Do đặc thù kinh doanh tín dụng ngân hàng là kinh doanh chủ yếu là huy động tiền từ nơi thừa vốn cho vay lại ở nơi thiếu vốn, nên rủi ro trong hoạt động tín dụng cao hơn nhiều so với các
Trang 1SVTH : Phạm Tuân Trang 1
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế trong nước, số lượng các DNVVN tăng lên nhanh chóng và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, DNVVN là công cụ góp phần khai thác toàn diện mọi nguồn lực kinh tế, đặc biệt là những nguồn lực tiềm tàng sẵn có ở mỗi người, mỗi miền đất nước Nhưng để thúc đẩy DNVVN ở nước ta đòi hỏi phải giải quyết hàng loạt các khó khăn mà các doanh nghiệp này đang gặp phải liên quan đến nhiều vấn đề Trong đó khó khăn cơ bản nhất, phổ biến nhất đó là thiếu vốn để phục vụ sản xuất
và đổi mới công nghệ Trước tình hình đó, cùng với sự quan tâm của nhà nước, các NHTM - với tư cách là trung tâm tiền tệ tín dụng của các nền kinh tế - cũng có các chủ trương đẩy mạnh hoạt động tín dụng trung dài hạn nhằm phục vụ bổ sung vốn lưu động và vốn cố định cho các DNVVN
Tuy nhiên, hoạt động tín dụng đối với DNVVN cũng chứa đầy rẫy rủi ro Do đặc thù kinh doanh tín dụng ngân hàng là kinh doanh chủ yếu là huy động tiền từ nơi thừa vốn cho vay lại ở nơi thiếu vốn, nên rủi ro trong hoạt động tín dụng cao hơn nhiều so với các doanh nghiệp, vì nó vừa phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của chính bản thân Ngân hàng và vừa phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Khi rủi ro xảy ra, hậu quả của nó rất dễ lan truyền trong cả hệ thống ngân hàng gây ra những vụ khủng hoảng, sụp đổ và hàng loạt hậu quả nghiêm trọng khác đối với nền kinh tế, xã hội Để hạn chế rủi ro tín dụng thì trước hết Ngân hàng phải làm tốt công tác thẩm định tín dụng trước khi cho vay, nhằm xác minh tính khả thi của phương án, khả năng trả nợ của khách hàng, từ đó đưa ra quyết định tài trợ hoặc không Nhưng trên thực tế, việc thẩm định cho vay đối với các DNVVN gặp rất nhiều khó khăn do nguyên nhân cả từ phía các ngân hàng và từ phía các doanh nghiệp, dẫn đến chất lượng công tác thẩm định chưa được đảm bảo
Như vậy việc tìm ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thẩm định cho vay đối tượng khách hàng DNVVN là một vấn đề cần thiết hiện nay Chính vì lý do
đó, em đã chọn đề tài “Nâng cao chất lượng thẩm định cho vay doanh nghiệp vừa
và nhỏ tại VietinBank Chi nhánh 8” để làm báo cáo thực tập tốt nghiệp của mình
2 Mục đích nghiên cứu :
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về tín dụng ngân hàng và công tác thẩm định cho vay DNVVN
Trang 23 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
- Đối tượng nghiên cứu : nghiên cứu, đánh giá hoạt động thẩm định cho vay đối với đối tượng khách hàng là các DNVVN của VietinBank Chi nhánh 8
- Phạm vi nghiên cứu : chỉ nghiên cứu ở phạm vi một chi nhánh ngân hàng
4 Phương pháp nghiên cứu :
Đề tài được nghiên cứu bằng các phương pháp sau :
- Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh
- Mô hình phân tích SWOT
5 Kết cấu của đề tài :
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của đề tài gồm 3 chương như sau :
Chương 1 : Tổng quan về tín dụng ngân hàng và công tác thẩm định cho vay
Trang 3SVTH : Phạm Tuân Trang 3
Chương 1 : TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG
NGÂN HÀNG VÀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA
VÀ NHỎ
Trang 4SVTH : Phạm Tuân Trang 4
1.1 Sơ lược về tín dụng ngân hàng đối với DNVVN
1.1.1 Vài nét về DNVVN tại Việt Nam
1.1.1.1 Khái niệm DNVVN tại Việt Nam
DNVVN (SMEs-Small and Medium Enterprises) được định nghĩa theo quy định tại điều 3, chương 1, Nghị định 56/2009/NĐ-CP như sau :
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp : siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau :
Bảng 1.1 : Tiêu chí phân chia các cấp DNVVN
Quy mô
Khu vực
Doanh nghiệp siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa
Số lao động Tổng nguồn
vốn Số lao động
Tổng nguồn vốn Số lao động
I Nông,
lâm nghiệp
và thủy sản
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
II Công
nghiệp và
xây dựng
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
300 người III Thương
mại và dịch
vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
100 người
1.1.1.2 Đặc điểm của DNVVN tại Việt Nam
a Ưu điểm của DNVVN
DNVVN là loại hình sản xuất có địa điểm phân tán, tổ chức bộ máy gọn nhẹ nên
có nhiều ưu thế :
Thứ nhất, dễ thành lập, bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ và năng động nhạy bén với
những thay đổi của thị trường Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn không lớn, các điều kiện sản xuất tương đối đơn giản là có thể bắt đầu hoạt động Bố máy quản lý
Trang 5SVTH : Phạm Tuân Trang 5
gọn nhẹ, dễ quản lý, ra quyết định, do đó có thể linh hoạt điều chỉnh hướng kinh doanh hoặc mặt hàng theo nhu cầu của thị trường Bên cạnh đó, do đặc điểm dễ thành lập và linh hoạt nên mô hình DNVVN tồn tại và phát triển ở mọi thành phần kinh tế
Thứ hai, các DNVVN sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, các lịnh vực có mức
độ rủi ro cao Đó là lý do các doanh nghiệp này có vốn đầu tư không quá lớn, quy
mô thường là nhỏ nên có thể chấp nhận rủi ro cao Bên cạnh đó, do không cạnh tranh được với các doanh nghiệp lớn trong sản xuất dây chuyền nên họ tìm đến những lĩnh vực mới và thu lợi nhuận từ những dự án có phần mạo hiểm
Thứ ba, dễ dàng đổi mới trang thiết bị, công nghệ Nguồn vốn của các DNVVN
không dồi dào nên đầu tư vào tài sản cố định không nhiều, vì vậy dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khi điều kiện cho phép
Thứ tư, khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), thị trường
thế giới sẽ rộng mở cho các sản phẩm của DNVVN, tạo cơ hội cho các sản phẩm của các DNVVN tiếp cận với thị trường thế giới
b Nhược điểm của DNVVN
Theo số liệu của Bộ kế hoạch và Đầu tư, tổng cục Thống kê, trong những năm gần đây số lượng DNVVN đăng ký mới tăng nhanh Năm 2007 cả nước có khoảng 310.000 DNVVN, năm 2008 là khoảng 335.000 doanh nghiệp, gần 3 triệu hộ kinh doanh cá thể và gần 20.000 hợp tác xã Mặc dù tăng nhanh về số lượng nhưng quy
mô về vốn và lao động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong những năm gần đây lại thấp, mới ở mức trung bình khoảng 3 tỷ đồng/doanh nghiệp và bình quân mỗi doanh nghiệp khoảng 30 lao động Do đó DNVVN phải đối mặt với nhiều bất lợi
Do những hạn chế về quy mô nhỏ, chi phí sản xuất cao, kiểu dáng sản phẩm đơn điệu, chất lượng sản phẩm chưa cao và thiếu mạng lưới phân phối, tiếp thị nên các DNVVN rất khó tiếp cận thị trường, đặc biệt là tiếp cận trực tiếp với các thị trường nước ngoài, do đó khả năng cạnh tranh của các DNVVN được đánh giá thấp
DNVVN gặp nhiều khó khăn trong việc huy động vốn để mở rộng đầu tư hoặc nâng cấp trang thiết bị, đầu tư công nghệ mới, đặc biệt là công nghệ cao đòi hỏi vốn lớn, ảnh hưởng đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh trên thị trường
Hạn chế trong công tác đào tạo nguồn nhân lực, lao động có trình độ cao Điều kiện đầu tư cho nghiên cứu, cải tiến công nghệ, sản phẩm cũng hạn chế Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ rất yếu kém trong tiếp cận thông tin và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh Một phần là do chất lượng nguồn nhân lực thấp, hạn chế về trình độ
Trang 6SVTH : Phạm Tuân Trang 6
chuyên môn, tin học, ngoại ngữ của giám đốc và đội ngũ quản lý doanh nghiệp, một phần là do đầu tư cho hệ thống thông tin thấp, chưa có phương tiện kỹ thuật nên chưa theo kịp diễn biến của thị trường
Sau khi gia nhập WTO, theo quy định Việt Nam phải mở cửa thị trường bán lẻ cho các nhà phân phối nước ngoài, do đó, với quy mô lớn, mạng lưới phân phối toàn cầu và có tính chuyên nghiệp cao, các công ty nước ngoài sẽ là những đối thủ lớn, đe dọa sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực thương mại của Việt Nam
1.1.1.3 Vai trò của DNVVN đối với nền kinh tế Việt Nam
Trong tổng số 450.000 doanh nghiệp cả nước thì có đến 96% là doanh nghiệp vừa và nhỏ Với tỷ trọng như vậy, DNVVN ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta, được thể hiện qua các điểm sau :
Thứ nhất, cung ứng cho nền kinh tế một khối lượng hàng hóa đáng kể về cả chất
lượng, số lượng và chủng loại Do đó loại hình DNVVN khá linh hoạt, tồn tại và phát triển ở mọi thành phần kinh tế, do đó nó thu hút một lượng lớn lao động và tài nguyên để sản xuất ra nhiều loại hàng hóa, dịch vụ, phục vụ nhiều lĩnh vực trong xã hội Bên cạnh đó họ cũng lựa chọn phục vụ những thị trường nhỏ mà các doanh nghiệp lớn không quan tâm tới do doanh thu từ đó quá nhỏ Những DNVVN còn đóng vai trò cầu nối trong việc đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng qua việc làm đại lý, nhà phân phối…
Thứ hai, tận dụng và phát huy các nguồn lực của địa phương :
- Tạo công ăn việc làm cho một số lượng lớn lao động Hàng năm, khối DNVVN giải quyết việc làm cho 50% lao động, đặc biệt là khu vực nông thôn, đóng góp cho nền kinh tế tới 40% GDP (báo Kinh tế nông thôn) Nhờ phân bố rải rác khắp nơi nên các DNVVN có thể tạo việc làm cho nhiều đối tượng lao động, kể cả lao động ở vùng sâu, vùng xa, từ đó góp phần cải thiện và đảm bảo đời sống cho người lao động
- DNVVN cũng đóng vai trò là một kênh thu hút vốn nhàn rỗi rất lớn trong dân cư vào nền kinh tế thông qua hình thức đầu tư Làm được điều này sẽ giúp giảm gánh nặng về vốn cho các doanh nghiệp, tăng tiềm lực tài chính, đồng thời giúp nền kinh
tế hoạt động hiệu quả hơn
- Tận dụng nguồn nguyên vật liệu sẵn có của địa phương, giúp tiết kiệm chi phí (chi phí vận chuyển, tìm kiếm…) Việc này không những giúp doanh nghiệp tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, mà còn tạo đầu ra cho các loại sản phẩm thô của từng địa phương (chủ yếu là các sản phẩm nông nghiệp)
Trang 7SVTH : Phạm Tuân Trang 7
Thứ ba, loại hình DNVVN phù hợp với sản xuất thủ công ở các làng nghề truyền
thống, do đó nó góp phần gìn giữ và phát huy các nghề truyền thống mang bản sắc dân tộc
Thứ tư, các DNVVN còn là nơi ươm mầm các tài năng kinh doanh trẻ Với quy
mô nhỏ nó sẽ tạo điều kiện cho những doanh nhân và doanh nghiệp trẻ làm quen với môi trường kinh doanh đầy tính cạnh tranh
1.1.2 Khái niệm – vai trò của hoạt động cho vay DNVVN
1.1.2.1 Khái niệm
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi
Thời hạn nhất định ở đây là thời hạn cho vay Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay được thảo luận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng
1.1.2.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với DNVVN
- Tín dụng ngân hàng là một kênh cung cấp vốn cho các DNVVN, góp phần đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp được liên tục và thuận lợi
- Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho DNVVN
- Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giúp doanh nghiệp hạn chế bớt rủi ro Bởi vì khi DNVVN được vay vốn tại ngân hàng thì ngân hàng sẽ xem xét các phương án sản xuất, kinh doanh có khả thi hay không Đồng thời ngân hàng sẽ nghiên cứu lĩnh vực mà doanh nghiệp tham gia, qua đó đánh giá về khả năng và tư vấn cho doanh nghiệp sao cho phương án trở nên khả thi, hiệu quả, nhờ đó doanh nghiệp sẽ hạn chế được rủi ro Đồng thời trong quá trình sản xuất kinh doanh thì ngân hàng cũng thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn đúng mục đích
1.1.3 Quy trình tín dụng trong hoạt động cho vay DNVVN
1.1.3.1 Khái niệm quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng là trình tự giao dịch tín dụng từ khi bắt đầu tiếp nhận đề nghị vay vốn của ngân hàng cho đến khi kết thúc quan hệ tín dụng, theo các tiêu chuẩn
an toàn và kỹ thuật nghiệp vụ, phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng
1.1.3.2 Nội dung của việc lập quy trình tín dụng
Bước 1 Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng
Trang 8SVTH : Phạm Tuân Trang 8
Đây là giao đoạn thu thập thông tin làm cơ sở để thực hiện các khâu sau, đặc ibệt
là khâu phân tích và ra quyết định cho vay
Bước này do CBTD thực hiện ngay sau khi tiếp xúc khách hàng Nhìn chung một
bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như :
- Năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng
- Khả năng sử dụng vốn vay
- Khả năng hoàn trả nợ vay (vốn vay + lãi)
Bước 2 Thẩm định tín dụng (phân tích tín dụng)
Đây là giai đoạn phân tích khả năng hiện tại và tiềm năng của khách hàng về việc
sử dụng vốn vay, khả năng hoàn trả và khả năng thu hồi cả gốc và lãi
Mục tiêu :
- Tìm kiếm những tình huống có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, dự đoán khả năng khắc phục những rủ ro đó, dự kiến những biện pháp giảm thiểu rủi ro và hạn chế tổn thất cho ngân hàng
- Phân tích tính chân thật của những thông tin đã thu thập được từ phía khách hàng trong bước 1, từ đó nhận xét thái độ, thiện chí của khách hàng làm cơ
sở cho việc ra quyết định cho vay
Bước 3 Quyết định tín dụng
Quyết định tín dụng là giai đoạn quyết định cho vay hoặc từ chối đối với một bộ
hồ sơ vay vốn của khách hàng Đây là khâu khó xử lý và thường dễ phạm sai lầm nhất (quyết định cho vay đối với một khách hàng không tốt, hoặc từ chối cho vay một khách hàng tốt) Cả 2 sai lầm đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh tín dụng, thậm chí sai lầm thứ 2 còn ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng
Bước 4 Giải ngân
Đây là giai đoạn thực hiện phát tiền vay cho khách hàng dựa trên hoạt động tín dụng Nguyên tắc giải ngân : phải gắn liền sự vận động tiền tệ với sự vận động hàng hóa hoặc dịch vụ có liên quan, nhằm kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng và đảm bảo khả năng thu nợ Nhưng đồng thời cũng phải tạo ra sự thuận lợi, tránh gây ra phiền hà cho công việc sản xuất kinh doanh của khách hàng
Bước 5 Giám sát khoản vay
Nhân viên tín dụng thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay thực tế của khách hàng, hiện trạng tài sản đảm bảo, tình hình tài chính của khách hàng…nhằm đảm bảo tiền vay được sử dụng đúng mục đích
Bước 6 Thanh lý hợp đồng tín dụng
Trang 9SVTH : Phạm Tuân Trang 9
Thanh lý hợp đồng tín dụng là việc giải trừ trách nhiệm của bên đi vay đối với bên cho vay Có 2 hình thức thanh lý : thanh lý mặc nhiên và thanh lý bắt buộc
1.2 Thẩm định (phân tích) tín dụng trong hoạt động cho vay DNVVN
Phân tích tín dụng là quá trình thu thập, xử lý thông tin một cách khoa học nhằm hiểu rõ thêm về khách hàng và phương án sản xuất kinh doanh để phục vụ cho việc
ra quyết định cấp tín dụng cho khách hàng
1.2.1 Mục tiêu và những nguồn thông tin phân tích
1.2.1.1 Mục đích
- Định dạng các rủi ro có thể xảy ra liên quan đến khoản vay
- Tiên lượng khả năng kiểm soát của ngân hàng về những loại rủ ro và dự kiến các biện pháp phòng ngừa
- Kiểm tra tính chính xác của những thông tin do khách hàng cung cấp
→ Phân tích tín dụng giúp ngân hàng tránh được hai loại sai lầm : cấp tín dụng cho một khách hàng không tốt hoặc từ chối tín dụng cho một khách hàng tốt
1.2.1.2 Những nguồn thông tin phân tích
a Thông tin thu thập từ hồ sơ của khách hàng vay vốn
Khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng, ngân hàng yêu cầu khách hàng phải lập và nộp cho ngân hàng một bộ hồ sơ vay Qua bộ hồ sơ này ngân hàng có thể thu thập được khá nhiều thông tin về khách hàng, bao gồm :
- Thông tin về tư cách pháp nhân của khách hàng vay vốn
- Thông tin về tình hình tài chính của khách hàng thể hiện qua báo cáo tài chính các
kỳ gần nhất
- Thông tin về kế hoạch và chiến lược sản xuất kinh doanh của khách hàng
- Thông tin về hiệu quả sử dụng vốn vay và khả năng hoàn trả nợ vay thể hiện qua phương án sản xuất kinh doanh
Trong những thông tin vừa liệt kê thì thông tin về tình hình tài chính của khách hàng và khả năng hoàn trả nợ vay rất quan trọng Tuy nhiên, ngân hàng cũng cần phân tích và thẩm định lại những thông tin này trước khi quyết định cho vay
b Thông tin lưu trữ tại ngân hàng
Đây là nguồn thông tin mà ngân hàng đã thu thập trước kia khi khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng và lưu trữ lại để sử dụng cho những lần vay tiếp theo Nguồn thông tin này rất quan trọng vì nó đã qua kiểm chứng và đáng tin cậy
c Thông tin từ phỏng vấn và điều tra khách hàng
Thông tin hồ sơ khách hàng có nhược điểm là mức độ tin cậy không cao vì thông tin này do chính khách hàng cung cấp, chưa qua kiểm chứng và xử lý Thông tin lưu
Trang 10SVTH : Phạm Tuân Trang 10
trữ có ưu điểm là đã qua kiểm chứng nhưng nhược điểm là lạc hậu theo thời gian và không phải lúc nào cũng phù hợp cho việc phân tích Do vậy, để kiểm chứng và cập nhật hóa thông tin ngân hàng cần phỏng vấn và điều tra khách hàng khi họ vay vốn Thông tin qua phỏng vấn có ưu điểm là thông tin mới nhất đồng thời qua nghệ thuật phỏng vấn có thể loại bỏ được một số thông tin gây nhiễu để từ đó chắt lọc thông tin chính xác hơn cho việc phân tích Ngoài ra, thông tin qua phỏng vấn còn
có thể bổ sung thêm cho thông tin về khách hàng mà qua hồ sơ vay chưa thể thu
thập đầy đủ
d Thông tin từ các nguồn khác
Ngoài các nguồn trên, ngân hàng còn có thể sử dụng các nguồn thông tin khác để phân tích tín dụng Các nguồn thông tin này có thể bao gồm : Thông tin từ các ngân hàng khác, thông tin từ các công ty nghiên cứu thị trường, thông tin từ bạn hàng của khách hàng, thông tin từ đối thủ cạnh tranh của khách hàng, thông tin từ các tổ chức chuyên môn thu thập và cung cấp thông tin, thông tin từ các phương tiện truyền thông, và thông tin từ các ấn phẩm của Chính phủ và cơ quan có liên quan
1.2.2 Nội dung phân tích – thẩm định
Mục đích của phân tích tín dụng là nhằm phục vụ việc ra quyết định có cấp tín dụng cho khách hàng hay không Để trả lời câu hỏi này, nội dung phân tích phải hướng đến việc đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng (bao gồm cả gốc và lãi)
Về cơ bản khả năng trả nợ của khách hàng chịu ảnh hưởng bởi :
- Tình hình tài chính của khách hàng vay vốn
- Tình hình khả thi và hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh
- Thái độ của khách hàng đối với việc hoàn trả nợ vay
Những nội dung này cũng tác động qua lại làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng Nhân viên tín dụng khi phân tích kỳ vọng rằng một khách hàng có tình hình tài chính tốt sẽ có khả năng trả nợ tốt Tuy nhiên, chỉ dựa vào tình hình tài chính không cũng chưa đủ Nếu tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt nhưng phương án sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, chẳng những không giúp ích gì mà còn tàn phá đi tình hình tài chính của doanh nghiệp Do đó, trong các nội dung phân tích cần đặc biệt chú ý đến tính khả thi và hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh, vì đây là yếu tố quyết định nhất đến khả năng trả nợ của khách hàng
Nội dung phân tích gồm 2 mảng : phân tích tài chính và phân tích phi tài chính
1.2.2.1 Phân tích phi tài chính
Phân tích phi tài chính là phân tích các yếu tố ít hoặc không liên quan đến vấn đề tài chính của khách hàng một cách trực tiếp
Trang 11SVTH : Phạm Tuân Trang 11
Nội dung phân tích :
a Thẩm định về tư cách của khách hàng
a.1 Thẩm định về tư cách của khách hàng
Trên cơ sở các hồ sơ do khách hàng cung cấp, chuyên viên phân tích tín dụng có trách nhiệm tìm hiểu về tư cách của khách hàng như có đủ năng lực nhân sự, năng lực hành vi dân sự hay không, được thành lập và hoạt động có quy định không, người đại diện pháp nhân đã đúng thẩm quyền chưa… và đối chiếu với các quy định của pháp luật hiện hành để xem xét khách hàng có đủ điều kiện kinh doanh và vay vốn hay không
a.2 Đánh giá uy tín, năng lực và tư cách của người vay vốn hoặc người đại diện pháp nhân :
Cần tìm hiểu rõ về người vay vốn (hoặc người đại diện pháp nhân), về các khía cạnh : tư cách đạo đức, trình độ và kinh nghiệm quản lý, các chức vụ đã trải qua, tác phong lãnh đạo và uy tín trong quan hệ với các ngân hàng cũng như với các đối tác khác trong quá trình kinh doanh Tuy nhiên việc tìm hiểu cần tiến hành khéo léo và
tế nhị
a.3 Xem xét lịch sử hình thành và quá trình phát triển của doanh nghiệp để rút ra những điểm mạnh, điểm yếu của khách hàng
b Thẩm định về tình hình sản xuất kinh doanh
Mục tiêu của phần thẩm định này là tìm hiểu và làm rõ các khía cạnh liên quan đến quá trình sản xuất, kinh doanh của khách hàng một cách đầy đủ nhất để từ đó có kết luận về tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng cũng như lĩnh vực kinh doanh có phù hợp với tình hình hiện tại và tương lai, chủng loại sản phẩm sản xuất hoặc dịch vụ dùng cho đối tượng tiêu thụ nào, khả năng phát triển thị trường và đối thủ cạnh tranh từ đó đánh giá khả năng tồn tại và phát triển của khách hàng để có quyết định cho việc cấp tín dụng một cách chính xác
1.2.2.2 Phân tích tài chính
Phân tích tài chính là quá trình sử dụng các báo cáo tài chính của doanh nghiệp
để phân tích hiện trạng và các dự báo trong tương lai của ngân hàng về tình hình tài chính của doanh nghiệp, nhằm tìm kiếm và tiên lượng những trường hợp xấu có thể xảy ra, làm giảm khả năng trả nợ
a Tài liệu sử dụng cho phân tích
Theo yêu cầu của ngân hàng, khi vay vốn khách hàng sẽ phải nộp các loại báo cáo tài chính sau :
- Bảng cân đối kế toán (còn gọi là bảng tổng kết tài sản)
Trang 12SVTH : Phạm Tuân Trang 12
- Báo cáo thu nhập (còn gọi là báo cáo kết quả kinh doanh)
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (còn gọi là báo cáo các dòng ngân lưu)
- Thuyết minh báo cáo tài chính
b Phân tích các tỷ số tài chính
b.1 Nhóm các tỷ số thanh khoản (Liquidity ratios)
Tỷ số thanh khoản là tỷ số đo lường khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công
ty, bao gồm :
Tỷ số thanh khoản hiện thời = giá trị tài sản lưu động / giá trị nợ ngắn hạn
Tỷ số thanh khoản nhanh = (giá trị tài sản lưu động – giá trị hàng tồn kho) / giá trị
nợ ngắn hạn
b.2 Nhóm các tỷ số đòn bẩy tài chính (Financial Leverage or Debt ratios)
Tỷ số nợ so với vốn chủ sở hữu = Tổng giá trị nợ / giá trị vốn chủ sở hữu
Tỷ số này đánh giá mức độ sử dụng nợ của công ty và qua đó còn đo lường khả năng tự chủ tài chính của công ty Đứng trên góc độ của ngân hàng, tỷ số này chỉ nên biến động từ 0 đến 1 Nếu lớn hơn hoặc bằng 1 thì doanh nghiệp đã quá lệ thuộc vào vốn vay và như vậy rủi ro của doanh nghiệp đã dồn hết cho ngân hàng gánh chịu
Tỷ số nợ so với tổng tài sản = Tổng giá trị nợ / tổng tài sản
Tỷ số này đánh giá mức độ sử dụng nợ để tài trợ cho toàn bộ tài sản của công ty
Tỷ số nợ dài hạn = giá trị nợ dài hạn / giá trị nguồn vốn dài hạn
b.3 Tỷ số khả năng hoàn trả lãi vãy (Coverage ratio)
Tỷ số trang trải lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi / chi phí lãi vay
Tỷ số này là tỷ số đo lường khả năng sử dụng lợi nhuận của công ty để thanh toán lãi vay
b.4 Nhóm các tỷ số hiệu quả hoạt động (Activity ratios)
Tỷ số hoạt động khoản phải thu
Tỷ số này cho chúng ta cái nhìn sâu vào chất lượng của khoản phải thu và hiệu quả thu hồi nợ của doanh nghiệp, nó thường được biểu hiện dưới dạng vòng quay khoản phải thu (Receivable Turnover Ratio)
Vòng quay khoản phải thu = Doanh thu bán hàng chịu ròng hàng năm / bình quân
giá trị khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân = Số ngày trong năm / số vòng quay khoản phải thu
Tỷ số hoạt động khoản phải trả (Payables activity)
Tỷ số này đo lường uy tín của công ty trong việc trả nợ đúng hạn
Trang 13SVTH : Phạm Tuân Trang 13
Vòng quay khoản phải trả = Doanh số mua chịu ròng hàng năm / bình quân giá trị
khoản phải trả
Kỳ trả tiền bình quân = Số ngày trong năm / số vòng quay khoản phải trả
Tỷ số hoạt động tồn kho (Inventory activity)
Để đánh giá hiệu quả quản lý tồn kho của công ty
Vòng quay tồn kho = giá vốn hàng bán / bình quân giá trị hàng tồn kho
Số ngày tồn kho = Số ngày trong năm / số vòng quay hàng tồn kho
Tỷ số hoạt động tổng tài sản (Total asset turnover)
Tỷ số này sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của tổng tài sản công ty nói chung
Vòng quay tổng tài sản = Doanh thu ròng / bình quân giá trị tổng tài sản
b.5 Nhóm các tỷ số khả năng sinh lợi
Khả năng sinh lợi của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng trả nợ và lãi Do vậy, khi cho vay nhân viên tín dụng cũng cần quan tâm đến phân tích khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Tùy theo mục tiêu phân tích khả năng sinh lợi, chúng ta có thể sử dụng các tỷ số sau đây :
Khả năng sinh lợi so với doanh thu
Tỷ số lãi gộp = (Doanh thu ròng – giá vốn hàng bán) / Doanh thu ròng
Tỷ số lãi ròng = Lợi nhuận ròng sau thuế / Doanh thu ròng
Khả năng sinh lợi so với tài sản
Tỷ số khả năng sinh lợi so với tài sản này đo lường khả năng sinh lợi so với tài sản hay nói khác đi tỷ số này cho biết mỗi đồng giá trị tài sản của công ty tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
Tỷ số lãi ròng so với tài sản (ROA) = Lợi nhuận ròng sau thuế / giá trị tổng tài sản
Khả năng sinh lợi so với vốn chủ sở hữu
Tỷ số này đo lường khả năng sinh lợi so với vốn chủ sở hữu bỏ ra, chứ doanh nghiệp thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận sau cùng mà họ nhận được, cho nên thường thì chỉ tiêu lợi nhuận ròng sau thuế được sử dụng trong việc tính toán tỷ số này
Tỷ số lãi ròng so vối vốn chủ sở hữu (ROE) = Lợi nhuận ròng sau thuế / vốn chủ sở
hữu
Đứng trên góc độ ngân hàng, chúng ta thường quan tâm đến tỷ số lợi nhuận trước thuế vì phẩn trả nợ gốc và lãi là phần chi trả trước khi nộp thuế Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp có tỷ số lợi nhuận sau thuế cao đủ đảm bảo trả nợ và lãi thì càng tốt vì khi ấy khả năng thu hồi nợ càng đảm bảo hơn
Trang 14SVTH : Phạm Tuân Trang 14
b.6 Phân tích các tỷ số tăng trưởng
Các tỷ số tăng trưởng cho thấy triển vọng phát triển của doanh nghiệp trong dài hạn Do vậy, nếu cho vay dài hạn thường ngân hàng quan tâm nhiều hơn đến các tỷ
số này Phân tích triển vọng tăng trưởng của doanh nghiệp có thể sử dụng 2 tỷ số sau :
Tỷ số lợi nhuận tích lũy = Lợi nhuận tích lũy / Lợi nhuận sau thuế
Tỷ số này đánh giá mức độ sử dụng lợi nhuận sau thuế để tích lũy cho mục đích tái đầu tư Do vậy, nó cho thấy được triển vọng phát triển của công ty trong thương lai
Tỷ số tăng trưởng bền vững = Lợi nhuận tích lũy / Vốn chủ sở hữu
= (Tỷ số lợi nhuận tích lũy * Lợi nhuận sau thuế) / Vốn chủ sở hữu = Tỷ số lợi nhuận tích lũy * Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
Tỷ số này đánh giá khả năng tăng trưởng của vốn chủ sở hữu thông qua tích lũy lợi nhuận Do vậy, có thể xem tỷ số này phản ánh triển vọng tăng trưởng bền vững – tăng trưởng từ lợi nhuận giữ lại
1.2.2.3 Phân tích phương án sản xuất kinh doanh
Khi vay vốn ngắn hạn, khách hàng phải nộp cho ngân hàng phương án sản xuất kinh doanh, trong đó chỉ rõ :
- Tình hình thị trường
- Ước lượng chi phí
- Ước lượng lợi nhuận gộp
- Ước lượng lợi nhuận ròng
- Đánh giá khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi vay
Nhìn chung về phía ngân hàng, mục đích của việc yêu cầu doanh nghiệp xuất trình phương án sản xuất kinh doanh là để ngân hàng đánh giá khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng Do vậy, khi lập phương án sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp
có khuynh hướng thổi phồng doanh thu và giảm chi phí, sao cho khi mới nhìn vào phương án có vẻ rất hiệu quả Khi phân tích phương án sản xuất kinh doanh có hai vấn đề lưu ý :
Phân tích tình hình thị trường và dự báo doanh thu :
Để phân tích tốt tình hình thị trường đòi hỏi nhân viên tín dụng phải am hiểu về tình hình thị trường của sản phẩm hoặc ngành mà khách hàng đang hoạt động Am hiểu ở đây thể hiện rõ ở các mặt : am hiểu về nhu cầu thị trường, am hiểu về giá cả, thị phần của thị phần mình đang xem xét cấp tín dụng Nếu cần có thể tham khảo
Trang 15về tính chất khả thi và hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh
Phân tích các khoản mục chi phí sản xuất kinh doanh
Để phân tích và đánh giá mức độ tin cậy của các khoản mục chi phí đòi hỏi nhân viên tín dụng phải am hiểu về kế toán quản trị, kế toán chi phí, và cách tính giá thành sản phẩm Từ đó, có thể phán quyết khoản mục chi phí nào hợp lý, khoản mục chi phí nào không hợp lý
Ngoài kinh nghiệm và sự am hiểu về ngành, nhân viên tín dụng nên tích lũy thông tin về chi phí của những doanh nghiệp khác trong cùng ngành có quy mô tương tự để làm cơ sở so sánh
1.2.2.4 Thẩm định tài sản đảm bảo
Đảm bảo tín dụng (đảm bảo tiền vay) là việc các tổ chức tín dụng áp dụng các biện pháp kinh tế và pháp lý nhằm tạo nguồn vốn trả nợ phụ cho ngân hàng trong trường hợp nguồn trả nợ chính không còn Đảm bảo tín dụng nhằm bảo vệ quyền lợi cho người vay dựa trên cơ sở cầm cố, thế chấp tài sản thuộc sở hữu của người đi vay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba
Nguyên tắc bảo đảm tín dụng :
- Giá trị bảo đảm lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm
- Tài sản dùng làm đảm bảo nợ vay phải tạo ra được giá trị ngân lưu, được phép lưu thông, có thị trường tiêu thụ và có giá trị
- Tài sản đảm bảo nợ vay phải có đầy đủ pháp lý để ngân hàng có đủ thẩm quyền xử lý
- Tài sản có thể được bảo hiểm nếu tài sản có độ an toàn thấp, nguy cơ rủi ro cao
- Điều kiện để nhận làm tài sản đảm bảo :
- Phải thuộc sở hữu hợp pháp của người đi vay (thực sự sở hữu, dễ chứng minh, không tranh chấp…)
- Tài sản phải dễ bán (dễ định giá, có thị trường hoạt động tương đối ổn định, chi phí thanh lý không cao…)
- Tài sản được phép lưu thông (không bị cấm lưu thông / chuyển nhượng, không thuộc khu quy hoạch giải tỏa đối với tài sản là bất động sản…)
Trang 161.3.1 Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến thẩm định cho vay DNVVN
Nhân tố con người : đây được xem là nhân tố cơ bản và quan trọng nhất Chất lượng thẩm định phụ thuộc rất nhiều vào trình độ của cán bộ Có thế hiểu đây là sự
am hiểu về quy trình, nắm chắc nội dung, kỹ thuật phân tích khi xem xét một phương án vay vốn Bên cạnh đó, để cho các phân tích đánh giá được xác thực, yêu cầu đặt ra cho các cán bộ là phải có sự hiểu biết rộng với các lĩnh vực khác ngoài ngân hàng như kinh tế chính trị, pháp luật, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh… Bên cạnh các vấn đề về trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ làm công tác thẩm định cũng là một vấn đề đáng quan tâm
Thông tin : thẩm định phương án sản xuất kinh doanh được tiến hành trên cơ sở các thông tin thu thập từ nhiều nguồn Việc thu thập các thông tin một cách chính xác, đầy đủ sẽ tạo điều kiện cho các cán bộ thẩm định đánh giá chính xác về doanh nghiệp và phương án sản xuất kinh doanh Từ đó đưa ra đề xuất, quyết định tài trợ đúng đắn
Công tác tổ chức điều hành : thẩm định phương án là một quá trình nhiều công đoạn và công việc liên quan chặt chẽ với nhau, do đó nếu được tổ chức một cách khoa học, hợp lý sẽ tiết kiệm thời gian và nâng cao chất lượng thẩm định
Ứng dụng khoa học công nghệ : hiện nay trong các ngân hàng việc lưu trữ và xử
lý các thông tin hầu hết đã được thực hiện trên máy tính Đồng thời hệ thống mạng cũng giúp ngân hàng thuận lợi hơn trong việc khai thác, thu thập thông tin Nhờ đó, công tác thẩm định được tiến hành dễ dàng hơn, giảm thiểu các rủi ro, sai sót trong tính toán, tiết kiệm thời gian, tạo hiệu quả cao trong thẩm định
1.3.2 Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến thẩm định cho vay DNVVN
Hạn chế thứ nhất là tính xác thực trong thông tin của doanh nghiệp : dù trình độ cán bộ thẩm định có tốt đến đâu cũng khó có thể đi sâu và nắm vững được tình hình nội bộ của doanh nghiệp Những thông tin mà doanh nghiệp cung cấp càng chính xác càng giúp CBTD dễ dàng hơn trong quá trình phân tích thẩm định để đưa ra kết quả chính xác và ngược lại
Trang 17SVTH : Phạm Tuân Trang 17
Hạn chế thứ hai là không có đầy đủ thông tin về các tỷ số bình quân của ngành
để làm cơ sở so sánh, các phương án sản xuất kinh doanh thuộc rất nhiều lĩnh vực khác nhau, các CBTD không thể hiểu rõ tất cả các lĩnh vực, do đó các tỷ số bình quân ngành là thông tin quan trọng để so sánh, nhận xét
Trang 18SVTH : Phạm Tuân Trang 18
Chương 2 : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC
THẨM ĐỊNH CHO VAY DNVVN TẠI VIETTINBANK CHI NHÁNH 8
Trang 19SVTH : Phạm Tuân Trang 19
2.1 Giới thiệu chung về VietinBank và VietinBank CN 8
2.1.1 Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – VietinBank
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam có tên giao dịch quốc tế là Industrial And Commercial Bank Of VietNam (INCOMBANK nay đổi thành VIETINBANK) được thành lập từ năm 1988 sau khi tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ngày 26/3/1988 Ngân hàng chuyên doanh Công Thương Việt Nam được thành lập theo quyết định của hội đồng bộ trưởng Sau đó, ngày 14/11/1990 chuyển Ngân hàng chuyên doanh Công Thương Việt Nam thành Ngân hàng Công thương Việt Nam Năm 1993 NHCT VN chính thức hoạt động theo mô hình 2 cấp
Năm 2008 NHCT VN đổi tên thương hiệu từ INCOMBANK sang thương hiệu VIETINBANK và đón nhận “Chứng chỉ ISO 9001 – 2000”
Năm 2009 diễn ra đại hội đồng cổ đông lần thứ nhất Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam, ngày 08/07/2009 công bố Quyết định đổi tên Ngân hàng Công thương Việt Nam thành Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam
Trải qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển, hiện nay VietinBank có hệ thống mạng lưới trải rộng toàn quốc với 150 Sở Giao dịch, chi nhánh và trên 900 phòng giao dịch / quỹ tiết kiệm, có 6 Công ty hạch toán độc lập là công ty cho thuê tài chính, công ty chứng khoán Công thương, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản, công ty TNHH MTV Bảo hiểm, công ty TNHH MTV Quản lý quỹ, công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý và 3 đơn vị sự nghiệp là trung tâm công nghệ thông tin, trung tâm thẻ, trung tâm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
VietinBank còn là sáng lập viên và đối tác liên doanh của ngân hàng INDOVINA, có quan hệ đại lý với trên 850 ngân hàng và định chế tài chính lớn trên toàn thế giới Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam là một ngân hàng đầu tiên của Việt Nam được cấp chứng chỉ ISO 9001:2000, là thành viên của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam, Hiệp hội các ngân hàng Châu Á, Hiệp hội tài chính viễn thông liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), tổ chức Phát hành và thanh toán thẻ VISA, MASTER quốc tế, đồng thời là ngân hàng tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại
và thương mại điện tử tại Việt Nam
Sau đợt chào bán cổ phần riêng lẻ cho các bên IFC (công ty tài chính quốc tế IFC
và quỹ đầu tư cấp vốn IFC) vào tháng 3 năm 2011, hiện tại vốn điều lệ của VietinBank là 16.858 tỷ đồng, thặng dư vốn sau đợt chào bán là 1.854 tỷ đồng
Trang 20SVTH : Phạm Tuân Trang 20
Tổng vốn tự có cấp 1 là 18.712 tỷ đồng, VietinBank trở thành Ngân hàng có tổng vốn điều lệ dẫn đầu trong khối các Ngân hàng Thương mại cổ phần của Việt Nam Các hoạt động chính của VietinBank hiện nay gồm : huy động vốn, cho vay, đầu
tư, bảo lãnh, ngân quỹ, thẻ, ngân hàng điện tử và một số hoạt động khác
2.1.1.2 Những thành tựu đã đạt được và mục tiêu hoạt động của VietinBank
Có thể tóm tắt một số thành tựu nổi bật của VietinBank như sau :
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống các cơ chế, quy chế về nghiệp vụ và điều hành nội bộ, mang tính thống nhất, đầy đủ, tiên tiến, đáp ứng yêu cầu kinh doanh trong giai đoạn mới, đảm bảo an toàn, chất lượng và hiệu quả Có thể kể đến bộ cẩm nang
sổ tay tín dụng và 61 quy trình nghiệp vụ theo quy chuẩn khoa học đã được cấp chứng nhận ISO
Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và hiện đại hóa công nghệ ngân hàng : toàn bộ
hệ thống mạng lưới trụ sở giao dịch kiêm kho từ Trụ sở chính đến các chi nhánh, phòng giao dịch đều khang trang hiện đại, được thiết kế quy chuẩn mang thương hiệu VietinBank Nhiều công trình nhà làm việc đã, đang và tiếp tục được xây mới, tiêu biểu như : trụ sở chính 25 Lý Thường Kiệt, Trung tâm đào tạo cán bộ tại Huế
và Đồng Nai (diện tích mỗi nơi trên 5 ha), trường đào tạo cán bộ tại Vân canh (diện tích 10.2 ha)
Tính từ năm thành lập (1988) tới nay VietinBank đã được tặng thưởng : 01 huân chương Độc lập hạng Nhì, 01 Huân chương Độc lập hạng Ba, 04 Huân chương Lao động hạng Nhất, 22 Huân chương Lao động hạng Nhì, 121 Huân chương Lao động hạng Ba, 01 Huân chương Chiến công hạng Ba, 03 tập thể được tặng thưởng danh hiệu “Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới”, 333 bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, 08 Cờ thi đua của Thống đốc NHNN và hàng ngàn bằng khen của Thống đốc
và các bộ ban ngành… Đồng thời trong năm 2008 VietinBank còn đạt giải thưởng
“Sao vàng Thủ đô 2008” trao cho sản phẩm thẻ E-Partner, cúp vàng “Thương hiệu – Nhãn hiệu” lần III, giải thưởng “Cúp vàng ISO lần thứ IV – 2008” do Bộ Khoa Học
và Công Nghệ tổ chức bình chọn và trao tặng, “Giảo thưởng chất lượng quốc tế” – International Star Award for Quality (ISAQ) tại Thụy Sĩ, và là ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam được nhận vinh dự này VietinBank là Ngân hàng duy nhất trong ngành tài chính ngân hàng được bầu chọn trong Top 10 giải thưởng Sao Vàng Đất Việt năm 2010, đồng thời nhận giải thưởng “Top 20 Nhãn hiệu nổi tiếng Việt Nam” nằm 2010
Trang 21SVTH : Phạm Tuân Trang 21
Mục tiêu của VietinBank là trở thành tập đoàn tài chính ngân hàng hàng đầu của Việt Nam, hoạt động đa năng, cung cấp sản phẩm và dịch vụ theo chuẩn mực quốc
tế, nhằm nâng giá trị cuộc sống
2.1.2 Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh 8 – VietinBank CN8
2.1.2.1 Quá trình hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức
Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/04/1975), ngân hàng Quận 8 được thành lập với tên gọi Chi nhánh 13, thuộc Ngân hàng Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh (đơn vị quản lý) theo quyết định số 175/QĐ ngày 17/10/1975 của Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam
Tháng 08/1988 Chi nhánh 13 đổi tên là Ngân Hàng Công Thương Chi nhánh 8 thành phố Hồ Chí Minh Từ khi pháp lệnh ngân hàng ra đời tháng 12/1990, ngân hàng Công Thương chi nhánh 8 chuyển sang hoạt động kinh doanh tiền tệ theo chế
độ ngân hàng hai cấp căn cứ vào quyết định số 605/QĐNH ngày 22/12/1990 của Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Hiện nay trụ sở chính của NHTM CP Công Thương Việt Nam chi nhánh 8 (VietinBank CN8) đặt tại 196 – 200 Hưng Phú, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh Nằm trên địa bàn là một quận ven đô, với ít khu công nghiệp phát triển, Ngân hàng Công Thương Chi nhánh 8 đã gặp những khó khăn trong việc mở rộng giao dịch phục vụ cho nhu cầu vay vốn và các quỹ tiết kiệm nhằm thu hút tiền gửi của các doanh nghiệp và cá nhân trên địa bàn Tuy nhiên nhờ sự quan tâm chỉ đạo của ban lãnh đạo cùng sự nỗ lực của tập thể cán bộ toàn chi nhánh nên hoạt động kinh doanh tiền tệ trên địa bàn của chi nhánh trong những năm gần đây không ngừng phát triển Nhiều năm liền là chi nhánh luôn đạt danh hiệu loại giỏi trong kinh doanh
Hiện nay VietinBank CN 8 hoạt động kinh doanh, dịch vụ ngân hàng trên các lĩnh vực :
Huy động vốn
- Huy động tiền gửi tiết kiệm từ nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các cá nhân, các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế bằng VNĐ và ngoại tệ
- Nhận tiền gửi thanh toán (tiền gửi không kỳ hạn)
- Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu khi cần thiết, với nhiều kỳ hạn khác nhau : 3 tháng,
6 tháng… tùy theo nhu cầu vốn của ngân hàng mà linh hoạt vận dụng để phát hành cho phù hợp
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi và luôn có những chương trình khuyến mãi đặc biệt
để chăm sóc khách hàng
Trang 22SVTH : Phạm Tuân Trang 22
Cho vay, đầu tư
- Chủ yếu là cho vay ngắn hạn doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho vay đối với các doanh nghiệp, cá nhân và các đơn vị kinh tế có nhu cầu sản xuất kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt đời sống
- Cho vay trung, dài hạn tùy theo tính chất, khả năng nguồn vốn và hiệu quả kinh tế của đơn vị vay vốn
- Tài trợ xuất, nhập khẩu, chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất
- Đồng tài trợ và cho vay hợp vốn đối với những dự án lớn, thời gian hoàn vốn dài
Bảo lãnh
- Bảo lãnh vay vốn
- Bảo lãnh, tái bảo lãnh (trong nước và quốc tế) : bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh thanh toán
Thanh toán và tài trợ thương mại
- Phát hành, thanh toán thư tín dụng nhập khẩu, thông báo, xác nhận, thanh toán thư tín dụng nhập khẩu
- Nhờ thu xuất, nhập khẩu (Collection), nhờ thu hối phiếu trả ngay (D/P) và nhờ thu chấp nhận hối phiếu (D/A)
- Chuyển tiền trong nước và quốc tế
- Chuyển tiền nhanh Western Union
- Thanh toán ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, séc
- Chi trả lương hộ cho doanh nghiệp qua tài khoản, qua thẻ ATM
- Chi trả kiều hối
Trang 23SVTH : Phạm Tuân Trang 23
- Môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, quản lý danh mục đầu tư, tư vấn, lưu ký chứng khoán
Trang 24SVTH : Phạm Tuân Trang 24
2.1.2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy và nhiệm vụ của các phòng ban
Sơ đồ 2.1 : cơ cấu tổ chức VietinBank Chi nhánh 8 :
Phòng
tổ chức hành chính
Phòng tiền tệ kho quỹ
Phòng quản
lý rủi
ro
Tổ điện toán
Phòng tổng hợp
Phòng
giao dịch Phạm
Viết Chánh
Phòng giao dịch Bình Đăng
Phòng giao dịch Rạch Ông
Phòng giao dịch Phạm Hùng
Phòng giao dịch Xóm Củi
Phòng giao dịch 3/2
Phòng giao dịch Hưng Phú
Phòng giao dịch Lakai
Phòng giao dịch Đông Tây
Phòng giao dịch Minh Phụng