1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TÌM HIỂU HÀNH VI của TRẺ tự kỉ tại BỆNH VIỆN tâm THẦN THANH hóa

56 340 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 329,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo thống kê của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, ở Việt Nam,hiện nay có khoảng 200.000 người có chứng tự kỷ và con số này vẫn tiếp tụctăng nhanh trong thời gian tới.Trẻ em bị mắc hội

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

KHOA TÂM LÝ GIÁO DỤC

Sinh viên thực hiện: HÀ THỊ HẰNG

TÌM HIỂU HÀNH VI CỦA TRẺ TỰ KỈ TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN THANH HÓA

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

Chuyên ngành: Đại học Tâm lý học (Định hướng QTNS)

Giảng viên hướng dẫn: Th.s NGUYỄN THỊ HƯƠNG

Thanh Hoá, tháng 6 năm 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC

KHOA TÂM LÝ GIÁO DỤC

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

Chuyên ngành: Đại học Tâm lý học (Định hướng QTNS)

TÌM HIỂU HÀNH VI CỦA TRẺ TỰ KỈ TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN THANH HÓA

Người thực hiện: Hà Thị Hằng

Mã sinh viên: 1366090006 Lớp: K16-Tâm lý học (Định hướng QTNS) Giảng viên hướng dẫn: Th.s Nguyễn Thị Hương

Thanh Hoá, tháng 6 năm 2017

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2.Mục đích nghiên cứu 1

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 1

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

CHƯƠNG 1 3

TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIỆN TÂM THẦN THANH HÓA 3

1.1 Lịch sử tình thành và phát triển 3

1.2 Công tác tổ chức cán bộ 8

1.3 Đặc điểm tình hình 8

1.3.1 Thuận lợi và khó khăn 8

1.3.2 Những kết quả đã đạt được 9

1.3.3 Những tồn tại và nguyên nhân 11

1.4 Phương hướng nhiệm vụ 12

CHƯƠNG 2 15

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HÀNH VI CỦA TRẺ TỰ KỈ TẠI BỆNH VIÊN TÂM THẦN THANH HÓA 15

2.1 Phương pháp nghiên cứu và quy trình thực hiện 15

2.1.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết 15

2.1.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 15

2.1.2.1 Phương pháp quan sát: 15

2.1.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu: 15

1.2.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 15

2.1.2 Quy trình thực hiện 15

2.2 Đánh gía kết tìm hiểu hành vi của trẻ tự kỉ tại bệnh viện tâm thần Thanh Hóa 15

2.2.1 Các khái niệm về trẻ tự kỉ 16

Trang 4

2.2.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán tự kỉ theo bảng phân loại bệnh DSM – IV16

2.3 Phân loại trẻ tự kỉ 17

2.3.1 Phân trẻ tự kỉ theo thể lâm sàng( Các rối loạn sau xếp trong phổ tự kỉ) 17

2.3.2 Phân loại trẻ tự kỉ theo thời điểm mắc tự kỉ 18

2.3.3 Phân loại tự kỉ theo trí tuệ và phát triển ngôn ngữ 18

2.3.4 Phân loại tự kỉ theo mức độ 18

2.3.5 Phân loại trẻ tự kỉ theo khả năng giao tiếp 18

2.3.6 Phân loại trẻ theo những chỉ báo xác định 18

2.3.7 Phân loại trẻ tự kỉ theo chuẩn đoán phân biệt 19

2.4 Đặc điểm phát triển của trẻ tự kỉ 20

2.5 Hành vi của trẻ tự kỉ 27

CHƯƠNG 3 34

NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP 34

3.1 Nguyên nhân 34

3.1.1 Từ phía gia đình 34

3.1.2 Di truyền 35

3.1.3 Do môi trường 36

3.1.4 Do chính bản thân trẻ 37

3.1.5 Một số nguyên nhân khác 37

3.2 Giải pháp 40

3.2.1 Từ phía gia đình 40

3.1.2 Về phía nhà trường 41

3.1.3 Về phía xã hội 41

KẾT LUẬN- KIẾN NGHỊ 48

1.Kết luận 48

2 Kiến nghị 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

PHỤ LUC 50

Trang 5

PHIẾU ĐÁNH GIÁ TỰ KỈ 50

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trẻ em là niềm hạnh phúc của gia đình, là mầm non tương lai của mỗi dântộc Bảo vệ và chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của Nhà nước, củatoàn xã hội và của mọi gia đình.Khẩu hiệu “ trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai”

đã và đang trở thànng châm hành động của nhiều quốc gia trên thế giới và củaViệt Nam.Tuy nhiên không phải đứa trẻ nào cũng may mắn khi sinh ra đượcbình thường như bao người khác Trong những năm gần đây những vấn đề liênquan đến “bệnh tự kỷ”, hay còn gọi “hội chứng tự kỉ” là một trong nhưng rốiloạn phát triển hay gặp ở trẻ em và đang được quan tâm nghiên cứu và tìm hiểusâu rộng ở nước ta

Theo thống kê của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, ở Việt Nam,hiện nay có khoảng 200.000 người có chứng tự kỷ và con số này vẫn tiếp tụctăng nhanh trong thời gian tới.Trẻ em bị mắc hội chứng tự kỉ không những pháttriển chậm về quan hệ xã hội, ngôn ngữ , giao tiếp, học hành mà còn có nhữngrối loạn hành vi ảnh hưởng lớn đến gia đình và xã hội.Chính vì những lí do trên

nên tôi đã chọn đề tài “Tìm hiểu hành vi của trẻ tự kỉ tại bệnh viện tâm thần

Thanh Hóa” làm đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu rõ hơn về hành vi của trẻ tự kỉ

tại đây từ đó mà đưa ra giải pháp tốt nhất để khắc phục tình trạng này

2.Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu hành vi của trẻ tự kỉ từ đó đưa ra những giải pháp để có thểchăm sóc và giáo dục trẻ một cách hiệu qủa nhất, giúp trẻ tự kỉ lọai bỏ hay hạnchế những hành vi bất thường, hình thành những hành vi,cách ứng xử phù hợpvới các tình huống trong cuộc sống, để các em có thể hòa nhập hơn với môitrường xã hội

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hành vi của trẻ tự kỉ tại bệnh viện tâm thần Thanh HóaKhách thể nghiên cứu: trẻ em bị tự kỉ tại phòng dạy trẻ tự kỉ tại khoa tâm

lí lâm sàng nhi- bệnh viện tâm thần Thanh Hóa

Trang 7

Số lượng khách thể : 75 trẻ tự kỉ

4 Nhiệm vụ nghiên cứu.

- Nghiên cứu và hệ thống một số vấn đề lí luận về hành vi của trẻ tự kỉ tại

bệnh viện tâm thần Thanh Hóa

- Nghiên cứu thực tiễn về hành vi của trẻ tự kỉ tại bệnh viện

- Tìm hiểu nguyên nhân vì sao trẻ lại mắc bệnh tự kỉ này và từ đó đưa ramột số giải pháp để chăm sóc và giáo dục trẻ đạt được hiệu quả cao nhất

Trang 8

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIỆN TÂM THẦN THANH HÓA1.1 Lịch sử tình thành và phát triển

Bệnh viện tâm thần được thành lập trên cơ sở khoa tâm thần của bệnhviện đa khoa tỉnh.Năm 1965 đế quốc Mĩ leo thang đánh phá miền Bắc, khoa tâmthần sơ tán đến xã Cẩm Sơn huyện Cẩm Thủy.Ngày 14/6/1972, UBND Tỉnhquyết định soos43/TC- UB nâng cấp khoa tâm thần trở thành bệnh viện tâmthần trực thuộc sở y tế Khi hòa bình lập lại, UBND tỉnh ra quyết định số 1184-XD/UBTH phê duyệt bệnh viện được xây dựng địa điểm mới về xã QuảngThịnh, huyện Quảng Xương Với sức sống mãnh liệt, bệnh viện tâm thần ngàycàng phát triển, hoạt động có hiệu quả cao bảo vệ sức khỏe nhân dân, bảo vệsức khỏe tâm thần, góp phần chiến thắng đế quốc Mĩ, phục hồi và tăng trưởngkinh tế của tỉnh nhà suốt chặng đường 30 năm (1972- 2002)

Ba mươi năm đã trôi qua, những hình ảnh của một thời gian khổ mà hàohùng đầy ấn tượng Những tấm gương điển hình, những thầy thuốc đầy tình yêuthương và trách nhiệm, yêu ngành, yêu nghề cảm thông sâu sắc với bệnh nhânloạn thần, mất trí suy mòn nhận thức v.v Bao nhiêu năm tháng là bấy nhiêubuồn đau, vui sướng.Đau với nỗi đau của bệnh nhân lên cơn kích động; buồnvới nỗi đau của bao gia đình có người thân bất hạnh, phải phó thác cho bệnhviện; còn vui là vui với bệnh nhân khi được ổn định , sớm được về với gia đình

Bệnh viện Tâm thần Thanh Hóa được bắt đầu hình thành từ ngày14/06/1972 Trải qua 45 năm hình thành và phát triển, hiện nay bệnh viện đã xâydựng được đội ngũ cán bộ công nhân viên vững mạnh về cả chuyên môn, nghiệp

vụ nhằm đáp ứng nhu cầu điều trị ngày càng cao của nhân dân Trong đó, đượcchia làm 5 giai đoạn nhỏ bao gồm:

- Sự ra đời và hoạt động của Khoa Thần kinh – Tâm thần thuộc Bệnh viện

đa khoa Thanh Hóa

Vào những năm đầu thập kỷ 60 trở về trước, ở tỉnh Thanh Hóa nói riêng

và các tỉnh miền Bắc nước ta nói chung hầu như chưa có một cơ sở điều trị bệnh

Trang 9

tâm thần một cách quy cũ và khoa học Bộ môn Tâm thần học của lĩnh vực yhọc ra đời khá muộn vào năm 1957 tại trường Đại học y khoa Hà Nội, từ đótừng bước mở đường, khai phá và chinh phục loại bệnh nan y, phức tạp, cam gotrong toàn dân tộc mang tên: “Bệnh điên”, “Bệnh ngộ”.

Sau ngày hòa bình lập lại (7/1954), bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa từnơi sơ tán từ thời kháng chiến trường kỳ đã được chuyển về địa điểm phố NhàThương để hoạt động trong điều kiện mới Năm 1956, Bộ Y tế và Ban thốngnhất Trung ương đã sáp nhập Bệnh viện miền Nam Đ vào Bệnh viện Đa khoatỉnh Thanh Hóa Lúc này bệnh viện có 1000 giường bệnh và thực sự là bệnhviện đa khoa

Từ năm 1956 – 1964, bệnh viện có một khu nhà kiên cố gồm 10 buồng ởgóc phố phía Tấy, chỉ chuyên quản lý bệnh nhân tâm thần Tháng 6 năm 1964,được sự chỉ đạo của Bộ Y tế, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa chính thứcthành laajjp một khoa mới mang tên Khoa Tâm thần kinh với chỉ tiêu 10 giườngtâm thần, 20 giường thần kinh Số biên chế của khoa lúc thành lập chỉ có 10 cán

bộ công nhân viên, trong đó có 1 y sĩ chuyên khoa tâm thần và 9 y tá, hộ lý Y sĩ

đó mang tên Nguyễn Xuân Sắc

Trong kháng chiến chống Mỹ, do nhiều đợt oanh kích dữ dội ở Hàm Rồng

và nhiều nơi ở Thanh Hóa, ngày 3,4/4/1965, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóakhẩn cấp sơ tán về các địa điểm an toàn để trực chiến như Đông Sơn, TriệuSơn Riêng khoa Tâm thần đi sơ tán lên huyện Cẩm Thủy

- Từ năm 1965 – 1976: Nỗ lực xây dựng tại huyện Cẩm Thủy

Trong lần sơ tán 3,4/4/1965, đoàn sơ tán gồm có y sĩ Nguyễn Xuân Sắc, 1

y tá, 3 hộ lý và 3 bệnh nhân tâm thần cùng thốc men, đồ dùng cần thiết Ngày5/5/1965, Bệnh viện Cẩm Thủy và khoa Tâm thần bị đế quốc Mỹ ném bom tànphá, sự tương trợ được thể hiện hết sức, mọi người nỗ lực nhanh chóng ổn địnhbệnh nhân sau trận bom Sau đó khoa được chuyển về hang Chùa Chặng xã CẩmSơn để tiếp tục ổn định hoạt động, số cán bộ công nhân viên của khoa tăng từ 5người lên 10 người Năm 1966 – 1967, Ty Y tế đã tăng thêm lực lượng chuyên

Trang 10

môn cho khoa như y sĩ Trịnh Thị Chữ, y sĩ Trịnh Thị Mai, đến năm 1970 tổng sốcán bộ công nhân viên của khoa là trên 20 người.

Để đáp ứng sự đòi hỏi ngày một cao của công tác khám chữa bệnh, năm

1968 – 1969, y sĩ Nguyễn Xuân Sắc được Ty Y tế và Bệnh viện Đa khoa cử đihọc lớp chuyên tu Đại học tại Hà Nội, đây là bác sĩ chuyên ngành Tâm thần đầutiên của tỉnh Thanh Hóa 14/6/1972, chuẩn theo đề nghị của Ty Y tế Thanh Hóa,

Ủy ban hành chính tỉnh đã ra Quyết định số 42/TC/UB-TH về việc thành lậpBệnh viện Tâm thần Thanh Hóa với quy mô 50 giường nội trú và 50 giườngngoại trú

Tháng 9 năm 1974, tỉnh mới có quyết định bổ nhiệm chính thức bác sĩNguyễn Xuân Sắc làm bệnh viện trưởng bệnh viện Tâm thần Thanh Hóa và y sĩ

Lê Ngọc Huy làm viện phó phụ trách chính trị Thời gia này, mặc dù điều kiệncòn vô cùng khó khăn và thiếu thốn nhưng nhiều y tá, hộ lý và nhân viên vẫnphấn đấu tham gia học bổ túc ban đêm ở trường cấp III Cẩm Thủy và một số đãtốt nghiệp lớp 10

Cuối năm 1975, Bệnh viện Tâm thần Thanh Hóa gặp hỏa hoạn, rất maymắn khi phòng điều trị bệnh nhân không bị thiệt hại gì nhưng phòng nhân viên,phòng khám và kho thuốc bị cháy rụi Ngày 15/4/1976, Ty Y tế có tờ trình chínhthức lên Ủy ban tỉnh thì đến ngày 7/6/1976 nhận được quyết định số 1184-XD/UBTH về việc xây dựng Bệnh viện Tâm thần Thanh Hóa tại phía Bắc cầuVoi sát quốc lộ 45 trên khu đất Trạm vật tư nông nghiệp và kho lương thực

Đến cuối tháng 12 năm 1976, sau 12 năm sơ tán và hoạt động độc lậptrong điều kiện hết sức khó khăn, Khoa Tâm thần mà sau đó là Bệnh viện Tâmthần Thanh Hóa đã chuyển hoàn toàn về thành phố Thanh Hóa

- Giai đoạn từ 1977 – 1985: Khó khăn khi về thành phố Thanh Hóa

Về tổ chức, khi mới thành lập bệnh viện chỉ có 23 cán bộ công nhân viênvới 1 bác sĩ và vài y sĩ, nhưng đến đầu năm 1977, do được bổ sung lực lượng ởcác trường chuyên nghiệp và quân đội về, con số cán bộ công nhân viên củabệnh viện tăng lên tới 38 người, nhưng đội ngũ chuyên môn vẫn còn hạn chế

Trang 11

Về chính trị, toàn bệnh viện đã có một chi bộ mạnh gồm 17 Đảng viên, dođồng chí Trịnh Hữu Bẩm, phó giám đốc chính trị, hậu cần trực tiếp làm bí thư.Cũng từ đây, các phòng ban được hình thành, sắp xếp và đưa vào hoạt động mộtcách cụ thể, hữu ích Cũng trong giai đoạn này, lực lượng bác sĩ chuyên khoaTâm thần cũng được bổ sung thêm nhiều, đó là các bác sĩ: Mai Văn Mật,Nguyễn Bá Ban, Nguyễn Hữu Khê, Nguyễn Thị Kim Hanh, Nguyễn Thanh Hải,Hoàng Thanh Cung Và chỉ trong một thời gian ngắn, tất cả các bác sĩ này đềutrở thành trụ cột của bệnh viện Tâm Thần Thanh Hóa.

Nhờ vậy, số lượng bệnh nhân đến khám chữa bệnh tại bệnh viện ngày mộttăng lên nhanh chóng, gây nên tình trạng quá tải trong bệnh viện Vấn đề đặt racấp bách nhất trong lúc này đó là tiếp tục xây dựng thêm cơ sở vật chất kỹ thuậtnhằm đáp ứng nhu cầu người bệnh đến điều trị lâu dài Năm 1980 trên cơ sở đềxuất của đơn vị và căn cứ vào khả năng của bệnh viện lúc đó, bệnh viện Tâmthần đã được nâng cấp quy mô từ 80-100 giường nội trú và 50 giường ngoại trú

Cho đến thời điểm này, Trạm vật tư nông nghiệp vẫn chưa bàn giao đấtcho bệnh viện Để mở rộng về phía nam, ngày 7/11/1981, lãnh đạo Bệnh việnTâm thần đã làm việc với xã Quảng Thịnh và xin thêm được đất để xây dựng.Với kinh phí được cấp, Bệnh viện đã làm thêm được một số công trình nhà ởcho cán bộ công nhân viên tại đây Nhờ đó mà việc thực hiện chỉ tiêu 80 giườngbệnh năm 1980 lên 100 giường bệnh năm 1985 mới đạt kết quả

Đầu năm 1983, sau khi cải tạo và làm thêm một số công trình phục vụ choviệc điều trị bệnh nhân, được sự đồng ý của Ty Y tế, Giám đốc Bệnh viện đã giảiquyết tách khoa Điều trị bệnh nhân hỗn hợp thành hai khoa là khoa Nam vàkhoa Nữ Trưởng khoa Nam đầu tiên là bác sĩ Nguyễn Thanh Hải và trưởngkhoa Nữ đầu tiên là Nguyễn Thị Kim Hanh Nhờ việc tách khoa như vậy màviệc quản lý và điều trị bệnh nhân được thuận lợi, đồng thời cũng tránh đượcnhững bất cập về giới tính dễ xảy ra khi ở chung nam nữ với nhau

Do công tác chỉ đạo tuyến ngày một nặng nề và bức xúc, đặc biệt là đốivới tỉnh hơn 3 triệu dân như Thanh Hóa , để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt

Trang 12

động, ngày 6/10/1983, theo đề nghị của Ty Y tế, Ủy ban tỉnh đã ra quyết định số979/TC-UBTH về việc thành lập Trạm tâm thần Thanh Hóa Bác sĩ Nguyễn BáBan – Phó Giám đốc bệnh viện được cử kiêm nghiệm làm trưởng trạm tâm thần.

Là đơn vị độc lập trực thuộc Ty Y tế, nhưng mọi sinh hoạt chính trị, chuyên mônđều đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bệnh viện Tâm thần Thanh Hóa

Từ 1981-1985, quy mô 100 giường bệnh vẫn được giữ vững nhưng thực

tế vẫn thường quá tải đến 120-130 giường bệnh Năm 1985, con số cán bộ côngnhân viên chức của đơn vị đã phát triển tới 120 người Nói chung về đội ngũ cán

bộ chuyên môn hầu hết đã qua đào tạo hệ thống chính quy, nhờ rèn luyện thửthách trong thực tiễn đã có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực điều trị nệnh nhân tâmthần Đến năm 1989, toàn bộ cơ sở vật chất nhà cửa đã được ngói hóa 100%.Những dãy nhà tranh tre nứa lá giờ đây đã vĩnh viễn lui vào quá khứ và sẽ là kỷniệm không bao giờ quên của cán bộ và bệnh nhân lúc bấy giờ

- Giai đoạn 1986 đến 2002: trưởng thành nhanh chóng trong thời kỳ đổi mớiBước vào năm 1986, tình hình trong nước và quốc tế có nhiều diễn biếnphức tạp Sau sự kiện tan rã của hàng loạt nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Au và

sự khủng hoảng tài chính, tiền tệ ở các nước trong khu vực Đông Nam Á cùnghậu quả của chính sách giá - lương - tiền ở Việt Nam, tình hình chính trị, kinh tế,

xã hội ở nước ta thực sự lâm vào tình trạng hết sức khó khăn, lúng túng Điều đó

đã đặt cả dân tộc đứng trước những thử thách thật to lớn Như vậy, đến tháng 12năm 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI được tiến hành để định ra đườnglối đổi mới Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật và nghiêm khắc chỉ ra nhữngsai lầm, khuyết điểm, đại hội VI đã tìm ra phương hướng cho cả dân tộc lúc nàyphải “Đổi mới tư duy, đặc biệt là tư duy kinh tế là yêu cầu bức thiết của sựnghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn với nước ta” Tiếp theo Đại hội

VI là các Đại hội VII, VIII, IX Thực tế từ 1986 đến 2002, với đường lối đổi mớithông thoáng, mở cửa, hội nhập và kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủnghĩa cả nước và các tỉnh đã được chuyển mình và biến đổi sâu sắc theo chiềuhướng tích cực Trong 17 năm, tập thể cán bộ công nhân viên Bệnh viện Tâmthần Thanh Hóa đã đoàn kết, thgoosng nhất vượt qua mọi khó khăn, thử thách đểhoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao Bằng tất cả trí tuệ sức lực và tâm hồn

Trang 13

của suốt 17 năm đổi mới để từng bước tiến tới mục tiêu công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, Bệnh viện đã đạt được rất nhiều thành tự đáng kể.

- Giai đoạn từ 2002 đến nay: Từng bước lớn mạnh

Là bệnh viện chuyên khoa đầu ngành Tâm thần cấp tỉnh, với những gìhiện có cả về lực lượng bộ máy đến cơ sở vật chất kỹ thuật, Bệnh viện Tâm thầnThanh Hóa đã gặt hái được rất nhiều thành công về lĩnh vực tư vấn, điều trị bệnhcho người dân Tuy nhiên, để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của xã hội,đội ngũ cán bộ bệnh viện càng phải nỗ lực hơn nữa Bên cạnh đó rất cần sự quantâm của các cấp chính quyền trong tỉnh và trung ương

1.2 Công tác tổ chức cán bộ

Tổ chức bộ máy: Gồm ban giám đốc và 19 khoa phòng, bộ phận.Tổng sốcán bộ viên chức: 254, biên chế 207; hợp đồng 47, trong dó thạc sĩ 1; Bác sĩchuyên khoa2:04; bác sĩ chuyên khoa 1: 27; bác sĩ: 8; đại họ và điều dưỡng:122; kĩ thuật viên 13; dược sĩ trung học 9;đại học 23; người lao động khác 43

Trong năm đã bổ nhiệm, bổ nhiệm lại lãnh đạo khác khoa, phòng, điềudưỡng kĩ thuật viên trưởng khoa Đơn vị đã cử đi học 2 bác sĩ chuyên khoa 1, 30điều dưỡng học liên thông lên cao đẳng và 2 trung cấp chính trị Trong năm có 3bác sĩ tố nghiệp chuyên khoa 2 và 1 đồng chí bảo vệ dược sĩ chuyên khoa 1

Tổ chức tập huấn chuyên môn như: huấn luyện đào tạo chương trìnhchăm sóc người bệnh , kiểm tra tay nghề điều dưỡng viên, công tác phòngchống dịch sởi, sốt xuất huyết, tay chân miệng và các chuyên đề về bệnh lí tâmthần; Tổ chức hội thảo, tập huấn công tác nghiên cứu khoa học

Tổ chức đào tạo, chuyển giao kĩ thuật cho tuyến dưới như điện não, lưuhuyết não vi tính; Cách phát hiện và quản lí bệnh nhân tâm thần phân liệt; đàotạo cho 10 lớp của trường Cao đẳng y tế Thanh Hóa

Trang 14

tâm thần và bệnh viện trung ương 1, bệnh viện đã sủa chữa cơ sở vật chất chủđộng sắp xếp bố trí lại hệ thống các khoa phòng qua đó tạo điều kiện thuận lợi

để tiếp nhận, thu nhận điều trị bênh nhân, đáp ứng yêu cầu khám chũa bệnh củanhân dân rút ngắn thời gian khám bệnh; bên cạnh đó còn đáp ứng thêm giường,trang thiết bị thuốc và vật tư y tế cần thiết cho các khoa lâm sàng; cùng vớ sự cốgắng của tập thể cán bộ, viên chức và ngườ lao đọng; có sự phối hợp chặt chẽ,hiệu quả của bệnh viện với các trung tâm y tế, bệnh viện đa khoa tuyến huyện,thị và thành phố trong công tác chỉ đạo tyến nên đã hoàn thành tốt nhiệm vụđược giao

• Khó khăn

Là bệnh viện chuyên khoa đặc thù mang tính xã hội, đa số bệnh nhânnghèo mắc bệnh mãn tính.Một số bệnh mới nổi có chiều hướng gia tăng nhưnghiện rượu và ma túy tổng hợp, bệnh mãn tính ảnh hưởng đến kinh tế nên giađình ít quan tâm, nhiều bệnh nhân bị gia đình bỏ rơi và không phối hợp trongquản lí điều trị

Nguồn thu viện phí thấp, không có dịch vụ kĩ thuật cao, thu không đủ bùcho hoạt động của bệnh viện chủ yếu dựa vào ngân sách của nhà nước cấp;khuôn viên bệnh viện chật hẹp, khoa, phòng , buồng bệnh xây dưng từ lâu nênxuống cấp, nhận thức của nhân dân về sứ khỏe tâm thàn còn hạn chế nên ảnhhưởng nhất định dến kết quả hoạt đọng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe tâm thần

1.3.2 Những kết quả đã đạt được

Trong năm bệnh viện dã triển khai một số giải pháp nhằm nâng cao kếtquả khám bệnh, chữa bệnh và cải thiện hơn nữa tinh thần thái độ, đổi mớiphong cách phục vụ, hướng tới sự hài lòng của người bệnh cùng với nhiều nỗlực thực hiện giải pháp nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh,qua đó hìnhảnh của bệnh viện đã được thay đổi tích cực trong cách nhìn của người dân,tạođược lòng tin của bệnh nhân và gia đình người bệnh

Bệnh viện đã xây dựng kế hoạch cụ thể hàng tháng, quý, năm và thườngxuyên định kì sơ kết đánh giá rút kinh nghiệm.Chất lương khám chữa bệnh vàphục vụ ngày càng được nâng lên.Các xết nghiệm cơ bản,bổ trợ và thăm dò

Trang 15

chức năng góp phần tích cực trong công tác khám chữa bệnh.

Bệnh viện thường xuyên duy trì việc thực hiện các chỉ thị 661/TTG củathủ tướng Chính phủ, thông tư số07/2014/TT-BYT Quy định về quy tắc ứng xửcủa công chức, viên chức, người lo đọng làm việc tại các sở y tế

Triển khai thực hiện giá dịch vụ y tế mới theo thông tư số BYT-BTC từ ngayf01/03/2016; triển khai thông tư số 05/2016/TT-BYT ngày29/02/2016 của bộ y tế quy định về kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú; thamgia tích cực cac cuộc thị đổi mới phong cách, thái đọ phục vụ của cán bộ y tếhướng tới sự hài lòng của người bệnh do ngành y tế phát động; tổ chức lớp tậphuấn lớp tập huấn xác định tình trạng nghiện ma túy

37/2015TTLT-Thực hiện công văn số 1685/SYT-VP ngày 05/09/2016 của giám đóc sở y

tế về việc xây dựng kế hoạch khắc phục những hạn chế,yếu kém; thành lập banchỉ đạo tổ chức thực hiện kế hoạch “ đổi mới phong cách, thái độ phục vụ củacán bộ y tế, hướng tới sự hài lòng của người bệnh” theo kế hoạch số 1636-KH/SYT-BCĐ ngày 29/08/2016 của giám đốc sở y tế

Xây dựng triển khai kế hoạch phòng chống dịch bệnh, phòng chống thảmhọa theo quy định và hướng dẫn của ngành; tổ chức thực hiện việc khám chữabệnh cho đối tượng khác theo đúng quy định; không để xảy ra tai biến trong điềutrị, quản lí bệnh nhân an toàn, các trường hợp bệnh nhân có ý tưởng- hành vi tựsát, trạng thái kích động, hành vi nguy hiểm và sảng rượu đượ cấp cứu kịp thời;các quy chế chuyên môn đượ duy trì thực hiện nghiêm túc như quy chế cấp cứu,hội chuẩn, bình bệnh án, thường trực các bác sĩ điều trị theo phác đồ.Đặc biệtquy chế hồ sơ bệnh án, kê đơn điều trị có nhiều tiến bộ rõ rệt, bệnh án sạch đẹp

Hội đồng thuốc và điều trị hoạt động, phát huy tác dụng góp phần tích cựcvào việc đảm bả sử dụng thuốc an toàn, hợp lí trong công tác chữa bệnh Việccung ứng thuốc, hóa chất và trang thiết bị vật tư y tế phục vụ khám chũa bệnhkịp thời đảm bảo yêu cầu chuyên môn;đôi ngũ điều dưỡng, hộ lí và y công thựchiện công tác chăm sóc toàn diện, đặc biệt các bệnh nhân nặng có ý tưởng tự sátkích động, chống đối,sảng rượu đã được chăm sóc tận tình chu đáo cho việcđiều trị có kết quả tốt

Trang 16

Một số các trắc nghiệm tâm lí mới như Vanderrbill, Pittsburg (PSQI) đãđược triển khai ở tất cả các khoa trong bệnh viện góp phần nâng cao chất lượngchuẩn đoán và điều trị.Các xét nghiệm, cận lâm sàng dã được chỉ định phù hợpvới diễn biến bệnh góp phần giúp cho việc chuẩn đoán, điều trị và tiên lượngngười bệnh ngày một hiệu quả.; công tác kiểm soát nhiễm khuẩn, phân loaị và

xử lí chất thải thường xuyên được quan tâm chú trọng; khoa dinh dưỡng phục vụchế độ ăn phù hợp, đủ năng lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và không

để xảy ra ngộ độc thức ăn được chú trọng và thực hiện nghiêm theo quy định

1.3.3 Những tồn tại và nguyên nhân

Những tồn tại:

Công tác lập kế hoạch hoạt động, thống kê báo cáo đôi khi còn sai sót

Một số khoa phòng chưa chủ động và kịp thời trong xây dựng kế hoạchtháng quý và năm

Việc quản lí công văn, sổ sách chưa tốt vẫn còn tình trạng ghi chép hồ

sơ bệnh án sơ sài, ghi diễn biến bệnh chưa toàn diện, chặt chẽ

Mặc dù chất lượng hồ sơ bệnh án còn nhiều tiến bộ song vẫn còn một

số tồn tại như ghi chép thủ tục hành chính chưa kịp thời, khai thác bệnh chưa kĩ,tóm tắt triệu chứng, hội chứng chưa tốt, tiêu chuẩn chuẩn đoán chưa thật sự phùhợp, chỉ định xét nghiệm cận lâm sàng còn chung chung hoặc chưa sát với diễnbiến bệnh,nhiều bệnh án không có chỉ định trong phần ghi diễn biến và khôngghi kết quả có giá trị giúp cho chuẩn đoán và điều trị hoặc loại trừ phần nhận xétdiễn biến; danh pháp, hàm lượng thuốc còn sai sót, chỉ định liều lượng, thời giandùng có lúc chưa cụ thể

Công tác cung ứng thuốc nhiều lúc chưa đáp ứng được nhu cầu sửdụng, còn xảy ra tình trạng thiếu một số thuốc thiết yếu phục vụ bệnh nhân,trang thiết bị y tế hỏng chưa được sửa chữa kịp thời

Đơn vị diệt khuẩn tập trung triển khai thực hiện nhưng hiệu quả chưacao và chưa tổ chức được việc hấp sấy diệt khuẩn dụng cụ tập trung

Công tác truyền thông giáo dục sức khỏe tâm thần nội dung và hình

Trang 17

thức chưa phong phú trình độ chính trị quản lí nhà nước của đội ngũ lãnh đạokhoa, phòng và chuyên môn của điều dưỡng, kỹ thuật viên, chưa đáp ứng yêucầu tiêu chuẩn

Một số cán bộ viên chức và người lao động chưa gương mẫu và chấtlượng công việc chưa cao

Một số cán bộ viên chức đầy đủ về chức năng nhiệm vụ, ý thức kỉ luật

và trách nhiệm chưa cao

1.4 Phương hướng nhiệm vụ

Mục tiêu cụ thể

Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh đảm bảo cung ứng kịp thời và sửdụng thuốc hợp lí, an toàn; hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch được giao

Không để xảy ra tai biến trong điều trị

Ứng dụng triển khai các kĩ thuật lâm sàng, trắc nghiệm tâm lí và cậnlâm sàng mới do việc chuẩn đoán hỗ trợ, điều trị và tiên lượng người bệnh

Nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo tuyến và chuyển giao kỹ thuật điệnnão và lưu huyết não cho các bệnh viện theo yêu cầu

Triển khai thực hiện 20-25 đề tài sơ cấp có hiệu quả về kinh tế

Thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh, thiên tai thảm họa vàtruyền thông giáo dục sức khỏe

Thực hiện có hiệu quả nghị định 43/CP để tự chủ động trong hoạt độngtài chính

Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính nhằm nâng cao năng lực điềuhành của bộ máy tổ chức

Trang 18

Giải pháp tổ chức thực hiện

Nâng cao năng lực điều hành của đội ngũ quản lí từ giám đốc quản líđến trưởng, phó khoa, phòng, kĩ thuật viên, điều dưỡng trưởng khoa, sử dụng cóhiệu quả nguồn lực của đơn vị; chú trọng công tác đào tạo bồi dưỡng chính trị,chuyên môn và ngoại ngữ cho đội ngũ trưởng phó khoa, phòng và điều dưỡng,

kĩ thuật viên Thực hiện nghiêm túc chỉ thị 661/TTG của thủ tướng chính phủ;các chỉ thị của bộ y tế và quy chế bệnh viện, tập trung vào quy chế hồ sơ bệnh

án, hội chẩn ra vào bệnh viện, kê đơn khám bệnh, chăm sóc toàn diện, định kìbệnh án, sinh hoạt chuyên đề, báo cáo khoa học một lần/tháng

Tăng cường các biện pháp điều trị không dùng thuốc kết hợp đông tây

y phục hồi chức năng và vật lí trị Phát huy tác dụng của hội đồng thuốc và điềutrị; tăng cường công tác dược lâm sàng

Đẩy mạnh triển khai một số kĩ thuật mới như: Tư vấn sức khỏe, sốcđiện tâm thần, thể dục liệu pháp, các trắc nghiệm tâm lí, siêu âm doppler xuyênsọ/mạch máu, kích thích từ xuyên sọ, CT-Scanner

Phòng chỉ đạo tuyến phân công cán bộ quản lí theo cụm (thị thành phố),tiếp tục cử cán bộ chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới theo yêu cầu của các đơn

vị và nâng cao năng lực của các mạng lưới cán bộ chuyên khoa Triển khai côngtrình quốc gia tổ chức tập huấn theo cụm xã phường

Tổ chức triển khai giám sát tiến độ và đánh giá kết quả các đề tàinghiên cứu khoa học

Tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho người bệnh qua các buổi sinh hoạtcộng đồng; làm tốt các công tác chống dịch bệnh, sẵn sàng nhận nhiệm vụ khiđược cấp trên điều động

Cải tiến quy trình khám bệnh ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin,tăng cường công tác kiểm tra và phát huy tác dụng tổ công tác đặc biệt theo chỉthị 09, thực hiện quy chế dân chủ, nâng cao ý thức, thực hiện tốt quy tắc ứng xử,

Trang 19

khen thưởng kịp thời, công bằng trong quyền lợi và nghĩa vụ của cán bộ viênchức Giải quyết nhanh, chính xác và đảm bảo quyền lợi của cán bộ nhân viên

có đề nghị hoặc đơn thư khiếu tố, khiếu nại

Với những giải pháp trên và để đạt được những mục tiêu công tác, bệnhviện phải cố gắng tập trung và phát huy mọi tiềm lực sẵn có, huy động sức mạnhtổng hợp của toàn thể cán bộ viên chức và người lao động phấn đấu hoàn thànhcác chỉ tiêu kế hoạch nhà nước đề ra

Trang 20

CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HÀNH VI CỦA TRẺ TỰ KỈ TẠI

BỆNH VIÊN TÂM THẦN THANH HÓA2.1 Phương pháp nghiên cứu và quy trình thực hiện

2.1.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Gồm các phương pháp:

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá … các tài liệu nhằm nghiên cứu tài liệu

về lịch sử hình thành, tình hình khám chưa bệnh, phương hướng phát triểncủa bệnh viện trong thời gian tới và nghiên cứu về hành vi của trẻ tự kỉ tại bệnhviện tâm thần Thanh Hóa

2.1.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

2.1.2.1 Phương pháp quan sát:

Em sử dụng phương pháp quan sát để tìm hiểu các biểu hiện hành vi bộc

lộ ra bên ngoài của trẻ tự kỉ tại bệnh viện

2.1.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu:

Xây dựng bộ phiếu điều tra nhằm khảo sát, tìm hiểu sâu hơn về hành vicủa trẻ tự kỉ tại bệnh viện

- Lập đề cương báo cáo

- Xây dựng cơ sở lý luận

- Điều tra thực trạng

- Xử lý số liệu

- Viết báo cáo ( phân tích số liệu…)

- Chỉnh sửa và hoàn thành báo cáo

2.2 Đánh gía kết tìm hiểu hành vi của trẻ tự kỉ tại bệnh viện tâm thần Thanh Hóa

Trang 21

2.2.1 Các khái niệm về trẻ tự kỉ

Tự kỷ là một hội chứng rối loạn phát triển lan tỏa ở trẻ em, bao gồmnhững khiếm khuyết nặng nề về khả năng tương tác xã hội, giao tiếp và nhữngquan tâm, hoạt động bó hẹp, định hình Trẻ tự kỷ điển hình có thể bị rối loạnnhiều kỹ năng phát triển như: tư chăm sóc, ngôn ngữ, giao tiếp ứng xử, quan hệ

xã hội, hành vi, cảm xúc, trí tuệ…

2.2.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán tự kỉ theo bảng phân loại bệnh DSM – IV

Bao gồm:

(1) Suy giảm chất lượng trong tương tác xã hội thể hiện ít nhất hai trong

số biểu hiện sau:

- Giảm rõ rệt trong việc sử dụng hành vi ngôn ngữ về nhiều mặt như:giảm giao tiếp bằng mắt, nét mặt thờ ơ, không có cử chỉ, điệu bộ phù hợp trongtương tác xã hội

- Không tạo mối quan hệ với bạn cùng tuổi, hay chơi một mình

- Không chia sẻ niềm vui, sở thích công việc với người khác ( ví dụ nhưkhông khoe, không chỉ ra những thứ mình thích)

- Thiếu sự trao đổi về tình cảm hoặc xã hội

(2) Suy giảm chất lượng về ngôn ngữ thể hiện ở ít nhất một số biểu hiệnsau:

- Chậm hoặc hoàn toàn không ohats triển kĩ năng nói( nhưng không cốgắng bù đắp bằng giao tiếp không lời như cử chỉ hoặc điệu bộ)

- Nếu trẻ nói được lại suy giảm hoàn toàn khả năng khởi đầu hoặc duy trìhội thoại

- Sử dụng ngôn ngữ rập khuôn, lặp lại, nhại lời hoặc ngôn ngữ khácthường

- Không có những hoạt động trò chơi đa dạng, không chơi đóng vai, chơigiả vờ hoặc bắt chước mang tính xã hội phù hợp với mức độ phát triển

(3) Những kiểu hành vi, mối quan tâm bị thu hẹp, lặp đi lặp lại thể hiện ở:

- Quá bận tâm tới một hoặc một số những mối quan hệ mang tính rập

Trang 22

khuôn và thu hẹp với độ tập trung và cường độ bất thường.

- Thực hiện một số cách cứng nhắc những thói quen hoặc nghi thức đặcbiệt không mang tính chức năng

- Có những hành vi rợp khuôn lặp đi lặp lại( ví dụ như vỗ tay,múa ngóntay, lắc đầu, đung đưa toàn thân )

- Bận tâm dai dẳng tới chi tiết của đồ vật

(4) Trẻ phải có nhiều hơn 6 tiêu chí của nhóm (1), (2), (3) và trong đó có

ít nhất là hai tiêu chí của nhóm 1, một tiêu chí của nhóm 2 và 1 tiêu chí củanhóm (3) Các biểu hiện ở 3 lĩnh vực khởi phát từ trước 3 tuổi và được gọi là tự

kỉ điển hình

2.3 Phân loại trẻ tự kỉ

2.3.1 Phân trẻ tự kỉ theo thể lâm sàng( Các rối loạn sau xếp trong phổ tự kỉ)

 Hội chứng Asperger: Là tự kỉ không cón chậm phát triển về nhậnthức, không có chậm phát triển về ngôn ngữ, ít giao tiếp mắt, thích ở một mình,

kĩ năng xã hội kém; có thể có khả năng đặc biệt ( trí nhớ máy móc, biết đọc, biếttính toán số học sớm, ), khả năng thành đạt cao Phát hiện ở trẻ trên 36 tháng, tỉ

lệ trẻ bị mắc hội chứng này là 8: 1; tiên lượng từ khá đến tốt

 Hội chứng Rett: Những tháng đầu tiên trẻ phát triển bình thường,chậm phát triển vòng đầu từ sau tháng thứ năm nên đầu nhỏ Từ tháng thứ 5 đếntháng 24 mất đi các kĩ năng vận động, có các động tác định hình ở tay, chậmphát triển tâm vận động nặng Sự phát triển chơi và giao tiếp bị ngưng lại 2-3năm đầu nhưng quan tâm xã hội có xu hướng được duy trì Vào thời kì giữa củalứa tuổi trẻ em: Mất điều hòa thân mình kết hợp với chứng vẹo cột sống, đoi khi

có múa giật, múa vờn Nguy cơ động kinh > 90%, biến đổi gien MECP 2 ở >80% trẻ gái, bệnh hay gặp ở trẻ gái, tiên lượng xấu

 Rối loạn lan tỏa ở trẻ nhỏ

Hai năm đầu trẻ phát triển bình thường về ngôn ngữ, xã hội và nhận thức.Xuất hiện tự kỉ nặng từ 2 đén 10 tuổi: Mất rõ rệt các kĩ năng đã học trước kia,thoái triển khả năng chơi và các kĩ năng xã hội, mất quan tâm tới môi trường

Trang 23

xung quanh, các hành vi vận động định hình lặp đi lặp lại bất thường về tươngtác xã hội và giao tiếp; không có bằng chứng về tổn thương chính xác Nguy cơđộng kinh > 70% Trẻ trai bị nhiều hơn trẻ gái.

 Rối loạn phat triển lan tỏa- tự kỉ không điển hình

Tự kỉ nhẹ, không đủ tiêu chuẩn ở cả 3 lĩnh vực, các dấu hiệu suy giảm chỉbiểu hiện từ sau 3 tuổi Trẻ trai bị nhiều hơn trẻ gái, tiên lượng từ khá đến tốt

2.3.2 Phân loại trẻ tự kỉ theo thời điểm mắc tự kỉ

Bao gồm:

- Tự kỉ điển hình: Các dấu hiệu tự kỉ xuất hiện trong 3 năm đầu

- Tự kỉ không điển hình: Ngôn ngữ và giao tiếp của trẻ phát triển trong 3năm đầu sau đó thoái triển dần dần và xuất hiện các dấu hiệu tự kỉ

2.3.3 Phân loại tự kỉ theo trí tuệ và phát triển ngôn ngữ

Bao gồm:

- Tự kỉ có chỉ số thông minh cao và nói được

- Tự kỉ có trí thông minh cao nhưng không nói được

- Tự kỉ có trí tuệ thấp và nói được

- Tự kỉ có trí tuệ thấp và không nói được

2.3.4 Phân loại tự kỉ theo mức độ

Theo kết quả điểm của thang đo mức độ tự kỉ (CARS) được chia thành:

- Tự kỉ có mức độ nhẹ và trung bình: 31-36 điểm

- Tự kỉ mức độ nặng: 37- 60 điểm

2.3.5 Phân loại trẻ tự kỉ theo khả năng giao tiếp

Bao gồm:

- Không phản ứng: Hoàn toàn từ chối giao tiếp

- Giao tiếp thụ động: Chấp nhận giao tiếp nhưng không chủ động

- Giao tiếp chủ động nhưng bất thường: tạo ra giao tiếp một cách lập dị

2.3.6 Phân loại trẻ theo những chỉ báo xác định

Có năm dấu hiệu:

- Trẻ không nói bập bẹ khi 12 tháng

Trang 24

- Trẻ không biết chỉ ngón tay hoặc không có cử chỉ giao tiếp phù hợpđúng lứa tuổi khi 12 tháng.

- Không nói được từ đon khi 16 tháng

- Không nói được 2 câu hoặc không nói rõ khi 24 tháng

- Mất kĩ năng ngôn ngữ hoặc kĩ năng xã hội đã có ở bất kì ở lứa tuổi nào.Lưu ý:

- Khoảng 10% trẻ tự kỉ có thể liên quan đến hội chứng bệnh lí khác hoặcmột số bệnh thực thể khác

- Trẻ không thể nghe được nên không thể nói nhưng vẫn có cử chỉ giaotiếp thay thế cho lời nói, trẻ không thờ ơ, vẫn có biểu lộ tình cảm với mọi ngườixung quanh và với trẻ khác

- Chậm phát triển trí tuệ: Trẻ chậm hiểu, kém hiểu biết, có tư duy cụ thểgắn liền với sự vật hiện tượng nhưng không có tư duy loogic và tư duy trừutượng Trẻ có ngôn ngữ giao tiếp với mọi người xung quanh tương đương vớimức đọ phát triển trí tuệ Trẻ vẫn thể hiện tình cảm yêu ghét thông thường, cógiao tiếp bằng mắt, có cử chỉ giao tiếp, không nhại lời, không cuốn hút quá mứcvào một kiểu thích thú đặc biệt nào đó

- Rối loạn sự gắn bó

Trang 25

Do sự xa cách mẹ sớm hoặc thiếu tình cảm của người thân nên trẻ cótrạng thái thu mình thờ ơ, chậm phản ứng với xung quanh Khi đã có mẹ ở bêntrẻ trẻ vẫn sợ xa mẹ nên vẫn khóc lóc sợ hãi bám chặt lấy mẹ Nếu phải tạm xa

mẹ, tre không theo người khác, rối loạn ngủ nặng nề , rối loạn thần kinh thựcvật ( nôn, buồn nôn, rối loạn tiêu hóa, )

- Rối loạn tăng động giảm chú ý

Những trẻ này luôn hoạt động không yên, lơ đãng nhưng không tập trungchú ý, không có hành vi định hình và không cuốn hút vào một số sở thích khácthường Trẻ tự kỉ luôn có tăng động đi kèm nhưng biểu hiện tăng động khôngphải là đặc trưng của trẻ tự kỉ

2.4 Đặc điểm phát triển của trẻ tự kỉ

 Cảm giác, tri giác

Phản ứng với cảm giác gần kề: Trẻ tự kỉ rất nhạy cảm hoặc kém nhạycảm với mọi thứ xung quanh.Trẻ có thể liếm hoặc ngửi người khác như mộtmón đồ ăn hay một món đồ.Một số trẻ khác thì lại có phản ứng rõ rệt khi bịngười khác đụng đến mình và nếu có ai tỏ ý muốn vuốt ve thì các em lại tìmcách lảng tránh hay tỏ vẻ khó chịu hoặc sợ hãi.Có trẻ lại tỏ ra quá nhạy cảm vớimột số mùi,có trẻ lại rất ghét khi đụng đến tủ quần áo của chính mình Cũng cótrẻ không cảm thấy nóng hay lạnh hay trong mùa nóng vẫn có thể mặc áo lenhoặc ăn mặc phong phanh khi trời lạnh.Một trong những đặc điểm đáng ngạcnhiên ở trẻ tự kỉ đó là không biết đau, có nhiều trẻ bị gãy xương, sưng răng, đaubụng, hay bị các vết trầy xước mà không kêu la gì, khi chúng tự mình làm đauthì cũng không chạy đến chỗ người lớn để được chăm sóc Ngược lại cũng có trẻlại quá nhạy cảm với các vết thương, chỉ hơi một chút xíu cũng đủ để trẻ latoáng lên, điều này gây trở ngại lớn cho những người chăm sóc trẻ

Trẻ tự kỷ không chia sẻ cảm xúc với người khác Trẻ tự kỷ ít giao tiếp mộtcách có hiệu quả so với trẻ khác, tuy nhiên khi quan sát một cách cẩn thận chothấy rằng trẻ không biểu lộ cảm xúc là không đúng, trẻ cũng cười khi vui vẻ,lên cơn nổi giận khi bực tức, biểu hiện thoải mái khi làm cho nhột hoặc nhún

Trang 26

nhảy Thực ra trẻ tự kỷ có khả năng biểu hiện những cảm xúc hoàn toàn mạnh

mẽ như khó chịu, vui vẻ, giận dữ, hoảng loạn…Tuy nhiên sự khác biệt giữa trẻ

tự kỷ và trẻ phát triển bình thường là trẻ tự kỷ có biểu hiện những cảm xúc tiêucực nhiều hơn Trẻ tự kỷ cũng ít biểu lộ cảm xúc trực tiếp đối với người trướcmặt hay cũng ít trao đổi qua lại như là bắt chước nụ cười của người khác, cườiđáp lại Một nghiên cứu cho thấy rằng trẻ tự kỷ và trẻ bình thường có biểu lộ sựvui thích giống nhau khi học một nhiệm vụ mới; tuy nhiên trẻ bình thường cóbiểu hiện tự hào theo cách khác với trẻ tự kỷ: trẻ bình thường nhìn xung quanh

và quan sát xem phản ứng của người khác như thế nào

 Tư duy tưởng tượng

Trí tưởng tượng: Một đứa trẻ tự kỉ không sử dụng trí tưởng tượng của nókhi chơi với đồ chơi và thay vì nhận thức những đồ vật trong tình trạng toàn vẹncủa chúng thì trẻ có thể quá chú ý đến một chi tiết nhỏ của một món đồ chơi, thìtrẻ có thể quá chú ý đến một chi tiết nhỏ của món đồ chơi, một người nào đó haymột đồ chơi chẳng hạn

Trong khi trẻ bình thường gặp khó khăn trong việc phớt lờ những đặcđiểm xung quanh môi trường để chỉ chú ý đến đối tượng cần thiết thì trẻ tự kỷlại làm điều này rất tốt, trẻ tự kỷ có khuynh hướng tập trung vào những chi tiết

mà lại bỏ qua bức tranh toàn thể, ví dụ: trẻ chỉ chơi với cái bánh xe mà khôngchơi với cả chiếc xe

Hầu hết trẻ tự kỷ đều có chậm phát triển trí tuệ Khoảng 40-60% có IQ <

50 Chỉ khoảng 20-30% có IQ >= 70 Do đa số trẻ tự kỷ khó làm các test trí tuệ(nhất là các test dùng lời nói) nên các kết quả IQ vẫn còn bàn cãi

Trẻ tự kỷ có IQ thấp thường kèm theo các khiếm khuyết nặng về kỹ năngquan hệ xã hội và có nhiều đáp ứng xã hội lệch lạc, cẳhng hạn trẻ hay sờ móhoặc ngửi đồ vật và người khác, có những hành vi định hình và tự gây thươngtích cho bản thân 1/3 trẻ tự kỷ có chậm phát triển trí tuệ sẽ bị động kinh, còn trẻ

tự kỷ có trí tuệ khá thì tỷ lệ này thấp hơn Vì vậy, những bài trắc nghiệm IQcũng phần nào có ý nghĩa tiên lượng mà thôi

Trang 27

Khác với những trẻ chậm phát triển tâm thần, tình trạng chậm phát triểncủa trẻ tự kỷ vẫn còn chừa lại những “khoảng” trí tuệ bình thường hoặc gần nhưbình thường (thể hiện trong phần thao tác của các test trí tuệ).

Về nhận thức, trẻ tự kỷ không thể bắt chước, không hiểu ý nghĩa của lờinói, cử chỉ và điệu bộ, thiếu hẳn tính uyển chuyển, sáng tạo, không thể hiểu biết

về luật lệ, không thể xử lý hoặc sử dụng các thông tin

 Ngôn ngữ và giao tiếp

Trẻ tự kỉ có nhiều vấn đề về ngôn ngữ và giao tiếp, điển hình là sự khiếmkhuyết về khả năng giao tiếp sớm trước khi sử dụng ngôn ngữ có lời và khônglời Trẻ tự kỷ có khuynh hướng tập trung vào từ ngữ nhiều hơn là vào nội dung

vì thế nên ý nghĩa của từ có thể trẻ không hiểu

Sử dụng đại từ nhân xưng:

Sử dụng đại từ đúng tuỳ thuộc vào ai là người nói và ai là người nghe, khảnăng chuyển đổi này không có ở trẻ tự kỷ Ví dụ khi người khác hỏi : Bạn muốn ănkem không? Thay vì trả lời là con muốn ăn thì trẻ lại trả lời là “bạn muốn ăn” , nhạilời cũng là ví dụ tương tự (Echolalia): Con muốn ăn bánh không? Và khi đưa chotrẻ bánh, câu nói trên sẽ được lập lại nguyên vẹn khi trẻ muốn ăn bánh khác

Khả năng quan sát:

Trẻ tự kỉ có khuynh hướng không nhìn vào mắt người khác để có đượcthông tin ( sự thay đổi nét mặt có thể đoán biết cảm xúc, quan điểm,mong muốn,hài lòng hay không hài lòng người đối diện).Trẻ không hiểu được những gì màngười khác có thể biểu lộ qua ánh mắt và nét mặt để thể hiện những ý tưởng,nguyện vọng hay hành vi của mình.Nhưng ngược lại với những đồ vật mà chúngthích thì chúng có thể ngồi chơi hàng giờ mà không chán; với những chươngtrình tivi mà chúng yêu thích chúng có thể ngồi xem chăm chú cả ngày.Vớinhững thứ mà chúng quan tâm, chúng thể hiện sự chú ý đặc biệt đến mức dườngnhư có thể quên hết mọi thứ.Mọi thứ xung quanh dường như không có ảnhhưởng tới chúng, kể cả các âm thanh.Chính vì thế mà cha mẹ trẻ thường đưa trẻ

tự kỉ đi khám tai vì nghĩ rằng con mình có vấn đề về tai

Trang 28

Khả năng tập trung:

Trẻ có mối quan tâm đặc biệt với những thứ mà chúng thích.Trẻ có thể tậptrung cao độ vào các thứ đó, còn đối với các thứ khác thì chúng rất nhanhchán.Trẻ không thích nhìn người khác cũng không thích quan tâm đến ngườikhác, không thích chơi cùng người khác nên trẻ tự kỉ ít có khả năng tập trung đểcùng làm một việc đối với người khác.Điều này đã ngăn cản trẻ tự kỉ học các kĩnăng giao tiếp và gây khó khăn rất nhiều khi chúng ta lựa chọn các hoạt độngvui chơi nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp ở trẻ.Khả năng tập trung kém nên việcbắt trẻ tự kỉ ngồi một chỗ trong thời gian dài là một việc làm khó khăn.Tăngđộng là một đặc điểm thường thấy ở nhiều trẻ tự kỉ.Hoạt động chính của nhữngtrẻ này là chạy nhạy suốt ngày không có mục đích.Vì vậy nhiều bố mẹ trẻ cảmthấy bất lực khi bắt đầu cho trẻ làm quen với việc cho trẻ ngồi yên một chỗ

Khả năng dùng cử chỉ:

Hầu hết những trẻ tự kỉ đều có khó khăn trong ngôn ngữ biểu cảm.đa sốtrẻ không hiểu và đồng thời cũng không biết thể hiện ra ngoài những hành vi phingôn ngữ Điều này thể hiện khá rõ thông qua trẻ giao tiếp bằng mắt và khôngbiết sử dụng ngón trỏ để chỉ chính xác các đồ vật Cụ thể là khi muốn điều gì,trter không nhìn vào mặt người khác và không sử dụng các dấu hiệu cử chỉ đểbáo cho người khác mà thường đến đẻ kéo tay họ đến chỗ trẻ cần ( đối với trẻbàn tay quan trọng hơn khuôn mặt )

Sự hạn chế trong việc hiểu lời nói của trẻ tự kỉ:

Một trong những lí do mà phụ huynh có con bị tự kỉ đưa trẻ tới bệnh việnkhám bệnh là trẻ hầu như không có phản ứng khi được gọi tên, trẻ không quantâm và hầu như không làm theo hướng dẫn của người khác.Các trẻ em cảm thấyrằng trẻ hoàn toàn không hiểu ngôn ngữ của họ cho dù trẻ vẫn có khả năng nghebình thường

Chậm phát triển ngôn ngữ:

Có thể đây là đấ hiệu dễ nhận thấy đối với các phụ hunh có con bị tự kỉ trẻ

có sự biểu hiện của sự mất ngôn ngữ hay chậm trễ trong phát triển ngôn ngữ

Ngày đăng: 05/08/2017, 22:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w