1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phong trao phản đôi chiến tranh việt nam của nhân dân mỹ và nhân dân một số nước my latinh (1954 1975)

61 251 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 541,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phong trào ủng hộ của nhân dân Mỹ và các nước Mỹ Latinh đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam đã tác động mạnh mẽ đến nội bộ nước Mỹ, gây thêm khó khăn cho đế quốc Mỹ,

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

PHẠM THỊ DƯƠNG

PHONG TRÀO PHẢN ĐỐI CHIẾN TRANH VIỆT NAM CỦA NHÂN DÂN MĨ VÀ NHÂN DÂN MỘT SỐ NƯỚC MĨ LATINH (1954 - 1975)

Nhóm ngành: Lịch sử Thế giới

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: Th.S Đinh Ngọc Ruẫn

SƠN LA, NĂM 2017

Trang 2

LỜI CẢM ƠN Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới ThS Đinh Ngọc Ruẫn - người đã

trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này

Tôi chân thành cảm ơn Thư viện Trường Đại học Tây Bắc, Thư viện Quốc gia đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, hoàn thành khóa luận

Trong quá trình thực hiện khóa luận, tôi cũng nhận được sự quan tâm giúp

đỡ của Phòng Quản lý Khoa học và Quan hệ Quốc tế, Phòng Đào tạo, các thầy

cô giáo trong khoa Sử - Địa cùng các bạn sinh viên K54 ĐHSP Lịch Sử

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 05 năm 2017

Người thực hiện

Phạm Thị Dương

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

3.3 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Cơ sở tài liệu và phương pháp nghiên cứu 4

4.1 Cơ sở tài liệu 4

4.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4

5 Bố cục đề tài 4

CHƯƠNG 1 SỰ HÌNH THÀNH PHONG TRÀO PHẢN ĐỐI CHIẾN TRANH VIỆT NAM CỦA NHÂN DÂN MỸ VÀ NHÂN DÂN MỘT SỐ NƯỚC MỸ LATINH (1954 - 1975) 5

1.1 Tình hình thế giới sau chiến tranh thế giới thứ hai và tác động của nó tới cách mạng Việt Nam 5

1.1.1 Tình hình thế giới sau chiến tranh thế giới thứ hai 5

1.1.2 Tác động của tình hình thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai tới cách mạng Việt Nam 15

1.2 Tính chất cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) của Việt Nam 18

1.2.1 Đây là cuộc chiến tranh chính nghĩa chống chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ 18

1.2.2 Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam mang tính chất liên minh của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia chống kẻ thù chung 21

1.2.3 Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam là cuộc đụng đầu lịch sử mang tính thời đại sâu sắc 23

Trang 4

1.3 Bước đầu hình thành phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam của nhân dân Mỹ và một số nước Mỹ Latinh 25

CHƯƠNG 2 QÚA TRINH PHÁT TRIỂN PHONG TRÀO PHẢN ĐỐI CHIẾN TRANH VIỆT NAM CỦA NHÂN DÂN MỸ VÀ NHÂN DÂN MỘT SỐ NƯỚC MỸ LA TINH (1954 - 1975) 36

2.1 Phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam của nhân dân Mỹ và nhân dân một số nước Mỹ Latinh (1954 - 1965) 36 2.2 Phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam của nhân dân Mỹ và nhân dân một số nước Mỹ La Tinh ( 1965- 1975) 40

KẾT LUẬN 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xuất phát từ sự đối đầu của trật tự hai cực Ianta và chiến tranh lạnh, cuộc chiến tranh Việt Nam (1954 - 1975) là một trong những cuộc chiến tranh lâu dài và tốn kém nhất trong lịch sử nước Mỹ Cuộc chiến tranh này đã tác động rất lớn tới tình hình nước Mỹ trên các mặt chính trị, kinh tế, xã hôi, uy tín của nước Mỹ trên trường quốc tế Do đó, việc lựa chọn đề tài trên sẽ góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử nước Mỹ trong quá trình thực hiện tham vọng toàn cầu

bá chủ thế giới

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ( 1954-1975), Việt Nam chủ

trương “ đoàn kết với bất cứ người nào có thể đoàn kết được, trung lập bất cứ

người nào có thể trung lập, cốt làm phân hóa kẻ thù cao độ và cô lập chúng, đồng thời kiếm thêm nhiều bạn cả trong nước và ngoài nước” [1;237] Ngoài

việc phát huy yếu tố nội lực ở trong nước, Việt Nam còn tranh thủ sự ủng hộ từ nước ngoài, huy động tổng hợp sức mạnh vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố chủ quan và khách quan Một trong những nhân

tố quan trọng góp phần tạo nên thắng lợi to lớn ấy phải kể đến sự ủng hộ, giúp

đỡ về vật chất và tinh thần của nhân dân Mỹ và các nước Mỹ Latinh Sự ủng hộ

đó không chỉ ở một tổ chức, quốc gia, một khu vực mà đã lan rộng toàn thế giới hình thành một phong trào ngày càng phát triển mạnh mẽ Phong trào ủng hộ của nhân dân Mỹ và các nước Mỹ Latinh đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam đã tác động mạnh mẽ đến nội bộ nước Mỹ, gây thêm khó khăn cho đế quốc Mỹ, trong quá trình tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam Rộng hơn nữa, phong trào đã tác động trực tiếp đến chính sách của chính quyền các nước đối với chiến tranh, trước hết là các nước phát triển Không chỉ vậy phong trào còn có ý nghĩa to lớn trong thực tiễn

- Mặt khác, cuộc chiến tranh lâu dài, tốn kém của chính phủ Mỹ đã tác động đến nội tình nước Mỹ, từ đó đã dẫn tới một phong trào phản đối chiến

Trang 6

tranh Việt Nam của nhân dân Mỹ dưới nhiều hình thức khác nhau Bởi vây, việc tìm hiểu đề tài còn góp phần phục dựng lại một cách sinh động các hình thức phản đối chiến tranh Việt Nam của nhân dân Mỹ Qua đó sẽ chứng minh rõ ràng hơn một trong những nguyên nhân dẫn tới thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)

Xuất phát từ vai trò to lớn của phong trào phản đối của nhân dân Mỹ và các nước Mỹ La Tinh đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, từ những tác động tích cực mà phong trào đem lại và những dư âm mà nó để lại cho nhân dân Việt Nam, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài này

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ trước đến nay, việc tìm hiểu về phong trào phản đối chiến tranh ở Việt Nam của nhân dân các nước tiến bộ trên thế giới đã thu hút nhiều sự quan tâm của học giả, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học…

Năm 1967, tác giả Lưu Quý Kỳ cho ra đời cuốn Phong trào nhân dân thế

giới chống Mỹ ủng hộ Việt Nam Sách đã đề cấp đến những phong trào của các

nước xã hội chủ nghĩa, tư bản chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam, để đi tới khẳng định

đó là một phong trào có quy mô rộng lớn, và nguyên nhân chính làm cho phong trào nhân dân thế giới chống Mỹ ủng hộ Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ

Năm 1973, Ty Thông tin Văn hóa Quảng Bình xuất bản cuốn Thế giới ca

ngợi và ủng hộ Việt Nam Tác phẩm đã khái quát sự giúp đỡ quý báu của nhân

dân thế giới về vật chất và tinh thần cho nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

Năm 1975, Nhà xuất bản Sự thật cho ra đời cuốn Việt Nam đất nước anh

hùng Sách đã tái hiện đất nước Việt Nam - một đất nước giàu mạnh, một dân

tộc anh hùng, đã trải qua nhiều thử thách, chiến đấu anh dũng để giành độc lập dân tộc, đặc biệt là những kỳ tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thần thánh (1954 - 1975) Cuộc kháng chiến đó đã được cả loài người tiến bộ trên thế giới cổ vũ

Trang 7

Năm 1995, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã xuất bản cuốn sách Tổng kết

cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước: Tháng lợi và bài học Cuốn sách tổng kết

các giai đoạn phát triển của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ( 1954- 1975)

và những bài học kinh nghiệm đã đúc kết lại sau cuộc kháng chiến chống Mỹ

Năm 2000, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã xuất bản cuốn sách Chiến

tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975: Thắng lợi và bài học, trong đó đã đề

cập đến sự viện trợ của quốc tế cho Việt Nam trong những năm 1954-1975

Năm 2010, tác giả Nguyễn Khắc Huỳnh cho ra mắt độc giả cuốn Cuộc

kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam - tác động của những nhân tố quốc tế

Cuốn sách đã nêu lên và phân tích những nhân tố quốc tế tác động đến cuộc chiến tranh, quan hệ Mỹ - Xô - Trung và chiến tranh Việt Nam, sự giúp đỡ và ủng hộ của hệ thống xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc và Mặt trận nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam

Ngoài ra còn nhiều nguồn tài liệu khác cũng tham gia vào quá trình làm rõ những đóng góp lớn lao của phong trào nhân dân tiến bộ trên thế giới phản đối chiến tranh ở Việt Nam…

Những tài liệu trên mặc dù không trực tiếp đi sâu tìm hiểu phong trào phản đối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam của nhân dân các nước tiến bộ trên thế giới nhưng cũng đã cung cấp cho chúng tôi những tài liệu hết sức quan trọng là tiền

đề, là cơ sở để chúng tôi hoàn thành đề tài này

3 Đối tƣợng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự phản đối chiến tranh Việt Nam của nhân dân Mỹ và các nước Mỹ Latinh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Làm rõ sự hình thành, quá trình phát triển phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam của nhân dân Mỹ và nhân dân một số nước Mỹ Latinh

Làm rõ tính chất, đặc điểm, vai trò của phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam của nhân dân Mỹ và nhân dân một số nước Mỹ Latinh

Trang 8

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Không gian: Các nước có phong trào phản đối chiến tranh của Việt Nam

Thời gian: Những năm Việt Nam kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975)

4 Cơ sở tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở tài liệu

Cơ sở tài liệu là các nguồn tài liệu chính thống, bao gồm: các giáo trình, các sách chuyên khảo về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975),

về hoạt động ngoại giao của Đảng và Nhà nước; các bài báo khoa học; hồi ký, hồi ức của các nhân chúng lịch sử… được sưu tầm tại Thư viện Trường Đại học Tây Bắc và Thư viện Quốc gia

4.2 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở chủ nghĩa duy vật lịch

sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và những quan điểm của Đảng, Nhà nước trong nghiên cứu lịch sử

Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng hai phương pháp chủ yếu là phương pháp logic và phương pháp lịch sử Bên cạnh đó, để dựng lại chi tiết, hoàn chỉnh về phong trào phản đối của nhân dân tiến bộ trên thế giới đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam chúng tôi còn sử dụng các phương pháp khác để hỗ trợ như: phương pháp thống

kê, so sánh, phân tích, miêu tả, tường thuật…

5 Bố cục đề tài

Đề tài gồm 2 chương:

TRANH VIỆT NAM CỦA NHÂN DÂN MỸ VÀ NHÂN DÂN MỘT SỐ NƯỚC MỸ LATINH (1954 - 1975)

TRANH VIỆT NAM CỦA NHÂN DÂN MỸ VÀ NHÂN DÂN MỘT SỐ NƯỚC MỸ LATINH (1954 - 1975)

Trang 9

CHƯƠNG 1 SỰ HÌNH THÀNH PHONG TRÀO PHẢN ĐỐI CHIẾN TRANH VIỆT NAM CỦA NHÂN DÂN MỸ VÀ NHÂN DÂN MỘT SỐ

NƯỚC MỸ LATINH (1954 - 1975) 1.1 Tình hình thế giới sau chiến tranh thế giới thứ hai và tác động của nó tới cách mạng Việt Nam

1.1.1 Tình hình thế giới sau chiến tranh thế giới thứ hai

Chiến tranh lạnh và đối đầu Đông - Tây xuất hiện

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, bàn cờ chính trị có sự thay đổi lớn Liên Xô là nước thắng trận, có vị thế chính trị lớn, có ảnh hưởng sâu rộng

ở Đông Âu Với sự giúp đỡ của Hồng quân Liên Xô, nhiều nước được giải phóng như: Ba Lan, Rumani, Hungari, Anbani,

Các nước tư bản lớn ở Tây Âu như Anh, Pháp, Italia đều suy yếu nên Liên

Xô có thế mạnh áp đảo ở Châu Âu Các nước này đều có Đảng Cộng sản mạnh,

có quan hệ với Đảng Cộng sản Liên Xô, cùng góp phần mở rộng ảnh hưởng của Liên Xô

Mỹ là nước thuộc phe Đồng minh thắng trận và hầu như không chịu hậu quả của cuộc chiến tranh thế giới Sau chiến tranh, Mỹ giàu lên nhanh chóng về kinh tế, quân sự, khoa học - kĩ thuật, trở thành tên sen đầm quốc tế, kẻ bóc lột lớn nhất và là tên trùm chủ nghĩa thực dân mới, Mỹ có tham vọng làm bá chủ thế giới Trong khi đó nhiều vấn đề của nội bộ nước Mỹ như những cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính (1953 - 1954, 1957 - 1958), nạn thất nghiệp, chế độ phân biệt màu da, những cuộc khủng bố gây mất trật tự an ninh xã hội không được khắc phục Nhằm giải quyết những vấn đề trên, chính quyền Mỹ lại hướng các chủ trương của họ vào việc chống chủ nghĩa cộng sản ở khắp các châu lục Làm bá chủ thế giới là tham vọng từ lâu của chủ nghĩa đế quốc, nhưng trong lịch sử của thế giới tư bản chưa có đế quốc nào có điều kiện đặc biệt thuận lợi như Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Thế giới trước kia và trong thế kỉ

XX là một cộng đồng nhiều quốc gia, do đó tồn tại rất nhiều mâu thuẫn, để giành quyền làm bá chủ một thế giới như vậy không phải chỉ có sức mạnh quân

sự, kinh tế và chính trị, mà cần phải có một chiến lược toàn cầu phù hợp, một

Trang 10

chính sách xâm nhập và bành chướng khôn khéo Đó là điều khó khăn với Mỹ hồi đó, tuy rằng Mỹ là nơi sản sinh ra nhiều nhân tài tri thức, nhiều nhà khoa học lỗi lạc, nhưng những năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ phải tập trung chất xám, động viên lực lượng trí tuệ để phát triển kinh tế về khoa học - kỹ thuật, quân sự tạo cơ sở cho những năm sau cho ra đời chiến lược toàn cầu Chiến lược toàn cầu của Mỹ ra đời trong bối cảnh quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ hai có nhiều biến động Liên Xô là nước xã hội chủ nghĩa vừa chiến thắng phát xít, uy tín quốc tế đang lên cao, tuy bị tàn phá nhiều, nhưng vẫn nắm

ưu thế về quân sự và vũ khí thông thường Các nước dân chủ nhân dân lần lượt

ra đời, được Liên Xô ủng hộ và bắt đầu hình thành một hệ thống thế giới Phong trào cộng sản và công nhân ở các nước tư bản đang trên đà phát triển Phong trào giải phóng dân tộc lên cao Trong lúc đó các trung tâm tư bản chủ yếu ở Châu Âu và Nhật Bản chưa được củng cố và phục hồi, tập hợp lại Bối cảnh lịch

sử đó đặt chiến lược toàn cầu Mỹ xuất phát từ thế phòng ngự Định đề trung tâm của học thuyết Truman là ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản Đó cũng là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ Coi Liên Xô là đối tượng chủ yếu và lập luận rằng các nước dân chủ nhân dân được Liên Xô ủng hộ là chư hầu, tay sai của Liên Xô, coi các phong trào cách mạng giải phóng dân tộc cũng là tay sai của cộng sản do Matxcơva điều khiển

Do vậy chiến lược của Mỹ là phải bao vây và ngăn chặn Liên Xô và phe chủ nghĩa xã hội, đồng thời phải chống lại phong trào giải phóng dân tộc, Mỹ gây ra Chiến tranh lạnh chống Liên Xô và thành lập Liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương (1949)

Liên Xô và Đông Âu kiên quyết bác bỏ và tố cáo âm mưu thâm độc của

Mỹ Đồng thời với sự giúp đỡ, hỗ trợ của Liên Xô, các nước Đông Âu đã nhanh chóng chuyển từ chính quyền liên hiệp sang chế độ dân chủ nhân dân do Đảng Cộng sản đứng đầu Trong thời gian này,một số nước Tây Âu có chính quyền liên hiệp cũng gạt các bộ trưởng là người cộng sản ra khỏi chính phủ, Chiến tranh lạnh bắt đầu bùng lên

Trang 11

Từ đây, Châu Âu chia đôi, hai cực hình thành và đối đầu nhau Các nước Tây Âu đều trở thành đồng minh của Mỹ chống Liên Xô Mỹ thực sự trở thành người lãnh đạo thế giới Về phần mình, Liên Xô cũng tỏ thái độ cứng rắn, ra sức giúp đỡ, ổn định các nước Đông Âu, củng cố vành đai an ninh phía Tây của mình Chiến tranh lạnh, hai khối đối địch hình thành như vậy và bắt đầu từ Châu Âu

Hai khối Đông - Tây, hai nước đứng đầu hai phe Liên Xô - Mỹ đối đầu nhau toàn diện: tư tưởng, quân sự, kinh tế, Một sự đối đầu quyết liệt, căng thẳng, trên tất cả các lĩnh vực Đó là bối cảnh chung của tình hình thế giới sau chiến tranh, chi phối sự phát triển của nhân loại

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình thế giới từng bước có những chuyển biến to lớn, tác động đến quan hệ quốc tế, tác động đến từng nước, từng khu vực và cả trật tự thế giới vừa được thiết lập

Thứ nhất, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nhưng ở các Châu Âu,

Nhật Bản và Liên Xô bị chiến tranh tàn phá nặng nề, bị tổn thất lớn cả về người

và của Chỉ có Mỹ giàu lên nhanh chóng trong chiến tranh (thu về 114 tỉ đôla lợi nhuận do bán vũ khí và phương tiện chiến tranh) và trở thành nước mạnh nhất

về kinh tế trong khoảng 3 năm sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ chiếm quá nửa tổng số sản lượng công nghiệp của thế giới tư bản (56,4 % năm 1948) Mỹ

là chủ nợ lớn nhất thế giới (riêng tiền vũ khí, các nước đồng minh châu Âu đã

nợ Mỹ 41,751 tỉ USD) và nắm trong tay một lợi thế khiến các nước phải kiêng

nể, e dè, độc quyền về bom nguyên tử

Trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ chỉ có 30 vạn người chết (trong khi Liên Xô là hơn 26,5 triệu người và toàn thế giới là 56 triệu người), đất nước

Mỹ lại không bị chiến tranh tàn phá (vì mặt trận chính là chiến trường châu Âu

bị tàn phá lên tới 260 tỉ đô la, trong đó Liên Xô chiếm 49,3%) Có thể thấy rằng,

Mỹ đã làm giàu trên sự đổ nátcuar Châu Âu và thế giới Sau chiến tranh, nước

Mỹ trở thành nước giàu mạnh nhất, chiếm ưu thế về mọi mặt trong thế giới tư bản chủ nghĩa

Trang 12

Có thể nói, Mỹ vượt trội hơn tất cả về kinh tế, quân sự và chính trị Từ tham vọng làm bá chủ thế giới của nước Mỹ ngày càng bộc lộ và đây cũng là cơ

sở để Mỹ triển khai nhanh chóng kế hoạch của mình trong một bối cảnh quóc tế

và tương quan so sánh lực lượng hết sức thuận lợi đứng cả về hai phía quan hệ

Mỹ với các nước trong khối đồng minh tư bản chủ nghĩa, Mỹ với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa

Tuy nhiên,,sức mạnh và ưu thế của Mỹ không kéo dài được mãi, nó đã bị giảm sút tương đối từ những năm 60 của thế kỉ XX trở đi, đặc biệt từ những năm

70 khi các nước tư bản được phục hồi và vươn lên nhanh chóng, trước hết là Tây

Âu và Nhật Bản

Bị thiệt hại trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản chẳng những mất hết thuộc địa mà nền kinh tế cũng lâm vào tình trạng bị phá hủy hoàn toàn Đất nước tiêu điều, các thành phố lớn bị tàn phá nặng nề, Nhật Bản bị kiệt quệ về kinh tế, bị đè bẹp về quân sự, bị suy sụp về tinh thần, bị thiệt hại lớn về người và của Nhờ vào kế hoạch đầu tư của Mỹ mà bước sang những năm 60 của thế kỉ

XX, kinh tế Nhật Bản đã có bước phát triển nhanh chóng, đuổi kịp và vượt các nước Tây Âu, vươn lên đứng thứ hai (sau Mỹ) trong thế giới tư bản chủ nghĩa Từ một địa vị chưa đáng kể trước chiến tranh và rất nguy kịch trong những năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, kinh tế Nhật Bản đã đạt được những bước phát triển nhanh chóng vượt bậc mà dư luận phương Tây thường suy tôn là “thần kỳ Nhật Bản” Thực ra sự phát triển nhanh chóng vượt bậc này của kinh tế Nhật Bản

có những nguyên nhân khách quan, chủ quan của nó, và sự “thần kỳ” này đã chứa đựng những mặt trái của nó mà từ đầu những năm 70 trở đi đã ngày càng bộc lộ

rõ ràng Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng Nhật Bản đã có những bước tiến hết sức kỳ diệu trong tất cả các lĩnh vực, khiến cả thế giới phải kinh ngạc

Thứ hai, hai cường quốc Xô - Mỹ từ quan hệ đồng minh trong Chiến tranh

thế giới thứ hai, sau chiến tranh quan hệ ấy nhanh chóng chuyển thành quan hệ đối đầu Từ quan hệ đối đầu giữa hai nước chuyển thành quan hệ đối đầu giữa hai phe - phe xã hội chủ nghĩa và phe tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên, trong bối cảnh thế giới hai cực, quan hệ Xô - Mỹ, quan hệ giữa hai phe, mặc dù mâu

Trang 13

thuẫn, nhưng vẫn phụ thuộc, kiềm chế nhau, đều thực hiện chiến lược phòng ngự, đều tránh đụng đầu trực tiếp với nhau Vì thế, về cực đại, hòa bình thế giới được duy trì trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh và cả sau đó

Giữa “hai cực” Liên Xô và Mỹ có những mâu thuẫn rõ ràng Trong khi

“cực” Liên Xô luôn luôn làm hậu thuẫn cho phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa, cách mạng giải phóng dân tộc và sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội, ngược lại, “cực” Mỹ luôn ra sức câu kết, giúp đỡ các thế lực phản động chống phá cách mạng thế giới với mưu đồ vươn lên vị trí thống trị thế giới Đúng như Thomas L Friedman trong tác phẩm của mình có nhan đề

“chiếc luxus và cây ô liu” đã nhận xét khá chính xác về mối quan hệ giữa hai cường quốc vốn là bạn bè và liên minh với nhau trong chiến tranh, giờ lại là những đối thủ cạnh trạnh của nhau: “Khi Mỹ trỗi lên từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cưỡi trên lưng thế giới như một siêu cường vô địch, có trọng trách toàn cầu và tham gia tranh giành quyền lực với Liên Xô Bỗng nhiên, cả thế giới trở thành sân chơi của Hoa Kỳ, và cả thế giới chỗ nào cũng quan trọng, vì mọi ngõ ngách trên thế giới đều có sự tranh giành với Liên Xô” Có thể nói, trong hơn nửa thế kỉ tồn tại của trật tự hai cực Ianta, một đặc điểm lớn của tình hình thế giới là giữa Liên Xô và Mỹ, giữa hai phe vừa đấu tranh gay gắt với nhau lại vừa chung sống hòa bình và hợp tác với nhau thông qua diễn đàn của tổ chức quốc tế Liên Hợp Quốc Việc Giáo sư Michael Mandelbau, môn Quan hệ đối ngoại, Đại học Hopkins ví Chiến tranh lạnh giống như môn vật Sumo của Nhật Bản đã khắc họa chính xác mối quan hệ giữa hai siwwu cường Xô - Mỹ “Sẽ có hai anh béo đứng trên đài, múa may lễ bái đủ đường, giậm chân huỳnh huỵch, nhưng rất

ít khi chạm vào nhau cho tới cuối trận thì có chút ít xô đẩy và có một tay bị thua do bị đẩy ra khỏi đài, nhưng rốt cuộc chẳng có anh nào chết cả”

Thứ ba, một chuyển biến lớn sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đó là sự ra

đời của hệ thống xã hội chủ nghĩa Một loạt các nước Đông Âu, Châu Á và khu vực Mỹ Latinh sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, đã tuyên bố đi lên chủ nghĩa xã hội cùng với Liên Xô hợp thành một hệ thống xã hội chủ nghĩa hùng mạnh Những thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội trong

Trang 14

những năm 50 - 60 đã thu hút sự chú ý của thế giới và tác động tới chiều hướng phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới Ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội ngày càng lớn, chủ nghĩa xã hội là chỗ dựa tin cậy của phong trào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Chỉ nghĩa tư bản không còn

là một hệ thống duy nhấtchi phối nền chính trị thế giới Tình hình trên đây đã dẫn tới một vấn đề trong chiến lược của mình, Mỹ và các nước đồng minh không thể không tính đến việc hạn chế sự phát triển của chủ nghĩa xã hội

Mục tiêu và âm mưu chủ yếu của kế hoạch thống trị thế giới của Mỹ là tìm cách ngăn chặn và tiêu diệt hệ thống xã hội chủ nghĩa Với chính sách “ngăn chặn”, Mỹ định bao vây quân sự, kinh tế Liên Xô, hi vọng rằng Liên Xô sẽ bị suy yếu, kiệt quệ rồi đi đến chỗ tự tiêu diệt, và ở các nước Đông Âu, giai cấp tư sản sẽ có điều kiện lên nắm chính quyền, thiết lập nền thống trị tư bản chủ nghĩa cộng sản mà còn muốn câu kết, nâng đỡ các thế lực phản động ở hai nước này

để tiến tới tiêu diệt lực lượng cách mạng và xâm lược, thống trị toàn nước Đức

và toàn nước Tiều Tiên Trung Quốc là nơi mà Mỹ đã bỏ bao công sức nhiều nhất trong thời kỳ từ 1947 - 1949, hi vọng rằng sẽ tiêu diệt lực lượng cách mạng

và đặt được nền thống trị trên lục địa có dân số khoảng 700 triệu người Nhưng

âm mưu và hi vọng của Mỹ đã hoàn toàn bị phá sản trong giai đoạn này, hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới không những bị ngăn chặn mà còn được hình thành từ châu Âu sang châu Á và ngày càng phát triển mạnh mẽ Liên Xô không bị suy yếu và kiệt quệ mà trái lại còn hùng mạnh và vững chắc hơn trước, năm 1949, Liên Xô đã chế tạo thành công bom nguyên tử, khiến ưu thế độc quyền bom nguyên tử của Mỹ bị phá sản Ở Đông Âu, trong những năm 1947 -

1949, nhân dân các nước Anbani, Ba Lan, Hungari, Bungari, Nam Tư,Rumani, Tiệp Khắc đã lần lượt hoàn thành công cuộc cách mạng dân chủ nhân dân và bắt đầu bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội Đồng thời, sự thành lập nước Cộng hòa Dân chủ Đức (7/10/1949) và Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên (21/9/1948) là đòn đánh mạnh vào hệ thống tư bản chủ nghĩa thế giới, làm thất bại nặng nề âm mưu “ngăn chặn” và thống trị của Mỹ ở hai nước này Tháng 10/1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, đánh dấu hệ thống

Trang 15

xã hội chủ nghĩa đã được hình thành và làm cho lực lượng so sánh trên thế giới thay đổi có lợi cho chủ nghĩa xã hội Với thắng lợi của cách mạng Trung Quốc, cuộc đấu tranh giai cấpgay go, quyết liệt trên phạm vi quốc tế cho sự hình thành

hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đã thắng lợi và chính “chính sách ngăn chặn” chống lại sự hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới của Mỹ đã bị thất bại

Thứ tư, Chiến tranh thế giới thứ hai, cao trào giải phóng dân tộc diến ra sôi

nổi ở khắp các lục địa của Á, Phi, Mỹ Latinh, hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân bị tan vỡ từng mảng lớn và đến giữa những năm 60đã sụp đổ về cơ bản Hơn 100 quốc gia dân tộc trẻ tuổi ra đời, ngày càng tham gia tích cực vào đời sống chính trị thế giới Bộ mặt hành tinhthay đổi to lớn Trong chiến lược của hai cường quốc Xô - Mỹ và hai hệ thống không thể không tính đến lực lượng này

Thư năm, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật bùng nổ vào những năm 40

của thế kỉ XX và diễn ra mạnh mẽ sau đó Cuộc cách mạng này đã đưa lại những tiến bộ nhảy vọt, những thành tựu kì diệu, những tác động tích cực và những hậu quả của nó rất to lớn Những nước nào đi sâu vào cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, tận dụng những thành tựu của nó thì vươn lên mạnh mẽ, tiếng nói của họ trong quan hệ quốc tế ngày càng có trọng lượng hơn Những nước bỏ lỡ cơ hội tận dụng thành tựu của cách mạng khoa học - kỹ thuật, thì tụt hậu, hình bóng của các nước ấytrong quan hệ quốc tế cũng trở nên mờ nhạt

Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, hay còn gọi là cách mạng kỹ thuật lần thứ hai có những điểm khác biệt so với cuộc Cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất, vì có nội dung phong phú hơn và phạm vi rộng hơn nhiều, nó diễn ra trong lĩnh vực khoa học cơ bản gồm toán học, vật lí học, hóa học, sinh vật học Trải qua nửa thế kỉ, nhất là giữa thập niên 70 của thế kỉ XX, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đã thu được những thành tựu to lớn và kì diệu trên nhiều lĩnh vực Trong đó, sự kiện đáng chú ý, có ảnh hưởng trực tiếp đến hai khối quân sự được hình thành sau này là năm 1945, bom nguyên tử đã ra đời ở Mỹ, có thể dẫn tới những sự tàn phá không lường hết được của đất nước này đối với hòa bình thế giới Sau khi phá vỡ thế độc quyền về bom nguyên tử của Mỹ năm 1949 thì năm

Trang 16

1954, Liên Xô xây dựng nhà máy điện nguyên tử đầu tiên trên thế giới, mở đầu thời đại sử dụngnăng lượng nguyên tử vào mục đích hòa bình

Tóm lại, Chiến tranh lạnh gần như là một hệ quả tất yếu của tình hình đối đầu, căng thẳng giữa hai phe thời kì sau Chiến tranh thế giới thứ hai Cuộc Ciến tranh lạnh (hình thành năm 1947 và kéo dài dến năm 1989) đã có tác động mạnh mẽ tới chính sách đối nội, quan hệ đối ngoại và mậu dịch của hầu hết các nước trên thế giới Chiến tranh lạnh “không tạo lập tất cả nhưng lại định hình rất nhiều thứ” Nhà nghiên cứu Mỹ, Thomas L Friedman, đã chỉ ra rằng “với vai trò

là một hệ thống quốc tế, Chiến tranh lạnh có cấu trúc quyền lực riêng: cán cân giữa lực lượng Hoa Kì và Liên bang Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Xô viết Chiến tranh lạnh có những luật lệ riêng: trong quan hệ đối ngoại, không một siêu cường nào muốn xâm nhập vào vùng ảnh hưởng của một siêu cường khác; trong kinh tế, những nước kém phát triển chú tâm vào việc phát triển những ngành công nghiệp quốc gia của riêng họ, cac nước đang phát triển chú tâm tăng cường trên cơ sở xuất khẩu, các nước xã hội chủ nghĩa tập trung thắt lưng buộc bụng và phương Tây thì chăm chăm vào việc buôn bán có điều tiết Chiến tranh lạnh có

hệ tư tưởng riêng của nó: cuộc chạm chán giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giai đoạn hòa hoãn, không liên kết hay cãi tổ Chiến tranh lạnh có khuynh hướng về dân số riêng: di cư từ Đông sang Tây bị bức màn sắt ngăn trở, nhưng

di cư từ miền Nam lên phía Bắc thì đều đặn hơn, Chiến tranh lạnh có cái nhìn toàn cầu riêng: thế giới được chia thành phe xã hội chủ nghĩa, phe tư bản chủ nghĩa và phe trung lập; nước nào cũng tuộc một trong những phe này Chiến tranh lạnh sinh ra từ những công nghệ định hình riêng: chủ đạo là vũ khí hạt nhân và cuộc cách mạng công nghệ lần thứ hai, nhưng đối với dân chúng ở các nước đang phát triển thì búa liềm vẫn là công cụ gần gũi Ngoài ra, Chiến tranh lạnh có thước đo riêng: số lượng tên lửa hạt nhân của mỗi bên Và sau cùng, Chiến tranh lạnh tạo ra mối lo riêng: sự hủy diệt hạt nhân” Không chỉ vậy, Thomas L Friendman đã đúng khi khẳng định “Trước hết nói về Chiến tranh lạnh và nói đến sự chia cắt Thế giới bị chia cắt ngang dọc thành nhiều cánh đồng vụn vặt manh mún”

Trang 17

Chiến tranh lạnh mở rộng sang Châu Á

Từ năm 1947 đến năm 1949, Chiến tranh lạnh và tranh chấp Đông - Tây diễn ra chủ yếu ở Châu Âu với sự đối đầu giữa hai siêu cường Liên Xô - Mỹ Thời điểm đó, ở Châu Á cũng xuất hiện mầm mống chiến tranh lạnh như trong cuộc nội chiến ở Trung Quốc, Liên Xô giúp Đảng Cộng sản, Mỹ giúp Quốc dân Đảng; ở Triều Tiên, Hồng quân Liên Xô đóng ở phía Bắc, quân Mỹ đóng ở phía Nam Tuy nhiên, ở đây chưa hình thành chiến tranh lạnh rõ nét Liên Xô có quan

hệ với phe của Tưởng Giới Thạch, hai miền Triều Tiên còn đang ở thời kì khôi phục sau chiến tranh Ở Đông Dương chỉ là cuộc đối đầu của hai bên Việt - Pháp Cách mạng Trung Quốc thành công, ngày 1/10/1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời Cục diện Châu Á và thế giới có những thay đổi lớn

Hệ thống xã hội chủ nghĩa mở rộng từ Châu Âu sang Châu Á Liên Xô có đồng minh mạnh ở phía Nam Tháng 2/1950, Liên Xô và Trung Quốc kí Hiệp ước đồng minh tương trợ Tiếp đó, Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam Phe xã hội chủ nghĩa vươn tới Đông Nam Á Thế đối đầu Đông - Tây đã khác trước Khối Đông mạnh hẳn lên Liên

Xô lại có bom nguyên tử phá được thế độc quyền vũ khí này của Mỹ

Chỉ nửa năm sau khi cách mạng Trung Quốc thành công, tháng 6/1950, chiến tranh Triều Tiên nổ ra Quân Mỹ tiến gần sông Áp Lục, uy hiếp an ninh của Trung Quốc Với sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc đưa quân đội sang kháng Mỹ viện Triều Chiến tranh Triều Tiên trở thành cuộc đụng đầu giữa Trung Quốc và Mỹ Chiến tranh lạnh lan sang Châu Á và phát sinh chiến tranh nóng

Phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân ở các nước tư bản

và chủ nghĩa xã hội trên thế giới phát triển mạnh mẽ tạo thành ba dòng thác cách mạng

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào giải phóng dân tộc phát triển

rộng khắp trên thế giới

Ở Châu Á, đặc biệt là Đông Dương, sự đoàn kết gắn bó trong nội bộ nhân dân Việt Nam cũng như đoàn kết giữa nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia càng thêm chặt chẽ để chẩn bị đối phó với những thủ đoạn xâm lược

Trang 18

của tập đoàn đế quốc Pháp - Mỹ đang triển khai tích cực Những nhiệm vụ xây dựng vừa mới được giải phóng, củng cố lực lượng cách mạng được thực hiện với khí thế sôi nổi

Ở Châu Phi, phong trào giải phóng dân tộc trong thời gian này cũng có bước tiến lớn Phong trào đấu tranh diễn ra với khí thế sục sôi ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, tiêu biểu như: Marốc, Angiêri, Tuynidi, Mali, Xuđăng, Mađagatxca, Camơrun, Trong thời gian này, nhiều quốc gia được trao trả độc lập dân tộc ở các mức độ khác nhau

Ở Mỹ Latinh, điển hình là nhân dân Cuba dưới sự lãnh đạo của Phiđen Catxtrô đã kiên trì đấu tranh và giành được thắng lợi Cách mạng Cuba thành công trên một đất nước nằm ngay cửa ngõ nước Mỹ đã xua tan ấn tượng khủng khiếp về sức mạnh của bọn tư bản thống trị, củng cố lòng tin vào sức mạnh của quần chúng cách mạng, làm cho nhân dân các nước Mỹ Latinh càng giác ngộ về nhiệm vụ đấu tranh giành quyền sống và độc lập tự do cho dân tộc mình

Phong trào công nhân ở các nước tư bản ngày càng phát triển với quy mô rộng lớn và hình thức phong phú Những đợt bãi công liên tiếp với hàng triệu người tham gia kéo dài hàng tháng Nhiều cuộc xuống đường biểu dương lực lượng, làm cho bộ máy nhà nước tư sản phải đối phó lúng túng

Sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc và phong trào công nhân

ở các nước tư bản cùng với phong trào hòa bình trên thế giới đã mở rộng phạm

vi ảnh hưởng của hệ thống xã hội chủ nghĩa được hình thành từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa được củng cố và nối liền từ

Âu sang Á, trở thành thành trì của hòa bình và an ninh thế giới Hệ thống xã hội chủ nghĩa là chỗ dựa vững chắc cho phong trào giải phóng dân tộc, chống áp bức bóc lột, là lực lượng trụ cột của phong trào đấu tranh cho hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc

Như vậy, trên thế giới trong giai đoạn này, cách mạng và phản cách mạng đối đầu với nhau một cách gay gắt, dữ dội Các thế lực phản động tập hợp lại do

Mỹ đứng đầu, trong khi đó, Liên Xô đang từng bước khẳng định là trụ cột của phong trào cách mạng thế giới

Trang 19

Một điểm quan trọng trong thời kì này không thể không nhắc đến đó là loài người vừa bước ra khỏi một cuộc đại chiến thế giới với những vết thương chiến tranh khó có thể hàn gắn được, hậu quả của cuộc chiến tranh là vô cùng nặng nề đối với nhân loại Con người chán ghét chiến tranh, mong muốn một cuộc sống hòa bình, ổn định

Như vậy, đặc điểm nổi bật của tình hình thế giới giai đoạn này là đế quốc

Mỹ thực hiện chiến lược toàn cầu phản cách mạng nhằm bao vây, chia rẽ, chống phá các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào giải phóng dân tộc, duy trì địa vị

lãnh đạo “thế giới tự do” Chiến tranh lạnh diễn ra gay gắt Đó là bối cảnh lịch

sử tác động đến cuộc chiến tranh của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược

1.1.2 Tác động của tình hình thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai tới cách mạng Việt Nam

Chiến trah thế giới thứ hai nổ ra đã ảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển của lịch sử sau chiến tranh, đã tác động tới cục diện thế giới, tới phạm vi, tình hình chính trị, xã hội của từng nước

Chủ nghĩa phát xít Đức khuynh đảo thế giới trong một thời gian dài, ngày 1/9/1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan Hai ngày sau, Anh, Pháp tuyên chiến với Đức

động Pê tanh lên cầm quyền

Tháng 6/1941, Đức tấn công Liên Xô, tính chất chiến tranh thay đổi Ở Châu Á - Thái Bình Dương, Nhật Bản mở rộng xâm lược Trung Quốc, tiến sát biên giới Việt - Trung Tháng 9/1940, Nhật vào Đông Dương

Ở Đông Dương, thế lực phản động thuộc địa ngóc đầu dậy, thủ tiêu các quyền tự do, dân chủ, thi hành chính sách “Kinh tế chỉ huy” Khi Nhật vào Đông Dương, Pháp đầu hàng Nhật và câu kết với Nhật để thống trị và bóc lột nhân dân Đông Dương, làm cho nhân dân Đông Dương phải chịu hai tầng áp bức

Tháng 9 năm 1945, cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với sự thắng lợi của phe Đồng minh chống phát xít và sự thất bại của phe phát xít Kể từ thời

Trang 20

điểm lịch sử trọng đại này,lịch sử thế giới và quan hệ quốc tế chuyển sang một thời kỳ mới với nhiều biến chuyển to lớn và chưa từng có Đầu năm 1945, trong bối cảnh Hồng quân Liên Xô đang truy quét bọn phát xít ra khỏi biên giới đất nước và chuẩn bị tác chiến trên lãnh thổ các nước Đông Âu đang chịu sự chiếm đóng của Đức quốc xã và quân đội Đồng minh Mỹ - Anh cũng giành được thắng lợi trong nỗ lực mở mặt trận thứ hai ở Tây Âu và mặt trận Thái Bình Dương, nguyên thủ của ba cường quốc giữ vai trò nòng cốt trong phe Đồng minh (Liên

Xô, Anh, Mỹ) đã gặp nhau tại thành phố Ianta (bán đảo Crưm, Liên Xô) để nhằm đưa ra các biện pháp quan trọng nhằm đánh bại nhanh chóng các nước phát xít Đức và Nhật, kết thúc chiến tranh, đồng thời thiết lập một nền hòa bình lâu dài trên trái đất Cuộc gặp thượng đỉnh tam cường diễn ra từ ngày 4 đến ngày

11 tháng 2 năm 1945 với sự tham gia của Stalin, Roosevelt và Churchill Do liên quan đến lợi ích của mỗi cường quốc thắng trận mà hội nghị tại Ianta đã diễn ra trong bầu không khí căng thẳng và sự tranh giành quyết liệt Tuy nhiên, vì lợi ích chung có liên quan trực tiếp tới nền hòa bình, an ninh và trật tự thế giới mới sau chiến tranh nên cuối cùng các bên tham gia hội nghị cũng đã đạt được sự đồng thuận trên một số vấn đề chủ yếu sau:

Về vấn đề Đức, Liên Xô, Anh và Mỹ đã thống nhất với nhau rằng, cần phải đánh bại hoàn toàn và tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa phát xít Đức Sau khi Hitle bị đánh bại, nước Đức sẽ bị lực lượng Đồng minh chiếm đóng Theo thỏa thuận giữa ba cường quốc, Liên Xô sẽ chiếm đóng vùng Đông Đức, Anh chiếm đóng vùng Tây - Bắc, còn Mỹ sẽ chiếm đóng vùng Tây - Nam của nước Đức

Do sự ủng hộ của Mỹ nên Pháp cũng có thể tham gia vào việc chiếm đóng nước Đức( đại diện Mỹ từng cho rằng: “không thể tưởng tượng một châu Âu ổn định

mà không có một nước Pháp mạnh và có ảnh hưởng” Thủ đô Béclin của Đức cũng bị phân chia thành những vùng chịu sự chiếm đóng và kiểm soát của bốn cường quốc (Liên Xô, Anh, Mỹ và Pháp) Nhằm phối hợp hành động và thi hành những chính sách đã thỏa thuận áp dụng cho nước Đức, một Ủy ban kiểm soát Trung ương sẽ được thành lập ở Béclin Cơ quan này đảm nhiệm chức năng làm Chính quyền tối cao ở Đức, với sự tham gia của những người đứng đầu các lực

Trang 21

lượng vũ trang ba cường quốc (Liên Xô, Anh và Mỹ) trên lãnh thổ Đức Pháp cũng được mời tham gia vào ủy ban này (sau đổi tên thành Hội đồng kiểm soát của Đồng minh)

Tại Hội nghị Ianta, ba cường quốc giữ vai trò nòng cốt trong phe Đồng minh chống phát xít đã đạt được thỏa thuận nhiều vấn đề liên quan đến nước Đức phát xít như nước Đức sau khi bị đánh bại sẽ bị giải giáp vũ trang, thủ tiêu

Bộ Tổng tham mưu, thủ tiêu nền công nghiệp chiến tranh, loại bỏ các đảng phái

và tổ chức phát xít trừng trị tội phạm chiến tranh, vấn đề bồi thường chiến tranh Một văn kiện quan trọng liên quan tới châu Âu cũng đã được nguyên thủ Liên Xô, Mỹ và Anh thông qua tại Ianta, đó là “Tuyên ngôn giải phóng châu Âu” Tuyên ngôn có nội dung cơ bản là ba cường quốc cam kết phối hợp hành động để giúp tất cả các quốc gia dân tộc bị chủ nghĩa phát xít Đức, Italia xâm lược và chiếm đóng tiến hành cuộc đấu tranh tự giải phóng Đồng thời, sau khi châu Âu được giải phóng, quân đội của các cường quốc Đồng minh sẽ tiếp tục ở lại trên lãnh thổ các nước châu Âu theo thỏa thuận nhằm tiến hành giải giáp quân đội phát xít, giúp đỡ các nước này xây dựng một chế độ mới theo lựa chọn của chính họ.Cũng tại Hội nghị thượng đỉnh tại Ianta, ba cường quốc đã cùng nhau phân chia khu vực ảnh hưởng ở châu Âu và châu Á sau chiến tranh

Ở châu Âu: Quân đội Liên Xô chiếm đóng và kiểm soát Đông Đức và Đông Béclin Quân đội Mĩ, Anh và Pháp chiếm đóng và kiểm soát Tây Đức, Tây Béclin, Italia và một số nước Tây Âu khác; vùng Đông Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô; vùng Tây Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mĩ, trong

đó Áo và Phần Lan trở thành những nước trung lập

Ở châu Á: Do việc Liên Xô chấp nhận tham chiến chống Nhật, Mĩ và Anh

đã chấp nhận những yêu cầu của Liên Xô: duy trì nguyên trạng của CHND Mông Cổ; trả lại cho Liên Xô miền Nam đảo Xakhalin và quần đảo Curin bị Nhật chiếm từ sau chiến tranh Nga - Nhật (1904-1905);quân đội Mĩ chiếm đóng Nhật Bản; trả lại cho Trung Quốc quần đảo Bành Hồ và Mãn Châu bị Nhật chiếm từ sau năm 1895; quân đội Liên Xô và Mĩ rút khỏi Trung Quốc; Trung Quốc tiến tới thành lập một chính phủ liên hiệp có sự tham gia của Đảng Cộng

Trang 22

sản Trung Quốc; Mĩ có quyền lợi ở Trung Quốc; Triều Tiên sẽ trở thành một nước độc lập, nhưng trước mắt quân đội Liên Xô và Mĩ chia nhau kiểm soát Bắc

và Nam vĩ tuyến 38; các vùng lãnh thổ còn lại của châu Á (ĐôngNam Á, Nam Á

và Tây Á) vẫn thuộc phạm vi truyền thống của các nước phương Tây.Có thể thấy, những kết quả đạt được giữa Liên Xô, Anh và Mỹ tại Ianta vào tháng 2 năm1945 không chỉ thiết lập một sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các nước thuộc phe Đồng minhtrong cuộc chiến tranh chống lại chủ nghĩa phát xít ở giai đoạn cuối cùng mà còn đặt những cơsở có tính chất nền tảng cho việc hình thành một trật tự thế giới mới sau chiến tranh mà lịch sửgọi là Trật tự hai cực Ianta do Liên

Xô và Mĩ đứng đầu mỗi cực với các khu ảnh hưởng của mỗinước.Sau hội nghị Ianta, cả ba cường quốc đều đẩy mạnh các hoạt động quân sự nhằm nhanhchóng đánh bại chủ nghĩa phát xít Đức Tuy quân đội Đức đã kháng cự điên cuồng song vẫn không thể ngăn cản được bước tiến của lực lượng Đồng minh

1.2 Tính chất cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) của Việt Nam

1.2.1 Đây là cuộc chiến tranh chính nghĩa chống chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng nhưng đất nước tạm thời chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau Miền Bắc từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội, còn miền Nam trở thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ Sau khi xâm chiếm miền Nam từ năm 1954, đến năm 1961, đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh trên toàn bộ miền Nam, từ đầu 1965 chúng tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc Cuộc chiến tranh này nằm trong chiến lược thực dân mới nhằm một mục tiêu bao trùm là chống phá cả hai miền Nam - Bắc, hòng đè bẹp và tiêu diệt cách mạng Việt Nam Do đó, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một cuộc chiến tranh cứu nước của toàn thể dân tộc Việt Nam, của cả nước không thể cắt rời Nam Bắc Cùng một lúc nhân dân Việt Nam phải thực hiện hai chiến lược cách mạng nhằm mục tiêu chung là giải phóng miền Nam , bảo vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc để đưa cả nước tiến lên

Trang 23

theo con đường xã hội chủ nghĩa Có kiên quyết chiến đấu để giải phóng miền Nam mới bảo vệ được miền Bắc và có bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa mới có điều kiện về mọi mặt để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc Như vậy, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam vừa mang tính chất giải phóng dân tộc, vừa mang tính chất bảo vệ Tổ quốc, nhưng chủ yếu là một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Đó là cuộc chiến

tranh yêu nước, “cuộc chiến đấu quyết liệt giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa

văn minh và tàn bạo” [1;96].Đó là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc do Đảng

Cộng sản lãnh đạo, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, có sự phát triển mới về chất so với các cuộc chiến tranh trước đây Nó gắn giải phóng dân tộc với giải phóng xã hội, giải phóng lao động, gắn cứu nước với cứu dân Chính Mỹ đã phải thừa

nhận “Đối phương đã tìm ra một chiến lược khôn khéo đến mức nguy hiểm để

đánh bại Mỹ Chiến lược đó là tiến hành một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc dựa trên nguyện vọng của nhân dân Việt Nam muốn độc lập và công bằng

xã hội Nước ngoài không bao giờ có thể địch nổi chiến lược đó”[1;96]

Cuộc chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh chính nghĩa chống chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ còn thể hiện ở chỗ: Cả quá trình lâu dài của cuộc chiến tranh, trước sau bọn ngụy quân, ngụy quyền miền Nam

dù có mang chiêu bài “quốc gia”, “dân tộc” và dù có là một lực lượng chiến lược, song vẫn chỉ là tay sai của đế quốc Mỹ Lúc có cũng như khi không có quân Mỹ trực tiếp tham chiến, chúng chỉ là công cụ tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ theo chính sách “dùng người Việt đánh người Việt” mà sau này được gọi là “thay màu da của xác chết” trong chiến lược chiến tranh cuối cùng của chúng Vì vậy, tính chất bao trùm nhất về phía địch vẫn là chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa thực dân giấu mặt, trá hình Chúng tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược toàn diện, coi trọng cả các mặt quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, tâm lí, xã hội nhưng biện pháp chủ yếu và xuyên suốt vẫn là quân sự Nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng và chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, với trình độ phát triển cao, chống lại và đánh thắng được cuộc chiến tranh xâm lược dã man, tàn khốc nhất

Trang 24

của đế quốc Mỹ trong thế kỷ này Chúng ta tiến công bằng cả quân sự, chính trị

và ngoại giao, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, tiêu diệt địch và giành quyền làm chủ Từ khởi nghĩa từng phần phát triển thành chiến tranh cách mạng, song vẫn tiếp tục kết hợp chiến tranh cách mạng với khởi nghĩa vũ trang trong quá trình tiến hành chiến tranh; phát huy sức mạnh tổng hợp của ta, hạn chế chỗ mạnh về quân sự của Mỹ, khoét sâu chỗ yếu về chính trị

và ngoại giao của chúng; đánh bại từng chiến lược chiến tranh, tiến đến làm phá sản các mục tiêu quân sự, chính trị của chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ Cuộc chiến tranh 1954 - 1975 mang tính bảo bảo vệ Tổ quốc (sau Cách mạng Tháng Tám, ta đã có nhà nước với hệ thống chính quyền từ trung ương đến cơ sở; trong chống Mỹ có miền Bắc được giải phóng là hậu phương lớn của miền Nam, là căn cứ địa cách mạng của cả nước) nhưng chủ yếu là một cuộc chiến tranh nhằm giải phóng dân tộc Mặt khác, cần nhận rõ cuộc chiến tranh ấy còn mang nội dung đấu tranh giai cấp rất quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng, giữa một bên là thế lực đế quốc và tay sai muốn kìm giữ Việt Nam trong quỹ đạo tư bản chủ nghĩa và một bên là nhân dân Việt Nam quyết tiến lên theo con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa Nó phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp gay go, phức tạp đang diễn ra trên thế giới

Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra từ lâu, chủ nghĩa dân tộc, tinh thần yêu nước là động lực vĩ đại của đất nước, của cuộc chiến tranh giải phóng Người khẳng định sẽ không làm gì được cho người Việt Nam nếu không dựa trên động lực đó Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, theo tư tưởng của Người, dân tộc bao giờ cũng gắn với giai cấp, vấn đề dân tộc được giải quyết trên lập trường của giai cấp công nhân nên không hề bị vẩn đục bởi những thiên kiến chủng tộc và chủ nghĩa vô sanh Tinh thần yêu nước được nâng lên thành chủ nghĩa yêu nước, gắn yêu nước với yêu chủ nghĩa xã hội, gắn yêu nước với tinh thần quốc tế Khơi dậy và phát huy chủ nghĩa yêu nước ấy, chúng ta mới có chiến tranh toàn dân, toàn diện, dựa vào sức ta là chính đề tự giải phóng, đồng thời tranh thủ được sự trợ lực của bên ngoài để tăng thêm sức mạnh kháng chiến

Trang 25

Chiến tranh Việt Nam là chiến tranh chính nghĩa chống xâm lược mang nội dung đấu tranh giai cấp quyết liệt Đây không phải là nội chiến mà về phía địch là cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ, kẻ bóc lột lớn nhất thế giới, đầu sỏ quốc tế, sen đầm quốc tế; về phía Việt Nam là một cuộc chiến tranh chính nghĩa chống xâm lược để giành và giữ vững nền độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội, hòa bình Phải khẳng định rằng đương đầu và đánh thắng đế quốc Mỹ và bọn tay sai đại biểu cho giai cấp phong kiến và tư sản mại bản quan liêu quân phiệt ở miền Nam là một cuộc đấu tranh giai cấp cực kì quyết liệt Nhân dân Việt Nam nêu cao ngọn cờ độc lập tự do, ngọn cờ giải phóng dân tộc, nhưng rõ ràng ở đây không chỉ có vấn đề chống đế quốc Mỹ để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước mà còn là giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa cách mạng và phản cách mạng, giữa một bên là nhân dân Việt Nam muốn thúc đẩy miền Nam tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa với một bên là thế lực

đế quốc và tay sai muốn kìm hãm miền Nam trong quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản Là một bộ phận của cuộc đấu tranh giai cấp giữa hai trận tuyến trên phạm

vi thế giới, cuộc chiến tranh giữa nhân dân Việt Nam và đế quốc Mỹ đã diễn ra gay go quyết liệt và phức tạp, điều đó đã được thực tế lịch sử chứng minh

1.2.2 Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam mang tính chất liên minh của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia chống kẻ thù chung

Trong chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, thực dân Pháp cũng như đế quốc Mỹ đều ra sức thực hiện âm mưu chia rẽ ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, xâm chiếm từng nước, dùng lãnh thổ nước này để tiến công xâm lược nước kia, hòng đặt nền thống trị của chúng trên bán đảo này Chúng đã biến cả Đông Dương thành một chiến trường Ba nước láng giềng cùng chung biên giới vốn có mối quan hệ lịch sử lâu đời, nhất là từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời thống nhất lãnh đạo cách mạng cả ba nước, thì tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân ba nước trong cuộc đấu tranh chung giành độc lập tự do đã trở thành một truyền thống quý báu Đoàn kết liên minh là một tất yếu khách quan, bảo đảm cho sự nghiệp giành và giữ độc lập tự do của mỗi nước đi đến thắng lợi

Trang 26

Từ lâu, Mỹ đã có âm mưu xâm chiếm cả ba nước trên bán đảo Đông

Dương trong một chiến lược khu vực của chúng Cũng như thực dân Pháp trước

đó, đế quốc Mỹ xâm chiếm từng nước, dùng nước này để làm bàn đạp uy hiếp hoặc xâm lược nước kia Cuối cùng, chúng biến cả Đông Dương thành một chiến trường Ba dân tộc láng giềng Việt Nam, Lào, Campuchia vốn có mối quan hệ gắn bó với nhau từ thuở xa xưa, nhất là từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời (đầu năm 1930) thống nhất lãnh đạo cách mạng cả ba nước, tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân ba dân tộc có bước phát triển mới và đã trở thành một truyền thống tốt đẹp từ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, góp phần làm nên nhiều thắng lợi chung để đi đến thắng lợi cuối cùng năm

1954 Khi đế quốc Mỹ thay chân thực dân Pháp tiến hành xâm lược hoặc xâm nhập vào Việt Nam, Lào, Campuchia lại đoàn kết gắn bó với nhau, tự nguyện liên minh với nhau để chống kẻ thù chung của cả ba dân tộc, hình thành mặt trận nhân dân Đông Dương chống Mỹ và khối liên minh kháng chiến ngày càng vững chắc, tạo nên thế chiến lược tiến công chung của nhân dân ba nước Đông Dương chống chiến tranh xâm lược

Sau thời kỳ chống thực dân Pháp, quan hệ liên minh chống Mỹ xâm lược được thực hiện trong bối cảnh phức tạp hơn trước rất nhiều Sự đoàn kết liên minh Việt Nam - Lào, chủ yếu là liên minh giữa quân đội và nhân dân hai nước, dưới sự lãnh đạo của hai đảng, tiếp tục được giữ vững và phát triển, trở thành quan hệ đặc biệt hiếm thấy trong suốt cuộc chiến tranh 30 năm

Cuộc liên minh Việt Nam - Campuchia do cục diện cách mạng, chiến lược

và sách lược cách mạng của hai nước khác nhau cũng như do sự tác động của các thế lực nước lớn bên ngoài, cho nên đã trải qua nhiều cơn sóng gió, nhiều bước quanh co gập ghềnh, có những lúc diễn biến không bình thường Nhưng do Đảng ta có đường lối đúng đắn, nhất quán, kiên trì đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù chung, kiên trì nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, đấu tranh khắc phục những tư tưởng và hành động có hại cho sự nghiệp chung của

cả ba nước, đồng thời biết lựa chọn nhiều hình thức liên minh thích hợp, cho nên liên minh vẫn được giữ vững và đến giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống

Trang 27

Mỹ, cứu nước đã tạo được sức mạnh và thế tiến công chiến lược cho cả hai nước, góp phần vào thế trận chung trên chiến trường Đông Dương, củng cố và tăng cường quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt giữa ba dân tộc Việt - Lào - Campuchia Thành quả vĩ đại của sự nghiệp đoàn kết liên minh là Việt Nam đã giành được thắng lợi hoàn toàn, đồng thời làm tròn nghĩa vụ cao cả đoàn kết hữu nghị đặc biệt giúp hai nước Lào, Campuchia giành thắng lợi trọn vẹn trong cùng một năm trên tinh thần quốc tế trong sáng “giúp bạn là tự giúp mình”

Chúng ta có quyền tự hào khẳng định rằng: bằng mồ hôi và xương máu, quân và dân ta đã xây đắp nên một tượng đài bất diện về tình đoàn kết quốc tế thủy chung, son sắt đối với nhân dân hai nước láng giềng thân thiết Trong quá trình đoàn kết liên minh, nhân dân Lào, nhân dân Campuchia cũng đổ bao mồ hôi, xương máu và chịu nhiều tổn thất nặng nề để giúp đỡ nhân dân ta Chúng ta đời đời biết ơn sự giúp đỡ to lớn đó của nhân dân hai nước anh em Chúng ta chân trọng tình hữu nghị đoàn kết đặc biệt giữa ba dân tộc và nhất định giữ gìn, phát huy nó như một vốn quý, một nguồn lực cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp hợp tác, phát triển giữa ba nước trong bối cảnh quốc tế mới

1.2.3 Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam là cuộc đụng đầu lịch sử mang tính thời đại sâu sắc

Cuộc đụng đầu lịch sử này diễn ra ở khu vực nóng bỏng, nơi tập trung nhiều mâu thuẫn gay gắt của thời đại Cuộc kháng chiến chống Mỹ là thử thách cực kì to lớn, nghiêm trọng và toàn diện đối với dân tộc Viêt Nam Việt Nam phải tiến hành hai cuộc kháng chiến vì sự sống còn của dân tộc, của nền văn hóa, vì nghĩa vụ thiêng liêng của các thế hệ hiện nay nhằm chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc phương Tây kéo dài hơn một thế kỉ, rửa sạch cái nhục và nỗi đau mất nước, đưa dân tộc và Tổ quốc ta bước sang một kỉ nguyên mới, xây dựng một cuộc sống hạnh phúc trong độc lập tự do, thu giang sơn về một mối

Đồng thời, cuộc chiến tranh cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới trong thời đại mới Cuộc kháng chiến chống Pháp đã tìm ra đáp số của bài toán do thời đại đặt ra: làm thế nào một nước nhỏ, nghèo có thể đánh

Trang 28

thắng chiến tranh xâm lược của một đế quốc to, mở đầu sự tiêu vong của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới Đó là cuộc đối đầu giữa hai lực lượng: một bên là dân tộc Việt Nam được lịch sử giao phó sứ mệnh làm chiến sĩ xung kích chiến đấu chống chủ nghĩa thực dân cũ, chôn vùi chế độ thuộc địa, với một bên là nước đế quốc muốn tái lập một chế độ đã bị lịch sử lên án, đi ngược lại xu thế của thời đại Kết cục của cuộc kháng chiến này chẳng những khẳng định tính phổ biến của một chân lý do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát hiện: cách mạng giải phóng có thể tự lực thành công trước cách mạng chính quốc và thúc đẩy cách mạng chính quốc, mà trên thực tế còn góp phần quyết định biến những phong trào giải phóng dân tộc từ chỗ như ngọn lửa mới nhen trở thành một núi lửa thiêu trụi chủ nghĩa thực dân Nó đã làm cho độc lập dân tộc, một trong những mục tiêu của thời đại, không còn là hy vọng xa xôi mà đã và đang trở thành hiện thực

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc chiến tranh của Mỹ xâm lược Việt Nam là cuộc phản kích lớn nhất, quyết liệt nhất vào các lực lượng giải phóng dân tộc và xã hội chủ nghĩa

Tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ không chỉ nhằm đánh bại cách mạng Việt Nam mà còn nhằm rút kinh nghiệm đối phó với cách mạng thế giới, ngăn đe phong trào giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đồng thời tranh giành ảnh hưởng với các đế quốc khác trên các lục địa Rõ ràng vì mục tiêu của chiến lược toàn cầu nên đế quốc Mỹ nhảy vào Việt Nam Trọng tâm trong chiến lược toàn cầu của Mỹ trước sau vẫn là Châu Âu Song Việt Nam

là điểm nóng bỏng nhất khu vực Đông Nam Á, cho nên việc điều chỉnh chiến lược toàn cầu của Mỹ gắn liền với sự phát triển của chính sách và chiến lược của

Mỹ ở Việt Nam Giới chiến lược Nhà Trắng và Lầu Năm góc đã phải xác nhận rằng có những điều đã vượt ra ngoài dự tính chiến lược của Mỹ Rốt cuộc, Việt

Nam đã trở thành nơi trung tâm đối phó của chiến lược toàn cầu Mỹ Mỗi thất

bại chiến lược của Mỹ ở Việt Nam đã tác động sâu sắc đến chiến lược toàn cầu của Mỹ Lúc này đế quốc Mỹ không những là kẻ thù trực tiếp của nhân dân Việt Nam mà đang là kẻ thù chung nguy hiểm của nhân loại tiến bộ Cách mạng Việt

Trang 29

Nam vốn là một bộ phận của thế giới, nay đã trở thành tuyến đầu của phong trào giải phóng dân tộc chống chủ nghĩa thực dâm mới của đế quốc Mỹ, góp phần

ngắn chặn và đánh bại các cuộc “chiến tranh hạn chế” của Mỹ ở các khu vực

khác Đặc biệt từ khi Mỹ trực tiếp đưa quân viễn chinh xâm lược miền Nam, phát động cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc nước ta, một thành viên của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam thực sự trở thành cuộc đụng đầu lịch sử Việt Nam chiến đấu không chỉ vì bản thân mình mà còn vì những mục tiêu cao cả của thời đại Việt Nam đánh Mỹ là đánh kẻ thù lớn nhất của thời đại, kẻ thù chung của loài người tiến bộ Mỹ thua Việt Nam không chỉ thua một cuộc chiến tranh, mà còn chịu một thất bại có ý nghĩa toàn cầu Đánh thắng Mỹ

là một cống hiến lớn lao của nhân dân Việt Nam đối với phong trào cách mạng thế giới

Chính vì cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam diễn ra vào thời kỳ cách mạng của thời đại đang ở thế tiến công và là một bộ phạngawns bó chặt ché với

ta trào lưu cách mạng của thời đại, cho nên nhân dân Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của cả ngoài người tiến bộ Với sức mạnh của thời đại, sức mạnh dân tộc Việt Nam đã được tăng thêm

1.3 Bước đầu hình thành phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam của nhân dân Mỹ và một số nước Mỹ Latinh

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam đã kết thúc hơn 30 năm (1975), nhưng tội ác của Mỹ vẫn còn Đế quốc Mỹ - tên đế quốc đầu sỏ có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn nhất trong phe đế quốc đã nhúng tay can thiệp và xâm lược đẫm máu vào Việt Nam Mặc dù những âm mưu và kế hoạch đen tối của Mỹ lần lượt bị nhân dân Việt Nam đập tan nhưng chúng vẫn rất ngoan cố, hiếu chiến Chúng trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lượcvaf không ngừng tăng cường mở rộng cuộc chiến tranh đó Có thể nói đây là một trong những cuộc chiến tranh xâm lược bỉ ổi, tàn bạo, dã man nhất trong lịch sử thế giới hiện đại

Trang 30

Để chống lại cuộc chiến tranh xâm lược ấy, toàn dân Việt Nam từ Bắc tới Nam đã kiên quyết vùng lên, tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bền bỉ, ngoan cường, đầy dũng khí, sáng tạo và mưu trí Quân dân Việt Nam đã đánh bại hết các chiến lược, chiến thuật này đến chiến lược, chiến thuật khác của bọn xâm lược Mỹ, đã bẻ gãy hết cuộc hành quân này tới cuộc hành quân khác

của quân đội Mỹ - Ngụy, đẩy những “nhà chiến lược” giỏi nhất và những đội quân tinh nhuệ nhất của đế quốc Mỹ vào “đường hầm không lối thoát”

Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam lúc đó là một cuộc

chiến đấu vĩ đại, không chỉ để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, nhằm giành lại những quyền dân tộc cơ bản chính đáng của mình mà còn góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì độc lập, dân chủ, hòa bình và chủ nghĩa xã hội Chính vì vậy, nhân dân tiến bộ trên thế giới đã coi cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam là cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung của các dân tộc khắp nơi trên trái đất, đâu đâu cũng dấy lên phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam của nhân dân các nước

tư bản chủ nghĩa, chống dế quốc Mỹ xâm lược Phong trào ra đời dựa trên cơ sở

sự nhận thức về tác hại của chiến tranh: chiến tranh chỉ đem lại đau thương tang tóc cho con người Nhân loại đã chán ghét chiến tranh, mong muốn một cuộc sống hòa bình và ổn định Lương tri loài người đã thức tỉnh, tạo thành phong trào nhân dân thế giới, lên án Mỹ mạnh mẽ, ủng hộ Việt Nam nhiệt tình Đây là nhân tố quốc tế quan trọng

Trên thực tế, sự phản đối chiến tranh Việt Nam của nhân dân tiến bộ trên thế giới không phải khi đế quoc Mỹ xâm lược Việt Nam mới xuất hiện mà đã nhen nhóm hình thành từ thời gian trước đó

Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược và đô hộ Việt Nam, biến Việt Nam thành nước thuộc địa nửa phong kiến Nhân dân Việt Nam anh dũng đứng lên chống trả, nhưng không tìm ra lối thoát, rơi vào cảnh lầm than đói khổ.Vào thời

kỳ đó, nhiều sĩ phu yêu nước đã không chịu cảnh nước mất nhà tan, nên muốn tìm cách giúp đất nước thoát khỏi hoàn cảnh bế tắc Trong đó, không thể không nhắc đến hai nhà yêu nước tiêu biểu Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh

Ngày đăng: 01/08/2017, 23:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w