1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tiền việt nam được phát hành lần đầu vào giữa thế kỷ 10,

16 722 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt sau Mặt sau của tiền thường không có chữ, tuy nhiên một số nhỏ có chữ để chỉ một trong các ý nghĩa sau: • Triều đại nhà vua, như chữ Ðinh của tiền ái Bình hưng bảo, chữ Lê của tiền

Trang 1

Tiền Việt Nam được phát hành lần đầu vào

giữa thế kỷ 10,

Tiền Việt Nam được phát hành lần đầu vào giữa thế

kỷ 10, thời kỳ nhà nướcĐại Cồ Việtdưới sự trị vì của

Đinh Bộ Lĩnh ờiphong kiến, gần như mỗi đời vua

lại cho phát hành loại tiền mới Nhiều khi, mỗi lần thay

đổiniên hiệu, vua lại cho phát hành loại tiền mới Suốt

một thời gian dài,tiền kim loạilà thứ tiền duy nhất và

mô phỏng theo tiền kim loại của các triều đình Trung

ốc.Tiền giấyxuất hiện ở Việt Nam khá sớm so với

thế giới, vào năm 1396[1]

Nhiều đồng tiền cổ được một số tư liệu cho là có, nhưng

chưa đượckhảo cổ họckiểm chứng Một số khác sử liệu

không hề nhắc đến, nhưng khảo cổ học lại phát hiện ra

và sau đó được các nhàsử họcxác minh thêm Sử liệu

cho thấy trong một số đời vua, trong một số niên hiệu,

và một số thủ lĩnh tự xưng vua có phát hành tiền, nhưng

không nói rõ tiền gì trong khikhảo cổ họccũng không

tìm ra tiền nào cho các thời đó Désiré Lacroix trong

“Tiền cổ học An Nam, với sưu tập 40 hình vẽ" công bố

năm 1900 nhắc đến một số đồng tiền cổ của Việt Nam

và còn miêu tả hình thù, nhưng không đưa ra tài liệu

lịch sửhay bằng chứng khảo cổ nào hỗ trợ

1.1 Hình thức tiền cổ

Mặt trước

Ngoại trừ tiềngiấyphát hành dưới thờiHồ ý Ly, tiền

cổ của Việt Nam đều được đúc bằngkim loạidạng hình

tròn với lỗ vuông ở chính giữa

Mặt chính của đồng tiền có cácchữ Hánmà ít nhất có

hai chữ (vị trí 1 và 2) thường làniên hiệucủa nhà vua

và hai chữ sau (vị trí 3 và 4) dùng để chỉ loại tiền Cũng

có thể có loại tiền không có hai chữ này Vị trí của bốn

chữ đôi khi viết theo chiều thuận của kim đồng hồ và

đôi khi viết theo kiểu chéo (Xem phần: "Tên gọi tiền

cổ" bên dưới)

Mặt trước của đồng tiền, viền tròn của rìa tiền và viền

vuông của lỗ tiền thường được viền nổi để giảm bớt sự

hao mòn của chữ đúc và việc mài dũa mặt tiền để lấy

bớt chất đồng của kẻ gian

Mặt sau

Mặt sau của tiền thường không có chữ, tuy nhiên một

số nhỏ có chữ để chỉ một trong các ý nghĩa sau:

• Triều đại nhà vua, như chữ Ðinh của tiền ái

Bình hưng bảo, chữ Lê của tiền iên Phúc Trấn

Bảo của nhà Tiền Lê, chữ Trần của tiền iệu

Phong thông bảo của vuaTrần Dụ Tông

• hoặc năm phát hành của tiền, như Nhâm Tuất của

tiền Cảnh Hưng ông Bảo để chỉ tiền đúc trong năm Nhâm Tuất 1742, như chữ Tỵ của tiền Vĩnh

ịnh ông Bảo để chỉ năm đúc Qúy Tỵ 1713

• hoặc lòng yêu qúy của vua như chữ Càn Vương,

để chỉ Càn Vương Lý Nhật Trung là con vuaLý

ái Tông, trên tiền iên Cảm ông Bảo của Lý

ái Tông

• hoặc nơi đúc đồng tiền nhưHà NộihoặcSơn Tây

trên tiền Tự Ðức ông bảo, như chữ Công cho

Bộ Công - một trong 6 Bộ - trên tiền ang Trung

ông Bảo

• hoặc một chữ có ý nghĩa tốt đẹp như chữ Chính,

để chỉ đến chính pháp công bằng, trên tiền ang Trung ông Bảo

• hoặc mang những ký hiệu đặc biệt đánh dấu đợt

tiền đúc, như 4 hình cong úp vào hay vểnh ra từ

lỗ vuông của tiền ang Trung ông Bảo, như

1 dấu chấm và 1 dấu hình cong tượng trưng cho

2 chữ Nhật Nguyệt, tức chữ Minh, để tưởng nhớ

nhà Minh, trên tiền ái Bình ông Bảo doMạc

iên Tứđúc ở Hà Tiên

• hoặc ghi trọng lượng của tiền như chữ ất Phân

trên tiền Gia Long ông Bảo

1

Trang 2

• hoặc ghi trị giá ấn định của tiền như chữ Lục Văn

trên tiền Tự Ðức ông Bảo

Kích thước và trọng lượng

Các đồng tiền cổ cóđường kínhtrung bình từ

22mm-24mm, những đồng lớn có đường kính 25 - 26mm (như

tiền ành ái thông bảo) và những đồng nhỏ 18

-20mm (như đồng Bảo Ðại thông bảo)

Kích thước của lỗ vuông trung bình vào khoảng 5 mm,

nhưng cũng có những đồng tiền có lỗ vuông to đến 7

mm như trường hợp tiền ngoại thương Trường Kỳ tiêu

dùng ở Hội An vàothế kỷ 17 Chiều dày của tiền cổ

thường vào khoảng 0,5mm, ngoại lệ tiền Ðoan Khánh

thông bảo củaLê Uy Mụcdày đến 1 mm

Ðường kính và bề dày là hai yếu tố ảnh hưởng trực

tiếp đến trọng lượng của đồng tiền Những đồng tiền có

kích thước và trọng lượng cân đối vừa đủ, không quá

dày nặng sẽ dễ dàng trong việc tiêu dùng Tiền quá nhẹ

mỏng thì dễ gãy vỡ Với kích thước trung bình như trên,

trọng lượng khoảng 3,5 - 4 gram là vừa phải Tiền Ðoan

Khánh ông Bảo củaLê Uy Mụcđược coi là ngoại cỡ

so với các đồng tiền khác, vừa dày vừa to, có đồng nặng

đến 6,2 gram

1.2 Tên gọi tiền cổ

Hai chữ ở vị trí 1 và 2 trên đồng tiền thường làniên hiệu

của vị vua cho đúc tiền Hai chữ này do đó thường phản

ánh thời gian tiền được đúc

Các chữ thứ 3 và thứ 4 trên đồng tiền có ý nghĩa, nguồn

gốc khác nhau, trong đó có những chữ noi theo cách gọi

của tiền cổ do các triều đại Trung ốc phát hành; hoặc

do hoàn cảnh, sự kiện lịch sử đương thời; hoặc đơn giản

chỉ là hàm ý nhấn mạnh giá trị đồng tiền:

• ông bảo là chữ thường thấy nhất trên các

đồng tiền, nghĩa là đồng tiền lưu hành thông dụng.

Hai chữ này xuất hiện đầu tiên trong tiền Khai

Nguyên ông Bảo doĐường Cao Tổcủa Trung

ốc đúc năm 621[2]

• Nguyên bảo : tiền mới đầu tiên

• Đại bảo : tiền có giá trị lớn

Ngoài những chữ trên hay được dùng, còn có những

chữ khác đúc trên tiền cổ là:

• Vĩnh bảo : tiền lưu thông mãi mãi

• Chí bảo : tiền cao quý nhất Đồng tiền đầu tiên

dùng hai chữ “chí bảo” là tiền Gia Định Chí Bảo

của Tống Ninh Tông (1208-1224)

• Chính bảo : tiền chính thống Đồng tiền đầu tiên

dùng hai chữ “chính bảo” là tiền Gia Định Chính

Bảo của Tống Ninh Tông (1208-1224)

• Cự bảo : tiền có giá trị to

• Trọng Bảo : Đồng tiền trọng yếu Đồng tiền đầu tiên dùng hai chữ “trọng bảo” là tiền Càn Nguyên Trọng Bảo củaĐường Túc Tông(758-759)

• uận Bảo : tiền của vua Lê Hiển Tông, kỷ niệm

dịp chiếm đóng uận Hóa và lấy súng đồng của

chúa Nguyễnở uận Hoá mà đúc thành tiền…

• vv…

1.3 Đơn vị và mệnh giá

Đơn vị đếm

Tiền kim loại cổ của Việt Nam cũng giống như tiền kim loại của Trung ốc đương thời có hình tròn có lỗ

ở giữa để xỏ dây qua Tiền kim loại khi dùng đơn độc

thì gọi là văn ( ) Khi cần dùng nhiều văn thì người

ta thường luồn một sợi dây (gọi là “cưỡng” , “mân” , “quán” ) qua cái lỗ trên văn tạo thành dây tiền

“Cưỡng”, “mân”, “quán” được dẫn thân làm đơn vị tính toán tiền Số văn tương ứng với “cưỡng”, “mân”, “quán” giữa các triều đại là không giống nhau “Bách” là dạng viếtđại tảcủa chữ “bách” có nghĩa là một trăm ban đầu được dùng để chỉ 100 văn nhưng về sau thì một bách không nhất định là bằng 100 văn

• Năm Kiến Trung ( ) thứ 2 (Tây lịch năm 1266)

vuaTrần ái Tông( ) hạ chiếu cho dân gian dùng “sảnh bách” ( ), mỗi bách là 69 văn Tiền nộp cho nhà nước ( thượng cung tiền) thì mỗi bách là 70 văn

• Ðờinhà Nguyên, người Việt mua bán ở biên giới Trung ốc thì dùng đơn vị 1 mân bằng 67 văn

• Năm uận iên nguyên niên ( , Tây lịch năm 1428), triều Lê cho đúc tiền uận iên thông bảo ( ), quy định 50 văn là một bách

• Năm iệu Bình ( ) thứ 6 (Tây lịch năm 1439),

ái Tông( ) hạ chiếu quy định 60 văn là một bách

• ời Nam Bắc triều, chiến tranh đã khiến đồng tiền được đúc nhỏ dần so với những đồng tiền cổ đời trước Tiền nhỏ bấy giờ gọi là sử tiền ( ) biệt xưng là “tiền nhàn” ( nhàn tiền), còn tiền cổ to gọi là cổ tiền ( ), biệt xưng là “tiền quý" ( quý tiền) Mỗi bách sử tiền là 36 văn, mỗi bách cổ tiền

là 60 văn Mười bách là một quán ( ) Một quán sử tiền (10 bách sử tiền) bằng 6 bách cổ tiền, tức là bằng 360 văn Một quán cổ tiền (10 bách cổ tiền) bằng 1 quán 6 bách 24 văn sử tiền, tức là bằng 600 văn

• Ðơn vị tiền tệ ởĐại Việtthay đổi khi tiền kẽm bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ 18 bởi nhiều lý do[3]Một văn tiền đồng ăn 3 văn tiền kẽm

Trang 3

• Khi vuaGia Longthành lậpnhà Nguyễn, đã cho

đúc cả hai thứ tiền đồng và tiền kẽm Giá trị tiền

kẽm lúc ban đầu không khác biệt tiền đồng, nhưng

dần dần tiền đồng ăn 2 tiền kẽm, rồi 3, rồi 6, cho

đến đời vua ành ái, tiền ành ái ông

Bảo ập Văn ăn ngang 10 tiền kẽm.[4]

Hiện nay các đơn vị hoá tệ này thường bị gọi bằng

các đơn vị hoá tệ thông dụng ở Việt Nam thời cận

hiện đại, cụ thể “văn” bị gọi là "đồng”, “bách” gọi là

“tiền”, “cưỡng”, “mân”, “quán” gọi là “quan” (biến âm

của “quán” )

Từ thờiPháp thuộc, ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện các

đơn vịđếm là hào ( ), xu (sou), trinh, cắc (đọc chệch âm

chữ “giác” ), đồng [biến chữ "đồng” trong "đồng tiền”

(tiền làm bằng đồng) từ tên gọi của một thứ kim loài

trở thành lượng từ dùng để đo đếm tiền nong] Tiền

Việt Nam kể từ sau khi đất nước giành độc lập có các

đơn vị đếm là đồng, hào và xu Một đồng bằng mười

hào Một hào bằng mười xu Hiện nay, tiền giấy và tiền

kim loại chỉ được phát hành với một đơn vị đếm duy

nhất là đồng.

Mệnh giá

Tiền cổ thường chỉ có một mệnh giá, đó là 1 văn Một

bách là một xâu tiền 1 văn Và một mân thường là mười

xâu một bách Tiền giấy do nhà Hồ có nhiều mệnh giá

khác nhau Mệnh giá nhỏ nhất là 10 văn Mệnh giá lớn

nhất là 1 văn Tiền kim loại từ thời nhà Nguyễn cũng

bắt đầu có các mệnh giá khác nhau Tiền Việt Nam hiện

nay còn lưu hành loại có mệnh giá thấp nhất là 200

đồng, loại có mệnh giá cao nhất là 500.000 đồng (tiền

polymer)

1.4 Chất liệu

Tiền cổ Việt Nam có nhiều loại:

• Đồng tiền ( , có nghĩa là tiền đồng): là kim loại

thông dụng nhất dùng đúc hầu hết tiền cổ của Việt

Nam Ðây là một hợp kim của đồng gồm thêm kền,

sắt, thiếc mà thành phần rất thay đổi bởi kỹ thuật

luyện kim thời xa xưa chưa được tiêu chuẩn hóa

Tác giả Tạ Chí Ðại Trường đã trích dẫn một bảng

kết quả phân tích thành phần hóa học của tiền Trị

Bình Nguyên Bảo gồm 63,6% đồng, 21% chì, 0,14%

thiếc và 0,27% sắt[5] Ðến thời nhà Nguyễn, nhờ

kiến thức phát triển hơn, đồng dùng đúc tiền chỉ

gồm đồng và kẽm theo tỷ lệ 6/4, 7/3 hay 8/2.[6]

• Tiền đúc bằng kẽm: kẽm là kim loại thông dụng

thứ nhì sau đồng được dùng để đúc tiền, nhất là từ

thế kỷ 17 trở về sau Như hợp kim đúc tiền đồng,

người ta sử dụng những tạp chất có thành phần

kẽm khá cao, gọi chung là ô diên mà đúc tiền

Lacroix Désiré dẫn từ Agenda du chimiste của Ad

Wurtz cho thấy thứ kẽm tạp này chứa 55% đồng, 23% kền, 17% kẽm, 3% sắt và 2% thiếc.[7]Tương tự tiền đồng, triều đìnhnhà Nguyễncũng biết tinh luyện kẽm hoặc mua kẽm nguyên chất từ nước ngoài mà đúc tiền

• Duyên tiền ( , tiền đúc bằng chì): chì là kim loại

mềm được pha thêm kim loại khác để có một hợp kim đúc tiền chì Loại tiền có lượng chì cao khá mềm, đặt nhẹ giữa hai ngón tay, ấn nhẹ là đồng tiền có thể bị bẻ cong Hiện nay, hơn 400 mẫu tiền chì Việt Nam đã được nhận diện nhưng nguồn gốc của thứ tiền này vẫn còn là một nghi vấn chưa được giải đáp thỏa đáng

• iết tiền ( , tiền sắt): eoĐại Việt Sử ký Toàn thư, khiMạc Đăng Dunglấy ngôi vua củanhà Hậu

Lê, sử thần cho rằng nhà Mạc không được lòng trời nên đúc tiền đồng không thành mà phải đúc tiền sắt để tiêu dùng Ðó là lần đầu tiên tiền sắt được nhắc đến Tuy vậy, di chỉ khảo cổ hiện đại cho thấy không có tiền sắt Minh Ðức ông Bảo của nhà Mạc, mà chỉ thấy tiền đồng Và trong tiền

cổ Việt Nam có một số mẫu tiền đồng nhưng lại rỉ sét đỏ khá bất thường của sắt, nhất là tiền Hồng Ðức ông Bảo và Minh Ðức ông Bảo Các nhà nghiên cứu đặt giả thiết, có thể vào lúc đó, hợp kim đồng có chứa nhiều sắt hơn lúc bình thường được sử dụng, vì ngẫu nhiên hoặc vì cho dễ đúc, chứ không có loại tiền sắt

• Tiền đúc bằng vàng: ường là tiền dùng để ban

thưởng của vua

• Ngân tiền ( , tiền bạc): ường là tiền dùng để

ban thưởng của vua

• Sáo ( , tiền giấy): củanhà Hồphát hành

2 Tiền cổ các triều đại Việt Nam

2.1 Tiền đồng đầu tiên của người Việt

nhỏ|phải|Đồng ái Bình hưng bảo dưới thời Đinh Tiên

HoàngNăm 968, Đinh Bộ Lĩnhdẹp xong loạn 12 sứ quânxưng hoàng đế Từ năm 970, Vua đặt niên hiệu

ái Bình, Việt Nam mới có đồng tiền đúc đầu tiên mang niên hiệu của vị hoàng đế nước mình làtiền ái Bình hưng bảo (eo nhà biên khảo Phạm ăng thì tiền đúc bằng đồng đầu tiên của người Việt là dưới triều

nhà Tiền Lý Vua Lý Nam Đế cho đúc đồng iên Đức thông bảo năm 541 nhưng đến năm 602 thì triều đại này

kết thúc và loại tiền này cũng thất truyền nên ta không

có mẫu nào để căn cứ hình dạng.[8] Đờinhà Tốngbên

Tàu năm 944 cũng cho phát hành đồng iên Đức thông bảo nên dễ ngộ nhận đồng iên đức thế kỷ thứ 10 của vua Tàu và đồng iên đức thế kỷ thứ sáu của vua Việt.)

Trang 4

Khi lên làm vua,Đinh Tiên Hoàngđặt niên hiệu là ái

Bình và cho đúc tiền ái Bình hưng bảo bằng đồng.

Đây là tiền duy nhất được phát hành trong thời nhà

Đinh, vì cho dù sau này có sự thay đổi ngôi vua trong

họ Đinh nhưng không có sự thay đổi niên hiệu Hiện

các nhà sử học và khảo cổ học chưa được xác định chính

xác thời điểm xuất hiện tiền này

Khảo cổ học cho thấyái Bình hưng bảocó ba loạt

khác nhau Cả ba loạt đều có lỗ hình vuông ở giữa và

có đường kính không đều nhưng bình quân khoảng 22

mm Cả ba loạt đều có mặt trước ghi chữ ái Bình

hưng bảo bằng chữ Hán Có một loạt thay vì chữ ái

lại là chữ Đại Hiện chưa rõ: do lâu ngày đồng tiền đó

bị hỏng nên mất một chấm, hay đó thực sự là chữ Đại

nhưng được đọc là ái Về mặt sau, thường có chữ

Đinh (họ của vua) đúc nổi; nhưng có một loạt không

có chữ gì

Sử liệu cũ củaViệt Namkhông đề cập đến việcnhà

Đinhcó đúc tiền Tuy nhiên, sử liệu cũ của Trung ốc

thì có nhắc đến và dựa vào đó Bành Tín Uy viết rằng

năm 970Đinh Bộ Lĩnhở Việt Nam đúc tiềnái Bình

hưng bảo eo Đỗ Văn Ninh, việc sử liệu cũ của Việt

Nam không nhắc đến việc này có thể là do nền kinh

tế tiền tệ thờinhà Đinhcòn mới manh nha, tiền không

thực sử được sử dụng nhiều, trao đổi hàng hóa là chính,

lương bổng và thuế má đều bằng hiện vật

2.2 Tiền nhà Tiền Lê

Đồng iên Phúc trấn bảo,mặt trước (trái) và mặt sau ghi chữ Lê (phải)

Nhà Tiền Lêkhởi đầu từLê Hoàn Khi cai trị, Lê Hoàn

đã dùng ba niên hiệu, song chỉ đúc duy nhất tiền iên

Phúc trấn bảo, lấy tên theo niên hiệu đầu tiên Các vua

tiền Lê sau không cho đúc tiền

Sử liệu cũ của Việt Nam làĐại Việt sử ký toàn thưvà

Việt sử thông giám cương mụcđều có nhắc đến việc

tiền iên Phúc được đúc từ mùa xuân năm 984 Điều

này cho thấy: thứ nhất, bốn năm đầu khi lên làm vua

nhà Lê vẫn dùng tiền donhà Đinhphát hành; thứ hai,

tiền đã được sử dụng nhiều hơn

Khảo cổ học cho thấy iên Phúc trấn bảo có ba loạt

đều có hình thù giống tiền của nhà Đinh Một loạt mặt

trước có bốn chữ iên Phúc trấn bảo và mặt sau có

chữ Lê (họ của vua), một loạt mặt trước giống như loạt

trên nhưng mặt sau lại không có chữ gì, và một loạt

nữa mặt sau có chữ Lê nhưng mặt trước lại không có

chữ gì eo Đỗ Văn Ninh, sở dĩ có sự khác nhau như

vậy có thể là vì trong quá trình đúc tiền, xưởng đúc đã

ráp nhầm hai mặt của các khuôn đúc

2.3 Tiền nhà Lý

Thuận Thiên đại bảo (1010-1028)

Thuận Thiên đại bảo

Đây là tiền kim loại được giới nghiên cứu tiền cổ ở Việt Nam cho là củaLý ái Tổvì ông vua này có một niên hiệu là uận iên Bên Trung ốc có Sử Tư Minh

khi làm vua cũng có niên hiệu uận iên, nhưng ông này cho đúc tiền uận iên nguyên bảo đương bách.

Sau này,Lê ái Tổcũng lấy niên hiệu uận iên, nhưng tiền đúc ra gọi là uận iên thông bảo hoặc

uận iên nguyên bảo.

Đại Việt sử ký toàn thưcho thấy tiền đã được sử dụng

và phát hành nhiều trong thời Lý ái Tổ Cả lương bổng lẫn tô thuế đều có thể trả bằng tiền

Càn Phù nguyên bảo (1039-1041)

Càn Phù nguyên bảo

Sử liệu cũ củaViệt Namvà kết quả khảo cổ đều không cho thấy có loại tiền này Song, Lacroix và các tác giả

Lịch sử phong kiến Việt Nam (tập I) đều cho là có và

cũng doLý ái Tôngphát hành

Như vậy theo một số tài liệu, Việt Nam vào thời vua Lý

ái Tông đã đúc hai loại Minh Đạo thông bảo và Càn

Trang 5

2.5 Tiền nhà Hồ 5

Phù nguyên bảo Song, khảo cổ học Việt Nam chưa cho

thấy cả hai loạitiềnnày

Minh Đạo thông bảo (1042-1043)

Tương truyền là doLý ái Tông cho phát hành Sử

liệu Lịch triều hiến chương loại chí có ghi rằng vua Lý

ái Tông cho đúc tiền Minh Đạo, nhưng không ghi rõ

có phải là Minh Đạo thông bảo hay không.

Thiên Phù nguyên bảo (1120-1127)

Được cho là doLý Nhân Tôngphát hành vì ông có hai

niên hiệu có chữ iên Phù trong đó Sử liệu cũ của Việt

Nam không nhắc đến tiền này Nhưng khảo cổ học cho

thấy có tiền iên Phù thông bảo với đường kính chừng

20 mm với mặt trước có bốn chữ iên Phù nguyên bảo

đọc theo vòng tròn, mặt sau để trơn, có lỗ, không có gờ

Đỗ Văn Ninh cho rằng kích thước đồng tiền này nhỏ

hơn so với các đồng tiền thời trước là vì thờiLý Nhân

Tôngtrị vì có nhiều chiến tranh, nên giành được ít đồng

hơn cho việc đúc tiền

Thiên Thuận thông bảo (1128-1132)

Đại Định thông bảo (1140-1162)

Thiên Cảm thông bảo (1174-1175)

Lacroix có nhắc đến tiền này và còn công bố hình thù

đồng tiền Ông cho rằng đây là tiền doLý Anh Tông

phát hành vì vua này có một niên hiệu trong đó có chữ

iên Cảm Tiền có gờ và mép rõ ràng Khảo cổ học Việt

Nam chưa tìm ra loại tiền này Các vua Trung ốc

không có ai có niên hiệu có chữ iên Cảm

Thiên Tư thông bảo (1186-1201)

Không thấy chính sử đề cập đến đồng tiền này Lacroix

đã từng công bố một mẫu tiền mà mặt trước có bốn

chữ iên tư thông bảo, mặt sau để trơn.Lý Cao Tông

có một niên hiệu trong đó có chữ iên Tư Các vua

Trung ốc không ai có niên hiệu có chữ này

Trị Bình thông bảo (1205-1210)

Trị Bình nguyên bảo (1205-1210)

2.4 Tiền nhà Trần

Nguyên Phong thông bảo (1251-1258)

Khảo cổ học Việt Nam đã phát hiện ra tiền kim loại

Nguyên Phong Nhưng bên Trung ốc cũng có loại

tiền này, nên hiện chưa kết luận được thứ tìm thấy ở

Việt Nam là do nước nào đúc Nguyên Phong là niên hiệu thứ ba của vuaTrần ái Tông Vào hai thời có niên hiệu trước, vua cũng cho phát hành tiền, nhưng

sử liệu không nói và khảo cổ học không cho biết đó là tiền tên gì

Khai Thái nguyên bảo (1324-1329)

Đỗ Văn Ninh có cho biết rằng Trần Huy Bá đã thấy

tiền này ở Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam năm 1960.

Khai ái là một niên hiệu củaTrần Minh Tông Các vua Trung ốc không có niên hiệu nào như vậy

Thiệu Phong bình bảo, Thiệu Phong nguyên bảo (1341-1357)

Sử liệu không ghi nhưngkhảo cổ họcViệt Nam lại phát hiện ra thứ tiền kim loại này và cho là doTrần Dụ Tông

phát hành Tiền có lỗ ở giữa và có gờ và mép không rõ

Mặt trước tiền ghi bốn chữ iệu Phong thông bảo Mặt

sau để trơn Tiền nhỏ, mỏng, đường kính 21 mm

Khảo cổ học còn tìm ra tiền iệu Phong thông bảo, hình thù như iệu Phong bình bảo và mặt sau cũng

để trơn

Đỗ Văn Ninh cho biết Trần Văn Bá đã thấy tiền iệu Phong nguyên bảo đường kính tới 40 mm và mặt sau

có chữ ập tam ở Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam vào năm 1960

Đại Trị thông bảo (1358-1369)

Cũng là tiền doTrần Dụ Tôngphát hành.Đại Việt sử

ký toàn thưcó cho biết rằng vào năm 1360 đã đúc tiền này Khảo cổ học cho biết tiền này có kích thước lớn hơn tiền iệu Phong một chút

2.5 Tiền nhà Hồ

Tiền giấy Thông Bảo hội sao ( ) [9]

Năm 1396, 4 năm trước khinhà Hồthay thếnhà Trần

làm vua Việt Nam, tiền giấy mang tên ông Bảo hội sao được phát hành Lúc đó đang là niên hiệu ang

ái của vuaTrần uận Tông, nhưng việc ban bố các chủ trương chính sách quan trọng của đất nước lại do

Hồ ý Ly nắm Chủ trương phát hành tiền giấy này chính là của Hồ ý Ly Mục đích của ông là dùng tiền giấy để thay thế tiền kim loại, qua đó thu hồi kim loại

về kho triều đình Nhiều ý kiến thống nhất rằng, sự ra

đời tiền giấy ông Bảo hội sao không phản ánh trình

độ phát triển của kinh tế tiền tệ ở Việt Nam đương thời

Khảo cổ học Việt Nam chưa phát hiện ra di vật tiền giấy

ông Bảo hội sao, nhưng Đại Việt sử ký toàn thư nhắc

đến rõ ràng đến tên loại tiền này

Trang 6

Tiền ông Bảo hội sao có bảy mệnh giá khác nhau, đó

là: 10 văn ( thập văn), 30 văn ( tam thập văn), 1

bách ( nhất bách), 2 bách ( nhị bách), 3 bách (

tam bách), 5 tiền ( ngũ bách), 1 mân ( nhất mân)

Không thấy Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại tỷ lệ giữa các

đơn vị văn, bách và mân của tiền ông Bảo hội sao thế

nào Tiền kim loại đang lưu hành phải được đem đến

đổi lấy tiền giấy theo tỷ lệ 1 cưỡng ( , chưa rõ là bao

nhiêu văn) đổi lấy 1 mân 2 bách tiền giấy

Về hình thức, không rõ kích thước, hình dáng, màu sắc

ra sao Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ghi sơ lược rằng tiền

mệnh giá 10 văn có vẽ hình rong, mệnh giá 30 văn có

vẽ hình sóng, mệnh giá 1 bách có vẽ mây, 2 bách có vẽ

rùa, 3 bách có vẽ lân, 5 bách có vẽ phượng, và 1 mân có

vẽ rồng

Đại Việt sử ký toàn thưcũng ghi lại rằng tiền ông

Bảo hội sao không được nhân dân ưa dùng, chẳng qua

vì luật quy định mà phải sử dụng

Thánh Nguyên thông bảo (1400-1401)

ời nhà Hồ, tuy phát hành tiền giấy ông bảo hội sao

và đổi thu hồi tiền kim loại về, song có thểHồ ý Ly

cũng cho phát hành một lượng nhất định tiền kim loại

mang niên hiệu ánh Nguyên (1400-1401) của mình

Khảo cổ học đã phát hiện được ở Việt Nam nhiều đồng

tiền kim loại ánh Nguyên thông eo Đỗ Văn Ninh,

trong các vuaTrung ốcvàViệt Nam, chỉ có Hồ ý

Ly có niên hiệu ánh Nguyên

Tiền kim loại ánh Nguyên thông bảo có hình tròn, lỗ

vuông, kích thước nhỏ (đường kính từ 19 đến 20 mm),

mỏng Mặt trước có bốn chữ ánh Nguyên thông bảo

đọc chéo từ trên xuống và từ phải qua trái, gờ viền mép

và lỗ rõ ràng Nhưng mặt sau lại để trơn và không có

gờ và viền mép hay lỗ

Một trong các mục đích phát hành tiền kim loại ánh

Nguyên thông bảo là để quảng bá niên hiệu ánh

Nguyên của vua mới

2.6 Tiền nhà Hậu Lê

Thuận Thiên thông bảo (1428-1433), Thuận Thiên nguyên bảo

Sau khi đánh bại hoàn toànquân Minhxâm lược, chẳng

cần đợi nhà Minhcông nhận, ngày 15 tháng 4 năm

1428,Lê Lợixưng vua và lấy niên hiệu là uận iên;

một tháng sau thì cho đúc tiền kim loại uận iên

thông bảo bằng đồng mà không tiếp tục chính sách sử

dụng tiền giấy của nhà Hồ Đó là theo Đại Việt sử ký

toàn thư Còn theo phát hiện của khảo cổ học, thì tên

tiền kim loại đó có lẽ là uận iên nguyên bảo Hiện

các nhà nghiên cứu còn chưa có kết luận được là sử

chép sai “nguyên” thành “thông” hay Lê Lợi cho đúc

hai loại nhưng hiện mới chỉ phát hiện di chỉ loại uận

iên nguyên bảo

uận iên nguyên bảo có kích thước to hơn, dày hơn

và được đánh giá là đẹp hơn các đồng tiền kim loại của các thời trước ở Việt Nam Đường kính tiền là 25 mm, dày dặn Mặt trước đúc nổi bốn chữ Hán là uận iên nguyên bảo với nét viết chân phương Mặt sau không

có chữ hay hình gì, viền mép và gờ viền lỗ rõ ràng và đều đặn

uận iên thông bảo có ba đơn vị đếm là đồng, tiền

và quan Đại Việt sử ký toàn thư cho biết 1 tiền bằng

50 đồng

Thiệu Bình thông bảo (1434-1439)

Đây là tiền kim loại doLê ái Tôngcho đúc khi lên ngôi năm 1434 và đặt niên hiệu là iệu Bình (1434-1439) Về kiểu dáng, iệu Bình thông bảo căn bản giống uận iên nguyên bảo Ban đầu, 1 tiền bằng

50 đồng như theo quy định của đời vua trước, nhưng từ năm 1439 thì định lại 1 tiền bằng 60 đồng

Đại Bình thông bảo

Sử không nhắc đến tiền này, nhưng Lacroix công bố mẫu của nó và do vuaViệt Namvà vua Trung ốc

không còn ai đặt niên hiệu là Đại Bình nữa, nên Đỗ Văn Ninh cho rằng đó là tiền doLê ái Tôngcho đúc

và đặt tên theo niên hiệu thứ hai của ông, Đại Bình (1440-1442) Như vậy, dưới triều vua Lê ái Tông của Việt Nam đã lần lượt có hai tiền kim loại là iệu Bình thông bảo và Đại Bình thông bảo

Thái Hòa thông bảo

Đây là tiền kim loại doLê Nhân Tôngcho đúc và đặt tên theo niên hiệu ái Hòa (1443-1453) của mình Kiểu dáng và kích thước tiền này giống tiền của các vua Lê đời trước Tuy nhiên, Lacroix đã công bố một mẫu tiền

ái Hòa thông bảo có kích thước nhỏ và lưng tiền không có gờ viền Ngoài ra, ông này còn công bố một mẫu tiền ghi là Đại Hòa thông bảo Đỗ Văn Ninh cho rằng có thể viết là Đại song vẫn đọc là ái

Diên Ninh thông bảo

Tiền kim loại bằng đồng do Lê Nhân Tông cho đúc khi đổi niên hiệu thành Diên Ninh Tiền này được khảo cổ học phát hiện nhiều Kiểu dáng và kích thước to đẹp giống như tiền của các đời vua Lê trước

Thiên Hưng thông bảo

Tiền kim loại doLê Nghi Dâncho đúc và đặt tên theo niên hiệu iên Hưng của mình Sử không nhắc đến việc ông vua này cho đúc tiền, song Lacroix có phát hiện và công bố Lê Nghi Dân ở ngôi một năm, nên

iên Hưng thông bảo có thể cũng chỉ được lưu hành không quá một năm

Trang 7

2.6 Tiền nhà Hậu Lê 7

Quang Thuận thông bảo

Là tiền doLê ánh Tôngcho đúc Di chỉ tiền này được

phát hiện khá nhiều ang uận thông bảo được

Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí

khen là đẹp vào loại nhất trong các tiền kim loại Việt

Nam mà ông biết Không rõ tiền được bắt đầu phát hành

từ năm nào, song niên hiệu ang uận của Lê ánh

Tông bắt đầu từ năm 1460, kết thúc vào năm 1469

Hồng Đức thông bảo

Cũng là tiền do Lê ánh Tông phát hành từ năm 1470

đến năm 1497 theo niên hiệu thứ hai của mình

Cảnh Thống thông bảo

Cảnh ống là niên hiệu duy nhất củaLê Hiến Tông

kéo dài khoảng 6 năm Sử không ghi về việc ông vua

này cho đúc tiền, song khảo cổ học tìm ra nhiều di chỉ

tiền Cảnh ống thông bảo Về kiểu dáng thì giống tiền

của các vua Lê đời trước, song trọng lượng thì lớn hơn

Đoan Khánh thông bảo

Đoan Khánh thông bảo là tiền kim loại doLê Uy Mục

cho đúc Niên hiệu Đoan Khánh của ông vua này kéo

dài từ năm 1505 đến năm 1509

Hồng Thuận thông bảo

Đây là tiền kim loại doLê Tương Dực(ở ngôi từ năm

1509 đến năm 1516 có một niên hiệu duy nhất là Hồng

uận) Kích thước và kiểu dáng như các tiền trước đây

của nhà Lê

Quang Thiệu thông bảo

Đây là tiền doLê Chiêu Tôngcho đúc Ông vua này chỉ

có một niên hiệu là ang iệu từ năm 1516 đến năm

1522 Hình thức cơ bản giống các tiền nhà Lê trước đó

nhưng xấu hơn, kích thước bé hơn, nhẹ hơn

Thống Nguyên thông bảo

ống Nguyên thông bảo doLê Cung Hoàng(lấy niên

hiệu ống Nguyên) phát hành Tiền này đẹp hơn

ang iệu thông bảo nhưng vẫn chưa bằng được các

tiền nhà Lê trước đó

Nguyên Hòa thông bảo

Đây là tiền bằng đồng mang niên hiệu Nguyên Hòa

(1533-1548) của Lê Trang Tông, vị vua đầu tiên của thời

Lê Trung Hưng Tiền này có kích thước nhỏ, được đúc

cẩn thận Mặt trước có chữ Nguyên Hòa thông bảo đọc chéo Mặt sau có viền gờ mép và lỗ, song không có chữ hay hình gì Nguyên Hòa thông bảo có nhiều loại, trong

đó có loại chỉ có hai chữ Nguyên Hòa viết theo lối chữ triện và có loại thì lại có ba chữ Nguyên Hòa và bảo viết theo lối chữ triện

Vĩnh Thọ thông bảo

Vĩnh ọ là niên hiệu của Lê ần Tông Tiền Vĩnh ọ thông bảo đúc bằng đồng, đường kính chừng 23 mm

Vĩnh Trị nguyên bảo, Vĩnh Trị thông bảo

Là các tiền do Lê Hy Tông phát hành (thực tế có thể là

do chúa Trịnh phát hành vì quyền hành mọi mặt trong thực tế thuộc về phủ chúa) mang niên hiệu đầu tiên của ông Cả hai loại đều bằng đồng, đúc cẩn thận, đường kính chừng 23 mm

Chính Hòa thông bảo

Tiền đặt theo niên hiệu thứ hai của Lê Hy Tông Chữ

“Chính” viết là , dễ nhầm với Chính Hòa thông bảo của nhà Tống cũng thấy xuất hiện ở Việt Nam với chữ Chính viết là

Tiền Cảnh Hưng

Tiền Cảnh Hưng có rất nhiều loại và đều bằng kim loại

Đỗ Văn Ninh đã đề cập đến 40 loại tiền Cảnh Hưng và nhà nghiên cứu này cũng cho biết có người đã liệt kê

ra được đến 80 loại tiền Cảnh Hưng Sở dĩ có nhiều loại như vậy là vì thời Cảnh Hưng (niên hiệu củaLê Hiển Tông), không chỉ chính quyền trung ương mà cả các chính quyền địa phương (ở cáctrấn) cũng tham gia đúc tiền, và có cả đúc trộm Các tiền Cảnh Hưng không chỉ

có kích thước khác nhau, chất lượng kim loại khác nhau

mà cả các chữ ghi trên đó cũng khác nhau Nguyên nhân khác nhau vừa là do những thay đổi trong thiết

kế đồng tiền, vừa là đúc sai quy cách

Khảo cổ học tìm ra rất nhiều di chỉ tiền Cảnh Hưng cho thấy thời này tiền được phát hành rất nhiều Nguyên nhân của việc phát hành nhiều như vậy hiện chưa rõ

Đỗ Văn Ninh cho rằng:

• ời này kinh tế khó khăn nên thuế má thu của

dân không được mấy mà chính quyền lại có nhu cầu chi tiêu rất lớn cho ăn chơi (thời Lê Hiển Tông cũng là thời các chúaTrịnh Giang,Trịnh Doanh,

Trịnh Sâmnổi tiếng về ăn chơi), cho đàn áp các cuộc khởi nghĩa (các khởi nghĩa củaNguyễn Hữu Cầu,Nguyễn Danh Phương,Lê Duy Mật,Hoàng Công Chất,…)… Chính quyền đã lợi dụng đặc quyền phát hành tiền để đúc tiền phục vụ nhu cầu

tiêu dùng của mình (Xem thêm bài thuộc chủ đề kinh tế học: Đặc lợi phát hành tiền )

Trang 8

• Nhu cầu sử dụng tiền mặt lớn cùng với sự phát

triển của nềnkinh tế hàng hóađể buôn bán, đóng

thuế, mua chức tước, biếu xén, hỏi vợ (Ca daocó

câu: Mẹ em tham thúng xôi rền/am con lợn béo,

tham tiền Cảnh Hưng),…

• Việc các trấn được phép đúc tiền đã đem lại cho họ

mối lợi lớn Nó khuyến khích họ phát hành tràn

lan

Dựa vào phát hiện khảo cổ học, tiền Cảnh Hưng chắc

chắn có các loại sau: Cảnh Hưng thông bảo, Cảnh Hưng

trung bảo, Cảnh Hưng chí bảo, Cảnh Hưng vĩnh bảo,

Cảnh Hưng đại bảo, Cảnh Hưng thái bảo, Cảnh Hưng cự

bảo, Cảnh Hưng trọng bảo, Cảnh Hưng tuyền bảo, Cảnh

Hưng thuận bảo, Cảnh Hưng chính bảo, Cảnh Hưng nội

bảo, Cảnh Hưng dụng bảo, Cảnh Hưng lai bảo, Cảnh

Hưng thận bảo, Cảnh Hưng, Cảnh Hưng thọ trường.

Cảnh Hưng thông bảo là loại phổ biến nhất, nhưng loại

này lại có nhiều loại phụ với thiết kế khác nhau và chữ

ghi trên tiền ở mặt sau cũng khác nhau

Chiêu Thống thông bảo

Chiêu ống là niên hiệu duy nhất của Lê Mẫn Đế,

ông vuanhà Hậu Lê ở ngôi 3 năm Khảo cổ học cho

thấy tiền kim loại Chiêu ống thông bảo có nhiều loạt

khác nhau êm vào đó, mỗi loạt đều được đúc nhiều

lần, mỗi lần kích thước lại khác nhau một chút Chiếu

ống thông bảo được phát hành dưới thời Lê Mẫn Đế,

nhưng ai phát hành thì không rõ vì có quá nhiều loạt và

nhiều kích cỡ Lưu ý là thời Lê Mẫn Đế (Chiêu ống),

lúc đầu thì có thế lực của nhà Trịnh (chúaTrịnh Bồng),

lúc sau thì có thế lực củanhà Tây Sơn, trung ương cũng

đã không kiểm soát được các địa phương

Các loạt đều có bốn chữ Chiêu ống thông bảo đúc nổi

và được đọc chéo Nhưng có một loạt thì chữ ống viết

là , các loạt khác chữ ống đều viết là Không rõ loạt

chữ ống viết là có phải là tiền do chính quyền đúc

hay không

Loạt có chữ ống viết là thì mặt sau để trơn, chỉ có

viền gờ mép và lỗ Các loạt khác, loạt thì mặt sau có

chữ Nhất (-) phía trên lỗ vuông, loạt thì có một nét sổ

dọc trên lỗ, loạt thì có một vành trăng khuyết bên phải

và một chấm tròn bên trái lô, loạt thì có hình bốn vành

trăng khuyết xếp vòng tròn quanh lỗ, loạt thì có chữ

Chính ( ) hoặc chữ Chính và cả một chấm tròn, lại có

loạt thì có một chữ Sơn ( ), loạt lại có hai chữ Sơn Nam,

loạt thì có một chữ Trung ( ), và có cả loạt có chữ Đại

( ) eo Đỗ Văn Ninh, thì chữ Chính chỉ kinh thành,

chữ Sơn chỉ Sơn Tây, chữ Trung chỉ Trung đô phủ, chữ

Đại chỉanh Hóa

2.7 Tiền nhà Mạc

Minh Đức thông bảo, Minh Đức nguyên bảo

Đây là các tiền kim loại doMạc ái Tổphát hành Đại Việt sử ký toàn thư có nhắc đến việc này

Minh Đức thông bảo có hai loạt Loạt thứ nhất bằng đồng được bắt đầu đúc từ năm 1528 Mặt trước có bốn chữ Minh Đức thông bảo đúc nổi đọc chéo Mặt sau có hai chữ Vạn Tuệ đúc nổi Loạt này có kích thước lớn, đường kính từ 23 đến 24,5 mm, dày dặn

Loạt thứ hai đúc bằng kẽm Kích thước vẫn như loạt trước Mặt sau không còn chữ vạn tuế mà thay vào đó

là một vành khuyết nổi ở bên phải và một chấm tròn ở bên trái

Minh Đức nguyên bảo làm bằng sắt Sách sử Việt Nam không nhắc đến tiền này, nhưng Đại Việt sử ký toàn thư cho biết Mạc Đăng Dung có cho pha kẽm vào khi đúc tiền rồi sau lại cho đúc tiền bằng sắt Khảo cổ học Việt Nam không phát hiện ra di vật, song Lacroix có công bố một mẫu vật tiền này, mặt trước có bốn chữ Minh Đức nguyên bảo đọc vòng tròn, mặt sau không

có chữ hay hình gì

Đại Chính thông bảo

Các sử liệu cũ của Việt Nam không đề cập đến việc

Mạc ái Tôngphát hành tiền Tuy nhiên khảo cổ học

đã phát hiện ra loại tiền kim loại bằng đồng mang niên hiệu Đại Chính của ông Mặt trước tiền nổi bốn chữ Đại Chính thông bảo đọc chéo Mặt sau để trơn Tiền đúc không đẹp, đường kính khoảng 22 mm

Quảng Hòa thông bảo

Mạc Phúc Hảilàm vua từ năm 1541 đến năm 1546 và chỉ có một niên hiệu là ảng Hòa Sử liệu không ghi vị vua nhà Mạc này có cho đúc tiền hay không, song khảo

cổ học phát hiện ra di vật tiền ảng Hòa thông bảo Tiền này có hơn một loạt nhưng đều đúc bằng đồng và bốn chữ ảng Hòa thông bảo đọc chéo ở mặt trước, mặt sau để trơn Có loạt thì các chữ này được viết chân phương Có loạt thì những chữ này lại được viết theo lối chữ triện

Vĩnh Định thông bảo, Vĩnh Định chí bảo

Vĩnh Định là niên hiệu đầu tiên trong ba niện hiệu của

Mạc Phúc Nguyên, bắt đầu từ năm 1547 Khảo cổ học

đã tìm thấy tiền Vĩnh Định thông bảo đúc bằng đồng

có đường kính chừng 21,5 mm Mặt trước có bốn chữ Vĩnh Định thông bảo viết chéo Mặt sau để trơn, nhưng

gờ mép và gờ lỗ có viền nổi

Ngoài ra còn có tiền Vĩnh Định chí bảo có kiểu dáng như Vĩnh Định thông bảo, khác ở chỗ chữ chí viết theo lối chữ thảo và mặt sau không có viền gờ mép và lỗ

Càn Thống nguyên bảo

Trang 9

2.8 Tiền nhà Tây Sơn 9

Đây là tiền kim loại doMạc Kính Cungphát hành Ông

này làm vua nhưng đóng ở vùng miền núi Đông Bắc

Khảo cổ học đã phát hiện ra loại tiền này

An Pháp nguyên bảo

An Pháp nguyên bảo là tiền kim loại kích thước nhỏ

mà khảo cổ học tìm thấy nhiều.Lê ý Đônqua Phủ

biên tạp lục cho biết đây là tiền do nhà Mạc phát hành,

nhưng không nói cụ thể bởi vị vua nào củanhà Mạc

2.8 Tiền nhà Tây Sơn

Thái Đức thông bảo

Tiền do vua ái ĐứcNguyễn Nhạcphát hành và lưu

thông trong các vùng lãnh thổ donhà Tây Sơnkiểm

soát Tiền này được đúc từ đồng Tiền không dày,

nhưng đúc cẩn thận, chữ và dấu hiệu dễ đọc Đường

kính tiền tùy loại từ 22,5 mm đến 24 mm Mặt trước có

bốn chữ ái Đức thông bảo đọc chéo Mặt sau thì mỗi

loạt một khác, thường thì có các ký hiệu như chấm nổi

tròn, hình Mặt Trăng lưỡi liềm Có một loạt ở mặt sau

có hai chữ Vạn ọ

Quang Trung thông bảo, Quang Trung đại bảo

Quang Trung đại bảo

Khiang Trunglên ngôi, Việt Nam cơ bản đã được

thống nhất, vì thế tiền do ang Trung phát hành sẽ

được lưu thông gần như khắp cả nước Và trong thực

tế, khảo cổ học tìm thấy rất nhiều tiền ang Trung

khắp nơi, đặc biệt nhiều từđèo Hải Vânra Bắc ang

Trung đã cho phát hành hai loại tiền mang niên hiệu

của ông, đó là ang Trung thông bảo và ang Trung

đại bảo.

ang Trung thông bảo được đúc nhiều đợt và kỹ thuật

của thời đó đã khiến cho mỗi đợt đúc tiền lại có một

chút khác nhau Tiền này được đúc từ đồng, có kích

thước từ 23 đến 26 mm Mặt trước tiền có bốn chữ

ang Trung thông bảo đọc chéo Có một loạt chữ bảo

lại viết theo lối giản thể Mặt sau thì có thể để trống

hoặc có một trong các chữ nhất, nhị, công, chính, sơn

nam hoặc các ký hiệu như dấu chấm, trăng lưỡi liềm,

v.v… Viền gờ mép và lỗ rõ ràng

Có một số di vật tiền ang Trung thông bảo được phát

hiện mà ở đó người ta thấy mặt sau của tiền cũng giống

Quang Trung thông bảo

mặt trước Đỗ Văn Ninh cho rằng đó là do thợ đúc tiền ráp nhầm hai mặt của khuôn đúc

ang Trung đại bảo có chữ bảo viết theo lối giản thể Mặt sau để trống

Cảnh Thịnh thông bảo

Cảnh Thịnh thông bảo

Cảnh ịnh thông bảo có loại nhỏ và loại lớn Đây là

tiền mang niên hiệu đầu tiên củaNguyễn ang Toản,

vị vua cuối cùng củanhà Tây Sơn

Về kiểu dáng và thiết kế thì Cảnh ịnh thông bảo loại

nhỏ không khác gì tiền ang Trung thông bảo, nhưng chất lượng đúc có phần tốt hơn Cảnh ịnh thông bảo cũng có loạt mặt sau giống mặt trước như một loạt của

ang Trung thông bảo Ngoài ra lại còn có một loạt tiền mà một mặt là Cảnh ịnh thông bảo và một mặt

là ang Trung thông bảo

Cảnh ịnh thông bảo loại lớn được đúc cẩn thận, thiết

kế cầu kỳ, đường kính tới 48 mm, dày tới 5 mm Viền gờ mép ở hai mặt là một vành văn triện hình chữ T, viền

gờ lỗ ở hai mặt là hai hình vuông lồng vào nhau Mặt trước tiền có bốn chữ Cảnh ịnh thông bảo đọc chéo Mặt sau có hình rồng, mây ở phía trên lỗ, lại có hình

cá chép và hình sóng nước ở phía dưới lỗ Đỗ Văn Ninh cho rằng tiền này hoa văn giống với tiền Cảnh Hưng nên có thể là theo mẫu tiền Cảnh Hưng mà làm

Trang 10

2.9 Tiền nhà Nguyễn

Tiền Gia Long Thông Bảo.

Gia Long thông bảo Năm 1802, Nguyễn Ánh lên

ngôi, đặt niên hiệu làGia Long Sách Đại Nam thực

lục chính biên cho biết vào năm 1803, Nguyễn Ánh cho

đúc tiền Gia Long thông bảo bằng đồng Khảo cổ học đã

phát hiện ra nhiều di chỉ tiền này Tiền được đúc nhiều

lần và không phải chỉ ở một nơi ứ lớn nhất thì có

đường kính chừng 26 mm, thứ nhỏ nhất thì có đường

kính chừng 20 mm Mặt trước bốn chữ Gia Long thông

bảo đọc chéo Mặt sau để trơn

Năm 1813, vua Gia Long cho đúc tiền Gia Long thông

bảo thất phân eo Đại Nam thực lục chính biên thì

tiền này bằng kẽm, song khảo cổ học phát hiện ra cả

tiền mang tên này nhưng bằng đồng Tiền kẽm Gia

Long thông bảo thất phân và tiền đồng Gia Long thông

bảo có thể đổi qua lại theo tỷ lệ 1,25:1 Gia Long thông

bảo thất phân có đường kính trung bình 22 mm và trong

thực tế có nhiều kích cỡ eo quy định thì tiền nặng

bảy phân, nhưng không phải mọi mẫu vật phát hiện

ra đều nặng đúng như thế Mặt trước giống Gia Long

thông bảo, nhưng mặt sau thì có hai chữ thất phân ở

hai bên lỗ tiền

Năm 1814, vua Gia Long lại cho đúc tiền Gia Long

thông bảo lục phân nặng sáu phân ư tịch cho biết

rõ hợp kim đúc tiền này có các thành phần sau đồng

đỏ, kẽm, chì, thiếc (tỷ lệ là 500:415:65:20) Tiền được

đúc nhiều lần và có đường kính xê xích khoảng 21,5

mm đến 22,5 mm Mặt trước giống Gia Long thông bảo,

nhưng mặt sau thì có hai chữ lục phân ở hai bên lỗ tiền

Minh Mạng thông bảo Minh Mạng thông bảo là tiền

do vuaMinh Mạngphát hành Mặt trước có bốn chữ

Minh Mạng thông bảo, mặt sau để trống

Tiền này có nhiều loạt Loạt đúc sớm nhất là vào năm

1820 theo quy định nặng 6 phân bằng đồng và bằng

kẽm Loại bằng đồng thực ra cũng chỉ có khoảng một

nửa nguyên liệu đồng còn lại là kẽm và cả lượng nhỏ

thiếc và chỉ dùng đến năm 1825 thì bị bãi bỏ

Loạt thứ hai có kích thước lớn từ 22 đến 25 mm, được

phát hành từ năm 1820 Nguyên liệu là hợp kim đồng,

kẽm và thiếc

Loạt thứ ba có đường kính khoảng 22 mm, nặng 9 phân,

Tiền Minh Mạng thông bảo.

bằng hợp kim đồng kẽm, được phát hành từ năm 1825 Loạt thứ tư có đường kính 25 mm, nặng 1 đồng cân, được phát hành từ năm 1827

Thiệu Trị thông bảo Tiền mang niên hiệu của vua

iệu Trịcó loại nặng 6 phân và loại nặng 9 phân đều bằng hợp kim đồng pha kẽm Còn có cả loại nặng 6 phân bằng toàn kẽm Các loại này ở mặt trước có bốn chữ iệu Trị thông bảo đọc chéo, mặt sau để trống

Thiệu Trị thông bảo.

Tự Đức thông bảo Tự Đứcthông bảo có mấy loạt bằng đồng và cả bằng kẽm, đường kính từ 20 mm đến

25 mm Nhìn chung các loạt đều có mặt trước giống nhau: bốn chữ Tự Đức thông bảo đọc chéo, có viền gờ mép và lỗ Mặt sau thì mỗi loạt một khác Có loạt để trống, có loạt thì có chữ “lục văn”, có loạt có chữ “Hà

Ngày đăng: 06/08/2017, 13:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w