Tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh gọi chung là cơ sở kin
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
LÊ THỊ MINH PHỤNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2002
Trang 2MỞ ĐẦU
* Lý do chọn đề tài
Thuế Giá trị gia tăng (GTGT) do một người Đức tên là Carl Friedrich Von Siemens nghĩ
ra vào năm 1916 và được áp dụng đầu tiên ở Pháp vào năm 1954 Trải qua hơn tám mươi năm, thuế GTGT đã được hơn 100 nước trên khắp các châu lục áp dụng Với những nguyên tắc đánh thuế khoa học, cách tính thuế đơn giản, diện thu rộng, thuế GTGT đang đóng vai trò quan trọng trong hệ thống thuế của các nước áp dụng
Nhìn nhận những ưu điểm nổi trội của thuế GTGT, Nhà nước Việt Nam đã quyết định thay thế thuế Doanh thu bằng thuế GTGT Đây là một quyết định sáng suốt và mang tính chiến lược đối với hệ thống thuế và nền kinh tế Việt Nam, trong đó có Kiên Giang, nhất là trong giai đoạn hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của nước ta hiện nay
Tuy nhiên, khi luật hóa và đưa vào áp dụng tại Việt Nam thì thuế GTGT bộc lộ những mặt chưa phù hợp và gây không ít khó khăn cho các thành phần kinh tế Đặc biệt đối với Kiên Giang, sau ba năm triển khai thực hiện thì số thu ngân sách vẫn còn thấp hơn số thu ngân sách trước thời điểm thực hiện Luật thuế GTGT, nhất là trong hai năm đầu số thu ngân sách của tỉnh liên tục giảm Do đó đã làm nảy sinh những hoài nghi về ưu điểm và tính đúng đắn khi đưa thuế GTGT vào áp dụng tại Việt Nam
Với niềm tin việc áp dụng thuế GTGT ở Việt Nam là một quyết định hoàn toàn đúng đắn của Đảng và Nhà nước, tác giả xin mạnh dạn chọn đề tài “Thuế GTGT và những tác động đến hoạt động kinh tế ở tỉnh Kiên Giang”
* Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất: Đề tài hệ thống hóa những nội dung lý luận cơ bản về thuế GTGT và phân tích
những tác động của thuế GTGT đến hoạt động kinh tế Đồng thời cũng đề cập đến việc áp dụng thuế GTGT ở một số nước trên thế giới, rút ra các bài học kinh nghiệm để có thể nghiên cứu áp dụng trong điều kiện kinh tế –xã hội của Việt Nam nói chung và của Kiên Giang nói riêng
Thứ hai: Phân tích thực trạng áp dụng thuế GTGT và những tác động của thuế GTGT đến
các hoạt động kinh tế ở kiên Giang Trên cơ sở đó rút ra những tồn tại trong việc áp dụng thuế GTGT trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Thứ ba: Đề xuất các giải pháp hoàn thiện thuế GTGT nhằm góp phần thúc đẩy phát triển
kinh tế tại tỉnh Kiên Giang
* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về thuế GTGT áp dụng ở Việt Nam, trên cơ sở phân tích thực tại các văn bản pháp luật Từ nghiên cứu tổng quan, tác giả đi sâu nghiên cứu tác động của thuế GTGT đến hoạt động kinh tế ở Kiên Giang và những tồn tại trong quá trình áp dụng luật thuế này tại tỉnh Kiên Giang
* Phương pháp nghiên cứu
Trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng, đề tài đã vận dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích, kết hợp với các phương pháp so sánh, diễn dịch, quy nạp và thống kê
Do đặc thù là một vấn đề mới, trong quá trình thu thập và tổng hợp thông tin, tác giả đã khai thác phương pháp lấy ý kiến, thông qua việc trao đổi với một số cá nhân có kinh nghiệm, làm việc thực tiễn tại các cơ quan thuế địa phương, đồng thời tiến hành khảo sát tại một số Công
ty xi măng và cơ sở khai thác đánh bắt hải sản trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
* Đóng góp của đề tài
Đề tài giúp khái quát hóa những tác động của thuế GTGT đến hoạt động kinh tế, đồng thời phân tích rõ những tồn tại cơ bản trong việc áp dụng Luật thuế GTGT ở Kiên Giang
Trang 3Trên cơ sở đó, tác giả mạnh dạn nêu lên một số kiến nghị nhằm khắc phục những tồn tại, góp phần hoàn thiện và triển khai thực hiện thành công Luật thuế GTGT ở Kiên Giang, thúc đẩy kinh tế tỉnh Kiên Giang phát triển
* Kết cấu của đề tài
Luận văn dài 67 trang, ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung chính của luận văn thể hiện ở ba chương:
- Chương I: Những vấn đề cơ bản của thuế GTGT
- Chương II: Thực trạng áp dụng thuế GTGT thời gian qua và những tác động đến hoạt
động kinh tế ở tỉnh Kiên Giang
- Chương III: Những giải pháp hoàn thiện thuế GTGT góp phần thúc đẩy kinh tế tỉnh Kiên
Giang phát triển
Trang 4CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1 Khái niệm
1.1.1 Giá trị gia tăng
GTGT là giá trị tăng thêm của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ tạo ra trong quá trình từ sản xuất lưu thông đến tiêu dùng
Giá trị, theo kinh tế học, là lao động xã hội cần thiết của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Nó được xác định bằng hao phí lao động bỏ ra để tạo ra sản phẩm đó Tuy nhiên,
việc xác định giá trị bằng phương pháp đó hoàn toàn mang tính lý luận và do đó tỏ ra không thực hiện được trên thực tế Trong nền kinh tế hàng hóa, giá trị của hàng hóa được biểu hiện bằng giá cả Chính vì vậy, GTGT của hàng hóa được hiểu là phần chênh lệch giữa “giá đầu vào” với “giá đầu ra” do cơ sở sản xuất, kinh doanh tạo ra
Giá đầu vào và giá đầu ra của hàng hóa trên thị trường lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó mối quan hệ cung cầu đóng vai trò hết sức quan trọng Dưới tác động của yếu tố đó, một sản phẩm hoàn toàn có thể có mức GTGT âm (-) hoặc không có GTGT – đây là một mâu thuẫn với khái niệm cổ điển song lại hoàn toàn phù hợp với quy luật kinh tế
Khai sinh từ Pháp, thuế GTGT đã nhanh chóng được áp dụng rộng rãi trên thế giới, trở thành nguồn thu quan trọng của nhiều nước.Vào giữa năm 1988 mới chỉ có 47 nước áp dụng, đến cuối năm 1991 có trên 70 nước và đến nay có khoảng trên 100 nước đưa thuế GTGT vào hệ thống thuế của mình, chủ yếu là các nước Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh, các nước trong khối cộng đồng kinh tế Châu Aâu và một số nước Châu Á Ở Châu Á, thuế GTGT được áp dụng đầu tiên ở Hàn Quốc vào năm 1977, Indonesia vào năm 1985, Philippines và Nhật Bản vào năm 1988, Thái Lan năm 1991… Trung Quốc sau một thời gian thí điểm đã chính thức áp dụng thuế GTGT bắt đầu từ 01/01/1994
Riêng Việt Nam, Chính quyền Sài Gòn cũng đã ban hành sắc luật số 035-TT/SLU ngày 21/12/1972 thiết lập thuế GTGT đánh trên hàng hóa, dịch vụ, có hiệu lực từ ngày 01/7/19731 Tuy nhiên, thuế GTGT đã không còn hiệu lực kể từ 30/04/1975 cùng với sự sụp đổ của Chính quyền Sài Gòn
Việt Nam bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế từ sau Nghị quyết Đại hội VI của Đảng (1986) Nền kinh tế đã có sự chuyển biến tích cực, hệ thống pháp luật cũng không ngừng được hoàn thiện Trong xu hướng đó, ngành thuế đã đề ra chương trình cải cách hệ thống thuế
1 Bài viết “Sự ra đời và phát triển thuế GTGT trên thế giới” của tác giả Huỳnh Huy Quế – Tạp chí Thuế Nhà nước – Số 03/2001
Trang 5Luật thuế GTGT được Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 10/5/1997 và chính thức đưa vào áp dụng trên toàn lãnh thổ Việt Nam từ 1/1/1999 Tại Điều 1, khái niệm thuế
GTGT được nêu như sau: “Thuế GTGT là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.”
Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ Giá bán ra sau khi đã áp dụng thuế GTGT là giá đã có thuế GTGT Người sản xuất, người cung ứng hàng hóa, dịch vụ chỉ có trách nhiệm thu và nộp thay người tiêu dùng Người tiêu dùng mua sản phẩm đã có thuế GTGT, chính vì vậy người tiêu dùng mới chính là người chịu gánh nặng thực sự của thuế GTGT
Một trong những nguyên tắc cơ bản của thuế GTGT là sản phẩm hàng hóa, dịch vụ dù có qua nhiều hay ít khâu từ sản xuất đến tiêu dùng đều chịu thuế như nhau Thuế GTGT đánh vào từng khâu từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng trên phần giá trị tăng thêm phát sinh ở từng khâu Người tiêu dùng cuối cùng phải chịu toàn bộ số thuế GTGT, chính bằng tổng số thuế GTGT nộp ở các khâu Như vậy thuế GTGT là loại thuế gián thu điều tiết đối với người tiêu dùng
1.2 Vai trò của thuế GTGT
1.2.1 Thuế GTGT là khoản thu thường xuyên, ổn định và quan trọng của ngân sách Nhà nước (NSNN)
Trong quá trình nghiên cứu cải cách hệ thống thuế của Pháp, vào năm 1936 để khắc phục nhược điểm chồng chéo của thuế Doanh thu, Pháp đã cải tiến thuế Doanh thu, đánh một lần vào công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất (tức là khi sản phẩm được chuyển sang khâu lưu thông lần đầu tiên) Thuế khắc phục được chồng thuế trong sản xuất, nhưng lại nẩy sinh bất lợi mới là thu chậm hơn so với trước Vì chỉ khi nào sản phẩm được đưa vào lưu thông lần đầu tiên Nhà nước mới được thu thuế Năm 1948 thuế Doanh thu lại tiếp tục được hoàn thiện đánh vào từng công đoạn của quá trình sản xuất và nộp thuế giai đoạn sau được trừ thuế đã nộp ở giai đoạn trước Và đây cũng chính là cách tính của thuế GTGT ngày nay
Do tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng, nên ở bất cứ khâu nào nếu có phát sinh giá trị tăng thêm thì Nhà nước điều tiết ngay một phần trên giá trị tăng thêm đó vào NSNN Mặt khác thuế GTGT đánh vào hàng hóa, dịch vụ dùng cho cả sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng nên phạm vi đối tượng áp dụng rộng Do đó thuế GTGT có vai trò là nguồn thu thường xuyên, ổn định và quan trọng của NSNN Cụ thể như loại thuế này đóng góp từ 12-30% số thu về thuế ở hầu hết các nước áp dụng và cá biệt ở một số nước, tỷ lệ này chiếm đến xấp xỉ 40% như ở Pháp, hoặc ở Anh chiếm 12%/GDP, đây là nguồn thu lớn nhất trong cơ cấu nguồn thu của nước này2 Ở Việt Nam thuế GTGT đảm bảo từ 20% đến 25% trong cơ cấu thu của NSNN3 Riêng ở Kiên Giang thuế GTGT chiếm từ 24% đến 32% trong cơ cấu thu của NSNN (xem phụ lục 1)
1.2.2 Thuế GTGT góp phần quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Thông qua việc đánh thuế GTGT, Nhà nước có thể ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng của xã hội Qua đó tác động đến sản xuất, kích thích đầu tư, phát triển kinh doanh và mở rộng việc làm Trong quá trình tái sản xuất, viêïc tiêu thụ sản phẩm giữ vị trí vô cùng quan trọng, mà khối lượng của nó phụ thuộc vào dung lượng của thị trường được xác định bởi nhu cầu cuối cùng về tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng Thuế GTGT một yếu tố cấu thành giá cả hàng hóa, có thể đưa đến cắt giảm cầu tiêu dùng và do đó cắt giảm khối lượng sản xuất Vì vậy thông qua việc xây dựng mức thuế suất thuế GTGT có thể điều chỉnh quy mô, cơ cấu sản xuất thông qua ảnh hưởng của thuế đến giá cả và mối quan hệ cung cầu trên thị trường
1.3 Những nội dung cơ bản của luật thuế GTGT ở Việt Nam
2 Báo cáo kết quả khảo sát thuế tại Canada của Bộ tài chính 03/2001
3 Bài viết “Thuế GTGT với mục tiêu thúc đẩy SXKD phát triển” của Nguyễn Mai Phương – Tạp chí Tài Chính – Số 11/2000
Trang 61.3.1 Đối tượng chịu thuế
Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các đối tượng không thuộc diện chịu thuế GTGT nêu tại mục 3.2 dưới đây
Một sản phẩm được coi là đối tượng chịu thuế GTGT hay không phải căn cứ vào mục đích sử dụng của chúng: dùng cho sản xuất, kinh doanh hay tiêu dùng
Có thể khái quát hóa đối tượng chịu thuế GTGT gồm hàng hóa, dịch vụ:
- Được sản xuất và tiêu dùng trong nước;
- Được nhập khẩu và tiêu dùng trong nước;
- Được tiêu dùng nội bộ;
- Được mua bán dưới mọi hình thức, bao gồm cả trao đổi bằng hiện vật (không thanh toán bằng tiền)
1.3.2 Đối tượng không thuộc diện chịu thuế GTGT
Đối tượng không thuộc diện chịu thuế GTGT bao gồm 26 nhóm mặt hàng (xem phụ lục 2)
Đối tượng không chịu thuế GTGT sẽ không phải nộp thuế GTGT nhưng cũng không được khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ này ở khâu không chịu thuế GTGT
Quy định đối tượng không chịu thuế GTGT thể hiện chính sách ưu đãi, khuyến khích hay điều tiết của Nhà nước đối với hàng hóa, dịch vụ nào đó Qua việc xem xét các đối tượng này, ta có thể rút ra một số quan điểm chính trong quy định đối tượng không chịu thuế GTGT như sau:
- Ưu đãi, khuyến khích nông dân tham gia vào sản xuất hàng hóa cho xã hội Mục đích nhằm nâng cao thu nhập của người nông dân, hạn chế tác động của thuế đến giá cả hàng nông phẩm
- Khuyến khích sản xuất và cung cấp các hàng hóa, dịch vụ thiết yếu cho đời sống xã hội
- Khuyến khích đầu tư và nhập khẩu những máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải chuyên dùng, phụ tùng thay thế mà trong nước chưa sản xuất được để đổi mới công nghệ
- Không thu thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ thực tế không tiêu dùng tại Việt Nam
- Tránh việc đánh trùng thuế và phù hợp với thông lệ quốc tế
- Khuyến khích việc huy động vốn để đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh
1.3.3 Đối tượng nộp thuế GTGT
Tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT (gọi chung là người nhập khẩu) đều là đối tượng nộp thuế GTGT Như vậy đối tượng nộp thuế GTGT là:
- Tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bao gồm:
+ Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp Nhà nước và Luật hợp tác xã;
+ Các tổ chức kinh tế của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức, đơn vị sự nghiệp khác
+ Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; các công ty nước ngoài và tổ chức nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam không theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;
- Cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bao gồm: Cá nhân, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng kinh doanh khác
- Các tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT
Đối tượng nộp thuế là đối tượng phải thanh toán thuế cho Nhà nước Tuy nhiên thuế GTGT phải nộp đã được tính vào giá bán hàng hóa, dịch vụ, do đó không làm giảm thu nhập của người chịu thuế về mặt lý thuyết Trong khi đó, đối tượng thật sự chịu gánh nặng của thuế GTGT lại là người tiêu dùng Họ phải trả toàn bộ thuế GTGT đã phát sinh khi mua hàng hóa, dịch vụ với
Trang 7giá đã có thuế GTGT Do đó đối tượng nộp thuế chỉ là người thu hộ cho NSNN và nộp hộ cho người tiêu dùng
1.3.4 Căn cứ tính thuế GTGT
Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất
* Giá tính thuế: Nguyên tắc cơ bản khi xác định giá tính thuế là giá chưa có thuế GTGT
Có thể tóm tắt một số trường hợp sau:
- Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất kinh doanh bán ra hoặc cung ứng cho đối tượng khác là giá bán chưa có thuế GTGT
- Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng (+) với thuế Nhập khẩu; giá nhập khẩu tại cửa khẩu làm căn cứ tính thuế GTGT được xác định theo các quy định về giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu
Giá tính thuế đối với hàng nhập khẩu là giá mua tại cửa khẩu nhập, kể cả phí vận tải, phí bảo hiểm theo hợp đồng Như vậy giá tính thuế đối với hàng nhập khẩu bằng đường biển sẽ là giá CIF (CIF là điều kiện giao hàng theo quy định của Incoterm Theo đó giá nhập khẩu bao gồm: giá hàng hóa (cost), chi phí bảo hiểm vận chuyển (Insurance) và cước vận tải đường biển (Freight))
Trường hợp hàng hóa nhập khẩu được miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giá tính thuế GTGT là giá hàng nhập khẩu cộng (+) với thuế Nhập khẩu xác định theo mức thuế đã được miễn, giảm
- Đối với hàng bán theo phương thức trả góp, tính theo giá bán trả một lần chưa có thuế GTGT của hàng hóa đó (không bao gồm lãi trả góp), không tính theo số tiền trả góp từng kỳ
- Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản, giá tính thuế GTGT được trừ (-) giá trị đất chịu thuế Chuyển quyền sử dụng đất
- Đối với gia công hàng hóa, giá tính thuế là giá gia công chưa có thuế GTGT, bao gồm: tiền công, nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và các chi phí khác để gia công
- Đối với hàng hóa dịch vụ có tính đặc thù dùng các chứng từ như tem bưu chính, vé cước vận tải, vé xổ số kiến thiết… mà giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì giá tính thuế GTGT được xác định như sau:
Giá thanh toán
Việc quy định mức thuế suất khác nhau thể hiện chính sách điều tiết thu nhập và hướng dẫn tiêu dùng Mức thuế suất 0% được áp dụng cho hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và coi như xuất khẩu Những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, phục vụ trực tiếp cho sản xuất và tiêu dùng được áp dụng thuế suất thấp là 5% Các hàng hóa, dịch vụ không thiết yếu, cần điều tiết thì áp dụng thuế suất cao nhất 20%
1.3.5 Phương pháp tính thuế
Với đặc điểm nền kinh tế có quy mô nhỏ, nhiều cơ sở kinh doanh chưa thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ đầy đủ, nên hiện nay thuế GTGT ở Việt Nam được tính bằng hai phương pháp: Phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên GTGT
1.3.5.1 Phương pháp khấu trừ thuế
1.3.5.1.1 Đối tượng áp dụng: Phương pháp khấu trừ thuế áp dụng đối với tất cả các cơ sở
kinh doanh, trừ các đối tượng áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT nêu tại điểm 1.3.5.2 dưới đây
1.3.5.1.2 Cách tính thuế
Thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra – Thuế GTGT đầu vào
Trang 8* Thuế GTGT đầu ra = Giá tính thuế hàng hóa, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân với (x) thuế suất thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ đó
* Thuế GTGT đầu vào = Tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ, số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hóa nhập khẩu (hoặc nộp thay cho phía nước ngoài theo hợp đồng đã ký kết) dùng vào sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và số thuế được khấu trừ theo tỷ lệ ấn định sau:
- Tỷ lệ 3% trên giá mua theo hóa đơn bán hàng đối với:
+ Hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng nộp thuế GTGT mua của cơ sở sản xuất, kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp trên GTGT có hóa đơn bán hàng do Bộ Tài chính thống nhất phát hành;
+ Hàng hóa là nông sản, lâm sản, thủy sản chưa qua chế biến mua của các cơ sở sản xuất có hóa đơn GTGT nhưng thuộc diện không chịu thuế GTGT khâu sản xuất;
+ Hàng hóa chịu thuế Tiêu thụ đặc biệt cơ sở kinh doanh thương mại mua của cơ sở sản xuất để bán;
+ Tiền bồi thường kinh doanh bảo hiểm của nghiệp vụ bảo hiểm thuộc đối tượng chịu thuế GTGT (tính trên giá trị bồi thường bảo hiểm) thuộc trách nhiệm bồi thường của cơ sở kinh doanh bảo hiểm
- Tỷ lệ 2% trên giá trị hàng hóa mua vào theo bảng kê đối với: Hàng hóa là nông, lâm, thủy sản chưa qua chế biến; đất, đá, cát, sỏi, các phế liệu mua của người bán không có hóa đơn
Tỷ lệ % khấu trừ trên đây áp dụng thống nhất cho cả trường hợp kinh doanh trong nước và xuất khẩu
* Thuế GTGT đầu vào của cơ sở kinh doanh được tính khấu trừ theo quy định như sau:
- Thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT thì được khấu trừ toàn bộ
- Thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ mua vào dùng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT thì chỉ được khấu trừ số thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT
- Thuế đầu vào được khấu trừ phát sinh trong tháng nào được kê khai khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó, không phân biệt đã xuất dùng hay còn để trong kho Trường hợp chưa kê khai kịp trong tháng (vì lý do khách quan) thì được kê khai khấu trừ vào các tháng tiếp sau nhưng không quá 3 tháng
- Đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp, khi chuyển sang nộp thuế theo phương pháp khấu trừ chỉ được tính khấu trừ thuế đầu vào theo quy định đối với chứng từ hóa đơn phát sinh từ ngày áp dụng tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
1.3.5.2 Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT
1.3.5.2.1 Đối tượng áp dụng: Đối tượng áp dụng phương pháp tính trực tiếp trên GTGT là:
- Cá nhân sản xuất, kinh doanh là người Việt Nam;
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh ở Việt Nam không theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hóa đơn chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế
- Cơ sơ ûkinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ
1.3.5.2.2 Cách tính thuế:
Số thuế GTGT của Thuế suất thuế
GTGT = hàng hóa, dịch x GTGT của hàng
Phải nộp vụ chịu thuế hóa, dịch vụ đó
* Ta gọi:
- GTGT: GTGT của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế
- DT: Doanh thu của hàng hóa, dịch vụ bán ra(bao gồm cả thuế GTGT)
- GV: Giá vốn của hàng hóa, dịch vụ bán ra tương ứng (bao gồm cả thuế GTGT)
Trang 9- DTA: Doanh thu ấn định
- Tỷ lệ GTGT: Tỷ lệ (%) GTGT tính trên doanh thu Tỷ lệ này do Tổng cục thuế hướng dẫn các Cục thuế xác định phù hợp với từng ngành nghề kinh doanh và hợp lý giữa các địa phương
* GTGT của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế đối với từng cơ sở kinh doanh được xác định như sau:
- Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ việc mua, bán hàng hóa, dịch vụ có hóa đơn, chứng tư, ghi chép sổ sách kế toán thì GTGT được xác định:
GTGT = DT – GV
- Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ hóa đơn, chứng từ khi bán hàng hóa, dịch vụ, xác định được đúng doanh số bán hàng hóa, dịch vụ nhưng không đủ hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ thì GTGT được xác định:
GTGT = DT x Tỷ lệ GTGT
- Đối với cá nhân hộ kinh doanh chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ hóa đơn mua, bán hàng hóa, dịch vụ thì cơ quan thuế căn cứ vào tình hình kinh doanh của từng hộ, ấn định mức doanh thu tính thuế và GTGT được xác định:
GTGT = DTA x Tỷ lệ GTGT
1.3.6 Hóa đơn
Các cơ sở kinh doanh kê khai nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT phải sử dụng hóa đơn GTGT do Bộ Tài chính (Tổng Cục Thuế) phát hành (mẫu 01 GT-KT), hoặc hóa đơn, chứng từ đặc thù tự in ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT được Bộ Tài chính chấp nhận bằng văn bản của các ngành như: điện, nước, bưu điện, hàng không, đường sắt…
Các cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp trực tiếp trên GTGT khi bán hàng hóa, dịch vụ phải sử dụng hóa đơn bán hàng do Bộ Tài chính (Tổng Cục Thuế) phát hành (mẫu 02 GT-TT)
1.4 Tác động của thuế GTGT đến hoạt động kinh tế
Để cho hoạt động kinh tế phát triển, Chính phủ cùng các Bộ, ngành đã có những điều chỉnh tích cực Trong đó chính sách thuế là một công cụ quan trọng Việc ban hành thuế GTGT thay cho thuế Doanh thu nhằm khuyến khích tối đa hoạt động kinh tế phát triển Thể hiện cụ thể như sau:
1.4.1 Tác động của thuế GTGT đến tình hình thu NSNN
Đảm bảo nguồn thu NSNN là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của mỗi sắc thuế Thuế GTGT với tính tiên tiến đã phát huy mạnh mẽ và thực hiện tốt nhiệm vụ này Tất nhiên, điều này chỉ đạt được khi thuế GTGT được thiết kế phù hợp với đặc điểm kinh tế và phục vụ cho mục tiêu đúng đắn Tiêu thức đầu tiên là mức thuế suất và đối tượng nộp thuế
Thuế GTGT có cơ chế đánh thuế tiên tiến, tránh tối đa việc thu trùng lắp thuế Do đó khi thay thế cho thuế Doanh thu, thuế GTGT được thiết kế với mức thuế suất nhìn chung cao hơn so với thuế Doanh thu Mặt khác do diện thu rộng nên vẫn đảm bảo được nhiệm vụ thu NSNN và mang tính ổn định , lâu dài hơn
Bên cạnh đó, thuế GTGT với cơ chế mắt xích, tạo ra một quá trình kiểm tra chéo giữa các
cơ sở kinh doanh Do đó giúp giảm đáng kể hiện tượng trốn thuế, gian lận về thuế Điều này một mặt chống thất thu thuế, tăng thu cho NSNN, một mặt làm lành mạnh hóa thị trường, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia sản xuất kinh doanh
Cơ chế mắt xích này cũng làm tăng tính tự giác của các cơ sở kinh doanh trong việc nộp thuế thể hiện ở hai mặt:
- Cơ sở kinh doanh sẽ thúc dục các đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ cấp hóa đơn để có thể khấu trừ thuế GTGT đầu vào Do đó buộc các cơ sở kinh doanh đối tác phải có ý thức mua bán bằng hóa đơn, chứng từ để được nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế
Trang 10- Mặt khác, các cơ sở kinh doanh cũng nhanh chóng nộp chứng từ để xác định số thuế GTGT phải nộp hoặc được hoàn thuế Do đó sẽ giúp các cơ sở ổn định kinh doanh và tạo dựng uy tín với các đối tác trong quá trình kinh doanh
Sự tiên tiến trong cơ chế thu thuế, sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, tính khuyến khích các hoạt động kinh tế theo nguyên tắc hóa đơn, chứng từ sẽ khuyến khích phát triển sản xuất Đồng thời với khuyến khích sản xuất trong nước còn khuyến khích đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, tăng cường kiểm soát hàng nhập khẩu, do đó thúc đẩy trở lại hoạt động sản xuất trong nước Tác dụng này mang tính lâu dài và ổn định, đảm bảo nguồn thu cho NSNN Điều này đã được chứng minh qua kết quả thu ngân sách của cả nước Năm 1999 cả nước thu đạt 106,80% so với dự toán, riêng đối với số thu thuế GTGT là 16.500 tỷ đồng, tương đương với thuế Doanh thu năm 1998 tính theo mặt bằng giá năm 19994 Và tổng thu ngân sách cả nước trong năm 2000 đạt 117,5% so với dự toán, tăng 13% so với năm 19995
1.4.2 Tác động của thuế GTGT đến hoạt động xuất khẩu
Với mức thuế suất thuế GTGT là 0%, hàng hóa xuất khẩu không những không phải nộp thuế mà còn được hoàn thuế GTGT đầu vào Chúng ta cùng xem xét ảnh hưởng cụ thể của thuế GTGT đến từng hoạt động của xuất khẩu
1.4.2.1 Tác động của thuế GTGT đến việc xuất khẩu hàng hóa
Hoàn thuế GTGT đầu vào của hàng hóa xuất khẩu không chỉ đơn thuần là thuế hàng hóa
ở khâu đó mà là việc hoàn thuế GTGT phát sinh trong toàn bộ quá trình từ khi sản xuất đến khi xuất khẩu
Nếu việc sản xuất hàng hóa xuất khẩu càng tạo ra nhiều GTGT thì số thuế được hoàn ở khâu xuất khẩu càng nhiều Cơ chế này hoàn toàn khác biệt so với việc đánh thuế Doanh thu hay thuế xuất khẩu 0%
Vì được hoàn thuế khi xuất khẩu, nên hàng hóa xuất khẩu gián tiếp được giảm chi phí giá thành Nhờ đó nhà xuất khẩu có thể hạ giá hàng xuất khẩu Cơ chế này đã tạo ra lợi thế cạnh tranh hơn nữa cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam so với thuế Doanh thu trước đây Các nhà xuất khẩu sẽ có cơ hội giảm giá hoặc nâng cao giá trị hàng hóa xuất khẩu dưới nhiều hình thức để cạnh tranh với các nước khác như: giảm giá trong hợp đồng, cấp tín dụng thương mại cho khách hàng, tăng dịch vụ bảo hành, bảo dưỡng… Đây là yếu tố hết sức quan trọng, bởi phần lớn sản xuất trong nước còn kém hiệu quả, chi phí cao hoặc chất lượng còn thấp nên giá hàng xuất khẩu một số mặt hàng của nước ta còn cao so với các nước khác
Mặt khác việc hoàn thuế GTGT cũng tạo điều kiện cho các nhà xuất khẩu tăng lợi nhuận
do được giảm số thuế phải nộp Sự thay đổi tích cực này sẽ khuyến khích nhiều cơ sở kinh doanh tham gia hoạt động xuất khẩu, tích cực tìm kiếm nguồn hàng, thị trường và do đó đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam
Mặc dù khuyến khích xuất khẩu hầu hết các hàng hóa, song thuế GTGT vẫn thể hiện quan điểm khuyến khích có chọn lọc, được thể hiện rõ trong quy định đối tượng xuất khẩu không thuộc diện chịu thuế GTGT tại Điều 4 của Luật thuế GTGT là: tài nguyên khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác quy định cụ thể gồm: dầu thô; đá phiến, cát, đất hiếm; đá quý; quặng măng-gan, quặng thiếc, quạng sắt, quặng crôm-mít, quặng êmênhít, quặng a-pa-tít Những hàng hóa xuất khẩu này sẽ không được hưởng cơ chế hoàn thuế đầu vào như các hàng hóa xuất khẩu khác Quy định này thể hiện chính sách không khuyến khích đối với tài nguyên, khoáng sản dạng thô
Trang 111.4.2.2 Tác động của thuế GTGT đến việc sản xuất hàng xuất khẩu
Sự khuyến khích nhằm đẩy mạnh xuất khẩu sẽ thúc đẩy sản xuất hàng xuất khẩu trong nước phát triển Hàng hóa xuất khẩu được tăng sức cạnh tranh sẽ mở rộng thị trường tiêu thụ, thu hút nhiều khách hàng Do đó đầu ra của hàng hóa xuất khẩu được bảo đảm, các cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu có thể ổn định được sản xuất và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành Đây là lợi ích cơ bản và thiết thực nhất đối với các cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu
Bên cạnh đó, cơ chế khuyến khích xuất khẩu những hàng hóa có GTGT trong nước cao của thuế GTGT cũng giúp chuyển dịch cơ cấu sản xuất từ những mặt hàng có giá trị thấp, GTGT không nhiều sang các hàng hóa có giá trị cao, GTGT lớn Xu thế này cũng khuyến khích các cơ sở kinh doanh chủ động sản xuất có lãi hơn, hạn chế hoạt động gia công kém hiệu quả
Các cơ sở kinh doanh khi tham gia sản xuất hàng xuất khẩu cũng có thể chia sẻ lợi nhuận với các nhà xuất khẩu Do được hoàn thuế, các nhà xuất khẩu sẽ sẵn sàng mua hàng hóa với số lượng lớn hoặc với giá cao hơn mà không sợ bị thua lỗ về giá Giả sử một hàng hóa giá bán chưa có thuế GTGT trong nội địa là P và chịu mức thuế suất 10% Để cạnh tranh về nguồn hàng, nhà xuất khẩu sẵn sàng mua hàng hóa đó với giá chưa có thuế GTGT là G với điều kiện P < G < P + 10%P Khi đó nhà xuất khẩu vẫn đảm bảo có lãi khi giữ giá xuất khẩu ngang bằng giá bán đã có thuế GTGT trong nước, với mức lãi là: (P + 10%P) – G Còn nhà sản xuất hàng xuất khẩu được lợi thêm do tăng giá một khoản là (G – P), nên sẵn sàng bán cho người xuất khẩu Đây là một động cơ quan trọng khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu phát triển
1.4.3 Tác động của thuế GTGT đến hoạt động nhập khẩu
Nhập khẩu là hoạt động kinh tế quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và sản xuất trong nước Tuy nhiên nếu không được kiểm soát hợp lý, nó có thể gây thiệt hại cho sản xuất trong nước Thuế GTGT ra đời đã góp phần kiểm soát hoạt động nhập khẩu
Theo quy định của Luật thuế GTGT, hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế GTGT phải nộp thuế GTGT theo thuế suất quy định trên giá tính thuế ở khâu nhập khẩu là: (giá CIF + thuế Nhập khẩu) Như vậy, so với trước đây, hàng hóa nhập khẩu hiện nay phải nộp hai loại thuế ở khâu nhập khẩu là thuế GTGT và thuế Nhập khẩu Do đó để nhập một lượng hàng hóa như trước, đơn vị nhập khẩu phải bỏ ra một số vốn lớn hơn, chính bằng số thuế GTGT phải nộp ở khâu nhập khẩu hàng hóa
Mặt khác, thời gian nộp thuế GTGT cùng với thời gian nộp thuế Nhập khẩu và được quy định trong một khoảng thời gian nhất định đối với từng nhóm hàng hóa Đặc biệt là hàng tiêu dùng phải nộp thuế GTGT và thuế Nhập khẩu trước khi nhận hàng Do đó đã tạo một áp lực lớn về vốn đối với đơn vị nhập khẩu Chính vì thế đã làm hạn chế năng lực nhập khẩu hàng hóa, nhất là hàng tiêu dùng của các đơn vị nhập khẩu
Tuy nhiên việc hạn chế nhập khẩu cũng thể hiện quan điểm hạn chế có chọn lọc Cụ thể trong quy định hàng hóa nhập khẩu không thuộc đối tượng nộp thuế GTGT tại Điều 4 của Luật thuế GTGT là:
- Thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ và vật tư xây dựng loại trong nước chưa sản xuất được, cần nhập khẩu để tạo tài sản cho doanh nghiệp;
- Máy bay, dàn khoan, tàu thủy thuê của nước ngoài dưới mọi hình thức dùng cho sản xuất, kinh doanh (loại trong nước chưa sản xuất được);
- Thiết bị, máy móc, phụ tùng, phương tiện vận tải chuyên dùng và vật tư cần thiết để tiến hành hoạt động thăm dò, phát triển mỏ dầu khí; Phụ tùng, khí tài máy bay, thiết bị đặc chủng chuyên dùng cho máy bay (loại trong nước chưa sản xuất được)
Những hàng hóa này không phải nộp thuế GTGT khi nhập khẩu hàng hóa Quy định này thể hiện chính sách khuyến khích các đơn vị sản xuất, kinh doanh đầu tư mở rộng sản xuất, kinh
Trang 12doanh; đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh đối với hàng sản xuất trong nước
1.4.4 Tác động của thuế GTGT đến đầu tư mở rộng sản xuất, lưu thông hàng hóa trong nước
Thuế GTGT chỉ thu khi cơ sở kinh doanh tạo ra giá trị tăng thêm và đánh trên chính phần giá trị tăng thêm đó Nên nếu phải bán giá thấp hơn so với giá tổng chi phí đầu vào, cơ sở kinh doanh sẽ không phải nộp thuế mà còn được hoàn số thuế GTGT tương ứng đã nộp cho hàng hóa đầu vào Do đó đã khuyến khích các cơ sở kinh doanh mạnh dạn đầu tư mở rộng sản xuất, lưu thông hàng hóa, dịch vụ
Mặc khác, số thuế GTGT mà cơ sở kinh doanh đã nộp cho việc mua sắm tài sản cố định, phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh sẽ được khấu trừ hoặc hoàn thuế cho cơ sở kinh doanh
Do đó làm giảm giá thành sản xuất hoặc giảm chi phí kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
Chính việc khấu trừ hoặc hoàn thuế đầu vào của tài sản cố định đã góp phần làm giảm áp lực về vốn cho các cơ sở kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở kinh doanh mạnh dạn đầu tư mở rộng sản xuất, lưu thông hàng hóa; đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm
Ngoài ra thuế GTGT còn tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng, không phân biệt loại hình doanh nghiệp, tính chất sở hữu nên khuyến khích mọi thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân phát triển Tính bình đẳng còn thể hiện trên cả các hàng hóa được nhập khẩu Đối với thuế GTGT, quy định thống nhất một mức thuế suất theo hàng hóa, dịch vụ; đối với cùng loại hàng hóa không phân biệt hàng nhập khẩu, sản xuất, gia công hay kinh doanh thương mại đều chịu chung một mức thuế suất Nguyên tắc này đã tạo nên tính trung lập của thuế GTGT, đồng thời hạn chế hiện tượng xin cho và ưu đãi tùy tiện của thuế Doanh thu trước đây, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển
1.4.5 Tác động của thuế GTGT đến công tác hạch toán kinh tế, nâng cao năng lực quản lý
Thuế GTGT ra đời từ yêu cầu của hoạt động kinh tế ngày càng phát triển mạnh Cùng với sự phát triển của hoạt động kinh tế, công tác hạch toán kinh tế cũng từng bước được hoàn thiện, tạo tiền đề cho việc áp dụng thuế GTGT như: Việc áp dụng sổ sách kế toán, chứng từ, hóa đơn ngày càng nhiều, chi tiết và khoa học hơn, các cải cách nâng cao chuẩn mực kế toán cũng như việc đổi mới và đi đến thống nhất chế độ kế toán trong cả nước đang được đẩy mạnh Đây là một tiền đề quan trọng giúp cho việc áp dụng thuế GTGT – một sắc thuế yêu cầu sử dụng chứng từ, hóa đơn một cách đồng bộ
Thuế GTGT lại có tác động trở lại và thúc đẩy công tác hạch toán kinh tế phát triển Thuế GTGT với sự quản lý thông qua hóa đơn, chứng từ sẽ tạo ra một cơ chế giám sát chéo, mang tính dây chuyền trong toàn bộ nền kinh tế Các cơ sở kinh doanh muốn được khấu trừ thuế đầu vào, bắt buộc phải có hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ Hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ của
cơ sở kinh doanh này cũng chính là hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ của cơ sở kinh doanh khác Chính cơ chế này đã đòi hỏi các cơ sở kinh doanh phải thực hiện tốt chế độ sổ sách kế toán, chứng từ, hóa đơn trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở Qua đó đã góp phần nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các cơ sở kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh gay gắt
của nền kinh tế thị trường
1.4.6 Tác động của thuế GTGT đến xu thế hội nhập
Sự ra đời của thuế GTGT có những tác động lớn đến xu thế hội nhập của Việt Nam, thể hiện ở ba mặt chủ yếu sau:
- Tăng tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu: Trước đây, các cơ sở kinh doanh xuất khẩu
chịu thuế Doanh thu trên doanh thu xuất khẩu là 0% Nhưng nay, các cơ sở kinh doanh xuất khẩu không những không phải nộp thuế mà còn được hoàn số thuế GTGT đầu vào Số này chiếm tỷ lệ
Trang 13lớn trong giá hàng xuất khẩu (5% hoặc 10%) Do đó cho phép các cơ sở kinh doanh hạ giá thành hàng xuất khẩu đáng kể để dành thị trường
- Tăng bảo hộ thị trường sản xuất trong nước: Thuế Nhập khẩu thực chất cũng là một
khoản thuế tiêu dùng, nhưng có mục đích thực hiện sự bảo hộ của Nhà nước đối với hàng hóa sản xuất trong nước, đồng thời giúp Nhà nước điều chỉnh hoạt động ngoại thương, điều chỉnh cán cân thương mại Như chúng ta đã biết, hàng hóa nhập khẩu thường là những hàng hóa mà nước xuất khẩu có lợi thế so sánh thương mại lớn hơn so với nước nhập khẩu Vì thế, giá cả của các hàng hóa khi đến nước nhập khẩu thường thấp hơn các hàng hóa được sản xuất trong nước rất nhiều Tương quan giá cả hàng hóa trong nước và nhập khẩu gây bất lợi cho người sản xuất hàng hóa trong nước, do đó đòi hỏi phải có sự bảo hộ của Nhà nước bằng thuế Nhập khẩu Khi thuế Nhập khẩu bị giảm thấp, việc thu thuế GTGT đối với hàng nhập khẩu làm tăng khả năng bảo hộ hàng sản xuất trong nước
- Thuế GTGT tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh hơn: như chúng ta đã biết, Thuế
GTGT với cơ chế quản lý thông qua hệ thống sổ sách kế toán, hóa đơn chứng từ, do đó giúp các
cơ sở kinh doanh nâng cao trình dộ quản lý Mặt khác thuế GTGT với tính trung lập, không ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các cơ sở, sẽ đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, tạo động lực khuyến khích mọi thành phần kinh tế nỗ lực phát triển Nhờ đó, các cơ sở kinh doanh của Việt Nam sẽ nâng cao được khả
năng cạnh tranh và hòa nhập với nền kinh tế thế giới
1.5 Thuế GTGT ở một số nước trên thế giới
1.5.1 Thuế GTGT ở Thụy Điển
Thuế GTGT được áp dụng ở Thụy Điển từ ngày 01/01/1960 để thay thế cho thuế Doanh thu và hỗ trợ xuất khẩu Thuế GTGT của Thụy Điển với những nội dung cơ bản sau:
* Đối tượng chịu thuế: Lúc đầu khi mới được ban hành vào năm 1960, thuế GTGT ở Thụy
Điển chỉ đánh vào một số mặt hàng và dịch vụ Đến ngày 01/01/1969 thì áp dụng cho tất cả các mặt hàng hóa, dịch vụ từ khâu sản xuất đến lưu thông, phân phối (kể cả hàng nhập khẩu và hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng nội bộ)
* Đối tượng không chịu thuế: Tính đến năm 1992, chính sách thuế GTGT của Thụy Điển
quy định 29 loại hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế như: Xuất khẩu, giáo dục, coi trẻ, dịch vụ ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, hội họa, mỹ thuật, điêu khắc, hoạt động lưu trữ, viện bảo tàng, tem thư, sách báo, tạp chí, quà tặng, dịch vụ tang lễ, bác sỹ nha khoa…
* Đối tượng nộp thuế: tất cả mọi tổ chức, cá nhân có sản xuất kinh doanh các mặt hàng,
dịch vụ chịu thuế GTGT là đối tượng nộp thuế
* Căn cứ tính thuế: là doanh thu tính thuế và thuế suất
- Doanh thu tính thuế: là toàn bộ doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ do người mua hàng trả Riêng đối với hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng nội bộ thì tính theo giá thị trường; còn đối với hàng hóa nhập khẩu thì tính trên giá hàng nhập khẩu
- Thuế suất: Khi mới ban hành và năm 1960 thuế GTGT áp dụng một mức thuế suất 4% cho một số hàng hóa, dịch vụ Đến ngày 01/01/1969 được nâng lên là 10% và áp dụng chung cho tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ Đến trước năm 1991 có 3 mức thuế suất là 4%, 12% và 20% Năm 1992 điều chỉnh lại còn 2 mức thuế suất 18% và 25% Mức thuế suất 18% áp dụng cho các ngành khách sạn, nhà hàng, thực phẩm, vận tải giao thông công cộng; thuế suất 25% áp dụng cho các ngành còn lại Riêng đối với hàng hóa xuất khẩu tuy thuộc diện không chịu thuế GTGT nhưng được thoái trả lại số thuế GTGT đã nộp ở khâu trước (tương ứng với mức thuế suất %)
* Phương pháp tính thuế: Là phương pháp khấu trừ thuế Thuế GTGT ở khâu sau được
khấu trừ thuế đã nộp ở khâu trước thông qua hệ thống sổ sách kế toán, hóa đơn chứng từ đầy đủ Không có hình thức khoán thu
* Kỷ luật thuế: Thuế GTGT hoàn toàn thu theo kê khai Quá ngày quy định cơ sở không
nộp tờ khai thuế GTGT sẽ bị phạt 15 ngày đầu bị phạt 2% trên tổng số thuế phải nộp, từ trên 15
Trang 14ngày bị phạt 5% trên tổng số tiền thuế phải nộp, mức phạt thấp nhất là 50 SEK Nếu chậm quá 3 đến 4 tuần, cơ quan thuế sẽ chuyển hồ sơ sang cơ quan cưỡng chế thuế
1.5.2 Thuế GTGT ở Indonesia
Trước năm 1983, Indonesia áp dụng thuế Bán hàng, tính chất tương tự như thuế Doanh thu
ở nước ta Đến năm 1983 Nhà nước Indonesia đã ban hành đạo luật thuế GTGT Nhưng do trình độ quản lý của cán bộ Tổng cục Thuế chưa cao và nhận thức của người nộp thuế còn nhiều hạn chế, nên đến năm 1985 đạo luật thuế GTGT mới có hiệu lực thi hành Để phù hợp với khả năng quản lý của Tổng cục Thuế và nhận thức của người nộp thuế, Nhà nước Indonesia có kế hoạch tổ chức thực hiện luật thuế GTGT theo từng bước cụ thể như sau:
- Từ năm 1985 đến năm 1988: chỉ áp dụng đối với người cung cấp hàng hóa (các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa, dịch vụ, nhập khẩu) và các Tổng đại lý bao tiêu sản phẩm, dịch vụ
- Từ năm 1989 đến năm 1991: Áp dụng thêm đối với Đại lý bán buôn
- Từ năm 1992: tiến hành áp dụng rộng rãi đến tất cả các cửa hàng bán lẻ và người tiêu dùng
Nội dung cơ bản của Thuế GTGT ở Indonesia:
* Đối tượng chịu thuế và cách tính thuế:
- Thuế GTGT ở Indonesia thu đối với tất cả các hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hóa và dịch vụ
- Cách tính thuế: Doanh thu tính thuế nhân (X) với thuế suất Khi nộp thuế được khấu trừ số thuế đã nộp ở khâu trước nếu có chứng từ hợp pháp Chứng từ hợp pháp để khấu trừ thuế đã nộp ở khâu trước là các biên lai nộp thuế đã được ngân hàng hoặc bưu điện hành tự
+ Doanh thu tính thuế là toàn bộ doanh thu bán hàng (bao gồm cả thuế GTGT)
+ Thuế suất: Thuế GTGT ở Indonesia có 2 thuế suất 0% và 10% (0%: áp dụng đối với hàng xuất khẩu, 10%: áp dụng đối với tất cả các hàng hóa, dịch vụ khác) Riêng các mặt hàng xa
xỉ như: ô tô, vô tuyến, radio, bia, rượu ngoài thuế GTGT còn phải chịu thuế Hàng hóa với mức thuế suất 35%
* Đối tượng không chịu thuế GTGT: Về nguyên tắc thuế GTGT ở Indonesia không áp
dụng đối với:
- Hàng hóa không nhìn thấy (không có hình dạng cụ thể): Điện, khí đốt
- Hàng hóa là sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế biến: cá tươi, hoa quả…
Các dịch vụ sau đây không thuộc đối tượng nộp thuế GTGT: Dịch vụ tìm kiếm dầu khí; y tế; dịch vụ xã hội; dịch vụ liên quan đến bưu điện, hàng không, tôn giáo, giáo dục; dịch vụ sân khấu không mang tính kinh doanh; dịch vụ đài phát thanh và vô tuyến; vận tải đường bộ và đường biển; vận tải hàng không quốc tế; dịch vụ khách sạn
Các hộ kinh doanh nhỏ, có doanh số dưới 60.000 USD/năm không phải thực hiện nộp thuế GTGT
* Đối tượng nộp thuế: Người cung cấp hàng hóa, dịch vụ (người bán hàng) có trách nhiệm
nộp thuế GTGT vào kho bạc Nhà nước Trường hợp người nhận hàng hóa, dịch vụ (người mua hàng) là doanh nghiệp Nhà nước thì người mua hàng phải nộp thuế GTGT Ở trường hợp này người mua hàng chi trả cho người bán hàng, giá mua hàng không có thuế, người mua hàng giữ lại phần thuế GTGT phải nộp để nộp vào kho bạc Nhà nước
* Kê khai nộp thuế:
- Đăng ký nộp thuế: Các chủ doanh nghiệp căn cứ quy định của Luật thuế GTGT, nếu thuộc đối tượng nộp thuế GTGT phải đến cơ quan thuế huyện đăng ký nộp thuế
- Nộp thuế: Đến định kỳ nộp thuế, người nộp thuế đến ngân hàng hoặc bưu điện lập biên lai thu thuế và nộp thuế cho ngân hàng hoặc bưu điện Ngân hàng hoặc bưu điện sẽ chuyển số thuế nộp cho kho bạc Nhà nước
- Quyết toán thuế: đến kỳ quyết toán thuế, người nộp thuế phải làm báo cáo quyết toán thuế gởi cơ quan thuế, trong đó nêu rõ: số thuế phải nộp, số thuế đã nộp (kèm theo các biên lai
Trang 15nộp thuế), số thuế còn phải nộp hoặc thoái trả Nếu là thoái trả thì ghi rõ hình thức thoái trả (trả bằng tiền mặt, cấn trừ vào số thuế phải nộp của kỳ sau hoặc ủng hộ Nhà nước…)
* Thực hiện chế độ sổ sách kế tóan và hóa đơn: Ở Indonesia, hóa đơn bán hàng do các
doanh nghiệp tự phát hành Các doanh nghiệp thực hiện thuế GTGT đều phải có sổ sách kế toán rõ ràng, đầy đủ Riêng các doanh nghiệp nhỏ có doanh thu dưới 60.000 USD/năm thì chỉ cần theo dõi sổ doanh thu bán hàng
1.5.3 Thuế GTGT ở Hungari
Trước năm 1989 Hungari áp dụng thuế Chu chuyển đánh trên toàn bộ doanh thu bán hàng (giống như thuế Doanh thu của Việt Nam) Nhưng loại thuế này có nhược điểm: thuế đánh trùng lên thuế, kích giá cả tăng cao Sau nhiều năm chuẩn bị, năm 1989 Quốc hội Hungari đã thông qua đạo luật thuế GTGT nhưng vẫn giữ nguyên tên gọi cũ là thuế Chu chuyển Việc thay thế thuế Chu chuyển bằng thuế GTGT của Hungari nhằm hai mục đích cơ bản là: tránh trùng lắp thuế và góp phần điều chỉnh hệ thống giá cả trong nước để Hungari có thể hòa nhập khối EC về giá cả và thuế khóa Thuế GTGT của Hungari với những nội dung cơ bản sau:
* Đối tượng chịu thuế: Thuế GTGT của Hungari áp dụng đối với tất cả các hoạt động sản
xuất, lưu thông hàng hóa và cung cấp dịch vụ khi thực hiện giá trị, không phân biệt hàng hóa sản xuất trong nước hay nhập khẩu
* Đối tượng không chịu thuế: Theo quy định của Luật thuế GTGT ở Hungari đến thời
điểm năm 1992 thì các đối tượng sau không thuộc diện chịu thuế:
- Người sản xuất nông nghiệp nhỏ, người xây dựng nhà ở, buôn bán vật kỷ niệm, đầu tư cho nhà thờ, người làm nghề mộc, sửa chữa nhà cửa
- Cơ sở kinh doanh, cá nhân hoạt động trong các vùng tự do thuế quan
- Các tổ chức ngoại giao, kể cả những người trong ngoại giao đoàn, khách nước ngoài đi qua Hungari
- Các tổ chức, cá nhân hoạt động theo luật được miễn trừ
- Sản phẩm tự sản, tự tiêu
- Đối tượng nộp thuế: Tất cả các tổ chức, cá nhân có tiêu thụ hàng hóa, cung cấp dịch vụ
phải nộp thuế GTGT
* Cách tính thuế: Doanh thu tính thuế nhân (X) với thuế suất Khi tính thuế để nộp, được
trừ số thuế đã nộp ở khâu trước
- Doanh thu tính thuế: là toàn bộ doanh thu bán hàng hay cung cấp dịch vụ đã trừ thuế GTGT (tức là giá chưa có thuế)
- Thuế suất: có 3 mức thuế suất: 0%, 15% và 25%
+ Thuế suất 0% áp dụng đối với các mặt hàng và dịch vụ xuất khẩu, một số mặt hàng khác như xe lăn cho người tàn tật, ống tiêm thuốc, năng lượng điện, hơi nước, nước nóng, gọng kính, tân dược, than cốc, sản phẩm hóa dầu khí…
+ Thuế suất 15% áp dụng đối với một số mặt hàng, dịch vụ như: bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị sản xuất (trừ thiết bị quân sự); sửa chữa hàng công nghiệp tiêu dùng; hoạt động vận tải (trừ taxi và vận tải hàng không); dịch vụ về nhà cửa; dịch vụ du lịch và các dịch vụ công nghiệp khác
+ Thuế suất 25% áp dụng đối với các hàng hóa và dịch vụ còn lại
* Kê khai nộp thuế: thuế GTGT nộp một tháng một lần vào thời gian từ ngày 01 đến 20
hàng tháng Các cơ sở tự tính trên tờ khai hàng tháng và tự nộp qua ngân hàng, bưu điện hoặc quỹ tiết kiệm, cơ quan thuế không thu trực tiếp
1.5.4 Thuế GTGT ở Nhật Bản
Vào những năm cuối thập kỷ 70, khi việc cải cách thuế với một mục tiêu quan trọng là cần có một loại thuế gián thu trên toàn bộ các hoạt động tiêu dùng để bổ sung cho thuế trực thu – một loại thuế đã trở thành gánh nặng quá tải đối với người nộp thuế, đề xuất về thuế GTGT được Chính phủ của Thủ tướng OHIRA đưa ra vào tháng 9/1978 Và phải mất 10 năm tranh cãi căng
Trang 16thẳng giữa Chính phủ – Quốc hội – công luận với hai đời Thủ tướng là Nacasone và Takeshita thuế Tiêu dùng (một loại thuế GTGT với phong cách Nhật) mới được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành
* Mức thuế suất: Mức thuế suất thuế GTGT tại Nhật Bản là 3% đối với tất cả hàng hóa,
dịch vụ (trừ hàng xuất khẩu) Riêng đối với các loại phương tiện vận tải là xe hơi 4 chỗ ngồi mức thuế suất 4,5% được áp dụng từ 1/4/1992 đến 1/4/1994 Đến ngày 1/4/1997 do đòi hỏi của nền tài chính, nhất là sự nhận thức đúng đắn hơn của đông đảo người nộp thuế, nên mức thuế suất đã được nâng từ 3% lên 5%
* Cách tính thuế: Trong hệ thống thuế GTGT của Nhật, phần giá trị tăng thêm chịu thuế
lại được quy định dựa trên cơ sở sổ sách kế toán của người nộp thuế mà không phải là hóa đơn mua, bán hàng hóa Chính vì vậy, đôi khi thuế GTGT của Nhật còn được gọi là thuế GTGT theo phương pháp kế toán Nguyên nhân của việc phải chấp nhận phương pháp kế toán là nhằm đảm bảo mục tiêu đơn giản và tránh rủi ro của việc lưu hành hóa đơn giả Thứ đến có lợi về chính trị bởi được sự ủng hộ của đại đa số những người sản xuất kinh doanh nhỏ, những người vốn rất sợ khi buộc phải công khai thu nhập từ hoạt động kinh doanh của mình thông qua phát hành hóa đơn
Tất nhiên, để đảm bảo người nộp thuế không kê khai quá thuế đầu vào, cơ quan quản lý thuế thay việc kiểm tra hóa đơn đối với từng hoạt động mua, bán bằng biện pháp tăng cường kiểm tra các tài khoản kế toán có liên quan trong khi kiểm tra quyết toán thuế Thu nhập cá nhân và Thu nhập doanh nghiệp
Tuy nhiên, để chuyển dần việc sử dụng hóa đơn trong kê khai nộp thuế, từ 4/1997, cơ quan thuế Nhật đã yêu cầu người nộp thuế phải phát hành hóa đơn đối với các giao dịch có giá trị lớn (từ 30 ngàn Yên trở lên); đồng thời yêu cầu xuất trình các loại giấy tờ, tài liệu cần thiết trong quá trình xác định thuế phải nộp
Ngoài phương pháp trên Nhật còn áp dụng một phương pháp rất đặc biệt nữa để đơn giản hóa việc tính thuế được gọi là “phương pháp đơn giản hóa đặc biệt” Theo phương pháp này, người nộp thuế GTGT có doanh thu chịu thuế hàng năm thấp hơn 500 triệu Yên (từ 10/1991 mức này dần dần được giảm xuống còn 400 triệu Yên và từ 4/1997 còn 200 triêïu Yên) có thể được lựa chọn:
(i) Tính thuế theo phương pháp thông thường (Doanh số đầu ra - Doanh số đầu vào) nhân (X) thuế suất, hoặc
(ii) Tính thuế theo phương pháp đơn giản hóa đặc biệt Nghĩa là không cần phải tính doanh thu đầu vào theo sổ sách kế toán, mà người nộp thuế sẽ tùy theo ngành nghề kinh doanh của mình và tỷ lệ % ước định của luật thuế GTGT để xác định doanh thu đầu vào Cụ thể theo bảng sau:
Phân
loại
doanh số đầu ra
Loại 3 Nông nghiệp, lâm nghiệp, hải sản, khai
khoáng, xây dựng, sản xuất, cung cấp điện,
1.5.5 Những bài học kinh nghiệm từ việc áp dụng thuế GTGT ở các nước
Mặc dù có sự khác biệt khá lớn về chế độ chính trị, về điều kiện, hoàn cảnh kinh tế – xã hội, văn hóa và trình độ quản lý… nhưng qua nghiên cứu về xây dựng Luật thuế GTGT ở một số nước trên thế giới, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng Luật thuế GTGT ở Việt Nam như sau:
Trang 17Thứ nhất: Việc thiết kế, xây dựng một Luật thuế nói chung và Luật thuế GTGT nói riêng
ngoài việc phải phù hợp với điều kiện, đặc điểm kinh tế, xã hội còn phải phù hợp với đặc điểm, truyền thống văn hóa của mỗi nước, đồng thời phải tính đến mối quan hệ tương quan với các nước trong khu vực và trên thế giới trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của kinh tế thị trường để có được lợi ích tổng thể của quốc gia
Thứ hai: Việc áp dụng thuế GTGT có thể chia ra từng bước phù hợp với điều kiện kinh tế,
xã hội và trình độ quản lý
Thứ ba: Tính công bằng trong các quy định của Luật là điều kiện cơ bản để đạt được tính
tự tuân thủ Khi tính tự tuân thủ được nâng cao sẽ làm giảm đáng kể chi phí hành chính thuế Như vậy ở một khía cạnh nào đó (xét hiệu quả về chi phí hành chính thuế) thì tính công bằng trong các quy định của Luật sẽ làm tăng hiệu quả của sắc thuế
Thứ tư: Bảo đảm tính tự tuân thủ có ý nghĩa quan trọng trong công tác hành chính thuế,
nhưng để có được điều đó, ngoài các quy định rõ ràng, chi tiết và công bằng về trách nhiệm của đối tượng nộp thuế trong việc tự kê khai, tự tính và tự nộp thuế thì Luật phải có chế tài xử phạt một cách nghiêm minh các trường hợp vi phạm
Thứ năm: Những bài học kinh nghiệm về các vấn đề kỹ thuật trong thiết kế xây dựng
Luật
- Về phạm vi điều chỉnh: Luật thuế GTGT nên điều chỉnh đối với tất cả các hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hóa và cung ứng dịch vụ, không phân biệt hàng sản xuất trong nước hay hàng nhập khẩu (loại trừ những hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước cần ưu đãi và khuyến khích)
- Đối tượng nộp thuế: là tất cả các tổ chức, cá nhân có tiêu thụ hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ
-Cách tính thuế: là doanh thu bán hàng (tính trên giá bán chưa có thuế GTGT) nhân (X) với thuế suất Khi tính thuế phải nộp được khấu trừ số thuế đã nộp ở khâu trước Nếu số thuế đầu
ra nhỏ hơn thuế đầu vào được giải quyết bằng cách: Cấn trừ vào số thuế phải nộp của kỳ tiếp theo, hoặc Nhà nước hoàn trả lại, hoặc ủng hộ cho Nhà nước
Tuy nhiên tùy thuộc vào điều kiện về kinh tế, xã hội và trình độ quản lý … của từng nước, có thể xây dựng thêm các phương pháp tính thuế khác trong thời gian đầu áp dụng như: lấy (doanh số đầu ra trừ (-) doanh số đầu vào) nhân (X) với thuế suất, hoặc lấy doanh số đầu ra nhân với một tỷ lệ ước định (do luật quy định) để xác định giá trị tăng thêm rồi nhân với thuế suất
-Về thuế suất: Thuế GTGT là một sắc thuế có tính trung lập, không phân biệt ngành nghề, hình thức tổ chức kinh doanh, phạm vi áp dụng rộng Do đó nên xây dựng ít mức thuế suất để đảm bảo tính đơn giản, dễ thực hiện Theo thống kê của quỹ tiền tệ IMF, tính đến tháng 10/1994, trong một trăm nước áp dụng thuế GTGT (không tính mức thuế suất 0%) thì chỉ có một nước là Colombia có 5 mức thuế suất và năm nước sử dụng 4 mức thuế suất, các nước còn lại sử dụng số thuế suất ít hơn 4 Một số nước như Achentina, Phần Lan, Indonesia… khi áp dụng thuế GTGT sử dụng một hoặc hai mức thuế suất nhưng sau này phải có sự điều chỉnh tăng lên Cụ thể như Indonesia khi mới áp dụng chỉ có một mức thuế suất là 10%, nhưng tính đến tháng 3/1999 đã sử dụng đến 4 mức thuế suất: 5%, 10%, 20% và 35% Theo tổng kết ở đa số các nước thì phương pháp tốt nhất là áp dụng nhiều thuế suất (không quá 5 mức thuế suất) lúc ban đầu và sau đó giảm dần
- Về kê khai, tính và nộp thuế: Việc kê khai, tính và nộp thuế nên quy định cho đối tượng nộp thuế tự thực hiện, có như thế mới bảo đảm giảm bớt chi phí hành chính thuế Tuy nhiên để thực hiện cơ chế này, cần có các quy định bắt buộc, xử lý nghiêm các vi phạm và đồng thời có giải pháp tổ chức thực hiện trên cơ sở đề cao tính tự tuân thủ
Trang 18CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG ÁP DỤNG THUẾ GTGT THỜI GIAN QUA VÀ NHỮNG TÁC
ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH TẾ Ở TỈNH KIÊN GIANG
2.1 Những thuận lợi, khó khăn về môi trường, điều kiện kinh tế khi đưa thuế GTGT vào áp dụng tại Kiên Giang
2.1.1 Thuận lợi
2.1.1.1 Có bước chuẩn bị khá tốt trước khi Luật thuế GTGT có hiệu lực thi hành: Do thấy
trước được tính chất phức tạp của Luật thuế GTGT, Quốc hội đã dành một năm rưỡi cho Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương chuẩn bị Do đó Kiên Giang cũng như các địa phương khác có đủ thời gian để chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết cho việc triển khai thực hiện Luật thuế GTGT như: Tổ chức tập huấn về Luật thuế GTGT, về chế độ kế toán, chứng từ, hóa đơn cho cán bộ ngành thuế và các chủ cơ sở kinh doanh; tuyên truyền Luật thuế GTGT sâu rộng trong nhân dân trên các phương tiện thông tin đại chúng; đào tạo cán bộ, sắp xếp lại bộ máy tổ chức của ngành thuế, phân cấp quản lý đối tượng nộp thuế để đảm bảo đủ sức đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ mới; trang bị máy móc thiết bị, phương tiện làm việc, hệ thống sổ sách, chứng từ hóa đơn gắn liền với việc thực hiện Luật thuế GTGT … Do đó đã hạn chế được phần nào khó khăn, lúng túng khi đi vào thực hiện Luật thuế GTGT ở Kiên Giang
2.1.1.2 Số đối tượng nộp thuế thực hiện tốt chế độ sổ sách, chứng từ có số thuế chiếm tỷ trọng lớn trong số thu NSNN và mong muốn được áp dụng thuế GTGT: Bên cạnh các hộ cá thể,
doanh nghiệp tư nhân, công ty kinh doanh nhỏ chưa thực hiện nghiêm túc chế độ sổ sách kế toán vẫn có một số công ty, doanh nghiệp tư nhân lớn và tất cả các doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều thực hiện tốt quy định về sổ sách kế toán, chứng từ, hóa đơn và mong muốn được áp dụng sắc thuế tiên tiến hơn thuế Doanh thu là thuế GTGT Hơn nữa, các đơn vị này chiếm tỷ trọng lớn trong đóng góp về thuế cho NSNN ở Kiên Giang (thường từ 55% đến 60% trong tổng số thu do ngành Thuế quản lý thu và chiếm từ 70% đến 75% trong tổng số thu thuế công thương nghiệp)6
2.1.1.3 Sự quyết tâm áp dụng thuế GTGT của Đảng và Nhà nước từ trung ương đến địa phương: Trước yêu cầu đổi mới khung pháp luật làm nền tảng thúc đẩy kinh tế phát triển, chuẩn
bị hòa nhập và tiến tới tự do hóa thương mại với các nước trong khu vực và trên thế giới Đảng và Nhà nước đã đặt ra định hướng đổi mới hệ thống thuế, trong đó, thuế Doanh thu với nhiều nhược điểm được thay thế bằng thuế GTGT được coi là bước quan trọng nhất
Ngày 4/11/1998 Bộ Chính trị đã có Chỉ thị số 44-CT/TW về tăng cường lãnh đạo của các cấp ủy Đảng trong việc thực hiện các Luật thuế mới Uûy ban thường vụ Quốc hội đã có Nghị quyết số 18 ngày 25/11/1998 yêu cầu Chính phủ tập trung chỉ đạo thực hiện các Luật thuế mới nhất là Luật thuế GTGT Ngày 17/12/1998 Chính phủ đã có Chỉ thị số 41/1998/CT-Tg về việc tập trung chỉ đạo thực hiện các luật thuế mới tại các bộ, ngành và địa phương
Chấp hành nghiêm chỉnh Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Kiên giang đã có Chỉ thị số 19/1998/CT-UBND ngày 05/12/1998 về việc tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện hai Luật thuế mới, đồng thời ra Quyết định thành lập Ban chỉ đạo triển khai thực hiện các Luật thuế mới của tỉnh Trong các văn bản này đều nêu rõ quan điểm quyết tâm triển khai thực hiện tốt Luật thuế GTGT ở Kiên Giang Thực hiện tinh thần chỉ đạo của UBND tỉnh, các huyện, thị trong tỉnh đều thành lập Ban chỉ đạo triển khai thực hiện hai Luật thuế mới, nhằm tạo mọi điều kiện
6 Báo cáo thu năm 1996, 1997 và 1998 của Cục Thuế Tỉnh Kiên Giang
Trang 19thuận lợi và giải quyết kịp thời những khó khăn vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện tại địa phương
2.1.2.2 Luật thuế GTGT là một Luật thuế quá xa lạ đối với các cơ sở kinh doanh và cả với ngành thuế: Do phạm vi điều chỉnh của Luật thuế GTGT rộng, hầu hết các chủ thể kinh tế, hàng
hóa, dịch vụ tại Việt Nam đều chịu sự điều chỉnh của luật này Chính vì thế việc quy định về đối tượng chịu thuế, đối tượng không chịu thuế, đối tượng nộp thuế và khấu trừ thuế sẽ gây nhiều lúng túng cho ngành thuế, cũng như các cơ sở kinh doanh bị điều chỉnh Mặt khác phương pháp khấu trừ thuế là một phương pháp tiên tiến - đây là phương pháp cơ bản của Luật thuế GTGT Song đòi hỏi chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ rất nghiêm ngặt, do đó sẽ không dễ dàng để tuyên truyền cho các đối tượng nộp thuế hiểu và thực hiện
2.1.2.3 Kinh tế Kiên Giang với quy mô nhỏ: Cuối năm 1998, bước sang đầu năm 1999
Kiên Giang chỉ có 32 doanh nghiệp Nhà nước, 632 công ty và doanh nghiệp tư nhân, 20.059 hộ cá thể Trong 32 doanh nghiệp Nhà nước có 4 doanh nghiệp của Trung ương đóng trên địa bàn, 2 doanh nghiệp hệ đảng, 4 công ty liên doanh, cổ phần và 22 doanh nghiệp của tỉnh Trong 22 doanh nghiệp Nhà nước của tỉnh, có 2 doanh nghiệp hoạt động công ích, 1 công ty Xổ số kiến thiết, 19 doanh nghiệp còn lại chủ yếu có vốn dưới 10 tỷ đồng (xem phụ lục 3)
Ngoại trừ các doanh nghiệp nhà nước, các công ty nước ngoài và một số ít các doanh nghiệp tư nhân lớn có mối quan hệ mua bán rộng, phần còn lại chủ yếu là buôn bán lẻ, phục vụ trực tiếp cho người tiêu dùng Nên hầu hết các doanh nghiệp tư nhân, các hộ kinh doanh cá thể có thói quen ghi “sổ chợ” cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, không cần biết đến chế độ sổ sách kế toán, chứng từ, hóa đơn; Mua hàng hóa, dịch vụ không cần có chứng từ hợp pháp Chính vì thế ngành Thuế gặp rất nhiều khó khăn khi triển khai thực hiện Luật thuế GTGT, một Luật thuế đòi hỏi chế độ kế toán, chứng từ nghiêm khắc
2.1.2.4 Đội ngũ làm công tác kế toán quá ít không đáp ứng được nhu cầu: Do hầu hết các
cơ sở kinh doanh có thói quen không áp dụng chế độ kế toán, chứng từ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, nên các chủ cơ sở không quan tâm tìm hiểu và lực lượng làm công tác kế toán cũng không được quan tâm đào tạo ở Kiên Giang Do đó khi triển khai thực hiện Luật thuế GTGT đã gặp không ít khó khăn cho cả ngành Thuế và các cơ sở kinh doanh, vì không đủ lực lượng làm công tác kế toán cho các cơ sở kinh doanh đã có đủ điều kiện về chứng từ đầu vào, đầu ra để thực hiện theo phương pháp khấu trừ thuế
2.1.2.5 Người tiêu dùng có thói quen không lấy hóa đơn, chứng từ khi mua hàng hóa, dịch vụ: Như đã nói ở phần trên, phần lớn các cơ sở kinh doanh ở Kiên Giang chủ yếu là bán lẻ, phục
vụ trực tiếp cho người tiêu dùng Nhưng người tiêu dùng lâu nay đã có thói quen không lấy hóa đơn, chứng từ, thậm chí còn rất ngại khi phải khai họ tên, địa chỉ … và chờ đợi để lấy hóa đơn, chứng từ khi mua hàng hóa, dịch vụ Do đó đã vô tình tạo điều kiện cho các cơ sở kinh doanh cố tình hạch toán sai thực tế quá trình hoạt động kinh doanh để trốn thuế Lực lượng ngành Thuế quá mỏng, không thể kiểm tra, đối chiếu được toàn bộ quá trình hoạt động của các cơ sở kinh doanh Đây là một vấn đề nan giải khi triển khai Luật thuế GTGT ở Kiên Giang
2.1.2.6 Điều kiện cơ sở vật chất của ngành Thuế chưa đáp ứng được nhu cầu công việc:
Luật thuế GTGT có phạm vi điều chỉnh rộng và đòi hỏi hệ thống chứng từ nghiêm ngặt Do đó để
Trang 20thực hiện tốt Luật thuế này, ngành Thuế phải có đầy đủ, kịp thời và chính xác các thông tin về hoạt động của các cơ sở kinh doanh trên phạm vị cả nước Muốn đáp ứng được điều đó, yêu cầu đầu tiên là phải có hệ thống mạng vi tính trên cả nước và trang bị máy đến từng Chi cục Nhưng trong điều kiện hiện tại ngành Thuế chưa đáp ứng được điều này
2.2 Tác động của thuế GTGT đến hoạt động kinh tế ở tỉnh Kiên Giang
2.2.1 Tác động của thuế GTGT đến tình hình thu NSNN
Như phân tích ở Mục 1.4.1, Chương I Do thuế GTGT có diện thu rộng, có cơ chế đánh thuế tiên tiến đã khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia sản xuất kinh doanh, hạn chế hiện tượng trốn thuế, gian lận về thuế… nên vẫn đảm bảo được nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước
Tuy nhiên, đối với Kiên Giang khi áp dụng thuế GTGT thay cho thuế Doanh thu thì số thu NSNN giảm và số thu từ thuế GTGT thấp hơn thuế Doanh thu trước đây Theo báo cáo của ngành Thuế tỉnh Kiên Giang, số thu ngân sách năm 1999 chỉ bằng 95,26% số thu năm 1998; năm 2000 bằng 92,40% so năm 1999 và chỉ bằng 88,02% so với năm 1998; năm 2001 bằng 109,03% so năm
2000 và bằng 96,99% so số thu năm 1998 Riêng số thu từ thuế GTGT năm 1999 đạt 195.315 triệu đồng, chỉ bằng 68,05% so với số thu từ thuế Doanh thu năm 1998; năm 2000: 223.819 triệu đồng, bằng 114,59% so năm 1999 và bằng 77,98% so số thu thuế Doanh thu năm 1998; năm 2001: 240.038 triệu đồng, bằng 107,25% so năm 2000 và bằng 83,62% so số thu thuế Doanh thu năm 1998
Qua nghiên cứu cho thấy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên Tuy nhiên, do mức độ giới hạn của đề tài, tác giả xin đi sâu phân tích những nguyên nhân cơ bản tác động làm ảnh hưởng đến số thu thuế GTGT trên địa bàn tỉnh Kiên Giang trong thời gian qua
Số thu thuế GTGT trên địa bàn tỉnh Kiên Giang thời gian qua chủ yếu dựa vào các lĩnh vực: thương mại - dịch vụ, khai thác đánh bắt – chế biến hải sản và sản xuất vật liệu xây dựng mà chủ yếu là sản xuất xi măng Nhưng trong những năm đầu thực hiện Luật thuế GTGT có nhiều tác động xấu làm ảnh hưởng đến mức độ hoạt động của các ngành này, cụ thể như sau:
* Thứ nhất: Sản xuất nông nghiệp là ngành kinh tế trọng điểm của tỉnh Tính đến cuối
năm 2000, Kiên Giang có 402.644 ha đất sản xuất nông nghiệp, chiếm 64,23% tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Với 526.982 người làm việc trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, chiếm 69,39% số người đang làm việc trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Bình quân từ năm 1997 đến năm 2000 giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp chiếm 32, 97% tổng giá trị sản xuất trên địa bàn và tổng sản phẩm (GDP) của ngành nông nghiệp chiếm 39,33% tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn Trong đó cây lúa chiếm 80,44% tổng giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp Nhưng từ khi triển khai thực hiện Luật thuế GTGT, giá lúa liên tục giảm mạnh qua các năm (năm 1998: 2.019 đ/kg, năm 1999: 1.772 đ/kg, năm 2000: 1.484 đ/kg, năm 2001: 1.332 đ/kg), làm cho giá trị sản xuất bình quân trên diện tích một ha của cây lúa cũng giảm mạnh (năm 1998: 7.140.000 đ/ha, năm 1999: 6.780.000 đ/ha, năm 2000: 5.920.000 đ/ha, năm 2001 ước tính: 5.510.000 đ/ha) Giá lúa giảm, trong khi giá vật tư phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tăng (xem phụ lục 4), làm cho thu nhập của 78,07% dân số trên địa bàn tỉnh Kiên Giang sống phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp bị giảm sút Điều này được chứng minh qua số liệu tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) của ngành nông nghiệp liên tục giảm trong 3 năm (năm 1999 = 94,28% so năm 1998, năm 2000 = 90,75% so năm 1999 và năm 2001 = 96,56% so năm 2000)7
Thu nhập của phần lớn người dân bị giảm sút, tất yếu làm giảm sức mua bán trên thị trường Do đó đã tác động làm giảm nguồn thu thuế GTGT trên địa bàn là điều không thể tránh khỏi
* Thứ hai: Kiên Giang có bờ biển dài trên 128 km, với 105 hòn đảo lớn nhỏ che chắn đã
tạo thuận lợi cho tàu thuyền khai thác hải sản quanh năm Với những thuận lợi đó, vùng biển
7 Số liệu thống kê của Cục Thống kê Tỉnh Kiên Giang
Trang 21Kiên Giang được xem là một trong bốn ngư trường trọng điểm của cả nước Trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, ngành thủy sản được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn
Bình quân mỗi năm (từ năm 1998 đến năm 2000) Kiên Giang có 7.005 phương tiện hoạt động khai thác đánh bắt hải sản, với sản lượng khai thác bình quân mỗi năm là 224.029 tấn, giá trị sản xuất của ngành khai thác đánh bắt hải sản chiếm 9,94% tổng giá trị sản xuất trên địa bàn của tỉnh Từ năm 1998 đến năm 2000 sản lượng khai thác và giá trị sản xuất của ngành khai thác đánh bắt hải sản đều tăng liên tục trong từng năm (xem phụ lục 5)
Tuy nhiên do những năm trước người dân chưa có ý thức trong việc bảo vệ ngư trường, việc khai thác đánh bắt diễn ra bừa bãi, đã làm cạn kiệt ngư trường đánh bắt ở Kiên giang trong vài năm trở lại đây Cùng với việc thực hiện chương trình khuyến khích khai thác đánh bắt hải sản xa bờ của Chính phủ, hầu hết các phương tiện có công suất lớn đều chuyển ngư trường đánh bắt sang các tỉnh khác như Cà Mau, Bà Rịa –Vũng Tàu… Để tiết kiệm chi phí, khi kết thúc chuyến khai thác, các phương tiện này đã cập cảng của các tỉnh bạn để tiêu thụ sản phẩm và mua sắm mọi thứ cần thiết cho chuyến ra khơi tiếp theo Do đó đã làm ảnh hưởng đáng kể đến mãi lực mua bán của các ngành gắn liền với dịch vụ hậu cần nghề cá
Qua phân tích cho thấy, việc chuyển ngư trường đánh bắt của các phương tiện khai thác hải sản đã tác động làm giảm sức mua trên thị trường Điều này tất yếu làm giảm nguồn thu NSNN nói chung và thuế GTGT nói riêng trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Ngoài ra đối với ngành khai thác đánh bắt hải sản còn có nguyên nhân khác góp phần làm cho số thu của thuế GTGT trên địa bàn tỉnh Kiên Giang thấp hơn số thu của thuế Doanh thu trước đây Đó là do ngành Thuế tỉnh Kiên Giang quản lý thu thuế đối với các phương tiện khai thác đánh bắt hải sản theo hình thức ấn định thuế Mức thuế ấn định cho từng phương tiện phụ thuộc ngành nghề và công suất máy của phương tiện đó Mức thuế này được ổn định trong thời hạn ba năm, nếu không có sự thay đổi đột biến về giá cả đối với sản phẩm đầu ra hoặc sản lượng khai thác Hết thời gian ổn định hoặc có sự thay đổi đột biến về giá cả, về sản lượng khai thác thì ngành Thuế phối hợp với ngành Thủy sản tiến hành khảo sát, trình UBND tỉnh ký quyết định ban hành mức ấn định mới
Với cách quản lý như trên, ngày 01/01/1999 là thời điểm Luật thuế GTGT có hiệu lực thi hành, đồng thời cũng là thời điểm hết hạn ba năm ổn định thuế đối với các phương tiện khai thác đánh bắt hải sản trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Căn cứ vào kết quả khảo sát thực tế, sản lượng khai thác của các phương tiện có giảm so với các năm trước, nên Cục Thuế tỉnh Kiên Giang trình UBND tỉnh ban hành mức thuế ấn định mới thấp hơn 12,50% đối với thuế GTGT và 26,47% đối với tổng mức thuế ấn định áp dụng trong năm 1998 (xem phụ lục 6) Do đó làm cho nguồn thu của thuế GTGT nói riêng và ngân NSNN nói chung đối với các phương tiện khai thác hải sản từ năm 1999 đến 2001 thấp hơn nguồn thu của thuế Doanh thu và NSNN trong năm 1998
* Thứ ba: Sản xuất xi măng là ngành công nghiệp quan trọng nhất của tỉnh Số thu thuế từ
sản xuất xi măng chiếm từ 25% đến 27% tổng số thu thuế trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, riêng thuế GTGT chiếm từ 31% đến 36% tổng số thu thuế GTGT trên địa bàn Nhưng trong hai năm
1999, 2000 do giá xi măng giảm và do sự tác động của thuế GTGT làm ảnh hưởng đến số thu của ngành này Cụ thể như sau:
- Về giá: Do nhu cầu thị trường xi măng giảm trên bình diện chung của cả nước và phải cạnh tranh với nhiều loại xi măng khác trên thị trường, nên giá cả mặt hàng xi măng trên địa bàn tỉnh Kiên Giang giảm liên tục trong hai năm Theo số liệu thống kê của Cục Thống kê tỉnh Kiên Giang thì chỉ số giá của mặt hàng xi măng năm 1999 bằng 94,68% so với năm 1998 và năm 2000 bằng 92,63% so với năm 1999 Điều này đã làm cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của các Công ty xi măng trên địa bàn tỉnh Kiên Giang bị giảm sút đáng kể
Đơn cử như Công ty xi măng Hà Tiên II, do giá bán sản phẩm bình quân trong năm 1999 của Công ty giảm 14,74% so với năm 1998 đã góp phần làm cho tổng doanh thu tiêu thụ năm
1999 giảm 18, 93% so năm 1998 Sang năm 2000, sản lượng xi măng tăng 18,37%, nhưng giá
Trang 22giảm 7,57% nên tổng doanh thu tiêu thụ trong năm 2000 chỉ tăng hơn năm 1999 0,84% và bằng 82,40% so năm 1998 Cũng chính do giá giảm làm cho doanh thu của công ty Xi măng Hà Tiên năm 1999 chỉ bằng 76,05% năm 1998, công ty Xi măng Hà Tiên Kiên Giang doanh thu năm 1999 bằng 91,56% năm 1998, doanh thu của công ty liên doanh Sao Mai chỉ đạt 768.600 triệu đồng bằng 68,7% dự toán…
- Về tác động của thuế GTGT: Theo quy định của Luật thuế Doanh thu thì hoạt động sản xuất xi măng chịu thuế suất 10% trên tổng doanh thu Còn đối với luật thuế GTGT thì thuế suất của mặt hàng xi măng cũng là 10% trên doanh thu, nhưng được khấu trừ thuế đầu vào, do đó làm cho nguồn thu của thuế GTGT giảm hơn so với thuế Doanh thu trước đây
Đơn cử như: với doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong năm 1999 của Công ty xi măng Hà Tiên II là 826.808 triệu đồng, tương đương với số thuế đầu ra là 82.681 triệu đồng, nhưng khấu trừ thuế đầu vào là 39.155 triệu đồng, nên số thuế còn phải nộp là 43.526 triệu đồng, bằng 49,54% so với số thuế doanh thu phải nộp trong năm 1998 Sang năm 2000, mặc dù doanh thu tiêu thụ có tăng hơn so năm 1999 và đạt 840.371 triệu đồng, tương ứng với số thuế đầu ra 84.037 triệu đồng, nhưng do giá xi măng giảm và lượng xi măng tiêu thụ tăng lên, dẫn đến số thuế đầu vào tăng lên đến 47.256 triệu đồng, nên số thuế GTGT còn phải nộp giảm, chỉ còn 36.781 triệu đồng, bằng 84,5% so năm 1999 và chỉ bằng 41,87% so số thuế doanh thu năm 1998
Qua phân tích cho thấy: do giá bán sản phẩm giảm và do tác động của thuế GTGT đã góp phần làm cho nguồn thu của thuế GTGT trong năm 1999 và 2000 giảm thấp hơn so với nguồn thu của thuế Doanh thu trong năm 1998 Cụ thể, số thu thuế GTGT của ngành sản xuất xi măng trong năm 1999 chỉ bằng 59,96% so với số thu thuế Doanh thu năm 1998 và năm 2000 bằng 97%
so năm 1999
2.2.2 Tác động của thuế GTGT đến hoạt động xuất khẩu
Với mức thuế suất 0%, hàng hóa xuất khẩu không những không nộp thuế GTGT đầu ra mà còn được hoàn thuế đầu vào, do đó đã tạo điều kiện cho các cơ sở kinh doanh xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Kiên Giang hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu
Kim ngạch xuất khẩu của Kiên Giang sau khi thực hiện Luật thuế GTGT đã tăng mạnh Năm 1999 đạt 76,494 triệu USD tăng 89,27% so với cùng kỳ năm 1998 Cả hai nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Kiên Giang đều tăng với tốc độ cao trong năm 1999 Cụ thể: Hàng nông sản đạt 50,487 triệu USD, tăng 157,69% so với năm 1998; Hàng hải sản đạt 26,007 triệu USD, tăng 24,89% so với năm 1998
Bảng số 1: Kim ngạch xuất khẩu của Kiên Giang qua các năm (1996–2000)
Đơn vị tính: Triệu USD
Nguồn: Niên giám thống kê 2000 – Cục Thống Kê tỉnh Kiên Giang
Qua số liệu trên ta thấy: Mặt hàng thủy sản giảm liên tục qua các năm trước khi áp dụng Luật thuế GTGT và tăng liên tục sau hai năm áp dụng Luật thuế GTGT; mặt hàng nông sản tăng rất mạnh trong năm 1999 (năm đầu áp dụng Luật thuế GTGT) và giảm xuống trong năm 2000 nhưng vẫn còn tăng rất cao so với năm 1998 (31,67 USD /19,592 USD) Do đó dẫn đến tổng kim ngạch xuất khẩu trong năm 2000 so với năm 1999 có giảm, nhưng không đáng kể và vẫn tăng rất cao so với năm 1998 (68,303 USD/40,416 USD) đây là dấu hiệu đáng mừng cho hoạt động xuất khẩu ở Kiên Giang
Trang 23Trên thực tế, bên cạnh thuế GTGT, hoạt động xuất khẩu còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác như: giá cả thế giới, cung của thị trường trong nước, cầu của thị trường nước ngoài, các hiệp định thương mại… Do đó, ta không thể đánh giá tác động và ảnh hưởng của thuế GTGT tới hoạt động xuất khẩu một cách riêng biệt mà phải phân tích và xem xét trong mối quan hệ tổng hòa với các yếu tố khác
Tuy nhiên, khi xem xét chỉ số giá xuất khẩu của mặt hàng lương thực, thực phẩm, đây là hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Kiên Giang từ năm 1996 đến năm 2000, ta thấy giảm liên tục: 103,2 (1996), 97,7 (1997), 99,7 (1998), 94,00 (1999), 90,4 (2000)8 Qua đó phần nào đã khẳng định được vai trò của thuế GTGT trong việc khuyến khích hoạt động xuất khẩu ở Kiên Giang
2.2.3 Tác động của thuế GTGT đến hoạt động nhập khẩu
Theo quy định của luật thuế GTGT thì giá tính thuế hàng nhập khẩu được xác định bằng giá CIF cộng (+) thuế Nhập khẩu, thời gian nộp thuế GTGT cùng với thời gian nộp thuế Nhập khẩu, nhất là hàng tiêu dùng phải nộp thuế GTGT và thuế Nhập khẩu trước khi nhận hàng Do đó đã góp phần làm hạn chế năng lực nhập khẩu và tiêu dùng hàng hóa nhập khẩu ở tỉnh Kiên Giang
Qua hai năm thực hiện Luật thuế GTGT, tổng kim ngạch nhập khẩu ở Kiên Giang đều giảm: Năm 1999 đạt 14,785 triệu USD, bằng 84,97% so với năm 1998; Năm 2000 đạt 6,127 triệu USD bằng 41,44% so với năm 1999 Đặc biệt trong năm 1999 không nhập khẩu hàng tiêu dùng
Bảng số 2: Kim ngạch nhập khẩu của tỉnh Kiên Giang từ 1996-2000
Đơn vị tính: Triệu USD
Nguồn: Niên giám thống kê 2000 – Cục Thống Kê tỉnh kiên Giang
Cũng như hoạt động xuất khẩu, bên cạnh thuế GTGT, hoạt động nhập khẩu cũng chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác như: Giá cả thế giới, sự điều chỉnh thuế suất thuế Nhập khẩu, các mức phụ thu … Tuy nhiên khi đánh giá nguyên nhân dẫn đến tình trạng giảm sút trong hoạt động nhập khẩu, các đơn vị đều đánh giá thuế GTGT là yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất Tác động quan trọng của thuế GTGT là làm suy giảm sức tiêu dùng trong nước đối với hàng nhập khẩu
2.2.4 Tác động của thuế GTGT đến đầu tư mở rộng sản xuất, lưu thông hàng hóa trong nước
Thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ trong suốt quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Do đó tránh được việc thu trùng lắp, không ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của các cơ sở kinh doanh, tạo điều kiện cho các cơ sở kinh doanh
ở Kiên Giang đầu tư mở rộng sản xuất, lưu thông hàng hóa, dịch vụ Mặt khác, thuế GTGT không có sự phân biệt về thuế suất đối với hàng nhập khẩu, sản xuất, gia công hay kinh doanh thương mại đã tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh ở Kiên Giang phát triển
Qua số liệu thống kê, tổng sản phẩm xã hội (GDP) trên địa bàn tỉnh Kiên Giang từ năm
1996 đến năm 2000 tăng liên tục (xem phụ lục 7) Trung bình mỗi năm tốc độ tăng trưởng GDP ở
Kiên Giang trên 7% Đặc biệt đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh qua hai năm thực hiện Luật thuế GTGT, tốc độ tăng GDP rất ổn định và năm sau cao hơn năm trước (Xem phụ lục 8)
8 Chỉ số giá các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu – niên giám thống kê 2000 – Cục Thống Kê Kiên Giang
Trang 24Tuy tốc độ tăng trưởng GDP của năm 1999 và 2000 có thấp hơn năm 1998, nhưng trong điều kiện khó khăn chung của đất nước, nền kinh tế đang ở trong tình trạng thiểu phát, sự tăng chậm lại của các ngành sản xuất chủ yếu là do sự trì trệ của nền kinh tế: đầu tư giảm, hoạt động thương mại kém sôi động, cầu hàng hóa giảm… đặc biệt giá cả thế giới của một số mặt hàng biến động mạnh theo chiều hướng bất lợi cho kinh tế Việt Nam, thì tốc độ tăng trưởng GDP trong hai năm 1999 và 2000 ở Kiên Giang đã phần nào khẳng định được vai trò khuyến khích đầu tư mở rộng sản xuất, lưu thông hàng hóa của thuế GTGT đối với hoạt động kinh tế ở Kiên Giang
2.2.5 Tác động của thuế GTGT đến giá cả hàng hóa, dịch vụ
Giá cả hàng hóa, dịch vụ trên thị trường do nhiều yếu tố tác động mà hình thành Trong đó quan hệ cung cầu có ảnh hưởng quyết định Do đó việc giá tăng hay giảm không phải chỉ do một yếu tố thuế GTGT được đưa vào áp dụng
Đối với nước ta, khi xem xét trong bối cảnh chúng ta áp dụng thuế GTGT thay cho thuế Doanh thu trước đây thì tác động đến giá cả sẽ được quyết định bởi sự tương quan giữa hai sắc thuế về thuế suất và mức huy động cho NSNN
Trước đây thuế Doanh thu có 11 mức thuế suất (từ 0% đến 30%), hiện nay thuế GTGT có
4 mức thuế suất (từ 0% đến 20%) Nếu so đơn thuần về mức thuế suất thì thuế Doanh thu có mức thuế suất cao hơn thuế GTGT (mức thuế suất 30%) Nhưng nếu xét về tổng thể các mức thuế suất áp dụng cho các loại hàng hóa, dịch vụ thì thuế Doanh thu áp dụng mức thuế suất phổ biến cho đại đa số các loại hàng hóa, dịch vụ từ 0,5% đến 5%, phần còn lại hầu hết có thuế suất từ 6% đến 10%, thuế suất 15% đến 30% chỉ áp dụng cho một số hàng hóa, dịch vụ cá biệt Đối với thuế GTGT, 10% là mức thuế suất phổ thông; mức thuế suất 5% áp dụng cho những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, phục vụ trực tiếp cho sản xuất và tiêu dùng; thuế suất 20% chỉ áp dụng cho 4 loại hàng hóa, dịch vụ không thiết yếu, cần điều tiết Do đó xét về tổng thể, thuế GTGT có thuế suất cao hơn thuế Doanh thu trước đây
Tuy nhiên thuế GTGT có cơ chế đánh thuế tiên tiến giúp tránh tối đa việc trùng lắp thuế, số thuế đánh trên một hàng hóa do đó sẽ giảm và làm giảm giá hàng hóa, dịch vụ Chính vì thế sự thay đổi về giá hàng hóa là không đáng kể
Mặt khác để hạn chế đến mức tối đa việc lợi dụng của các chủ thể kinh doanh để tăng giá khi triển khai thực hiện Luật thuế GTGT Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương đã có nhiều công văn chấn chỉnh, nghiêm cấm và xử lý nghiêm các trường hợp cố tình nâng giá để thu lợi bất chính
Với các biện pháp đồng bộ trên, khi áp dụng Luật thuế GTGT, tình hình giá cả hàng hóa, dịch vụ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang tương đối ổn định trong những tháng đầu năm 1999 (Xem phụ lục 9)
Qua số liệu thống kê ta thấy: So với tháng 12 năm 1997 giá cả năm 1998 tăng tương đối mạnh, bình quân một tháng tăng 0,70% Năm 1999 (năm đầu áp dụng Luật thuế GTGT) so với tháng 12 năm 1998 thì chín tháng đầu năm giá cả tương đối ổn định, sau đó giảm liên tục trong
ba tháng cuối năm 1999 Sang đầu năm 2000 giá cả hàng hóa, dịch vị có tăng vào tháng 2/2000
do tác động về sức mua trong dịp tết nguyên đán, sau đó giảm liên tục trong 10 tháng cuối năm
2000 Bình quân một tháng giảm 0.05% trong năm 1999 và 0.05% trong năm 2000
Trong đó mặt hàng lương thực và thực phẩm là hai mặt hàng thế mạnh của Kiên Giang đều giảm mạnh trong hai năm: Thực phẩm: năm 1999 = 96,22% so năm 1998 và năm 2000 = 98,34% so năm 1999; lương thực: năm 1999 = 93,92% so năm 1998 và năm 2000 = 93,50% so năm 1999
Giá vàng bình quân một tháng trong năm 1999 tăng 0,05% so với tháng 12/1998 và năm
2000 giảm 0,25% so với tháng 12/1999 Giá đô la Mỹ tương đối ổn định
Giá giảm đã tác động xấu đến thu ngân sách, huy động và cho vay vốn của ngân hàng, đầu tư tăng trưởng sản xuất kinh doanh bị thu hẹp, do đó ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng – mục tiêu có tầm quan trọng hàng đầu trong hoạt động kinh tế của Kiên Giang
Trang 25Quan hệ cung cầu trên thị trường đối với mặt hàng lương thực diễn ra khá căng thẳng Cung vượt quá cầu làm cho giá lúa bình quân trên thị trường giảm mạnh (năm 1999 = 87,77% so năm 1998, năm 2000 = 83,75% so năm 1999, năm 2001 giá lúa tiếp tục giảm = 89,76% so năm
2000 và chỉ bằng 65,97% so năm 1998) Giá lúa giảm làm cho thu nhập của trên 70% dân số sống bằng nghề nông bị giảm sút, điều này tất yếu ảnh hưởng đến sức mua trên thị trường Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ trong năm 1999 chỉ tăng 3,87% so năm 1998 và năm 2000 chỉ bằng 99,32% so năm 1999
Đây là kết quả ngược lại so với những lo lắng về sự gia tăng giá do tác động của thuế GTGT Phân tích tình trạng này, Phòng Vật Giá thuộc Sở Tài Chính – Vật Giá tỉnh Kiên Giang đã chỉ ra hai nguyên nhân cơ bản sau:
- Do sức mua của xã hội giảm hoặc tăng chậm
- Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ của các nước trong khu vực và trên thế giới làm cho cung hàng hóa lớn hơn cầu hàng hóa, giá cả thế giới giảm mạnh
Qua phân tích trên ta có thể thấy Giá cả thay đổi là do quan hệ cung cầu và các yếu tố kinh tế khác, còn thuế GTGT không phải là nguyên nhân chính Bản chất của thuế GTGT là không gây lạm phát, tăng giá
2.2.6 Tác động của thuế GTGT đến công tác hạch toán kinh tế, nâng cao năng lực quản lý
Thuế GTGT quản lý thông qua hóa đơn, chứng từ sẽ tạo ra một cơ chế giám sát chéo, mang tính dây chuyền trong toàn bộ nền kinh tế Do đó đã thúc đẩy các cơ sở kinh doanh ở Kiên Giang thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh tế, nâng cao năng lực quản lý
Thực tế qua hơn ba năm triển khai thực hiện Luật thuế GTGT, tình hình thực hiện sổ sách kế toán, chứng từ, hóa đơn của các cơ sở kinh doanh trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đã tăng lên rõ rệt Tính đến cuối tháng 12 năm 1998, ngoại trừ các đơn vị quốc doanh, toàn tỉnh Kiên Giang chỉ có 1.675 cơ sở kinh doanh sử dụng hóa đơn do Bộ Tài chính phát hành và chưa đến 300 cơ sở sản xuất kinh doanh ngoài quốc doanh thực hiện chế độ sổ sách kế toán Đến cuối năm 2001 đã có 3.468 cơ sở kinh doanh ngoài quốc doanh sử dụng hóa đơn do Bộ Tài chính phát hành và có 2.124
cơ sở sản xuất kinh doanh ngoài quốc doanh thực hiện sổ sách kế toán Điều này đã khẳng định được tác động tích cực của thuế GTGT đến việc thúc đẩy các đơn vị sản xuất kinh doanh thực hiện sổ sách kế toán, chứng từ, hóa đơn, góp phần nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các đơn vị trong nền kinh tế thị trường
2.3 Những tồn tại trong việc áp dụng thuế GTGT trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Thuế GTGT là loại thuế tiên tiến, đòi hỏi nghiêm ngặt về chế độ hóa đơn chứng từ Lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam nói chung và Kiên Giang nói riêng trong điều kiện: Chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ chưa được áp dụng rộng rãi trong hoạt động kinh tế, ý thức chấp hành nghĩa vụ thuế của người dân chưa cao, quan hệ trao đổi mua bán chủ yếu dùng tiền mặt để thanh toán… Do đó qua hơn ba năm triển khai thực hiện, mặc dù luôn được các cơ quan chức năng nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế trong cả nước Nhưng với điều kiện hiện tại và mỗi địa phương, mỗi ngành có những đặc thù riêng, nên đến nay trong quá trình triển khai thực hiện Luật thuế GTGT ở Kiên Giang vẫn còn bộc lộ một vài tồn tại cả về pháp luật, chính sách lẫn quản lý điều hành, làm ảnh hưởng đến những tác động tích cực của thuế GTGT đối với hoạt động kinh tế ở Kiên Giang
2.3.1 Những tồn tại xuất phát từ luật pháp và chính sách
2.3.1.1.Việc quy định đối tượng chịu thuế, không chịu thuế chưa hợp lý
Hiện nay, Luật thuế GTGT quy định sản phẩm phần mềm máy vi tính tiêu dùng trong nước không chịu thuế GTGT khi bán ra, nên cũng không được khấu trừ thuế đầu vào của tài sản cố định, máy móc thiết bị mua vào dùng cho sản xuất Theo xu hướng phát triển của công nghệ sản xuất phần mềm máy tính thì chi phí đầu tư ngày càng lớn, nên không được khấu trừ thuế đầu
Trang 26vào thì giá bán cũng không hạ bao nhiêu Người mua sản phẩm phần mềm dùng cho sản xuất lại không được khấu trừ thuế đầu vào làm ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm
Còn đối với những mặt hàng thuộc diện chịu thuế Tiêu thụ đặc biệt, hiện nay ở khâu sản xuất hay khâu nhập khẩu đều không chịu thuế GTGT, nhưng khi xuất khẩu được áp dụng thuế suất 0% và được hoàn thuế đầu vào đối với doanh thu hàng xuất khẩu Việc quy định như trên vừa khó cho đơn vị hạch toán thuế đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ khi vừa có hàng xuất khẩu vừa có hàng tiêu dùng trong nước Mặt khác khi người kinh doanh trong nước mua về kinh doanh được khấu trừ theo tỷ lệ 3% trên giá trị hàng mua, nên đã không phản ánh đúng số thuế GTGT được khấu trừ của hàng hóa đó
Qua phân tích cho thấy: Việc quy định đối tượng chịu thuế và không chịu thuế GTGT chưa thật sự hợp lý đã phát sinh những khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện
2.3.1.2 Hệ thống nhiều mức thuế suất bộc lộ nhiều hạn chế
Qua hơn ba năm thực hiện Luật thuế GTGT, bên cạnh những thành công bước đầu, thì những hạn chế của hệ thống thuế suất nhiều mức đang ngày càng bộc lộ rõ trong bối cảnh nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường và quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ
Nhiều mức thuế suất không những làm cho công tác hoạch định chính sách thêm phức tạp mà còn làm cho việc xác định thuế phải nộp cũng phức tạp không kém Việc chọn các tiêu thức để phân định các loại hàng hóa, dịch vụ chịu thuế theo từng mức thuế suất là rất khó, bởi ranh giới giữa những phân định này là mờ nhạt và mang tính tương đối Tình trạng một mặt hàng nhưng có thể áp dụng hai mức thuế suất khác nhau vẫn thường xảy ra, dẫn đến tình trạng tránh thuế của đối tượng nộp thuế và áp sai mức thuế suất của cơ quan thuế vẫn có cơ sở tiếp diễn Đây là một trở ngại lớn trong việc thực hiện quy trình quản lý thuế theo nguyên tắc tự khai, tự tính và tự nộp thuế của các đối tượng nộp thuế
Với thuế GTGT nhiều mức thuế suất, các cơ sở sản xuất kinh doanh phải hao tốn công sức thêm trong việc hoạch định chiến lược sản xuất, chiến lược mặt hàng, bởi lẽ họ phải đưa thêm một thông số vào tính toán – đó là mức thuế suất GTGT của từng loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể Việc áp dụng nhiều mức thuế suất cũng làm cho hiện tượng phân phối thuế phải thu trong từng công đoạn không đều nhau, có khâu phải thu nhiều của người tiêu dùng, có khâu thu ít, có khâu lại không thu làm cho đối tượng nộp thuế bị phân biệt đối xử ngay trong việc thu tiền thuế vào NSNN một cách không cần thiết Với nhiều mức thuế suất khác nhau, khối lượng thuế hoàn và
truy thu cũng tăng lên một cách không đáng có, làm tiêu hao công sức và của cải xã hội
2.3.1.3 Việc quy định đối tượng áp dụng từng phương pháp tính thuế chưa đồng bộ về mặt chủ trương, chính sách
Trong điều kiện của Việt Nam, giai đoạn đầu chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường nên trình độ quản lý kinh tế, hạch toán kế toán còn hạn chế, vẫn còn thói quen mua bán cũ, nhất là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh với số lượng lớn các hộ kinh doanh Nên khi triển khai thực hiện thuế GTGT đã áp dụng đồng thời hai phương pháp tính thuế: phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp trên GTGT là hoàn toàn phù hợp Tuy nhiên việc quy định đối tượng áp dụng cho từng phương pháp, theo tác giả có điều chưa hợp lý và chưa đảm bảo sự công bằng giữa các thành phần kinh tế Cụ thể là:
Theo Tiết 2.1, Điểm 2, Mục III, Phần B thông tư 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 của
Bộ Tài chính thì cá nhân sản xuất, kinh doanh là người Việt Nam thuộc đối tượng áp dụng phương pháp tính thuế trực tiếp trên GTGT
Tại Tiết 2.3, Điểm 2, Mục III, Phần B thông tư 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 của Bộ Tài chính quy định về phương pháp xác định GTGT làm căn cứ tính thuế GTGT phải nộp đối
với từng cơ sở thực hiện theo phương pháp trực tiếp có ghi: “ Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ việc mua, bán hàng hóa, dịch vụ có hóa đơn, chứng từ, ghi chép sổ sách kế toán thì GTGT được xác định căn cứ vào giá mua, giá bán ghi trên chứng từ “