1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ĐỀ CƯƠNG ôn tập Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật

49 586 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 113,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thực tế, sựxuất hiện của nhà nước ở các vùng và các dân tộc khác nhau còn có những đặc điểm riêng do chịu ảnh hưởng của những điều kiện kinh tế, xã hội và ngoại cảnh không giống nha

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP

LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT -*** -

I Nguồn gốc, bản chất, đặc trưng, khái niệm của nhà nước.

1 Nguồn gốc của Nhà nước.

Nhà nước xuất hiện một cách khách quan tự sự tan rã của chế độ công xã nguyênthủy Tiền đề kinh tế cho sự ra đời của nhà nước là chế độ tư hữu tài sản Tiền đề xã hộicho sự ra đời của nhà nước là sự phân chia xã hội thành các giai cấp (hoặc chí ít là các tầnglớp xã hội) mà giữa các gia cấp, tầng lớp đó, những lợi ích cơ bản đối kháng nhau đến mứckhông thể điều hòa được Đó là quy luật hình thành nhà nước nói chung Trên thực tế, sựxuất hiện của nhà nước ở các vùng và các dân tộc khác nhau còn có những đặc điểm riêng

do chịu ảnh hưởng của những điều kiện kinh tế, xã hội và ngoại cảnh không giống nhau

xã hội, là tổ chức quyền lực công có trong tay công cụ pháp luật cùng bộ máy quản lý đặcthù để duy trì, barod dảm cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Như vậy cần phải tiếp cậnbản chất nhà nước từ quan điểm toàn diện bởi chính bản thân nhà nước là một tổ chứcchính trị đặc biệt luôn tồn tại trong tổng thể các mối liên hệ phổ biến với các tổ chức, lựclượng, hiện tượng khác của xã hội

Bản chất nhà nước là một thể thống nhất bao gồm 2 phương diện: giai cấp và xã hội.Cách thức và mức độ thể hiện, thực hiện phương diện giai cấp và xã hội không hoàn toàngiống nhau trong những thời kỳ phát triển của xã hội trên bình diện quốc gia và quốc tế.Dưới đây là những vấn đề cơ bản về bản chất nhà nước

a Tính giai cấp.

- Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấ không thểđiều hòa được Nhà nước xuất hiện ở đâu và khi nào mà những mâu thuẫn giai cấp, xét mộtcách khách quan, không thể điều hòa được

- Tính giai cấp của nhà nước được thể hiện: nhà nước đó do giai cấp nào tổchức thành, quyền lực nhà nước nằm trong tay giai cấp nào; bảo về lợi ích giai cấp nào là

Trang 2

chủ yếu Xét trên phương diện này, nhà nước trước hết là bộ máy cưỡng chế đặc biệt trongtay giai cấp thống trị xã hội, là công cụ sắc bén nhất để duy trì sự thống trị giai cấp và bảo

vệ quyền lợi cho giai cấp cầm quyền, thiết lập một trật tự xã hội phục vụ cho lợi ích củagiai cấp đó Tính giai cấp của nhà nước quy định nội dung hoạt động của nhà nước Tuy làđại biểu chính thức cho toàn xã hội, song nhà nước trước hết phục vụ bảo vệ quyền lợi chogiai cấp thống trị

- Nhà nước là công cụ đặc biệt của quyền lực chính trị, thực hiện sự thống trị vềkinh tế, chính trị và về tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội Sự thống trị của giai cấp đượcthể hiện trên 3 mặt: kinh tế, chính trị, tư tưởng Quyền lực kinh tế tạo cho chủ sở hữu khảnăng bắt người bị bóc lột phải lệ thuộc về kinh tế Cần có một bộ máy nhà nước đủ sứccủng cố quyền lực kinh tế và đủ áp lực đối với xã hội Quyền lực chính trị, thông qua bộmáy nhà nước để đàn áp, bắt phải phục tùng ý chí nhà nước, giai cấp thống trị Nhờ có nhànước, giai cấp thống trị về kinh tế trở thành thống trị về chính trị Do nắm được quyền lựcnhà nước, hệ tư tưởng của giai cấp thống trị trở thành hệ tư tưởng thống trị xã hội, bắt buộc

xã hội phải lệ thuộc mình về tư tưởng

- Phụ thuộc vào những yếu tố khách quan và chủ quan, mức độ thể hiện, thựchiện tính giai cấp không hoàn toàn như nhau trong tổ chức và hoạt động của các nhà nướckhác nhau ở vào những giai đoạn lịch sử nhất định Các yếu tố này bao gồm: tương quanlực lượng giai cấp, lực lượng xã hội, bối cảnh quốc tế, truyền thống, phong tục, tâm lý dântộc, hoàn cảnh lịch sử, quan điểm chính trị, đạo đức của nhà cầm quyền, ý thức giác ngộcủa nhân dân… Ví dụ, do hoàn cảnh lịch sử, tính giai cấp trong các nhà nước chiếm hữu nô

lệ, phong kiến và các nhà nước tư sản trước đây đc thể hiện một cách quyết liệt, thậm chíthô bạo

b Tính xã hội.

- Đây là thuộc tính thứ 2, phương diện hoạt động thứ 2 củ nhà nước tỏng bất kỳgiai đoạn phát treerin nào, chỉ khác nhau về sự thể hiện và thực hiện Ngay từ thời đại củamình, các nhà kinh điển Mác, Lê Nin đã khẳng định vấn đề này, chỉ có điều, do hoànhcảnh, điều kiện lịch sử lúc bấy h, tính xã hội của NN chưa đc đề cập sâu, rộng như tính giaicấp

- Tính xã hội của nhà nước đc thể hiện, bên cạnh việc bảo vệ lợi ích của giaicấp thống trị, nhà nước còn phải quan tâm đến việc bảo đảm, bảo vệ, giải quyết lợi ích ởmức độ nhất định cho các tầng lớp, giai cấp khác trong xã hội và các vấn đề chung củatoàn xã hội Với tư cách là đjai diện chính thức cho toàn xã hội, nhà nước đồng thời cònthực hiện những công việc chung, những chức năng xã hội, xuất phát từ bản chất của xãhội

- Tính xã hội là một thuộc tính tất yếu khách quan của bất kỳ một nhà nướcnào, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của nhà cầm quyền, càng không phải là một sựgán ghép nào cho nhà nước cả Nhà nước sẽ không tồn tại được nếu không quan tâm đếnquyền lợi của các giai tầng khác, không giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh Điều nàyđặc biệt thể hiện rõ nét trong xã hội hiện đại

- Mức độ thể hiện và thực hiện tính xã hội không hoàn toàn giống nhau ở cácnhà nước và ngay cả trong một nhà nước, nhuwg vào các giai đoạn lịch sử khác nhau Bởi

Trang 3

vì tính xã hội, tức các chức năng xã hội của nhà nước, phụ thuộc vào hàng loạt yếu tốkhách quan và chủ quan như hoàn cảnh lịch sử, điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xãhội, bối cảnh quốc tế, trình độ nhận thức và quan điểm, đạo đức chính trị của nhà cầmquyền, trình độ và nhu cầu của các cá nhân, xã hội… Đối với Việt Nam, trong nền kinh tếthị trường, hội nhập quốc tế, ngày càng có nhiều vấn đề xã hội mới phát sinh, đặt lên tráchnhiệm xã hội Nhà nước cần phải giải quyết Đó là các vấn đề xã hội như lao động, việclàm, bảo vệ môi trường, tội phạm…

- Nhà nước một mặt là tổ chức quyền lực chính trị, mặt khác còn là tổ chứcquyền lực công đại diện lợi ích chung của xã hội, nhằm duy trì và phát triển xã hội Dovậy, bản chất nhà nước, yếu tố chi phối hoạt động của nhà nước phải bao gồm 2 phg diện,

2 thuộc tính cơ bản: tính giai cấp và tính xã hội

3 Những đặc trưng cơ bản của nhà nước.

- Là tổ chức quyền lực chính trị công cộng đặc biệt với bộ máy thực hiện cưỡngchế và quản lý đời sống nhà nước

o Nhà nước thiết lập quyền lực chính trị đặc biệt mang tính công cộng; thể hiện

ở chỗ: NN là tổ chức quyền lực đặc biệt, không còn hòa nhập với dân cư nữa NN có bộmáy cưỡng chế gắn liền vs lực lượng vũ trang, nhà tù, trại tập trung và những cơ quancưỡng chế khác, những cơ quan mà k hề có tồn tại trong chế độ thị tộc nguyên thủy vàcũng không có trong các tổ chức phi nhà nước

o Quyền lực NN về bản chất khác vs quyền lực trong tổ chức thị tộc nguyênthủy Quyền lực của tổ chức thị tộc nguyên thủy hòa nhập vào xã hội, thể hiện ý chí, lợi íchcủa toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng sự tự nguyện của các thành viên xã hội.Quyền lực chính trị của NN thuộc về một thiểu số giai cấp thống trị, được thực hiện bằngmột bộ máy với một lớp người chuyên làm chức năng cưỡng chế và quản lý xã hội theođường lối của giai cấp thống trị XH

o Quyền lực NN, các thiết chế và các phương pháp thực hiện cũng khác vsquyền lực xã hội của các tổ chức chính trị XH Cùng vs sự phát triển của XH, bộ máy NN

đc hoàn thiện để thực hiện quản lý XH

- NN có lãnh thổ và thực hiện sự quản lý dân cư theo các đơn vị hành chínhlãnh thổ

o Lãnh thổ, dân cư là những yếu tố cấu thành quốc gia Quyền lực của NN đcthực hiện trên toàn bộ lãnh thổ NN

o NN thực hiện sử quản lý dân cư theo lãnh thổ - theo các đơn vị hành chính,không phụ thuộc vào chính kiến, giới tính, huyết thống, nghề nghiệp Sự phân chia nàyđảm bảo cho sự quản lý tập trung, thống nhất của nhà nước

o Người dân có mqh vs NN bằng chế định quốc tịch, xác lập sự phụ thuộc củacông dân vào một NN nhất định và tương ứng, NN cũng phải có những nghĩa vụ nhất định

vs công dân của mình Giới hạn lãnh thổ của quyền lực NN còn có hiệu lực cả đối vs ngnước ngoài, nhưng quy chế pháp lý đối vs ng nc ngoài khác vs công dân nc sở tại

o Tổ chức thị tộc nguyên thủy đc hình thành và tồn tại trên cơ sở huyết thống,không có lãnh thổ riêng

Trang 4

- Nhà nước có chủ quyền quốc gia.

o Là quyền tối cao của NN về đối nội và độc lập về đối ngoại Tất cả mọi cánhân, tổ chức sống trên lãnh thổ của đất nc sở tại đều phải tuân thủ pháp luật nc sở tại đó

o NN là ng đại diện chính thức, đại diện về mặt pháp lý cho toàn XH về đối nội

và đối ngoại

o Tôn trọng, bảo vệ độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi là nguyên tắc vàphương châm hành động của NN Việt Nam hiện nay trong các quan hệ quốc tế

- NN là tổ chức duy nhất có quyền ban hành PL và đảm bảo thực hiện PL

- NN có quyền định ra và thu các loại thuế dưới hình thức bắt buộc Thuế đc sửdụng để nuôi sống bộ máy NN và thực hiện các hoạt động chung của toàn XH

4 Khái niệm

Nhà nước là hình thức (phương thức) tổ chức xã hội có giai cấp, là tổ chức quyền lực chính trị công cộng đặc biệt, có chức năng quản lý xã hội để phục vụ lợi ích trc hết cho giai cấp thống trị và thực hiện những hoạt động chung nảy sinh từ bản chất của xã hội.

II Các chức năng của nhà nước.

Trong lịch sử cũng đã tồn tại quan điểm cho rằng, sự tham gia của nhà nước vào nềnkinh tế là không cần thiết Theo thuyết “Bàn tay vô hình”, sẽ tốt hơn nếu thị trường tựquyết định, tự điều chỉnh theo chính nhu cầu vốn có của nó mà không cần có sự can thiệpcủa nhà nước Nhưng, thực tế lịch sử, mà cụ thể là cuộc đại khủng hoảng cuối những năm

20 và đầu những năm 30 của thế kỷ trước đã cho thấy việc thiếu sự điều tiết của nhà nước

Trang 5

khiến cho nền kinh tế dễ bị tổn thương như thế nào Vai trò điều tiết của nhà nước lúc này

là thông qua những quy định pháp lý về sự tự do hóa nền kinh tế, mở cửa thị trường, nhữngquy định về các loại hình công ty, thương hội…

Trong xã hội hiện đại khi quan hệ kinh tế ngày càng trở nên phức tạp, phát triển đachiều, khó tiên liệu và dễ bị tổn thương, thì sự hiện diện của nhà nước trong quản lý, điềutiết nền kinh tế ngày trở nên quan trọng và có ý nghĩa xã hội Thực hiện tốt chức năng kinh

tế không chỉ tạo cơ sở vật chất cho sự thịnh vượng xã hội mà còn tạo sự bình đẳng, côngbằng, ổn định và phát triển chung của toàn xã hội Các chính sách và thực hiện hiệu quảcác chính sách kinh tế luôn là thước đo tín nhiệm của nhà nước đối với xã hội, đồng thờicũng là những đảm bảo quan trọng cho việc xây dựng và thực thi các chức năng khác củanhà nước

c Đặc điểm của chức năng kinh tế

Thứ nhất, là phương diện hoạt động chủ yếu của nhà nước thể hiện qua các hoạt

động của nhà nước trong tổ chức, quản lý và điều tiết nền kinh tế;

Thứ hai, chức năng kinh tế của nhà nước phản ánh bản chất, trình độ phát triển của

nhà nước;

Thứ ba, chức năng kinh tế của nhà nước là phương diện hoạt động đòi hỏi phải được

thực hiện một cách thường xuyên, liên tục trong mối liên hệ chặt chẽ với các hoạt độngkhác của nhà nước;

Thứ tư, chức năng kinh tế của nhà nước được thực hiện bằng các hình thức, phương

thức và biện pháp khác nhau có mục tiêu tạo của cải vật chất cho xã hội;

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước dân chủ, xây dựng và phát triểntheo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì vậy ngoài những đặc điểm chung trong việc thực hiệnchức năng kinh tế còn có những điểm khác biệt cơ bản như sau:

Thứ nhất, chức năng tổ chức, điều hành và quản lý kinh tế của nhà nước được thực

hiện dưới sự lãnh đạo thống nhất về tư tưởng, đường lối, chính sách của Đảng cộng sảnViệt Nam;

Thứ hai, nhà nước phát triển nền kinh tế thị trường nhưng định hướng xã hội chủ

nghĩa Điều này trước hết thể hiện ở chỗ, ở Việt Nam các quy luật, nhân tố của nền kinh tếthị trường vẫn được tôn trọng và đảm bảo Nhà nước vẫn sử dụng các công cụ của nền kinh

tế thị trường để tổ chức và điều tiết nền kinh tế Tuy nhiên, với mục tiêu xây dựng chủnghĩa xã hội, nhà nước cần hướng các hoạt động kinh tế phục vụ mục tiêu phát triển xã hội,phân phối lợi ích kinh tế một cách hài hòa đảm bảo sự bình đẳng, công bằng, ổn định và ansinh xã hội tạo động lực cho sự phát triển chung của xã hội Mục đích của các hoạt độngkinh tế không nhằm tối đa hóa lợi nhuận hay phục vụ lợi ích của nhóm người, các tổ chứcđộc quyền, mà lợi ích của toàn xã hội;

Thứ ba, mọi chính sách kinh tế phải xuất phát từ lợi ích dân tộc, lợi ích đa số trong

xã hội, lấy sự phát triển con người làm mục tiêu phát triển kinh tế;

Thứ tư, nhà nước không chỉ quản lý kinh tế ở tầm vĩ mô mà còn trực tiếp tham gia

phát triển kinh tế với tư cách là tổ chức kinh tế độc lập (kinh tế nhà nước) có vai trò như làthương nhân nhưng không xác định lợi nhuận là mục tiêu chủ yếu, mà xác định vai trò tiên

Trang 6

phong, chủ đạo trong một số lĩnh vực theo chốt tạo tiền đề cơ sở vật chất, hạ tầng cho nềnkinh tế, bảo đảm an ninh quốc gia, lợi ích cơ bản của xã hội.

Như vậy, có thể thấy chức năng kinh tế của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam là các phương diện hoạt động chính của Nhà nước trong tổ chức, điều tiết vàquản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện bản chất dân chủ phùhợp định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tạo sự ổn định, thịnh vượng, công bằng, bình đẳng

và phát triển toàn diện của xã hội

d Các hình thức pháp lý thực hiện chức năng kinh tế

Thực hiện chức năng kinh tế luôn gắn liền với những hình thức xác định Hình thứcthực hiện chức năng kinh tế là sự biểu hiện ra bên ngoài những mong muốn (ý chí) củaNhà nước nhằm tổ chức, điều tiết và quản lý nền kinh tế

Với mục tiêu xây dựng và phát triển nề kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, Việt Nam đang thực hiện chức năng kinh tế theo các hình thức cơ bản sau đây:

- Nhà nước tổ chức, quản lý, điều tiết kinh tế bằng pháp luật

Trong xã hội hiện đại, pháp luật luôn là công cụ hữu hiệu nhất để nhà nước tổ chức,điều tiết và quản lý nền kinh tế Với những thuộc tính ưu việt vốn có, pháp luật có thể tácđộng mạnh mẽ, có giá trị bắt buộc chung đối với toàn xã hội Pháp luật có tính thống nhất

và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước giúp cho những quy định liên quanđến tổ chức, điều tiết và quản lý kinh tế được triển khai thực hiện một cách thống nhất,nhanh chóng và hiệu quả Ngoài ra, tính minh bạch, chặt chẽ, dân chủ và công bằng củapháp luật cũng là những đảm bảo cần thiết tạo lập niềm tin và môi trường kinh tế bìnhđẳng, lành mạnh, bền vững cho các chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế

Thực hiện quản lý nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, Nhà nước đã tổ chức xâydựng, ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh tế hoặc các lĩnh vực liênquan Trong những năm gần đây, pháp luật kinh tế luôn là lĩnh vực phát triển nhất trong hệthống pháp luật quốc gia Có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạtđộng doanh nghiệp, pháp luật về thị trường tài chính, thuế, về cạnh tranh, kinh doanhthương mại, thị trường bất động sản, giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại,hạn chế độc quyền, quản lý thị trường… được ban hành mới hoặc sửa đổi bổ sung Ngoàichức năng sáng tạo pháp luật, để phục vụ các hoạt động ngoại thương, quan hệ kinh tếquốc tế Việt Nam cũng tích cực ký kết hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế, đặc biệt làcác hiệp định thương mại song, đa phương

Song song với hoạt động lập pháp và ký kết, tham gia các điều ước quốc tế, tổ chứcthực hiện và bảo đảm thực hiện các quy phạm pháp luật cũng luôn được Nhà nước chútrọng Việc thiết lập các cơ chế giám sát, thành lập các cơ quan chuyên trách đảm bảo phápluật được thực thi nghiêm chỉnh cũng được đề cao

Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có cả yếu tố chủ quan và kháchquan, hệ thống pháp luật kinh tế của nước ta, về cơ bản chưa đồng bộ và chưa đáp ứngđược yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế Việc triển khai thực hiện các văn bản phápluật còn chưa nghiêm, tư duy quản lý còn lạc hậu chưa theo kịp thay đổi của yêu cầumới… Tất cả các yếu tố đó đã phần nào làm suy giảm vai trò của pháp luật như là công cụ

Trang 7

chủ yếu trong điều tiết và quản lý nền kinh tế Nhưng, không thể phủ nhận một thực tế, lànhững nỗ lực của nhà nước trong nhiều năm trở lại đây đã và đang góp phần tạo nên hànhlang pháp lý cơ bản có hiệu quả trong tổ chức, điều tiết và quản lý nền kinh tế thị trườngtheo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Nhà nước tổ chức, quản lý, điều hành kinh tế bằng chính sách, kế

hoạch

Ngoài pháp luật, nhà nước còn quản lý nền kinh tế bằng kế hoạch chính sách

Trong quá trình quản lý nền kinh tế Đảng và Nhà nước thường xuyên thực hiện kếhoạch hóa nền kinh tế Trong rất nhiều nghị quyết của Đảng cũng như của cơ quan quyềnlực nhà nước cao nhất (Quốc hội) nhiều kế hoạch phát triển kinh tế xã hội theo các giaiđoạn, thời kỳ đã được xác định và thực hiện Kế hoạch là hình thức nhà nước thiết lập cácmục tiêu, nhiệm vụ, chương trình tổ chức, quản lý, điều tiết nền kinh tế theo lộ trình hoặccác bước thực hiện nhằm phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả, hợp lý để thực hiện mụctiêu đặt ra

Ngoài kế hoạch, chính sách kinh tế cũng là hình thức thường xuyên được thực hiện

để quản lý nền kinh tế Chính sách kinh tế là những sách lược mà nhà nước tác động nênnền kinh tế để đạt được mục tiêu nhất định Chính sách kinh tế bao gồm một số loại chủyếu, đó là: chính sách kinh tế vĩ mô, chính sách điều tiết hoạt động kinh tế, chính sách kinh

tế đối ngoại và chính sách phát triển kinh tế…

- Nhà nước tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh tế với tư cách

chủ thể đặc biệt – kinh tế nhà nước

Trong quá trình quản lý nền kinh tế, nhà nước không chỉ quản lý bằng các phươngtiện vĩ mô, mà trong nhiều trường hợp nhà nước tham gia trực tiếp vào các hoạt động sảnxuất kinh doanh thông qua các tập đoàn, doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, doanhnghiệp nhà nước có vốn hoặc cổ phần chi phối Tuy nhiên, để đảm bảo các điều kiện củanền kinh tế thị trường, kinh tế nhà nước chỉ tham gia vào các lĩnh vực then chốt, nhữnglĩnh vực hành hóa và dịch vụ công cộng mà nếu nằm trong tay doanh nghiệp của tư nhânthì có nguy cơ gây thiệt hại cho toàn xã hội hoặc tham gia vào những lĩnh vực mà tư nhânkhông có điều kiện hoặc không muốn tham gia (do không hoặc ít phát sinh lợi nhuận, địabàn khó khăn…) Đây cũng là điểm đã được quy định trong Hiến Pháp 2013 Theo đó, tạikhoản 1 Điều 51, “nền kinh tế VN là nền KT thị trường định hướng XHCN với nhiều hìnhthức sở hữu, nhiều thành phần KT; KT nhà nước giữ vai trò chủ đạo.”

Nhà nước Việt Nam muốn quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa có kết quả trước hết cũng phải dựa trên yêu cầu khách quan của các quy luật củakinh tế thị trường Do đó phương pháp quản lý của Nhà nước ta về nhiều phương diện cũng

có những nét giống như phương pháp quản lý của nhà nước ở các nước tư bản: thừa nhậntính độc lập của các chủ thể kinh tế để họ có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, tựchịu trách nhiệm lỗ lãi; xây dựng hệ thống thị trường có tính cạnh tranh, giá cả chủ yếu dothị trường quyết định; xây dựng cơ chế điều tiết vĩ mô của Nhà nước nhằm hướng dẫn,giám sát hoạt động của các chủ thể kinh tế, hạn chế những khuyết tật của thị trường; xây

Trang 8

dựng hệ thống pháp luật nhằm tạo ra khuôn khổ cho hoạt động kinh tế; tôn trọng và thựchiện các thông lệ quốc tế trong quan hệ kinh tế quốc tế.

Cần phải lưu ý rằng, kinh tế nhà nước không lấy mục tiêu lợi nhuận làm mục tiêuchủ yếu của hoạt động sản xuất kinh doanh Kinh tế nhà nước có mục tiêu xã hội, đảm bảoquốc phòng an ninh công cộng, giúp nhà nước điều tiết nền kinh tế và tạo lập môi trườngthúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển

e Các phương pháp thực hiện chức năng kinh tế

Quản lý nền kinh tế chỉ thực sự hiệu quả khi nhà nước sử dụng các phương pháp phùhợp Đối với từng đối tượng, lĩnh vực và thời điểm cụ thể nhà nước có thể sử dụng rấtnhiều các phương pháp khác nhau để đạt được mục tiêu quản lý kinh tế Một số phươngpháp phổ biến trong quản lý kinh tế là giáo dục, thuyết phục, khuyến khích, cưỡng chế haycác phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế…

Giáo dục là phương pháp tác động có định hướng làm thay đổi nhận thức của chủ

thể Ví dụ, nhà nước giáo dục người dân về vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như tuân thủnhững quy định pháp luật về kinh doanh mặt hàng liên quan đến vệ sinh an toàn thựcphẩm

Thuyết phục là phương pháp tác động làm cho chủ thể khác nghe theo và thực hiện

theo những lời khuyên, những khuyến cáo, chỉ dẫn của nhà nước trong hoạt động kinh tế

Ví dụ, nhà nước thuyết phục người dân nói không với những mặt hàng không rõ nguồn gốcxuất xứ hay thuyết phục người dân trồng những giống lúa cho năng xuất và chất lượng caophục vụ xuất khẩu

Khuyến khích là phương thức nhà nước tác động nên các chủ thể quan hệ kinh tế với

mục đích hướng họ theo những hoạt động, hành vi mà nhà nước cho là có lợi cho nền kinh

tế Ví dụ, nhà nước khuyến khích người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam

Cưỡng chế là biện pháp nhà nước dùng để bắt buộc chủ thể quan hệ kinh tế dừng,

chấm dứt hoặc thực hiện các hoạt động theo yêu cầu của nhà nước Ví dụ, thu hồi giấychứng nhận đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp vi phạm điều kiện ngành nghề đăng

ký kinh doanh

Phương pháp hành chính là các phương pháp có tính chất mệnh lệnh, áp đặt có tính

chất bắt buộc của nhà nước đối với chủ thể trong quan hệ kinh tế vì mục tiêu quản lý kinh

tế Ví dụ, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các cơ sở kinh doanh vàng miếng SJC cần phải cógiấy phép kinh doanh vàng miếng

Phương pháp kinh tế là các biện pháp nhà nước áp dụng căn cứ vào quy luật kinh tế,

quy luật thị trường nhằm quản lý nền kinh tế Ví dụ, để kiềm chế lạm phát nhà nước nânglãi suất tiền gửi, kiểm soát tín dụng, hạn chế đầu tư công hay để phục hồi thị trường bấtđộng sản nhà nước nới lỏng tín dụng, hạ lãi xuất tiền gửi…

Như vậy, có thể thấy chức năng kinh tế luôn là một trong những chức năng quantrọng nhất của nhà nước Thực hiện tốt chức năng kinh tế là đảm bảo sự tồn tại, phát triểncủa nhà nước nói riêng, toàn bộ hệ thống chính trị nói chung, đồng thời tạo điều kiện tiền

đề về cơ sở vật chất để thực hiện các chức năng khác của nhà nước

Trang 9

f Nội dung chức năng kinh tế

- Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước sử dụng phương pháp kinh tế, vận dụng cácquy luật kinh tế để quản lý, đảm bảo hiệu quả quản lý thông qua các công cụ vĩ mô nhưpháp luật, kế hoạch, chính sách Nhà nước đưa ra dự kiến về khả năng phát triển kinh tế;điều chỉnh và thay đổi chính sách nhằm hướng dẫn hành vi của các chủ thể trong hoạt độngsản xuất kinh doanh Như vậy, kế hoạch hóa trong nền kinh tế thị trường đã xóa bỏ mọihình thức áp đặt trong giao nhiệm vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh, đảm bảo quyền tự chủ

kế hoạch cho các chủ thể, kích thích các nhà kinh doanh cạnh tranh, cải tiến kỹ thuật côngnghệ để đứng vững trên thị trường

Hiện nay, Việt Nam đang triển khai thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 trong Chương trình hành động của Chính phủ (Ban hành kèm theo

Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2012)

- Xây dựng hệ thống pháp luật và đổi mới công cụ, chính sách kinh tế vĩ mô.Nền kinh tế thị trường là hệ thống phức tạp và đầy biến động, các hoạt động kinh tếđều hướng tới lợi ích cục bộ, vì vậy sự bất ổn, rủi ro và sự xâm phạm lợi ích lẫn nhau cóthể xảy ra bất cứ lúc nào nếu không có những quy tắc đủ mạnh để điều chỉnh Từ nhu cầukhách quan đó mà pháp luật trở thành công cụ không thể thay thế để đảm bảo cho các quan

hệ kinh tế diễn ra theo trật tự nhất định Bằng cách gián tiếp, Nhà nước tạo ra khung pháp

lý cho các chủ thể tự do hoạt động; quy định tư cách chủ thể; ngăn ngừa các yếu tố tácđộng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo môi trường để vận hành các quan hệ kinh

tế một cách thuận lợi, an toàn, đồng thời định ra các phương thức nhằm duy trì và đảm bảotrật tự kinh tế Nhà nước thực hiện vai trò điều chỉnh, ổn định nền kinh tế thông qua cáccông cụ quản lý kinh tế vĩ mô như chính sách tài chính, tiền tệ, tín dụng là những đòn bẩytác động đến nền kinh tế nhằm kiểm soát và hạn chế hậu quả trước các biến động bất lợicủa thị trường Nhà nước quản lý vĩ mô về tài chính đối với các doanh nghiệp thông quacác công cụ như thuế, lãi suất, tỉ giá Nhà nước tiến hành đổi mới chính sách tiền tệ, giá cảcho phù hợp với cơ chế thị trường, kiềm chế lạm phát ở mức thấp nhất, ổn định sức muađồng tiền Việt Nam, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn Các công cụ tài chính, tiền

tệ, tín dụng phát huy vai trò trong việc tạo ra các yếu tố kích thích hay kìm hãm sự pháttriển của các quan hệ kinh tế thị trường theo hướng nhất định

Trong hơn 10 năm qua, Việt Nam đã có nhiều thay đổi tích cực về pháp luật quản lýcác lĩnh vực kinh tế Có thể kể đến một số luật quan trọng như bộ Luật Lao động 1994 ( đãđược sửa đổi bổ sung năm 2002, 2006, 2007) đã tạo thành nền tảng pháp lý đầu tiên chothị trường lao động bằng việc công nhận quyền tự do tìm việc làm và quyền lựa chọnngười lao động – hai yếu tố cơ bản tạo ra quan hệ cung – cầu cho thị trường lao động Năm 1996, Luật Đầu tư nước ngoài được ban hành, để thúc đẩy thu hút vốn đầu tư nướcngoài và tiến tới hài hòa luật pháp của Việt Nam với khung luật pháp quốc tế Luật đầu tưnước ngoài đã được điều chỉnh, bổ sung và sửa đổi 4 lần (vào các năm 1990, 1992, 1996 và2000) Việt Nam cũng đã tiếp tục bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện nhiều luật quan trọngkhác như: Luật đất đai, Luật cạnh tranh, Luật doanh nghiệp…theo hướng hỗ trợ hội nhập

Trang 10

kinh tế quốc tế Hiện nay, Việt Nam vừa ban hành hiến pháp mới (2013), do vậy sẽ kéotheo sự thay đổi của hệ thống văn bản pháp luật sao cho thống nhất và phù hợp.

Trong quan hệ quốc tế, Chính phủ Việt Nam cũng đã tích cực tham gia ký kết nhiềuhiệp định thương mại song phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, gia nhậpcác tổ chức thương mại khu vực và quốc tế, nhất là kể từ giai đoạn sau khi gia nhập WTO

- Xây dựng kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước xây dựng Chiến lược phát triển kết cấu hạtầng và Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế, trong đó chiến lược phát triểnbao gồm hệ thống những mục tiêu, chính sách và giải pháp cơ bản, có tính chất dài hạn vềphát triển mạng lưới kết cấu hạ tầng; và Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng là cụ thể hóachiến lược phát triển kết cấu hạ tầng: luận chứng, lựa chọn phương án phát triển và phân

bố mạng lưới kết cấu hạ tầng trên các vùng lãnh thổ, các giải pháp và tổ chức thực hiện,các công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên

- Kiểm tra, giám sát nền kinh tế

Nhà nước xã hội chủ nghĩa với tư cách là chủ thể quản lý tối cao thông qua các cơquan chức năng nhằm điều chỉnh thống nhất các quá trình kinh tế vĩ mô Trong nền kinh tếthị trường hiện đại, Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát nền kinh tế nhằm kịpthời phát hiện và xử lý những sai sót, ách tắc, đổ vỡ, những khó khăn, vướng mắc cũngnhư những cơ hội phát triển kinh tế nhằm đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả vàtheo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa

- Đảm bảo bình đẳng xã hội và giải quyết những khuyết tật của nền kinh tế thịtrường

Cơ chế vận động của nền kinh tế thị trường thể hiện ưu thế ở chỗ phát huy tính năngđộng, sáng tạo của mọi chủ thể kinh tế trong việc đáp ứng nhu cầu phong phú và biến độngcủa xã hội, đồng thời hệ thống pháp luật hướng dẫn, điều chỉnh và bảo hộ quyền lợi hợppháp của các chủ thể kinh tế Tuy nhiên nền kinh tế thị trường cũng bộc lộ những khuyếttật dễ nhận thấy là: đầu cơ, độc quyền, tiêu thủ cạnh tranh, khủng hoảng kinh tế, thấtnghiệp, hủy hoại tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái Hơn nữa, nền kinh tế thịtrường ở Việt Nam được xác định là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa -điểm khác biệt với nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là phải hạn chế thấp nhất tìnhtrạng người bóc lột người, đảm bảo sự bình đẳng xã hội Việc phát triển kinh tế không chỉnhằm mục đích đơn thuần là tăng trưởng kinh tế mà phải lấy mục tiêu tăng trưởng kinh tếlàm cơ sở để phát triển toàn diện con người, giải quyết hài hòa những vấn đề kinh tế - xãhội, bảo tồn các giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc, đồng thời bảo vệ môi trường sinhthái và phát triển bền vững

g Thực trạng chung hiện nay của chức năng kinh tế

- Về xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế

Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay đc triển

khai dựa theo Chương trình hành động của chính phủ thực hiện chiến lược phát triển

kinh tế - xã hội 2011-2020, ban hành kèm theo Nghị quyết số 10/ND-CP ngày 24 tháng 4năm 2012 Theo đó, các phương hướng và nhiệm vụ chủ yếu là:

Trang 11

o Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm

là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính, trong đó tập trung vàoviệc xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung các bộ luật, luật cho phù hơp với Hiến pháp

2013, Thực hiện Đề án tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn kinh

tế, tổng công ty nhà nước theo chương trình hành động được Chính phủ phê duyệt

o Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nềnkinh tế theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nềnkinh tế

o Phát triển công nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng

và sức cạnh tranh

o Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững

o Phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là các dịch vụ có giá trị cao, tiềmnăng lớn và có sức cạnh tranh

o Phát triển hài hòa, bền vững các vùng, xây dựng đô thị và nông thôn mới, ưutiên phát triển kinh tế - xã hội các địa bàn đặc biệt khó khăn

- Về đảm bảo môi trường pháp lý và các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước.Cùng với quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế, pháp luật là công cụ quan trọng thựchiện chức năng kinh tế của Nhà nước Bằng pháp luật, Nhà nước thừa nhận, hướng dẫn chophép, ngăn cấm, khuyến khích, hạn chế nhằm đảm bảo cho các quan hệ kinh tế tồn tại vàphát triển Nhà nước khuyến khích các yếu tố tích cực của thị trường như cạnh tranh lànhmạnh, bảo vệ môi trường, người lao động, đồng thời ngăn cấm các yếu tố tiêu cực như độcquyền, cạnh tranh không lành mạnh, gian lận thương mại, trốn thuế…Pháp luật trong nềnkinh tế thị trường không chỉ là công cụ của Nhà nước mà còn là phương tiện của các chủthể kinh tế tự bảo vệ quyền và thực hiện nghĩa vụ:

o Pháp luật quy định chế độ sở hữu mới và cơ cấu lại nền kinh tế với nhiềuthành phần cùng phát triển, cạnh tranh và bình đẳng trước pháp luật

o Pháp luật xác định cơ cấu chủ thể trong kinh tế thị trường và tạo điều kiện chonền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới

o Pháp luật quy định cơ sở pháp lý cho sự hình thành và phát triển các loại thịtrường; đồng thời điều chỉnh hành vi của các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế như quyđịnh về quyền và nghĩa vụ, về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền của các tổ chức, cá nhân;quy định cơ chế xử lý các vi phạm pháp luật và giải quyết các tranh chấp trong hoạt độngkinh tế

- Về xây dựng cơ sở hạ tầng cho phát triển kinh tế - xã hội

o Đối với kết cấu hạ tầng kỹ thuật, Nhà nước tiến hành quy hoạch tổng thể vàchiến lược quốc gia về phát triển hạ tầng nhằm huy động các nguồn lực trong nước vànước ngoài cho đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở; ban hành quy hoạch tổng thể về đầu tư, vềphân vùng phát triển kinh tế, trên cơ sở đó xác định rõ các công trình đầu tư phát triểntrọng điểm, ưu tiên

Trang 12

o Đối với kết cấu hạ tầng xã hội, Nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích cácloại hình dịch vụ phục vụ trực tiếp cho kết cấu hạ tầng xã hội như: dịch vụ tài chính - ngânhàng, bảo hiểm, vận tải, giáo dục, y tế, du lịch, văn hóa, thể thao

- Về kiểm tra, giám sát nền kinh tế

Nhằm thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát nền kinh tế, thời gian qua nhà nước đãtập trung nâng cao chất lượng xây dựng, kiểm tra, thanh tra và giám sát việc tuân thủ cácquy tắc, chuẩn mực về kinh tế - xã hội Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể tiến hànhkiểm tra định kỳ hoặc bất thường, đồng thời nhà nước quy định chế độ kiểm tra riêng, chặtchẽ hơn đối với doanh nghiệp hoạt động trên quy mô lớn hoặc kinh doanh trong lĩnh vựckinh tế đặc thù (ngân hàng, bảo hiểm ) hay lĩnh vực kinh doanh dễ phát sinh độc quyềnhoặc ảnh hưởng đến môi trường sinh thái

- Về hoạt động điều tiết thu nhập, đảm bảo bình đẳng xã hội, khắc phục nhữngkhiếm khuyết của nền kinh tế thị trường

o Mục tiêu công bằng và bình đẳng xã hội mà VN hướng tới đó là: đảm bảocông bằng về cơ hội việc làm, bình đẳng trong việc sử dụng các nguồn lực phát triển, côngbằng vềnghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước, bình đẳng về hưởng thụ các thành quả phát triểnchung thông qua các chế độ phúc lợi công cộng, các dịch vụ công kết hợp với chính sách

xã hội cho các đối tượng ưu tiên…Thời gian qua, Nhà nước đã ban hành và sửa đổi nhiềuluật thuế mới đảm bảo sự hài hoà lợi ích giữa ba chủ thể: người lao động - doanh nghiệp -Nhà nước như: Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế xuấtkhẩu nhập khẩu, Luật ngân sách nhà nước, Luật thuế thu nhập cá nhân…, đồng thời thựchiện việc điều chỉnh hệ thống tiền lương, thành lập quỹ bảo hiểm xã hội

o Một trong những chính sách rõ nét nhằm đảm bảo bình đẳng xã hội là Nhànước đã quan tâm đến chính sách xoá đói giảm nghèo và khuyến khích người dân làm giàuchính đáng, nổi bật là việc giao đất, giao rừng cho hộ nông dân sử dụng ổn định, lâu dài vàkhông phải trả tiền sử dụng đất; việc cho vay với lãi suất thấp hoặc không lãi suất để ngườinghèo có vốn tạo công ăn việc làm

h Đánh giá về thực trạng thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước

o Đầu tư của Ngân sách nhà nước trực tiếp vào kết cấu hạ tầng chưa phù hợpthể hiện ở tỷ lệ chi cho đầu tư phát triển từ ngân sách còn quá cao so với chi thường xuyên

và so với GDP

o Hệ thống thuế hiện nay vẫn chưa thực sự là đòn bẩy kích thích đầu tư và tiêudùng; Chính sách thuế cao tuy làm tăng thu ngân sách nhà nước, nhưng làm giảm tái tích

Trang 13

lũy sản xuất cho các doanh nghiệp dẫn đến trình độ trang bị kỹ thuật của doanh nghiệpchậm đổi mới.

o Các loại thị trường trong nền kinh tế chậm được đồng bộ hóa, nhiều nguyêntắc thị trường bị vi phạm; việc sử dụng vốn ngân sách nhà nước thông qua các công cụ thịtrường còn mang nặng tính hình thức

o Bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế tuy được sắp xếp lại, giảm được một sốđầu mối nhưng vẫn lạc hậu và hạn chế so với sự phát triển của nền kinh tế theo hướng thịtrường

o Các hành vi vi phạm pháp luật buôn lậu, tiêu thụ hàng giả, tham nhũng diễn raphổ biến ở nhiều nơi , một mặt cho thấy ý thức chấp hành pháp luật kém của người dân,nhưng mặt khác cũng cho thấy sự bất cập, hạn chế của PL hiện hành, cũng như năng lựcyếu kém của cán bộ nhà nước

o Xây dựng và tổ chức thực hiện tốt chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và bằngcác nguồn lực, các chính sách hướng các quá trình phát triển kinh tế-xã hội và hệ thốngkinh doanh vào những lĩnh vực và địa bàn cần thiết, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của sự pháttriển

o Quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản quốc gia, thực hiện tốt chức năng chủ sởhữu đối với doanh nghiệp nhà nước

o Phát triển mạnh nguồn nhân lực và hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hộiđáp ứng yêu cầu phát triển

o Bảo đảm quốc phòng, an ninh và thực hiện có hiệu quả đường lối đối ngoạicủa Đảng, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tạo lập môi trường ngày càng thuận lợi chophát triển đất nước

o Nhà nước quản lý điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, quy hoạch, kế hoạch

và các công cụ điều tiết trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường Tăng cường công tácgiám sát, nhất là giám sát thị trường tài chính, chủ động điều tiết, giảm các tác động tiêucực của thị trường, không phó mặc cho thị trường hoặc can thiệp làm sai lệch các quan hệthị trường

o Hoàn thiện bộ máy nhà nước, tạo bước chuyển mạnh về cải cách hành chính

o Đẩy mạnh cải cách lập pháp, hành pháp và tư pháp, đổi mới tư duy và quytrình xây dựng pháp luật, nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật Tiếp tục xây dựng Nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất,

có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền

Trang 14

lập pháp, hành pháp, tư pháp Hoàn thiện cơ chế để tăng cường kiểm tra, giám sát hoạtđộng của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp

o Tập trung xây dựng nền hành chính nhà nước trong sạch, vững mạnh, bảođảm quản lý thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả

o Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, cóbản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tụy phục vụ nhân dân Quyđịnh rõ và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu

o Đặt yêu cầu cải cách thủ tục hành chính ngay trong quá trình xây dựng thểchế, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tăng cường đối thoại giữa Nhà nước với doanhnghiệp và nhân dân; mở rộng dân chủ, phát huy vai trò của các tổ chức và chuyên gia tưvấn độc lập trong việc xây dựng thể chế, chuẩn mực quốc gia về thủ tục hành chính; giảmmạnh các thủ tục hiện hành Công khai các chuẩn mực, các quy định hành chính để nhândân giám sát việc thực hiện Tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm trong hoạt động công

vụ Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và điều hành của hệ thốnghành chính nhà nước các cấp

o Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí Sớm ban hànhLuật chống tham nhũng, thực hiện nguyên tắc người đứng đầu cơ quan, tổ chức phải chịutrách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng của cán bộ do mình trực tiếp quản

lý trong khi thi hành công vụ

o Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dântrong việc xây dựng bộ máy nhà nước

2 Chức năng xã hội.

a Khái niệm

Chức năng xã hội của Nhà nước là phương diện hoạt động cơ bản của Nhà nước thể hiện bản chất chính trị - xã hội của Nhà nước trong việc thực hiện các trách nhiệm, nhiệm

vụ xã hội ở các giai đoạn phát triển lịch sử nhất định Nói cách khác, chức năng xã hội là

phương diện hoạt động cơ bản tác động vào lĩnh vực xã hội của đời sống xã hội, thể hiện rõnét vai trò và bản chất xã hội của Nhà nước, nhằm định hướng và giải quyết các nhiệm vụ

xã hội đặt ra trước Nhà nước Trong đó, lĩnh vực xã hội được xác định là một lĩnh vực độclập với lĩnh vực chính trị, lĩnh vực kinh tế theo quan điểm của Mác (Mác quan niệm đờisống xã hội của loài người nói chung gồm bốn lĩnh vực hoạt động cơ bản: kinh tế, chínhtrị, tinh thần và xã hội) Tuy nhiên, khái niệm này cũng chỉ mang tính tương đối vì nếu lấytính chất đại diện tập trung cho lợi ích chung của xã hội, vai trò tổ chức thực hiện các côngviệc chung của xã hội và mục đích vì sự phát triển và tiến bộ xã hội của Nhà nước làm tiêuchí để xem xét thì các chức năng của Nhà nước ở những mức độ khác nhau, đều chứa đựngthuộc tính xã hội của Nhà nước

b Vai trò của chức năng xã hội

Chức năng xã hội là cơ sở để xác định và đánh giá bản chất nhà nước, uy tín Nhànước, là hình thức phản ánh bản chất xã hội của nhà nước Chức năng xã hội có ở mọi Nhànước, nhưng được thể hiện rõ ràng nhất trong nhà nước xã hội chủ nghĩa Trong Nhà nước

xã hội chủ nghĩa, chức năng xã hội như là một nhu cầu tự thân, thể hiện tính nhân đạo, bản

Trang 15

chất và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, là tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa so vớicác chế độ Nhà nước khác, đó là sự quan tâm, chăm lo cho con người, vì sự phát triển toàndiện của mỗi con người gắn với sự phát triển của cả cộng đồng.

- Thông qua chức năng xã hội, Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích cho nhân dân Nhờ

đó, nhân dân tin tưởng vào Nhà nước, ủng hộ Nhà nước, tham gia tích cực các hoạt độngcùng với Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội

- Chức năng xã hội là cơ sở quan trọng để nhà nước giải quyết những vấn đề xã hội,

có ý nghĩa giúp cho toàn xã hội ổn định và phát triển; đề cao tính tích cực của công dân,tạo sự bình đẳng xã hội thông qua việc bảo đảm cho công dân có những cơ hội, những khảnăng để tự giải quyết các vấn đề của mình, để phát triển

- Chức năng xã hội mang lại sự ổn định về mặt xã hội, là tiền đề cho việc thực hiệncác chức năng nhà nước khác (chức năng chính trị và chức năng kinh tế)

Như vậy, chức năng xã hội của Nhà nước có ảnh hưởng lớn đến quan hệ giai cấp,đến phát triển kinh tế, ổn định xã hội và là điều kiện cho sự phát triển, có vai trò quan trọngđối với việc thực hiện các chức năng nhà nước khác

Đối với nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng không ngoại lệ Chứcnăng xã hội luôn giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống các chức năng của Nhà nước Vịtrí đó được xác định xuất phát từ mục đích của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ bản chấtcủa Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân; từ mục đích phát triển kinh tế - xãhội nhằm đạt đến sự giàu mạnh của cả cộng đồng dân tộc và sự phát triển toàn diện củamỗi công dân, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh Để có thể ổn định và phát triển cơ sở xã hội, tác nhân tích cực kích thích, thúc đẩy sựtăng trưởng kinh tế, thúc đẩy sự phát triển của xã hội phù hợp với bản chất nhà nước; bảo

vệ lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, cộng đồng, giai cấp, nhóm xã hội và công dân trongmối quan hệ tương quan, hợp lý giữa chúng; xây dựng và bảo vệ các giá trị xã hội bằng cácchuẩn mực chung nhất mà xã hội công nhận và bảo vệ thì không có gì khác hơn là Nhànước phải thực hiện tốt chức năng xã hội của mình Đó cũng chính là bổn phận, là tráchnhiệm của Nhà nước đối với nhân dân, "Tất cả những việc mà Đảng và Nhà nước đề ra đềunhằm cải thiện đời sống cho nhân dân Làm gì không nhằm mục đích ấy là không đúng"

c Những nội dung cơ bản trong chức năng xã hội của nhà nước.

Thứ nhất, Nhà nước xây dựng chính sách xã hội và pháp luật về các vấn đề xã hội.

Chính sách xã hội là hệ thống các chủ trương và biện pháp do Nhà nước đề ra vàđảm bảo thực hiện nhằm giải quyết một cách hiệu quả các vấn đề xã hội theo hướng xáclập và bảo đảm công bằng xã hội, bảo đảm quyền con người và bảo đảm an toàn xã hội chocông dân Chính sách xã hội thể hiện bản chất của Nhà nước ta, là sự cụ thể hóa đường lốichính sách của Đảng cộng sản và luôn được thể hiện dưới hình thức pháp lý Đổi mớichính sách xã hội là đổi mới về nội dung và phương thức thực hiện chức năng xã hội củaNhà nước, góp phần thực hiện mục tiêu vì con người, vì một xã hội công bằng, dân chủ,văn minh và hoàn thiện Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Pháp luật là hình thức chủ yếu, cơ bản để Nhà nước chuyển tải các chính sách củamình thành các chuẩn mực pháp lý, từ đó tác động vào các quan hệ xã hội Trong hệ thốngpháp luật, Hiến pháp với tính cách là luật cơ bản nhất có vai trò quan trọng trong việc thể

Trang 16

hiện, ghi nhận và tạo cơ sở pháp lý để thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước Hiếnpháp không chỉ quy định về tổ chức quyền lực nhà nước, phản ánh tổ chức chính trị củaquốc gia mà còn quy định các mối quan hệ xã hội khác liên quan đến tổ chức xã hội như vềquyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân, chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốcphòng Ở Việt Nam, từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến Hiến pháp mới nhất 2013đều ghi nhận vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện chức năng xã hội, thểhiện trong các quy định về bảo đảm các quyền cơ bản cho công dân, phát triển văn hóa,giáo dục, chăm sóc y tế, bảo đảm trật tự an toàn xã hội tuy mức độ và cách thức thể hiệnkhác nhau.Trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xuất phát từ nộidung, nhu cầu thực hiện chức năng xã hội và chính sách xã hội của Nhà nước, hệ thốngpháp luật hình thành và phát triển trên cơ sở những đòi hỏi khách quan của các quan hệkinh tế - xã hội, tạo cơ chế pháp lý cho việc giải quyết các vấn đề xã hội Đồng thời vớiviệc trở thành phương tiện bảo vệ quyền lực nhà nước, pháp luật là phương tiện hữu hiệuthực hiện chức năng xã hội góp phần nâng cao các chỉ tiêu chất lượng về xã hội, về giáodục, văn hóa

Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, hệ thống pháp luật điều chỉnh các vấn đề xã hộingày càng được hoàn thiện Đặc biệt, hiến pháp mới 2013 càng khẳng định vai trò và chứcnăng xã hội của Nhà nước ta, tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng, ban hành các văn bảnquy phạm pháp luật để thực hiện chức năng xã hội Cùng với sự thay đổi của Hiến pháp,Nhà nước ta đã, đang và sẽ ban hành, sửa đổi, hoàn thiện được nhiều văn bản pháp luậtđiều chỉnh về các lĩnh vực xã hội: lao động, việc làm, văn hóa, giáo dục, chăm sóc sứckhỏe nhân dân, thực hiện công bằng xã hội sao cho tương thích và phù hợp

Thứ hai, Nhà nước tổ chức quản lý và điều hành việc thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu xã hội, thể hiện trong hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực chủ yếu sau:

- Nhà nước "cung cấp những hàng hóa công cộng cơ bản" để phục vô cho các nhucầu chung, lợi ích chung của toàn xã hội, toàn bộ cộng đồng: đầu tư xây dựng kết cấu hạtầng vật chất kỹ thuật và cung ứng các dịch vụ công cộng

- Nhà nước điều tiết các vấn đề về lao động, việc làm và phân phối thu nhập

- Nhà nước điều tiết lĩnh vực giáo dục đào tạo, chăm sóc y tế và bảo vệ sức khỏe chonhân dân

- Bảo vệ môi trường, bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo đảm an toàn xã hội, đấu tranhphòng chống các tệ nạn xã hội và tội phạm

- Nhà nước thực hiện bảo trợ đối với một bộ phận dân cư thông qua chủ trương xóađói giảm nghèo, bảo hiểm xã hội, ưu đãi xã hội và cứu trợ xã hội

d Các phương thức thực hiện chức năng xã hội.

Phương thức thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước là những phương pháp vàhình thức tiến hành các hoạt động thực tiễn khi Nhà nước tác động vào các lĩnh vực củađời sống xã hội, nhằm đạt được những mục tiêu và giải quyết những nhiệm vụ xã hội đặt racho Nhà nước

o Các hình thức pháp lý

Trang 17

Xuất phát từ nguyên tắc "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật", hình thức pháp

lý được xác định là hình thức chủ yếu của việc thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước,thể hiện qua hoạt động của các cơ quan nhà nước Hình thức pháp lý là hình thức gắn liềnvới việc ban hành pháp luật, thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật Những hình thứcpháp lý cùng với các hình thức khác của việc thực hiện chức năng nhà nước tạo thành hoạtđộng thống nhất của Nhà nước, thể hiện quyền lực nhà nước, quyền lực nhân dân

o Tổ chức bộ máy thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước

Bộ máy để thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước Việt Nam hiện nay là một thiếtchế bao gồm hai bộ phận: các cơ quan nhà nước và các tổ chức khác do Nhà nước thànhlập - được coi là các "yếu tố phụ trợ vật chất" Trong đó, các cơ quan nhà nước là một phầncủa bộ máy nhà nước, được lập ra theo yêu cầu của tổ chức quyền lực nhà nước và trựctiếp thực thi quyền lực nhà nước giữ vai trò trọng yếu trong việc thực hiện chức năng nàycòn các yếu tố phụ trợ vật chất mặc dù do Nhà nước lập ra nhưng không có vai trò trongthực thi quyền lực mà chỉ là phương tiện bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụcủa Nhà nước Như vậy khái niệm bộ máy thực hiện chức năng theo cách hiểu của chúngtôi không đồng nhất với khái niệm bộ máy nhà nước

o Nhà nước tổ chức, huy động các lực lượng xã hội tham gia vào các hoạt động

xã hội, cùng Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội (xã hội hóa)

Xã hội hóa là một xu hướng, đồng thời cũng là một trong những phương thức thựchiện chức năng xã hội của Nhà nước, xuất phát từ nhận thức chăm lo cho con người, chocộng đồng là trách nhiệm của toàn xã hội, của mỗi đơn vị, từng gia đình, là sự nghiệp củaNhà nước và của toàn dân Thực tế là Nhà nước không thể giải quyết toàn bộ các vấn đề xãhội bằng sức mạnh của riêng mình, do đó ngoài việc trực tiếp thực hiện các hoạt động đểgiải quyết các vấn đề xã hội, Nhà nước còn tổ chức và quản lý các hoạt động xã hội - cáchoạt động của các chủ thể khác tham gia vào việc thực hiện chức năng xã hội của Nhànước

o Nhà nước áp dụng các biện pháp kinh tế, hành chính, tuyên truyền giáo dục

 Biện pháp kinh tếNhà nước bằng các đòn bẩy kinh tế, bằng tiềm lực kinh tế để thực hiện chức năngcủa mình Nội dung của biện pháp kinh tế chính là sự quản lý bằng lợi ích, thông qua lợiích của các thành viên, của cộng đồng và của toàn xã hội Trong thực hiện chức năng xãhội, Nhà nước tập trung sử dụng các biện pháp kinh tế sau:

Thứ nhất, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng:

Thứ hai, hỗ trợ vốn và thực hiện các chương trình đầu tư để giải quyết các vấn đềchung của toàn xã hội cũng như của một bộ phận dân cư nào đó, như lao động, việc làm,chăm sóc sức khỏe cộng đồng, xóa đói giảm nghèo

Thứ ba, điều tiết thu nhập và khuyến khích các chủ thể khác tham gia thực hiệnchính sách xã hội thông qua công cụ chủ yếu là thuế

 Biện pháp hành chínhĐây là biện pháp sử dụng trong các hoạt động mang tính chấp hành - điều hành, làbiện pháp hữu hiệu nhằm đảm bảo vai trò quản lý xã hội của Nhà nước, đảm bảo sự ổnđịnh và phát triển của xã hội

Trang 18

 Giáo dục tuyên truyềnBiện pháp này mang tính thuyết phục, là hoạt động của Nhà nước thông qua tuyêntruyền, giáo dục, giải thích, hướng dẫn, nêu gương nhằm tạo ra mét ý thức về lối sốngtrong cộng đồng, ý thức pháp luật của mỗi công dân, tạo thãi quen sống và làm việc theopháp luật.

e Thực trạng

o Về chính sách xã hội và hệ thống pháp luật

Thứ nhất, hiện nay, hệ thống chính sách xã hội của Nhà nước ta phát triển khá toàn

diện, trở thành phương thức quan trọng để điều tiết, kiểm soát và giải quyết các vấn đề xãhội nhưng cũng còn một số hạn chế: do chưa thật sự đảm bảo tính chiến lược tổng thể nêncác chính sách xã hội thường chưa đủ để điều tiết các vấn đề xã hội, phải bổ sung nhiềulần, dẫn đến hiện tượng chắp vá, chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn; nhiều chính sách xã hộilạc hậu so với tình hình thực tế, chưa tính hết các mối quan hệ cơ bản, chưa thật sự đảmbảo được nguyên tắc công bằng, nhất là mối quan hệ giữa các đối tượng của chính sáchhoặc giữa các khu vực, các thành phần kinh tế; do hậu quả của cơ chế cũ nên nhiều khi nộidung chính sách xã hội và cơ chế quản lý việc thực hiện chính sách xã hội chưa được đổimới một cách đồng bộ phù hợp với cơ chế mới

Thứ hai, mặc dù đã có nhiều tiến bộ nhưng do điều kiện thực tế, khi các quan hệ xã

hội vận động liên tục của cơ chế kinh tế - xã hội đang trong quá trình chuyển đổi và nhữnghạn chế chủ quan của hoạt động xây dựng pháp luật nên hệ thống pháp luật về các vấn đề

xã hội ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập:

- Tính ổn định chưa cao Rất nhiều văn bản pháp luật, kể cả các luật vừa ban hànhtrong một thời gian ngắn đã trở thành lạc hậu, không phù hợp với thực tiễn phải điều chỉnh,sửa đổi

- Còn nhiều văn bản pháp luật mang tính nguyên tắc, tính chiến lược hay nội dungchung chung mà thiếu các quy định chi tiết, cụ thể dẫn đến khó thực hiện, khó vận dụng,còn khoảng cách giữa hoạch định với tổ chức thực hiện dẫn đến hạn chế giá trị điều chỉnhtrực tiếp của các văn bản luật đối với các quan hệ xã hội Cụ thể là: nhiều đạo luật, pháplệnh đã ban hành nhưng trong đó có nhiều điều chưa có khả năng điều chỉnh trực tiếp, phảigiao cho Chính phủ hoặc các cơ quan hữu quan khác ra văn bản hướng dẫn thi hành (nếukhông sẽ không thi hành được trên thực tế) mà bước ra văn bản tiếp theo lại thường tiếnhành chậm trễ nên ảnh hưởng rất lớn tới tính khả thi của các văn bản pháp luật

- Chưa thật sự đồng bộ, thống nhất trong các quy định của pháp luật về thực hiện cácchính sách xã hội

- Còn thiếu cân đối về số lượng các văn bản điều chỉnh các lĩnh vực cụ thể của lĩnhvực xã hội

- Hệ thống luật pháp chưa đủ thông thoáng, cởi mở, còn khoảng cách so với cácnước khác

Trang 19

o Về việc nhà nước tổ chức quản lý và điều hành việc thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu xã hội.

Trong điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển, các nhu cầu cơ bản của conngười ngày càng tăng cao, bên cạnh đó nhiều vấn đề xã hội cũng nảy sinh, dẫn đến việcthực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu xã hội của các Nhà nước trên Thế giới nói chung và Nhànước CHXHCN Việt Nam nói riêng ngày càng khó khăn và cấp thiết Thực tế cho thấy ởViệt Nam hiện nay, việc thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu xã hội của Nhà nước ở nhiềulĩnh vực đã bộc lộ sự kém hiệu quả Đơn cử như trong lĩnh vực đầu tư xây dựng kết cấu hạtầng Mặc dù các cơ sở vật chất kỹ thuật đó đã hỗ trợ lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội,cũng như phục vụ tốt hơn nhu cầu đi lại, sinh hoạt, nâng cao đời sống cho nhân dân, tuynhiên trong lĩnh vực này Nhà nước và các cơ quan chức năng còn thiếu một kế hoạch tổngthể mang tầm chiến lược, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp, các đơn vị,dẫn đến việc không đảm bảo tiến độ, chất lượng công trình, gây ra sự tốn kém không nhỏcho ngân sách nhà nước Việc đầu tư cho các công trình phục vụ phóc lợi xã hội nhiều khichưa thật sự thỏa đáng, chưa tương xứng với các lĩnh vực khác, như: đầu tư cho các côngtrình văn hóa xã hội phục vụ nhu cầu giải trí, rèn luyện, chăm sóc sức khỏe cho người laođộng sau thời gian làm việc, nơi vui chơi lành mạnh cho trẻ em chưa được quan tâmđúng mức Về vấn đề việc làm, thống kê của các cơ quan chức năng cho thấy tỉ lệ ngườilao động thất nghiệp, thiếu việc làm ở cả thành thị, nông thôn còn rất cao, và có xu hướnggia tăng Thất nghiệp là một trong những nguyên nhân của các tệ nạn xã hội, gây mất ổnđịnh trật tự an toàn xã hội; đang và sẽ diễn biến rất phức tạp trong quá trình phát triển củađất nước mà nguyên nhân là do hậu quả của mức tăng dân số và lao động, do đầu tư tậptrung kéo dài cho những ngành sử dụng vốn nhiều hơn là sử dụng lao động, do việc sắpxếp lại các doanh nghiệp nhà nước nên dôi dư một số lượng lớn người lao động từ khu vựcnày

f Giải pháp

- Tăng cường nhận thức và nghiên cứu lý luận về vấn đề chức năng xã hội của Nhànước để tạo ra cơ sở lý luận khoa học, nhận thức đúng đắn, góp phần thực hiện tốt chứcnăng

- Tăng cường hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiệnchức năng xã hội, phù hợp với yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và yêu cầucủa thực tế đời sống xã hội

Hoàn thiện hệ thống chính sách xã hội, chú trọng các chính sách xã hội mang tầmchiến lược, chính sách chung cho quốc gia đồng thời cũng cần quan tâm đến các chínhsách dành từng loại đối tượng, từng vùng, từng địa phương cụ thể

- Đổi mới vai trò, chức năng, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của các cơquan chuyên trách thực hiện chức năng này trong yêu cầu hoàn thiện mét cách đồng bộ bộ

Trang 20

máy nhà nước Xác định đúng mức độ, phạm vi tác động của Nhà nước tới lĩnh vực xã hội;xây dựng và phát triển các tổ chức sự nghiệp và dịch vụ xã hội Nâng cao trình độ, nănglực chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức và bản lĩnh chính trị của đội ngò cán bộ, công chứcnhà nước

- Nhà nước cần tăng cường đầu tư và đầu tư có hiệu quả cho việc giải quyết các vấn

đề xã hội

- Tăng cường mạng lưới và hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quanchức năng, phối hợp với phát huy dân chủ, nâng cao vai trò và trách nhiệm của nhân dântrong kiểm tra, giám sát việc thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước

- Đẩy mạnh xã hội hóa việc thực hiện chức năng xã hội trên cơ sở phân định rõ tráchnhiệm của Nhà nước, trách nhiệm của cộng đồng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội.Nhà nước hoàn thiện cơ sở pháp lý và tạo các điều kiện thực tế cần thiết để các tổ chức xãhội, tổ chức kinh tế và các chủ thể khác tham gia thực hiện chức năng

- Phát triển quan hệ hợp tác quốc tế, khai thác triệt để những thuận lợi, tranh thủ cácnguồn tài chính và sự giúp đỡ do hợp tác quốc tế mang lại nhưng phải thận trọng, khôngchấp nhận bị áp đặt những điều kiện đi ngược lại lợi Ých quốc gia, đồng thời đóng góp sứcmình vào việc giải quyết các vấn đề xã hội mang tính quốc tế

III Bộ máy nhà nước.

1 Khái niệm

Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ TW đến địa phương, được tổchức và hoạt động theo những nguyên tắc chung, thống nhất nhằm thực hiện nhiệm vụ vàchức năng của nhà nước

Bộ máy nhà nước bao gồm các cơ quan nhà nước như: Quân đội, cảnh sát, tòa án,nhà tù,…

Trong xã hội có giai cấp, bộ máy nhà nước đều là những công cụ chủ yếu nhất, và cóhiệu lực nhất để thực hiện nền chuyên chính của giai cấp thống trị về kinh tế, chính trị, tưtưởng trong xã hội; bảo vệ lợi ích giai cấp thống trị; nắm giữ đồng thời 3 quyền lực : kinhtế-chính trị-tư tưởng; sử dụng pháp luật để quản lý xã hội bằng 3 hình thức hoạt động là xd

PL, tổ chức thực hiện PL và bảo vệ PL; áp dụng 2 phương pháp chung, cơ bản để quản lý

XH là giáo dục-thuyết phục và cưỡng chế

2 Các bộ phận cấu thành

Trang 21

Cơ quan nhà nước là bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước, được thành lập và cóthẩm quyền theo quy định của pháp luật Bộ máy NN thực hiện những nhiệm vụ và chứcnăng chung của cả nhà nước, còn mỗi cơ quan nhà nước lại thực hiện các nhiệm vụ, chứcnăng riêng nhằm tham gia thực hiện nhiệm vụ, chức năng chung của nhà nước.

Đặc điểm cơ bản của CQNN là mang tính chất quyền lực nhà nước và t/c quyền lực

ấy thể hiện ở chỗ:

- Chỉ có cơ quan NN mới có quyền nhân danh cả nướ để thực thi

quyền lực NN

- Trong phạm vi thẩm quyền của mình, CQNN có quyền ban hành

VBQPPL hoặc VB áp dụng QPPL có t/c bắt buộc phải thi hành đốivới cá nhân, tổ chức, coq quan nhà nước có liên quan

- Có quyền ktra, giám sát việc thực hiện các VB đã ban hành

- Có quyền áp dụng các bphap cưỡng chế khi cần thiết đối vs cá nhân,

cơ quan tổ chức có liên quan đã k tự giác và nghiêm chỉnh thực hiện

VB do CQNN ban hành đã có hiệu lực PL, gây ra thiệt hại cho NN,

XH và cá nhân công dân

Thông thườn, bộ máy NN đc cấu tạo bởi các cơ quan quyền lực NN, cơ quan hànhchính NN và các cơ quan tư pháp

Bộ máy NN đc hoàn thiện dần qua các thời đại, kể từ khi có nhà nước cho tới nay

- Bộ máy nhà nước chiếm hữu nô lệ cấu tạo giản đơn, theo mô hình

quân sự - hành chính và chưa có sự phân định rõ, cụ thể chức năng ,nhiệm vụ giữa các CQNN

- Bộ máy NN phong kiến cấu tạo phức tạp hơn và giữa các cơ quan

NN đã có sự phân định về chức năng, nhiệm vụ

- Bộ máy NN TS phát triển ở trình độ khá cao và đc tổ chức theo

nguyên tắc phân chia quyền lực để tạo nên cơ chế kiềm chế và đốitrọng nhau giữa các cơ quan nắm giữ 3 loại quyền lực lập pháp,hành pháp và tư pháp

- Bộ máy NN XHCN k ngừng đc cải cách, hoàn thiện theo hướng NN

pháp quyền của dân, do dân và vì dân

3 Bộ máy nhà nước CHXHCNVN

a Khái niệm

Bộ máy NN CHXHCNVN là hệ thống các cơ quan NN từ TW xuống địa phương, đc

tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung, thống nhất nhằm thực hiện nhữngnhiệm vụ chiến lược và các chức năng của NN vì mục tiêu dân giàu, nc mạnh, XH côngbằng, dân chủ, văn minh

Trang 22

b Đặc điểm.

Bộ máy nhà nước CHXHCNVN được tổ chức thành 4 phân hệ các cơ quan nhà nước

và một chức danh nguyên thủ quốc gia là Chủ tịch nước Theo Hiến pháp 2013 và các đạoluật về tổ chức bộ máy nhà nước thì:

- Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng

hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại

- Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội Chủ tịch

nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội

- Phân hệ các cơ quan quyền lực NN gồm Quốc hội và Hội đồng nhân

dân các cấp Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơquan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp,quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối caođối với hoạt động của Nhà nước Hội đồng nhân dân là cquan quyềnlực NN ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làmchủ của nhân dân địa phương

- Phân hệ cơ quan hành chính Nhà nước: gồm Chính phủ - cơ quan

hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành củaQuốc hội; các cơ quan hành chính NN khác ở TW và Ủy ban nhândân – cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, cơ quan chấphành của Hội đồng nhân dân, do Hội đồng nhân dân bầu ra

- Phân hệ các cơ quan xét xử, gồm Tòa án nhân dân, Tòa án quân sự

và các Tòa án khác đc thành lập theo luật định

- Phân hệ các cơ quan kiểm sát việc tuân theo PL, các VKS nhân dân

và các VKS quân sự

4 Các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước CHXHCNVN

a Nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng.

Hệ thống chính trị Việt Nam là hệ thống chính trị nhất nguyên, trong đó chỉ tồn tạimột đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam - lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội.Theo quy định tại Hiến pháp 2013, Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấpcông nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam làđảng cầm quyền, giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội, toàn diện bao gồm chính trị,kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao

Sự lãnh đạo của Đảng đảm bảo giữ vững bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa,giữ vai trò quyết định trong việc xác định phương hướng tổ chức và hoạt động của Nhà

Trang 23

nước Đó là điều kiện tiên quyết đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, pháthuy quyền làm chủ của nhân dân trong việc tham gia quản lý các công việc của Nhà nước

b Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

Hiến pháp 2013 quy định rõ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhànước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.Nhà nước là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Vì vậy, trong hoạt động củamình Nhà nước đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng,bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, cóđiều kiện phát triển toàn diện Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trựctiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơquan khác của Nhà nước

c Nguyên tắc tập trung dân chủ

Đây là nguyên tắc cơ bản áp dụng cho tất cả các cơ quan nhà nước, được

quy định tại Điều 8 Hiến pháp năm 2013: "Nhà nước được tổ chức và hoạt động theoHiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắctập trung dân chủ."

Thực chất của nguyên tắc này là sự kết hợp hài hòa giữa sự chỉ đạo tập trung, thốngnhất của cấp trên với việc phát huy dân chủ, quyền chủ động sáng tạo của cấp dưới Về tổchức, tất cả các cơ quan đều bắt nguồn từ Quốc hội, báo cáo công tác trước Quốc hội;Quốc hội chỉ đạo thống nhất sự hoạt động của cả bộ máy NN, còn các cơ quan NN trongmỗi phân hệ chịu sự chỉ đạo tập trung thống nhất của cơ quan đứng đầu phân hệ ấy Vềhoạt động, cơ quan NN câp trên quyết định và tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách,

PL quan trọng nhất về kinh tế, chính trị, VHXH; kiểm tra việc chấp hành của cơ quan cấpdưới; cơ quan cấp dưới phải phục tùng cơ quan cấp trên và trong phạm vi thẩm quyền tựgiải quyết các công việc hàng ngày Nguyên tắc này cũng đòi hỏi phải thực hiện chế độthông tin, báo cáo và chế độ trách nhiệm rõ ràng giữa các cấp, kiên quyết đấu tranh chốngtham nhũng, lãng phí và mọi biêu hiện quan lieu, hách dịch, cửa quyền

d Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

Đây là nguyên tắc quan trọng nhất và không thể thiếu, nhất là khi nhà nước ViệtNam đã được khẳng định tại Hiến pháp 2013 là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Trang 24

Về tổ chức, nguyên tắc này đòi hỏi cơ cấu tổ chức bộ máy NN nói chung, của mỗi

cơ quan nhà nước nói riêng phải theo hiến pháp và các luật về tổ chức bộ máy NN

Về hoạt động, mọi CQNN, công chức NN đều phải luôn tôn trọng và thực hiện PLmột cách đầy đủ, nghiêm chỉnh và thống nhất; chỉ đc làm những j PL cho phép; phải làmnhững j mà PL yêu cầu phải làm và đều phải chịu trách nhiệm pháp lý khi VPPL, đảm bảo

sự bình đẳng trc PL

5 Cải cách bộ máy nhà nước CHXHCNVN

Mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn về mọi mặt nhưng bộ máy NNCHXHCNVN vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém cần khắc phục như : còn cồng kềnh, nhiềutầng nấc trung gian, năng lực của cán bộ công chức còn hạn chế Thêm vào đó sự ra đờicủa HP 2013 càng khiến cho yêu cầu cần cải cách, hoàn thiện bộ máy nhà nước trở nên cấpbách và có ý nghĩa quan trọng đối vs sự nghiệm xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN Ngoài

ra, cải cách bộ máy NN còn xuất phát từ nhu cầu mang tính khách quan của công cuộc đổimới trong nước và những biến đổi to lớn của cộng đồng quốc tế

Việc cải cách bộ máy NN cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Phải đặt cải cách, hoàn thiện bộ máy nhà nước trong tổng thể công

cuộc đổi mới Hệ thống chính trị Việt Nam

- Đảm bảo quyền lực NN thuộc về nhân dân, do nhân dân, vì nhân

dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng

- Tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân

- Đảm bảo nguyên tắc tính thống nhất, sự phân công, phối hợp và

kiểm soát quyền lực nhà nước

- Cải cách, hoàn thiện bộ máy NN phải được tiến hành theo từng giai

đoạn của một lộ trình nhất định, phù hợp vs trình độ, khả năng vàđiều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước

- Việc cải cách phải diễn ra toàn diện và đồng bộ đối với các cơ quan

quyền lực NN, cơ quan hành chính NN, cơ quan tư pháp và bổ trợ tưpháp

Nội dung cải cách:

Ngày đăng: 06/08/2017, 19:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w