TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC KHOA THỂ DỤC THỂ THAO TRẦN THANH TÙNG BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BÀI TẬP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG PHỐI HỢP VẬN ĐỘNG
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC KHOA THỂ DỤC THỂ THAO
TRẦN THANH TÙNG
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BÀI TẬP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG PHỐI HỢP VẬN ĐỘNG TRONG MÔN BÓNG NÉM CHO NAM SINH VIÊN K55 KHOA THỂ DỤC THỂ THAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Thuộc nhóm ngành khoa học: Giáo dục Thể chất
Sơn La, tháng 5 năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC KHOA THỂ DỤC THỂ THAO
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BÀI TẬP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG PHỐI HỢP VẬN ĐỘNG TRONG MÔN BÓNG NÉM CHO NAM SINH VIÊN K55 KHOA THỂ DỤC THỂ THAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Thuộc nhóm ngành khoa học: Giáo dục Thể chất
Sinh viên thực hiện: Trần Thanh Tùng Nam, nữ: Nam Dân tộc: Kinh Lớp: K54 ĐH GDTC - B Khoa: Thể dục Thể thao
Năm thứ: 4/ Số năm đào tạo: 4
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
5 Giả thiết Khoa học 4
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Kế hoạch và tổ chức nghiên cứu 7
PHẦN NỘI DUNG 8
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8
1.1 Các quan điểm về khả năng phối hợp vận động trong môn Bóng ném 8
1.1.1 Các quan điểm về khả năng phối hợp vận động 8
1.1.2 Đặc điểm khả năng phối hợp vận động 9
1.1.3 Đặc điểm của khả năng phối hợp vận động trong môn Bóng ném 10
1.2 Đặc điểm tâm – sinh lý lứa tuổi từ 18 – 25 11
1.2.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi từ 18 – 25 11
1.2.2 Đặc điểm sinh li lứa tuổi từ 18 đến 25 14
1.3 Xu hướng nâng cao khả năng phối hợp vận động cho sinh viên trong Bóng ném 15
1.4 Cơ sở lý luận về huấn luyện khả năng phối hợp vận động trong môn Bóng ném 16
1.5 Sơ lược về Khoa Thể dục Thể thao và công tác dạy, học, tập luyện và thi đấu Bóng ném ở Trường Đại học Tây Bắc 16
CHƯƠNG II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG PHỐI HỢP VẬN ĐỘNG TRONG BÓNG NÉM CỦA NAM SINH VIÊN K55 KHOA THỂ DỤC THỂ THAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC 18
2.1 Thực trạng về cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy và học tập môn học Giáo dục Thể chất 18
Trang 4ở Trường Đại học Tây Bắc 19
2.3 Thực trạng về chương trình giảng dạy môn Bóng ném cho sinh viên Khoa Thể dục Thể Thao 21
2.4 Thực trạng khả năng phối hợp vận động của sinh viên khi học tập môn Bóng ném 21
2.4.1 Lựa chọn các test đánh giá khả năng phối hợp vận động trong môn Bóng ném cho nam sinh viên K55 Khoa Thể dục Thể thao Trường Đại học Tây Bắc 21 2.4.2 Thực trạng khả năng vận động trong Bóng ném của nam sinh viên K55 Khoa Thể dục Thể thao Trường Đại học Tây Bắc 23
2.4.3 Nguyên nhân ảnh hưởng đến khả năng phối hợp vận động trong Bóng ném của sinh viên Khoa Thể dục Thể thao Trường Đại học Tây Bắc 23
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG HỆ THÔNG BÀI TẬP NÂNG CAO KHẢ NĂNG PHỐI HỢP VẬN ĐỘNG TRONG MÔN BÓNG NÉM CHO NAM SINH VIÊN K55 KHOA THỂ DỤC THỂ THAO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC 27
3.1 Căn cứ để xây dựng hệ thống bài tập nâng cao khả năng phối hợp vận động trong môn Bóng ném cho nam sinh viên K55 Khoa Thể dục Thể thao 27
3.3 Tổ chức thực nghiệm 34
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41
1 Kết luận 41
2 Kiến nghị 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
Trang 5Tên
bảng
Bảng 2.1
Kết quả khảo sát thực trạng sân bãi dụng cụ phục vụ giảng
dạy và học tập môn học Giáo dục Thể chất của Trường Đại
học Tây Bắc
18
Bảng 2.2 Kết quả khảo sát thực trạng về đội ngũ cán bộ giảng viên
Bảng 2.3
Kết quả lựa chọn các test đánh giá khả năng phối hợp vận
động trong Bóng Ném cho nam sinh viên Khoa Thể dục
Thể thao Trường Đại học Tây Bắc
22
Bảng 2.4 Thực trạng sức bền chuyên môn của nam sinh viên chuyên
Bảng 2.5
Kết quả phỏng vấn giáo viên về nguyên nhân ảnh hưởng
đến khả năng phối hợp vận động trong của nam sinh viên
K55 khoa Thể dục Thể thao Trường Đại học Tây Bắc
24
Bảng 3.1 Kết quả phỏng vấn xác định nguyên tắc lựa chọn bài tập 28
Bảng 3.2
Lựa chọn hệ thống bài tập phát triển khả năng phối hợp vận
động trong môn bóng Ném cho nam sinh viên K55 Khoa
Thể dục Thể thao trường Đại học Tây Bắc
29
Bảng 3.3 Kết quả kiểm tra của nhóm đối chứng và nhóm thực
Bảng 3.4 Kết quả kiểm tra của hai nhóm đối chứng và nhóm thực
Bảng 3.5 Nhịp tăng trưởng khả năng phối hợp vận động trong môn
Bóng Ném của nhóm thực nghiệm trước thực nghiệm 37
Bảng 3.6 Nhịp tăng trưởng khả năng phối hợp vận động trong môn
Trang 63.1 nghiệm trước thực nghiệm
Biểu đồ
3.2
So sánh kết quả kiểm tra của hai nhóm đối chứng và nhóm
Trang 7Trước thực nghiệm Thể dục Thể thao
Trang 8Sinh ngày: 10 tháng 10 năm 1995
Nơi sinh: Thuận Châu – Sơn La
Lớp: K54 Đại học Giáo dục Thể chất B - Khoá 2013 - 2017
Khoa: Thể dục Thể thao
Địa chỉ liên hệ:
Điện thoại: 0978919643 - Email: tungtay1010@gmail.com
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến
Điểm trung bình tích lũy hệ 4: 2.42
Điểm trung bình rèn luyện học kì: 73
* Năm thứ 2:
Ngành học: Giáo dục Thể chất – Khoa Thể dục Thể thao
Kết quả xếp loại:
Sơ lƣợc thành tích:
Điểm trung bình tích lũy hệ 4: 2.52
Điểm trung bình rèn luyện học kì: 72
Ảnh 4x6
Trang 9Điểm trung bình tích lũy hệ 4: 2.91
Điểm trung bình rèn luyện học kì: 80
Ngành học: Giáo dục Thể chất – Khoa Thể dục Thể thao
Kết quả xếp loại:
Sơ lược thành tích:
Xác nhận của trường Đại học
(Ký tên và đóng dấu)
Sơn La, ngày tháng 5 năm 2017
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
(Ký, họ và tên)
Trần Thanh Tùng
Trang 10TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Khoa: Thể dục Thể thao
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: “Nghiên cứu một số bài tập nhằm nâng cao khả năng phối hợp
vận động trong môn Bóng ném cho nam sinh viên K55 Khoa Thể dục Thể thao Trường Đại học Tây Bắc.”
- Sinh viên thực hiện:
1 Trần Thanh Tùng
- Lớp: K54 Đại học Giáo dục Thể chất B - Khoa Thể dục Thể thao
- Năm thứ: 4 Số năm đào tạo: 4
- Người hướng dẫn: TS Nguyễn Bá Điệp
2 Mục tiêu của đề tài:
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, đề tài nghiên cứu một số bài tập nhằm nâng cao khả năng phối hợp vận động trong môn Bóng ném cho nam sinh viên K55 Khoa TDTT Trường Đại học Tây Bắc Qua đó góp phần nâng cao khả năng phối hợp vận động trong môn Bóng ném cho nam sinh viên K55 Khoa TDTT Trường Đại học Tây Bắc nói riêng và cho khu vực Tây Bắc nói chung
3 Tính mới và sáng tạo
Các bài tập mà chúng tôi đã lựa chọn đem lại hiệu quả cho việc nâng cao khả năng phối hợp vận động trong môn Bóng ném cho nam sinh viên K55 Khoa Thể dục Thể Thao Trường Đại học Tây Bắc
4 Kết quả nghiên cứu:
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã lựa chọn được 9 bài tập nâng cao khả năng phối hợp vận động trong môn Bóng ném cho sinh viên, hiệu quả đạt được thông qua quá trình thực nghiệm Qua đó bước đầu đã có tác dụng phát triển khả năng phối hợp vận động trên đối tượng thực nghiệm sau thời gian 10 tuần đối với nhóm thực nghiệm
Các bài tập:
Trang 111 Xuất phát theo tín hiệu
6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đê tài (ghi rõ
trên tạp chí nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng kết các kết quả nghiên cứu (nếu có)
Sơn La, ngày tháng 5 năm 2017
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
(Ký và ghi rõ họ, tên)
Trần Thanh Tùng
Trang 12Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên
thực hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
Xác nhận của Khoa
Sơn La, ngày tháng năm 2017
Người hướng dẫn
(Ký và ghi rõ họ, tên)
Nguyễn Bá Điệp
Trang 13Lời cảm ơn
Để hoàn thành đề tài này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- Phòng quản lý khoa học và quan hệ quốc tế, trung tâm Thư viện, Khoa Thể dục Thể thao Trường Đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện giúp đỡ em về mọi mặt trong thời gian thực hiện đề tài này
- Em xin cảm ơn quý Thầy, Cô trong Khoa Thể dục Thể thao, đặc biệt là thầy
Nguyễn Bá Điệp người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành đề tài này
- Nhân đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành của mình tới các bạn sinh viên K55 Khoa Thể dục Thể thao Trường Đại học Tây Bắc đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
- Đây là đề tài đầu tiên tôi được thực hiện nên cũng gặp nhiều bỡ ngỡ, khó khăn
và thiếu sót Rất mong được sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo và các bạn đề xuất ý kiến đóng góp để đề tài được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, ngày tháng 5 năm 2017
Sinh viên thực hiện đề tài
Trần Thanh Tùng
Trang 14PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Giáo dục Thể chất cũng như các loại hình giáo dục khác, là quá trình sư phạm với đầy đủ các đặc điểm của nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp với học sinh với nguyên tắc sư phạm Giáo dục Thể chất chia thành hai mặt tương đối độc lập: Dạy học động tác (Giáo dưỡng thể chất) và giáo dục tố chất thể lực Trong hệ thống giáo dục nội dung đặc trưng của GDTC được gắn liền với giáo dục, trí dục, đức dục, mỹ dục, và giáo dục lao động
Trong chiến lược phát triển kinh tế và xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vị trí của công tác Thể dục Thể thao (TDTT) đối với thế
hệ trẻ xem đó là động lực quan trọng và khẳng định cần có chính sách Giáo dục – Đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam phát triển hài hòa về các mặt thể chất, tinh thần, trí tuệ và đạo đức Đó là những con người “ phát triển về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức” Muốn vậy nhà trường không chỉ thực hiện nhiệm vụ giáo dục về trí tuệ khoa học, tri thức nghề nghiệp,
mà còn phải giúp sinh viên trở thành một người có sức khỏe lành mạnh Mục tiêu chiến lược này được thể hiện ở những yêu cầu mới bức bách về sức khỏe về thể lực của lớp người lao động mới trong công cuộc đổi mới nền kinh tế xã hội, đặc biệt là nền kinh tế tri thức nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước ta hiện nay
Bóng ném là môn thể thao có nguồn gốc ở Châu Âu Nguồn gốc phát sinh của môn thể thao này còn có nhiều ý kiến khác nhau Nhưng người ta đều công nhận nó được phát sinh đầu tiên ở vùng Skandinavien (Thụy điển – Na Uy – Đan Mạnh) Có tài liệu cho rằng vào năm 1890, một Giáo sư người Đức tên là Konzad Koch sáng tạo ra một trò chơi mới tên là Raffballspiele (môn bóng nhà nghèo) đó là tiền thân của môn Bóng ném chính thống ngày nay Liên đoàn Bóng ném Quốc tế chính thức được thành lập vào năm 1928 lúc đó có tên là IAHF (International Amater Handball Federation) Liên đoàn Bóng ném Quốc tế
Trang 15được thành lập ngày 11 tháng 7 năm 1946 (tên tiếng Pháp là Internationale Handball Federation viết tắt là IHF) Hiện nay Liên đoàn Bóng ném Quốc tế có trên 140 nước thành viên Ở Việt Nam Bóng ném xuất hiện rất muộn, có lẽ vào sau ngày lập hòa bình ở miền Bắc (1954), khi công cuộc xây dựng Xã hội Chủ Nghĩa mới được bắt đầu Vào năm 1978, một giáo viên trường phổ thông trung học Lê Thị Hồng Gấm ở miền Nam đã thu thập tài liệu về môn Bóng ném và đã đưa môn thể thao này trở thành môn thể thao ngoại khóa cho các nữ sinh của trường Sau đó môn Bóng ném đã nhanh chóng thu hút được sự chú ý của những người hâm mộ và lan tỏa sang các trường khác Phong trào tập luyện Bóng ném
đã phát triển nhanh ở Thành Phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, trong thời gian đầu, phong trào thi đấu có phát triển mạnh nhưng trình độ thi đấu còn hạn chế, chiến thuật còn đơn giản và luật thi đấu áp dụng còn chưa tốt Năm 1982 nhà trường
đã phối hợp với sở TDTT Thành phố Hồ Chí Minh đã ra quyết định thành lập bộ môn Bóng ném và cử ông Trần Văn Nghĩa phụ trách bộ môn Cuối năm 1982 Giải Bóng ném toàn thành phố lần thứ nhất đã được tổ chức Đến năm 1985 chính thức tổ chức giải Bóng ném cho các em học sinh tiểu học, trung học cơ sở, phổ thông trung học tại thành phố Năm 1992 môn Bóng ném được đưa vào thi đấu biểu diễn tại Hội khỏe Phù Đổng Đầu năm 1993, Trường Đại học TDTT đã đưa chương trình giảng dạy cho sinh viên đại học lớp không chuyên khóa 25 và cuối năm 1993 cũng tuyển sinh môn học Bóng ném cho lớp chuyên sâu đại học
29 với 10 sinh viên Cũng trong năm 1993 Tổng cục TDTT cũ đã kiện toàn lại tổ chức và ra quyết định thành lập bộ môn Bóng ném của Tổng cục - trực thuộc vào bộ môn bóng rổ do ông Nguyễn Trọng Hỷ làm trưởng bộ môn Cũng trong năm 1993 Tổng cục TDTT cũ đã chính thức ra quyết định đưa môn Bóng ném vào trong chương trình của hội khỏe Phù Đổng sẽ được tổ chức vào năm 1995
và trong năm 1994 sẽ tổ chức giải trẻ và giải vô địch quốc gia về Bóng ném
Trường Đại học Tây Bắc (ĐHTB) là một trường lớn của khu vực Tây Bắc, là nơi đào tạo nguồn nhân lực chính và chất lượng cao cho vùng Tây Bắc nói riêng và một số tỉnh miền Bắc nói chung Sinh viên trong nhà trường phần
Trang 16lớn là con em dân tốc đến từ các tỉnh trong khu vực Đại học Tây Bắc là một trường có bề dày về công tác đào tạo và phong trào TDTT của khu vực và trong Tỉnh Sơn La, Khoa TDTT Trường Đại học Tây Bắc được thành lập vào tháng 08 năm 2010 với nhiệm vụ đào tạo giáo viên giảng dạy môn thể dục cho các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông cho các tỉnh phía Bắc và là nơi học tập nghiên cứu Khoa học cho sinh viên chuyên ngành Giáo dục Thể chất (GDTC) Trường Đại học Tây Bắc Trong chương trình đào tạo có môn Bóng ném cũng là môn học chính thức bắt buộc đối với sinh viên chuyên ngành GDTC với thời lượng đào tạo là 45 tiết học chính khóa và số lượng giảng viên giảng dạy là 1 giảng viên Qua học tập và quan sát tôi nhận thấy đa phần sinh viên học môn Bóng ném khi mới bắt đầu môn học khả năng phối hợp vận động của sinh viên còn thấp Qua đó cho thấy chương trình đào tạo và số lượng tiết học còn chưa đáp ứng đủ khả năng phát triển khả năng phối hợp vận động của sinh viên trong môn Bóng ném chuyên ngành GDTC Tuy nhiên trong những năm gần đây thực trạng phát triển khả năng phối hợp vận động trong môn Bóng ném của sinh viên chuyên ngành GDTC còn chưa được tốt, chất lượng còn thấp Nguyên nhân của
sự thấp kém là: Do điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn, nhận thức của sinh viên về môn học còn chưa tốt, hệ thống các bài tập áp dụng trong quá trình giảng dạy còn chưa phù hợp với đối tượng…
Để phát triển nâng cao khả năng phối hợp vận động trong môn Bóng ném cho sinh viên nam K55 Khoa TDTT Trường Đại học Tây Bắc thì nhất thiết phải xây dựng hệ thống bài tập phù hợp cho đối tượng này Xuất phát từ những lí do
trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu một số bài tập nhằm
nâng cao khả năng phối hợp vận động trong môn Bóng ném cho nam sinh viên K55 Khoa Thể dục Thể thao Trường Đại học Tây Bắc”
2 Mục đích nghiên cứu
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, đề tài nghiên cứu một số bài tập nhằm nâng cao khả năng phối hợp vận động trong môn Bóng ném cho nam sinh viên K55 Khoa TDTT Trường Đại học Tây Bắc Qua đó góp phần nâng cao khả năng phối
Trang 17hợp vận động trong môn Bóng ném cho nam sinh viên K55 Khoa TDTT Trường Đại học Tây Bắc nói riêng và cho khu vực Tây Bắc nói chung
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Một số bài tập nhằm nâng cao khả năng phối hợp vận động cho nam sinh viên K55 Khoa TDTT Trường Đại học Tây Bắc
4.2 Khách thể nghiên cứu
Nam sinh viên K55 Khoa TDTT Trường Đại học Tây Bắc
5 Giả thiết Khoa học
Việc nghiên cứu một số bài tập nhằm phát triển khả năng phối hợp vận động trong môn Bóng ném cho nam sinh viên K55 Khoa TDTT Trường Đại học Tây Bắc, những giáo viên tương lai là việc làm rất cần thiết Nếu các bài tập được lựa chọn và việc sử dụng các bài tập đảm bảo tính khoa học, phù hợp với sinh viên thì sẽ góp phần phát triển khả năng phối hợp vận động trong môn Bóng ném cho nam sinh viên K55 Khoa TDTT Trường Đại học Tây Bắc
6 Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện về thời gian có hạn, cộng thêm với kinh nghiệm nghiên cứu Khoa học của bản thân chưa nhiều nên đề tài chỉ nghiên cứu một số vấn đề: Nghiên cứu một số bài tập nhằm nâng cao khả năng phối hợp vận động trong môn Bóng ném cho nam sinh viên K55 Khoa TDTT Trường Đại học Tây Bắc Nghiên cứu được tiến hành trên 32 nam sinh viên K55 Khoa TDTT Trường Đại
Trang 18học Tây Bắc
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã đọc và tham khảo các tài liệu liên quan đến khả năng phối hợp vận động trong môn Bóng ném cho nam sinh viên K55 Khoa TDTT lứa tuổi từ 18 - 25 Trên cơ sở đó phân tích, đánh giá, tổng hợp
và tiếp thu một cách có chọn lọc các thông tin thu thập được để phục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài Phương pháp này nhằm mục đích hóa các kiến thức xây dựng cơ sở lý luận cho việc điều tra thực trạng phát triển thể chất của đối tượng nghiên cứu, đưa ra các giả thiết Khoa học, xác định mục đích nghiên cứu, thu thập số liệu so sánh với các số liệu thu được trong quá trình nghiên cứu các tài liệu tham khảo được trình bày trong danh mục tài liệu tham khảo
7.2 Phương pháp phỏng vấn
Trong quá trình nghiên cứu đề tài đã sử dụng phiếu để phỏng vấn các thầy
cô đang trực tiếp giảng dạy, những người có chuyên môn và tất cả nam sinh viên K55 Khoa TDTT Trường Đại học Tây Bắc nhằm thu thập những thông tin cần thiết liên quan đến đề tài như: Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phối hợp vận động, hoàn cảnh sống, chế độ dinh dưỡng, các yếu tố giáo dục, đặc biệt là khả năng phối hợp vận động của nam sinh viên K55 Khoa TDTT Trường Đại học Tây Bắc Thông qua phỏng vấn các nhà chuyên môn, những cá nhân khác nhau trong lĩnh vực GDTC nhằm rút ra kết luận này, có giá trị về phương diện Khoa học, giúp cho quá trình nghiên cứu đạt kết quả cao
7.3 Phương pháp quan sát sư phạm
Bằng phương pháp này đề tài đã theo dõi đối tượng nghiên cứu trong khoảng thời gian một năm một cách liên tục, khoa học và chặt chẽ Đề tài còn sử dụng phương pháp này để quan sát toàn bộ giờ giảng của giảng viên chuyên ngành GDTC Trường Đại học Tây Bắc Bên cạnh đó, quan sát sư phạm được dùng để nhận thức đối tượng nghiên cứu trong quá trình giáo dục, giáo dưỡng nhằm thu thập những số liệu, tài liệu cụ thể đặc trưng mà không làm ảnh hưởng
Trang 19tới quá trình diễn biến của hiện tượng đó
7.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Phương pháp này được đề tài sử dụng nhằm mục đích đánh giá khách quan về trình độ thể lực và kỹ năng chiến thuật ở một số nội dung trong môn Bóng ném ( theo chương trình đào tạo) trong quá trình giảng dạy chương trình GDTC cũng như hệ thống các bài tập thực nghiệm cho nam sinh viên K55 Khoa TDTT Trường Đại học Tây Bắc
7.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Đề tài đã tiến hành nghiên cứu trên 32 sinh viên K55 Khoa TDTT Trường Đại học Tây Bắc
Các sinh viên này được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm có trình độ ban đầu tương đương nhau
Nhóm 1: Gồm 16 sinh viên K55 Khoa TDTT ( gọi là nhóm thực nghiệm) tập theo các bài tập mà đề tài đã chọn
Nhóm 2: Gồm 16 sinh viên K55 Khoa TDTT ( gọi là nhóm đối chứng) tập theo các bài tập mà nhà trường sử dụng
Ban đầu đề tài xác định các chỉ số đánh giá về khả năng phối hợp vận động của từng sinh viên trong các nhóm và ghi vào biên bản Cuối giai đoạn thực nghiệm đề tài lại tiến hành kiểm tra lại các chỉ số để so sánh với kết quả ban đầu với mục đích nhằm đưa ra các bài tập mới vào thực tế giảng dạy, tập luyện Qua đó kiểm tra mối tương quan và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các bài tập này với hiệu quả sử dụng các bài tập của nhà trường
7.6 Phương pháp toán học thống kê
Các kết quả nghiên cứu thu thập được qua phỏng vấn và quan sát kiểm tra
sư phạm đã được tính bằng phương pháp toán thống kê sau:
n
xi X
n i
1Trong đó: x : Là số trung bình cộng
: Là dấu hiệu tổng
xi : Là giá trị của từng cá thể
Trang 20n : Là số lượng đối tượng quan trắc
Phương sai (2) được tính theo công thức:
1
) (
1
2 2
n i x
8 Kế hoạch và tổ chức nghiên cứu
8.1 Thời gian nghiên cứu
Toàn bộ đề tài được tiến hành từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 5 năm
2017 Gồm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 7 năm 2016
Xác định vấn đề nghiên cứu
Chọn tên đề tài và đăng kí thực hiện
Xây dựng kế hoạch nghiên cứu
Hoàn thiện đề cương nghiên cứu của đề tài và báo cáo đề cương trước hội đồng Khoa học
Giai đoạn 2: Từ tháng 7 năm 2016 đến tháng 2 năm 2017
Tiếp tục tìm đọc các tài liệu liên quan đến đề tài
Đánh giá thực trạng các vấn đề nghiên cứu
Xây dựng các loại phiếu phỏng vấn
Phỏng vấn quý Thầy cô giáo Khoa TDTT, các Huấn luyện viên, các chuyên gia của Trung tâm huấn luyện thể thao tỉnh Sơn La để chọn lựa một số bài tập nâng cao khả năng phối hợp vận động và đưa vào thực nghiệm
Tiến hành tổ chức thực nghiệm
Thu thập số liệu nghiên cứu
Giai đoạn 3: Từ tháng 3 năm 2017 đến tháng 5 năm 2017
Viết và hoàn thiện đề tài, rút ra kết luận
Báo cáo kết quả nghiên cứu trước hội đồng nghiệm thu
8.2 Địa điểm nghiên cứu
Trường Đại học Tây Bắc
Trang 21PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Các quan điểm về khả năng phối hợp vận động trong môn Bóng ném
1.1.1 Các quan điểm về khả năng phối hợp vận động
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về khả năng phối hợp vận động trong huấn luyện thể thao Việc huấn luyện khả năng phối hợp vận động được sự quan tâm đặc biệt của các nhà Khoa học, các chuyên gia cũng như các huấn luyện viên thể thao
Theo quan điểm của các nhà lý luận cho rằng: Khả năng phối hợp vận động là năng lực thực hiện các kỹ thuật động tác hay là khả năng sử dụng các kỹ thuật, kỹ xảo đã biết
Khả năng phối hợp vận động là một tố chất tổng hợp có thể định nghĩa theo các cách khác nhau, trước khả năng phối hợp vận động được coi là tố chất khéo léo “tố chất khéo léo cũng như các tố chất thể lực khác được nhiều nhà khoa học thể thao nghiên cứu và tìm hiểu, người ta thấy rằng vấn đề đó khó phức tạp, mặc dù cần phải tiếp tục nghiên cứu, nhưng các nhà khoa học thấy rằng gộp “tố chất khéo léo là chưa đủ và chưa rõ ràng”
Theo nhiều nhà khoa học thì khả năng phối hợp vận động là khả năng tổng hợp các cấu trúc đa dạng, bên cạnh hệ thống phản ứng về mặt năng lực bao gồm sức nhanh, sức mạnh, sức bền Còn một số hệ thống phối hợp vận động, hệ thống này được xác định thông qua quá trình điều khiển có tồn tại một hệ thống các khả năng phối hợp vận động đa dạng và phức tạp
Công trình nghiên cứu của Sehuabel đã dựa trên cơ sở lý luận về khả năng phối hợp vận động để giải thích về bản chất và khả năng phối hợp vận động Ông định nghĩa: “ Khả năng phối hợp vận động là khả năng vận động của các vận động viên”
Khả năng phối hợp vận động về bản chất là khả năng hình thành các đường liên hệ tạm thời đảm bảo cho việc thực hiện những động tác vận động phức tạp
Trang 22Khả năng phối hợp vận động là một phức hợp các tiền đề của VĐV để thực hiện thành công một hoạt động thể thao nhất định Là khả năng điều khiển các động tác (xử lí thông tin) và được hình thành trong quá trình luyện tập
Khả năng phối hợp vận động liên quan chặt chẽ đến các tố chất khác như sức mạnh, nhanh, bền
Khả năng phối hợp vận động còn được thể hiện ở mức độ tiếp thu kỹ thuật động tác nhanh chóng, có chất lượng cũng như việc củng cố vận dụng các
kỹ thuật
1.1.2 Đặc điểm khả năng phối hợp vận động
Khả năng phối hợp vận động là khả năng thực hiện những động tác phối hợp và khả năng hình thành những động tác mới nhanh, phù hợp yêu cầu vận động
Được thể hiện dưới 3 hình thức:
Khả năng giải quyết nhanh chóng và đúng những tình huống bất ngờ xảy
ra trong hoạt động
Trong sự chuẩn xác của động tác về không gian
Trong sự chuẩn xác của động tác về thời gian bị hạn chế
Khả năng phối hợp vận động luôn xuất hiện trong mối liên kết chặt chẽ ít hoặc nhiều Như là tiền đề và kết quả của hoạt động thể thao Những khả năng riêng biệt khác nhau liên kết thành phức hợp, khả năng nhất định hay nói cách khác tùy theo đặc điểm của từng môn thể thao mà vai trò của từng khả năng có liên hệ chặt chẽ với nhau
Căn cứ vào các loại hoạt động thể thao và yêu cầu riêng của chúng về phối hợp vận động, người ta chia thành 7 loại năng lực phối hợp vận động:
Khả năng liên kết vận động là khả năng nhằm liên kết các hoạt động của từng bộ phận cơ thể, các phần của động tác trong mối quan hệ với hoạt động chung của cơ thể theo mục đích hành động nhất định Nó thể hiện sự kết hợp các yếu tố về không gian, thời gian và dùng sức trong quá trình vận động
Khả năng liên kết vận động có ý nghĩa đối với tất cả các môn thể thao,
Trang 23đặc biệt là môn thể thao mang tính chất kỹ thuật như Bóng ném
Khả năng định hướng là khả năng xác định thay đổi tư thế và hoạt động của cơ thể trong không gian và thời gian, liên quan tới môi trường hoạt động (sân bãi, dụng cụ ,…)
Sự tri giác về vị trí và động tác trong không gian và hành động nhằm thay đổi vị trí của cơ thể được biểu hiện là một thể thống nhất là khả năng điều khiển vận động hướng vào không gian và thời gian Bên cạnh sự lường trước từng mục tiêu hành động thì sự phán đoán trước chương trình hành động là cơ sở cơ bản của khả năng phối hợp vận đông
Năng lực thăng bằng là khả năng ổn định trạng thái thăng bằng của cơ thể hoặc duy trì và khôi phục nó trong và sau khi thực hiện động tác
Khả năng nhịp điệu là khả năng nhận biết được sự luân chuyển các đặc tính chuyển động trong quá trình một động tác hoặc thể hiện nó khi thực hiện động tác khả năng này chủ yếu thể hiện ở sự tiếp thu một nhịp điệu từ bên ngoài bằng các tín hiệu và khả năng thực hiện đúng động tác
Khả năng phản ứng trả lời là khả năng mở đầu và thực hiện nhanh chóng các hành vi vận động xảy ra ở thời gian ngắn và hợp lí theo một tín hiệu Ở đây
dự phản ứng xảy ra ở thời điểm hợp lí nhất với một tốc độ tương xứng với nhiệm vụ, trong đó phản ứng nhanh, tối đa thường là tối ưu, khả năng phản ứng
có thể diễn ra theo các tín hiệu đơn giản
Khả năng phân biệt vận động là khả năng thực hiện động tác một cách chính xác cao và kinh tế từng hoạt động riêng lẻ, từng giai đoạn của quá trình
đó
Khả năng thích ứng hoạt động là khả năng chuyển chương trình hành động cho phù hợp với hoàn cảnh mới và khả năng tiếp thu hành động theo một cách khác dựa trên các cơ sở tri giác những thay đổi của hoàn cảnh dự đoán thay đổi
1.1.3 Đặc điểm của khả năng phối hợp vận động trong môn Bóng ném
Bóng ném là một trong những môn mang tính đối kháng trực tiếp, mang
Trang 24tính đồng đội cao, trong một trấn thi đấu đòi hỏi VĐV phải có kỹ thuật, chiến thuật, khả năng phối hợp vận động của VĐV ở mức độ cao
Do đó nâng cao khả năng phối hợp vận động chuyên môn tương ứng với người tập cũng là một việc quan trọng để góp phần nâng cao thành tích
Khả năng phối hợp vận động trong môn Bóng ném là sự kết hợp các kỹ thuật cá nhân và chiến thuật đồng đội
Năng lực phối hợp vận động được coi là năng lực tổng hợp trong huấn luyện đối với tất cả các nguồn thể thao, đặc biệt là trong môn Bóng ném
Muốn tiếp thu một cách nhanh chóng với chất lượng cao các kỹ năng kỹ xảo cơ bản ở môn thể thao chuyên sâu, đòi hỏi tất cả các khả năng phối hợp vận động phải phát triển ở trình độ cao
Có trình độ cao về khả năng phối hợp vận động (bên cạnh một số vốn kỹ xảo vận động phong phú) sẽ học được nhanh và hoàn thiện các bài tập phức tạp trong các giai đoạn tiếp theo, điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với các môn thể thao đòi hỏi các kỹ xảo phức tạp như trong môn Bóng ném
Bóng ném là môn thể thao mang tính tập thể cao, đòi hỏi tinh thần đoàn kết, lòng dũng cảm, phẩm chất ý chí, tính quyết đoán, tận tụy, nhanh nhẹn, khéo léo, sự thông minh sáng tạo
Đối với VĐV Bóng ném đặc điểm nổi bật là khả năng tri giác phát triển tốt, quan sát rộng, sức tập trung chú ý lớn, ít bị phân tán bởi nhiễu loạn bên ngoài, đồng thời biết cách thả lỏng, loại bỏ căng thẳng, lo lắng không cần thiết
để đánh giá và phân tích đúng các tình huống thi đấu xảy ra, hành động trả lời nhanh phù hợp với hoàn cảnh
Bóng ném là môn thể thao có tính kỹ thuật, chiến thuật cao đòi hỏi VĐV phải có khả năng phối hợp vận động tốt để thực hiện các kỹ thuật hướng tới nhiệm vụ nào đó
1.2 Đặc điểm tâm – sinh lý lứa tuổi từ 18 – 25
1.2.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi từ 18 – 25
Trong tâm lý học, người ta định nghĩa tuổi thanh niên là giai đoạn phát
Trang 25triển từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn
Tâm lý học Mác – xít cho rằng, cần phải nghiên cứu tuổi thanh niên một cách phù hợp, phải kết hợp quan điểm tâm lý học xã hội với việc tính đến những quy luật bên trong của sự phát triển Đó là một vấn đề phức tạp của sự phát triển tâm – sinh lý cũng phù hợp với các bạn trưởng thành về mặt xã hội,
B.D.Annaanhiev viết: “Sự bắt đầu trưởng thành của con người như là một cá
thể (sự trưởng thành về chất) một nhân cách, một chủ thể nhận thức (sự trưởng thành trí tuệ) và một chủ thể lao động (năng lực lao động) là không phù hợp nhau về thời gian”
Tuổi đầu thanh niên là thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt thể lực, nhưng sự phát triển cơ thể còn kém so với sự phát triển cơ thể của người lớn
Nhịp độ tăng trưởng về chiều cao và trọng lượng đã bị chậm lại Các em gái đạt được sự tăng trưởng của mình trung bình vào khoảng 16 và 17 tuổi ( hơn kém 13 tháng) các em trai khoảng 17 và 18 tuổi ( hơn kém 10 tháng) Trọng lượng của các em trai đã đuổi kịp các em gái và tiếp tục vượt lên sức mạnh cơ bắp tăng rất nhanh
Những đặc điểm phát triển tâm lý của thanh niên sinh viên bị chi phối bởi những đặc điểm phát triển về chất, môi trường sống và những quá trình tâm lý, vai trò xã hội của họ Những đặc điểm phát triển tâm lý của các thanh niên sinh viên rất đa dạng và không đồng đều với những nét cơ bản sau:
Về thể chất
Ở lứa tuổi từ 18 đến 25 hình thể đã dần đạt được sự hoàn chỉnh về cấu
trúc, sự phát triển và sự phối hợp của các chức năng
Quan trọng hơn chính là ở lứa tuổi này hoạt động thần kinh cấp cao đã đạt
đến mức trưởng thành,
Các hoạt động vận động về thể chất được tiếp thu một cách nhanh chóng
và có hiệu quả cao trong tập luyện
Về nhận thức
Sinh viên nhận thức tri thức khoa học một cách khái quát, hệ thống trở
Trang 26thành những chuyên gia, nhà khoa học trong tương lai
Hoạt động của sinh viên diễn ra một cách có kế hoạch, có mục đích, nội dung và chương trình nhất định
Những phương tiện phục vụ cho hoạt động nhận thức của sinh viên hết sức đa dạng, phong phú và hiện đại với những trang thiết bị như: thư viện, phòng nghiên cứu, phòng học,…
Sinh viên phải tìm được phương pháp học tập mới phù hợp với chuyên nghành của mình Như vậy, hoạt động nhận thức của sinh viên là hoạt động nhận thức chí tuệ đích thực, đòi hỏi sự căng thẳng, có cường độ cao và có tính lựa chọn rõ rệt
Về tình cảm
Nó đặc trưng bằng “thời kì bão táp và căng thẳng” Đây là thời kì đầy cảm xúc đối với mỗi cá nhân Có nhiều tình huống mới nảy sinh trong cuộc sống sinh viên, đòi hỏi phải phán đoán và quyết định trong khi họ còn thiếu kinh nghiệm
về hiểu biết xã hội
Sinh viên thường bị lúng túng trong khi giải quyết các tình huống mới, nhất là khi bị phê bình, nhận xét nặng lời, thiếu tôn trọng khi lâm vào hoàn cảnh
đó sinh viên dễ bị phản ứng: Thiếu tự tin, từ chối công việc hoặc làm một cách
miễn cưỡng…
Về ý thức
Đặc điểm tâm lý quan trọng của thời kỳ chuyển tiếp ở lứa tuổi thanh niên
sinh viên là sự phát triển tự ý thức
Tự ý thức của sinh viên được hình thành trong quá trình xã hội hóa và liên
quan chặt chẽ với tính tích cực nhận thức của sinh viên
Sự phát triển nhân cách của sinh viên sẽ không đạt hiệu quả khi cá nhân
sinh viên không có quá trình tự ý thức của sinh viên
Sinh viên thuộc lớp sinh viên có độ tuổi từ 18 đến 25 là giai đoạn chuyển
từ sự chín muồi về thể lực sang sự trưởng thành về tâm lý xã hội
Lứa tuổi này được đánh giá là thời kỳ phát triển tích cực nhất về tình cảm,
Trang 27đạo đức và thẩm mĩ là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách, đặc biệt sinh
viên đã có vai trò là người lớn thực sự
Họ có kế hoạch riêng cho hoạt động của mình, chịu trách nhiệm về hành
vi và độc lập phán đoán
Đây là thời kỳ có nhiều biến động mạnh mẽ về động cơ, tăng giá trị xã hội sinh viên biết xác định con đường sống trong tương lai, tích cực nắm vững nghề nghiệp và bắt đầu dấn thân thể hiện mình trong mọi lĩnh vực của cuộc
sống
1.2.2 Đặc điểm sinh lí lứa tuổi từ 18 đến 25
Đa số sinh viên chuyên ngành GDTC Trường Đại học Tây Bắc ở vào độ tuổi từ 18 đến 25, việc đào tạo nói chung và huấn luyện khả năng vận động nói riêng cần phải xuất phát từ những đặc điểm sinh lý cơ thể đang phát triển
Hệ thần kinh: Sự phát triển hình thể tương đối hoàn thiện, kích thích não
hành thủy đã đạt đến mức người trưởng thành, hoạt động phân tích kỹ thuật ở mức độ cao, có khả năng suy nghĩ và độc lập, tư duy sáng tạo
Hệ hô hấp: Các chỉ số hô hấp đã ổn định, khả năng hấp thụ thấp hơn
người lớn một chút, tần số hô hấp đạt 12 - 18 lần/ phút trong yên tĩnh, độ sâu hô hấp 400 - 500 ml lần/phút Tim mạch hoạt động kinh tế hơn và gần ổn định ở lứa tuổi này hệ tuần hoàn thích nghi với sự tăng trưởng công suất hoạt động thể lực ở mức đột cao, hồi phục sau vận động đặc biệt là lượng vận động cao ngang người trưởng thành
Hệ tuần hoàn: Đang phát triển và đi đến hoàn thiện, buồn tim phát triển
tương đối hoàn chỉnh, mạch đập của nam vào khoảng 70 - 70 lần/phút, của nữ
75 - 85 lần/phút Hệ thống điều hòa vận động phát triển tương đối hoàn chỉnh Phản ứng của hệ tuần hoàn trong vận động tương đối rõ rệt, nhưng sau vận động mạch đập và huyết áp hồi phục tương đối nhanh
Hệ vận động: Xương, cơ bắp đã phát triển ở mức độ cao phù hợp phát
triển các tố chất thể lực, sức mạnh các nhóm cơ phát triển không đều cần có luyện tập đặc biệt nếu không sức khỏe phát triển chậm sức bền VO2max đạt 3,5
Trang 28lần/phút Sự khéo léo: khả năng định hướng trong không gian đạt ở mức như người lớn, khả năng phân biệt biên độ động tác đã hoàn chỉnh
Ở lứa tuổi này có thể đạt thành tích cao ở các môn thể thao, có khả năng thi đấu ở trình độ cao nếu được đào tạo một cách toàn diện, có trình độ chiến thuật cũng như thể lực cao nếu như GDTC tốt
1.3 Xu hướng nâng cao khả năng phối hợp vận động cho sinh viên trong Bóng ném
Từ xu hướng Bóng ném hiện đại cho thấy trong công tác huấn luyện và đào tạo vận động viên Bóng ném cần phải:
Phải có trình độ kỹ thuật toàn diện, trình độ thể lực toàn diện, vững vàng Huấn luyện tốt theo vị trí, dùng cách tập đối kháng để nâng cao trình độ và giúp VĐV vận dụng được tốt kỹ thuật, nhất là chuyển tiếp kỹ thuật lẫn nhau
Phải trên có sở trình độ thể lực toàn diện, vững vàng, đẩy mạnh năng lực tốc độ, năng lực di chuyển và sức mạnh, nhất là năng lực ném bóng (tại chỗ, di động, trên mặt đất, trên không,…) linh hoạt, biến hóa
Tăng cường kỹ thuật, chiến thuật phối hợp, xử lý tốt quan hệ giữa phối hợp chung, nhóm và cá nhân trong tình thế đối kháng là chính, cũng như trong tình huống cá nhân vận động hơn
Tăng cường huấn luyện công thủ nhằm mục đích phá vỡ thế trận của đối phương, nhất là tấn công nhanh, nhiều biến hóa là cách phòng thủ tốt nhất làm
tư tưởng chỉ đạo để từ đó phát huy lối đánh của người thấp hơn đối với người cao hơn khiến đối thủ không theo kịp để đối phó do tốc độ biến hóa đa dạng hơn Coi trọng huấn luyện khi có bóng và khi không có bóng
Phương châm huấn luyện và biến hóa linh hoạt trên cơ sở chiều cao, tốc
độ nhanh với tâm lý linh hoạt hơn (di chuyển nhanh và suy nghĩ nhanh, phát hiện quyết định giải pháp nhanh, dự phòng biến hóa…) Giáo dục tâm lý ý chí dũng cảm, kiên cường, chuẩn xác, điêu luyện di chuyển biến hóa nhiều, phối hợp đa dạng để lấy nhanh khống chế cao, đánh quyết chiến linh hoạt
Trang 291.4 Cơ sở lý luận về huấn luyện khả năng phối hợp vận động trong môn Bóng ném
Bóng ném là một trong những môn mang tính đối kháng trực tiếp, mang tính đồng đội cao, trong một trận thi đấu kéo dài đòi hỏi VĐV phải huy động toàn bộ sức lực và trí lực, vì vậy mà yêu cầu khả năng phối hợp vận động chuyên môn càng cao hơn
Vì vậy người có khả năng phối hợp vận động thấp thì không thể chơi tốt trong các giải đấu
Qua quan sát giải Bóng ném sinh viên Khoa TDTT Trường Đại học Tây Bắc vừa qua tôi nhận thấy khả năng phối hợp vận động của các đội tuyển Bóng ném là chưa tốt nên những trận đấu đó trong toàn trận rất ít các tình huống sử dụng kỹ thuật đánh lừa đối phương, chuyền bóng, bắt bóng, di chuyển bóng thiếu chính xác ném bóng cầu môn hỏng nhiều ảnh hưởng đến kết quả thi đấu
Do đó phát triển khả năng phối hợp vận động chuyên môn tương ứng với người tập là một việc quan trọng để góp phần nâng cao thành tích
Khả năng phối hợp vận động trong Bóng ném là phối hợp một cách chặt chẽ và từ đầu đến cuối, phải thích ứng với tốc độ và độ linh hoạt nên trong thời gian thi đấu kỹ thuật, chiến thuật là điều vô cùng quan trọng
1.5 Sơ lược về Khoa Thể dục Thể thao và công tác dạy, học, tập luyện và thi đấu Bóng ném ở Trường Đại học Tây Bắc
Khoa TDTT Trường Đại học Tây Bắc được thành lập vào tháng 8 năm
2010 là một trung tâm đào tạo giáo viên chuyên ngành Giáo dục Thể chất khu vực Tây Bắc, nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực ở trình độ Đại học
và Cao đẳng phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của vùng Tây Bắc, Khoa luôn coi trọng nhiệm vụ về chất lượng đào tạo làm cơ sở để phát triển, trong đó hoạt động nghiên cứu Khoa học luôn được nằm trong chương trình đào tạo của Khoa Với mục đích đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho vùng miền ở các hoạt động ngoại khóa, phần lớn các bạn có ý thức tự giác trong rèn luyện sức khỏe bản thân, mỗi người đều tìm cho mình một môn thể thao yêu
Trang 30thích để tập luyện
Căn cứ vào chương trình chi tiết của ngành đào tạo, căn cứ vào kế hoạch chỉ đạo của nhà trường Phòng Đào Tạo và Khoa TDTT phối hợp triển khai và
tổ chức giảng dạy theo đúng chương trình và kế hoạch đề ra
Hàng năm Khoa TDTT đã giảng dạy cho hơn 2000 sinh viên các khóa học GDTC, tỉ lệ sinh viên đạt kết quả khá trở lên đạt 50%, tỉ lệ sinh viên thi qua đạt 67%
Khoa TDTT đã căn cứ vào số lượng giáo viên chuyên ngành, trình độ đã sắp xếp hợp lý việc giáo viên giảng dạy môn Bóng ném
Hàng năm Khoa luôn tổ chức các hoạt động phong trào văn hóa văn nghệ,
và hội thao như: bóng chuyền, bóng rổ, Bóng ném, cầu lông, câu mây, điền kinh,… giữa các lớp với nhau