Đây là quy định về một vẫn đề mới, đó là hạn chế quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng vì lợi ích chung của gia đình.. Vì thế, trước khi kết hôn, với tư cách cá nhân, theo quy
Trang 1Những vướng mắc khi thực hiện quy định về hạn chế quyền tự định đoạt tài sản riêng của vợ chồng trong thực tế
MỤC LỤC
B Giải quyết vẫn đề:
I Khái quát chung về tài sản riêng của vợ chồng
1 Căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ, chồng
2 Quyên và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng
a Quyền cua vo, chéng đối với tài sản riêng
b Nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng
II Quy định về hạn chế việc định đoạt riêng của vợ chồng
1 Quy định về hạn chế quyên tự định đoạt tài sản riêng của
VỢ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình
2 Tại sao pháp luật lại quy định về việc hạn chế quyên tự định 9 đoạt tài sản riêng của vợ chồng
II Những vướng mắc khi thực hiện trong thực tế 9
Trang 2A Đặt vấn đề:
Pháp luật thừa nhận quyền có tài sản riêng của vợ chồng là thừa nhận
tư cách chủ sở hữu của vợ chồng trong quan hệ pháp luật Vợ , chồng hoàn toàn có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu của mình Tuy nhiên bên cạnh vai trò chủ sở hữu các quan hệ pháp luật, vợ, chồng còn có các quyên và nghĩa vụ của một thành viên trong gia đình, nên lợi ích cá nhân của họ không thể tách rời lợi ích chung của gia đình Từ đặc điểm này, quyền sở hữu riêng của vợ, chồng được quy định tại Điều 32 và Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 mang đặc thù có tính chất ngoại lệ so với quyền sở hữu cá nhân trong pháp luật dân sự Đây là quy định về một vẫn đề mới, đó là hạn chế quyền sở hữu của vợ, chồng đối với
tài sản riêng vì lợi ích chung của gia đình
B Giải quyết van dé:
I Khai quát chung về tài sản riêng của vợ chồng
1 Căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ, chồng
Điều 32 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
“] Vợ, chông có quyên có tài sản riêng
Tài sản riêng của vợ, chông gôm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chống theo quy định tại khoản 1 Diéu
29 và Diéu 30 của Luật này; đô dùng, tư trang cá nhân
Trang 32 Vợ, chỗng có quyên nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài san chung.”
Theo đó, căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ chồng bao gồm:
Thứ nhất: Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi bên
vợ, chồng có từ trước khi kết hôn
Trước khi kết hôn, hai bên nam nữ chưa phải là vợ chồng của nhau trước pháp luật Theo tính chất nghề nghiệp, công việc của ““vợ, chồng”, các tài sản đó do “vợ, chồng” tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và các thu nhập hợp pháp khác của “vợ, chồng” đều thuộc quyền
sở hữu của mỗi bên “vợ, chồng” Cũng có thể tài sản đó có được do người khác chuyển dịch quyền sở hữu của mình cho “vợ, chồng” thông qua các giao dịch dân sự ( mua bản, tặng cho, trao đôi, cho vay ) Vì thế, trước khi kết hôn, với tư cách cá nhân, theo quy định của pháp luật dân sự mà vợ,
chồng có thể xác lập quyền sở hữu của mình đối với những tài sản phát sinh,
dựa trên các căn cứ được quy định từ Điều 233 đến 247 Bộ luật Dân sự năm
2005
Thứ 2: Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà vợ, chồng
được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân
Xét về nguồn sốc tài sản, những tài sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thuộc quyền sở hữu riêng cua vo ,chong Bởi lẽ, ý chí của chủ sở hữu chỉ tặng cho riêng, hoặc để lại đi chúc trước khi chết chỉ cho vợ, chồng được hưởng di sản của họ chứ không phải cho chung hai vợ chỗng.Những tài sản này không phải đô vợ, chồng tạo
ra trong thời kỳ hôn nhân, theo công sức và thu nhập của vợ, chồng, nên không thể tính thuộc vào khối tài sản chung của vợ chồng
Thứ 3: Tài sản riêng của vợ, chông gôm đô dùng, tư trang cá nhân
Trang 4Luật quy định các đồ dùng và tư trang cá nhân là tài sản riêng của vợ, chồng nhăm đảm bảo quyên tự do cá nhân và cuộc sống riêng tư của vợ, chồng Chúng ta cần hiểu đồ dùng, tư trang cá nhân là tài sản riêng với nguồn gốc phát sinh từ tài sản chung hay tai sản tiêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân, phục vụ trực tiếp cho công việc, nghề nghiệp và nhu câu sinh hoạt hàng ngày của cá nhân vợ, chồng; mặt khác, trong trường hợp cụ thể, cũng
cần phải xem xét những loại tài sản này có nguồn gốc và giá trị như thế nào
so với khối tài sản chung của vợ chồng và mức thu nhập thực tế của vợ, chồng
Thứ 4: Tài sản riêng của vợ, chồng gồm những tài sản mà vợ, chồng
được chia khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Điều 30 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định về vấn đề này và trên cơ sở đó được ghi nhận tại Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP
ngày 03/10/2001: sau khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhán, những tài sản mà vợ, chồng đã được chia; hoa lợi, lợi tức thi được tử tài sản đó; thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ, chỗng sau khi đã chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, đêu thuộc tài sản riêng của vợ, chông trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác
Thứ 5: Tài sản riêng của vợ, chồng còn (có thê) bao gôm những tài
sản mà vợ, chồng thỏa thuận là tài sản riêng của một bên
Theo luật định, vợ, chồng có tài sản riêng có quyên nhập hoặc không
nhập vào khỗi tài sản chung của vợ chồng Vì vậy, nham tạo điều kiện thuận
lợi khi chia tài sản giữa vợ chồng, cũng như bảo đảm quyền tự định đoạt đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của vợ, chồng, pháp luật quy định trên
Trang 5nguyên tắc việc chia tài sản sẽ do vợ chồng tự thỏa thuận với nhau, nếu
không thỏa thuận được thì mới yêu cầu Tòa án giải quyết
Như vậy, Luật hôn nhân gia đình đã khắng định vợ chồng có quyền có
tài sản riêng và xác định rõ nguồn gốc phát sinh tài sản riêng.Việc quy định
vợ, chồng có quyền có tài sản riêng là phù hợp với chế định quyền sở hữu riêng về tài sản của công dân đã được hiến pháp thừa nhận ( Điều 58 Hiến Pháp 1992); phù hợp với nguyên tự định đoạt về tài sản của công dân, đồng
thời quy định vợ, chồng có quyền có tài sản riêng còn nhằm bảo đảm cho
VỢ, chồng có thể thực hiện các nghĩa vụ về tài sản một cách độc lập, không phụ thuộc vào ý chí của bên kia
2 Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản riêng
a, Quyên của vợ, chồng đối với tài sản riêng
Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia định năm 2000 quy định:
“Vợ, chông có quyên chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này”
Với tư cách là chủ sở hữu tài sản của mình, vợ , chồng có toàn quyền
sở hữu( quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt) đối với tài sản
riêng, không phụ thuộc bởi ý chí của bên người chồng, vợ kia
Đối với tài sản riêng của vợ, chồng, mỗi bên sẽ tự quản lý tài sản
riêng của mình Trong trường hợp vợ chồng không thể tự mình quản lý tài
sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên người
chồng, vợ kia có quyền quản lý tài sản riêng đó (khoản 2 Điều 33)
Trường hợp một bên đã tự ý định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng
mình khi tham gia các giao dịch dân sự, thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án
tuyên bố giao dịch đó vô hiệu
Trang 6Với tư cách là chủ sở hữu tài sản riêng của mình, khi thực hiện quyền
sở hữu, vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện va cham dit các giao dịch mà theo quy định của pháp luật phải có sự đồng ý của cả vợ
chồng: việc ủy quyền đó phải được lập thành văn bản ( Khoản 1 Điều 24
Luật Hôn nhân và gia định năm 2000)
Đối với tài sản riêng, vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài
sản riêng vào khối tài sản chung của vợ chồng (khoản 2 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000)
b Nghĩa vụ được thực hiện bằng tài sản riêng của vợ, chồng
Theo luật định, vợ, chồng phải chịu trách nhiệm (thực hiện nghĩa vụ) đối với các hành vi của vợ, chồng liên quan tới tài sản riêng của mỗi bên
Thứ nhất, theo quy định tại khoản 4 Điều 33 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000 thì trong trường hợp cuộc sống chung của gia đình gặp nhiều khó khăn, tài sản chung của vợ chồng không đủ bảo đảm cho những nhu cầu
sinh hoạt thiết yêu hàng ngày của gia đình mà người vợ, chồng có tài sản
riêng thì vợ, chồng có nghĩa vụ sử dụng (đóng góp) tài sản riêng của mình
nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yêu đó của gia đình
Thứ hai, theo khoản 3 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì “nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toàn từ tài sản riêng của người đó”.Nghĩa vụ về tài sản của vợ, chồng ( còn gọi là nợ riêng cua vo, chéng) phát sinh từ các khoản nợ mà vợ, chồng vay của người khác,
sử dụng vào mục đích cá nhân, mà không vi lợi ích chung của gia đình; hoặc nghĩa vụ bôi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của vợ, chồng hay các loại nghĩa vụ khác theo luật định ( nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình như cha, mẹ, vợ, chồng, con mà vợ, chồng phải thực hiện)
Trang 7II Quy định về việc hạn chế quyền tự định đoạt tài sản riêng của vợ chồng
1 Quy định về hạn chế quyền tự định đoạt tài sản riêng của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình
Thông thường, tài sản chung được sử dụng để đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng sinh hoạt trong gia đình và bảo đảm các nghĩa vụ chung Tuy nhiên,
trong nhiều gia đình, cuộc sống gia đình gặp rất nhiều khó khăn vì tài sản
chung không đủ để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yêu của gia đình Vì thế,
Khoản 4 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Tài sản riêng của vợ, chồng cũng được sử dụng vào các nhu câu thiết yếu của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng ””
Ví dụ: Chị A trước khi về nhà chồng được bố mẹ cho riêng 1 sợi dây chuyên vàng Vì sợi dây chuyền là cho riêng chị A và A không tự nguyện nhập vào khối tài sản chung nên vẫn là tài sản riêng của A Về nguyên tắc thì A có quyền chiếm hữa, sử dụng sợi dây chuyền đó một cách độc lập mà
không phụ thuộc vào ý chí của người khác Nhưng không may đứa con của
chị mắc bệnh mà tài sản chung của vợ chồng không đủ để chi trả việc phí thì
lúc này chị A buộc phải sử dụng tài sản riêng của mình là chiếc dây chuyền
để chữa trị cho con Trong trường hợp này quyền tự định đoạt tài sản riêng
của chị A bị hạn chế vì đù có không muốn thì chị vẫn phải từ bỏ lợi ích cá
nhân vì lợi ích chung của gia đình
Khoản 5 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng đã quy
định một vẫn đề mới, đó là hạn chế quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài
sản riêng vì lợi ích chung của gia đình
“Trong trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào
sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất
Trang 8của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thỏa thuận của
ca vo chong”
Trong trường hợp tai san chung của vợ chồng không đủ đáp ứng các
nhu cầu thiết yếu của gia đình thì bên vợ, chồng có tài sản riêng phải đóng
góp, sử dụng tài sản riêng vì các nhu cầu thiết yêu đó Mặt khác, trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự đồng ý, thỏa thuận của cả vợ chồng
Nếu pháp luật quy định giao dịch đó phải tuân theo hình thức nhất định, thì việc thỏa thuận phải lập thành văn bản có chữ ký của vo chồng hoặc phải công chứng, chứng thực Nếu giao dịch pháp luật không bắt buộc
phải tuân theo hình thức nhất định, thì việc xác lập, thực hiện, chấm đứt giao
địch đó nhất thiết vẫn phải có sự thỏa thuận băng văn bản của vợ chồng (
Điều 4 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP)
Ví dụ: Anh A và chị B kết hôn, trước khi kết hôn B được bố mẹ cho một chiếc xe máy, chiếc xe là tài sản riêng của B Lúc đầu hai vợ chồng chỉ sống dựa vào tiền lương của anh A hàng tháng do A làm việc cho một công
ty Sau do A bị đuôi việc, vì không có nguồn thu nhập nào nên chị B quyết
định đưa chiếc xe của mình cho anh A để làm xe ôm kiếm tiền sinh hoạt Lúc này chiếc xe của chị B đã được đưa vào sử dụng chung và thu nhập từ việc làm xe ôm của A là nguôn sống duy nhất của gia đình Vậy lúc này mặc
dù chiếc xe là tài sản riêng của B nhưng khi B muốn bán chiếc xe này thì
phải hỏi ý kiến của anh A, vì nó liên quan đến đời sống của gia đình Vậy
quyền định đoạt của B đối với chiếc xe này đã bị hạn chế
Như vậy, vợ hoặc chồng không có quyền đơn phương định đoạt tài sản riêng của mình nếu điều đó dẫn đến hậu quả ảnh hưởng nguồn sống duy nhất của gia đình Đây không phải là sự vi phạm quyền sở hữu của cá nhân
Trang 9mà là cơ sở đê bảo đảm duy trì đời sông gia đình ôn định, bên vững, là cơ sở
đê ràng buộc trách nhiệm của vợ chông với gia đình
2 Tại sao pháp luật lại quy định về việc hạn chế quyền tự định đoạt tài sản riêng của vợ chồng
Quy định về hạn chế quyền tự định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng đã đựa trên truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, luôn có sự đoàn kết, yêu thương, chăm sóc, đùm bọc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình
Trong nhiều gia đình, người phụ nữ không có tài sản riêng, cuộc sống gia
đình gặp rất nhiều khó khăn vì tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yêu của gia đình Vì thế, quy định này để ngăn chặn hành vi
có tính chất gia trưởng tử người chồng, tránh cho phụ nữ và trẻ em lâm vào hoàn cảnh phụ thuộc vào chồng, vào cha và để đảm bảo cho cuộc sống gia đình bền vững
Cuộc sống VỢ chồng đòi hỏi sự gắn kết lâu dài, bền vững, hạnh phúc Trách nhiệm vun đắp, xây dựng hành phúc gia đình, nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau, nuôi dưỡng giáo dục các con vì lợi ích của xã hội thuộc về cả hai vợ chồng Nếu tài sản chung của hai vợ chồng không đủ đáp ứng các nhu cầu cần thiết của gia đình (ăn, ở, mặc, học hành, chữa bệnh, cho vợ, chồng,
các con ), mà người vợ, chồng có tài sản riêng không lẽ lại phó mặc lợi ích
chung của gia đình muốn ra sao cũng được Xét cả vè chuẩn mực đạo đức xã hội và yêu cầu của pháp luật, vợ, chồng phải sử dụng tài sản riêng của mình, bảo đảm cho cuộc sống chung của gia đình là hợp lý Như vậy, cũng là bảo đảm lợi ích chung của toàn bộ xã hội, vì gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Sự tồn tại bền vững của gia đình là cơ sở tạo cho
xã hội ôn định, phát triên
Trang 10III Những vướng mắc khi thực hiện trong thực tế
Những quy định về hạn chế quyền tự định đoạt tài sản riêng của vợ
chồng trong thực tế khó có thê thực hiện được và có nhiều vướng mắc
Có trường hợp đối tượng trốn tránh việc buộc phải dùng tài sản riêng
vì lợi ích chung của gia đình Trở lại ví dụ trên: Chị A trước khi về nhà chồng được bố me cho riêng một sợi dây chuyền vàng Vì sợi dây chuyền là cho riêng chị A và A không tự nguyện nhập vào khối tài sản chung nên vẫn
là tài sản riêng của A Khi đứa con bị ốm mà tài sản chung dần dần không đủ
dé chi tra viện phí, nhận thấy răng mình sẽ phải dùng đến tài sản riêng của
mình để chữa trị cho con nên chị đã nhanh chóng bán chiếc đây chuyên và dùng cho việc mua sắm những thứ mà chị thích để tiêu tán tài sản riêng của mình là sợi đây chuyền nhằm trốn tránh nghĩa vụ phải dùng tài sản của mình
cho nhu cầu thiết yếu của gia đình
Việc xác định thế nào là nhu cầu thiết yếu của gia đình cũng là vẫn đề cần giải quyết Đó là những điều kiện đảm bảo cho sinh hoạt hàng ngày của gia đình có thê diễn ra bình thường như ắn, ở, mặc, học hành, chữa bệnh
Nhưng quy định này có thể được lơi dụng để đòi hỏi từ tài sản riêng của người vợ, chồng nhiều hơn cần thiết cho nhu cầu riêng của cá nhân Ví dụ:
Chị B có chồng đi công tác xa, biết anh có một khoản tiền tiết kiệm riêng có
được từ trước khi cưới, vì đang cần tiền để trả nợ riêng của mình, một lần
con bị ốm, theo quy định này chị yêu cầu chồng mình gửi tiền riêng của anh
để chữa trị cho con nhưng khai khống số tiền đề lẫy tiền trả nợ
Về trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình Theo quy định thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự
đồng ý, thỏa thuận của cả vợ chồng, nhưng trên thực tế khi định đoạt tài sản
10