự dịch chuyển đất trong xây dựng hầm đô thị
Hình 2 Sự bùng nền (Bjerrum và Eide, 1956) (Trang 4)
Chuyển vị ngang tường lấy là 1. Hình 5, nhận được từ - Kiểm soát những tác động của sự dịch chuyển đất trong xây dựng hầm đô thị
huy ển vị ngang tường lấy là 1. Hình 5, nhận được từ (Trang 6)
Hình đàn hồi có sẵn cho tường và các bộ phận liên kết, - Kiểm soát những tác động của sự dịch chuyển đất trong xây dựng hầm đô thị
nh đàn hồi có sẵn cho tường và các bộ phận liên kết, (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w