1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Đánh giá ảnh hưởng của phân bón và thuốc BVTV đến số lượng giun đất trong sản xuất chè tại xã võ miếu, huyện thanh sơn, tỉnh phú thọ

113 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những lý do trên đây, chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của phân bón và thuốc bảo vệ thực vật đến số lượng giun đất trong sản xuất chè tại xã Võ Miếu, huyệ

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC HÌNH ẢNH ix

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tổng quan chung về phân bón và thuốc BVTV 3

1.1.1 Tổng quan về phân bón 3

1.1.2 Tổng quan về thuốc BVTV 10

1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên Thế giới và ở Việt Nam 16

1.2.1 Tổng quan về cây chè 16

1.2.2 Trên Thế giới 18

1.2.3 Ở Việt Nam 20

1.3 Các chỉ tiêu chất lượng đất liên quan đến số lượng giun 23

1.3.1 Khái niệm giun đất 23

1.3.2 Vai trò của giun đất 24

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của giun đất 26

1.4 Khái quát về phát triển nông nghiệp bền vững và quy trình sản xuất chè theo hướng VietGap 29

1.4.1 Khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững 29

1.4.2 Khái quát về VietGap 30

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Đối tượng nghiên cứu 31

2.2 Phạm vi nghiên cứu 31

2.2.1 Về không gian 31

2.2.2 Về thời gian 31

Trang 2

2.2.3 Về nội dung 31

2.3 Nội dung nghiên cứu 31

2.3.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế- xã hội của xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ 31

2.3.2 Hiện trạng sản xuất và tiêu thụ cây chè tại xã Võ Miếu 31

2.3.3 Thực trạng sử dụng phân bón trên cây chè tại xã Võ Miếu 31

2.3.4 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV trên cây chè tại xã Võ Miếu 31

2.3.5 Ảnh hưởng của phân bón và thuốc BVTV đến số lượng giun đất tại đất trồng chè xã Võ Miếu 31

2.3.6 Nhận thức của người dân về ô nhiễm môi trường do sử dụng phân bón và thuốc BVTV trong sản xuất chè tại xã Võ Miếu 31

2.3.7 Đề xuất một số giải pháp sử dụng phù hợp phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trên chè tại địa bàn nghiên cứu 31

2.4 Phương pháp nghiên cứu 32

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 32

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 32

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 37

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ 38

3.1.1 Điều kiện tự nhiên xã Võ Miếu 38

3.1.2 Tình hình kinh tế- xã hội của xã Võ Miếu 39

3.2 Hiện trạng sản xuất chè ở Võ Miếu 43

3.2.1 Thực trạng sản xuất, tiêu thụ chè ở MHTT 43

3.2.2 Thực trạng sản xuất, tiêu thụ chè ở MHVG 44

3.3 Thực trạng sử dụng phân bón trên cây chè xã Võ Miếu 47

3.3.1 Tình hình sử dụng phân bón trên MHTT 47

3.3.2 Tình hình sử dụng phân bón trên MHVG 50

3.4 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV trên cây chè xã Võ Miếu 54

3.4.1 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên MHTT 54

Trang 3

3.4.2 Tình hình sử dụng thuốc BVTV trên MHVG 62

3.5 Ảnh hưởng của phân bón và thuốc BVTV đến số lượng giun ở đất trồng chè Võ Miếu 69

3.5.1 Ảnh hưởng của phân bón và thuốc BVTV đến một số tính chất đất ở cả 2 mô hình sản xuất 69

3.5.2 Ảnh hưởng của phân bón và thuốc BVTV đến số lượng giun ở đất trồng chè trên cả 2 mô hình 73

3.6 Nhận thức của người dân về việc sử dụng phân bón và thuốc BVTV 75

3.7 Đề xuất một số giải pháp sử dụng và quản lý hiệu quả phân bón, thuốc BVTV tại xã Võ Miếu 79

3.7.1 Các giải pháp sử dụng hiệu quả phân bón và thuốc BVTV 79

3.7.2 Các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của ngừơi dân về các vấn đề môi trường trong sản xuất và tiêu thụ chè 80

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82

1 Kết luận 82

2 Kiến nghị 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

A Tài liệu tiếng Việt 84

B Tài liệu tiếng nước ngoài 86

C Tài liệu Internet 86

PHỤ LỤC 90

Trang 4

P2O5hh Lân hữu hiệu

K2Ohh Kali hữu hiệu

SiO2hh Silic hữu hiệu

BNN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

SRD Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững

KTCB Kỹ thuật bón phân cho chè trồng mới

IPNI Viện Dinh Dưỡng cây trồng quốc tế

PTNNBV Phát triển nông nghiệp bền vững

IPM Công nghệ sinh học và quản lý dịch hại tổng hợp MHTT Mô hình truyền thống

MHVG Mô hình VietGap

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Nhóm 10 nước trên thế giới tiêu thụ phân bón nhiều nhất 8

giai đoạn 2010 - 2011 8

Bảng 1.2: Các triệu chứng biểu hiện sau khi phun thuốc 15

Bảng 2.1: Quy đổi hàm lượng dinh dưỡng trong phân 37

Bảng 3.1: Diện tích cây trồng hàng năm của xã Võ Miếu năm 2015 40

Bảng 3.2: Diện tích cây trồng lâu năm của xã Võ Miếu năm 2015 40

Bảng 3.3: Khoảng cách và mật độ trồng chè được áp dụng trong MHTT 43

Bảng 3.4: Khoảng cách và mật độ trồng chè được áp dụng trong MHVG 45

Bảng 3.5: Lượng phân hóa học trung bình được sử dụng/ha/năm ở MHTT 48

Bảng 3.6: Lượng phân bón gốc sử dụng trong canh tác chè ở MHTT 48

Bảng 3.7: Loại phân bón được người dân sử dụng trong canh tác chè ở MHVG 50

Bảng 3.8: Lượng phân bón gốc sử dụng trong canh tác chè ở MHVG 53

Bảng 3.9: Các loại thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở MHTT xã Võ Miếu 55

Bảng 3.10: Liều lượng một số loại thuốc BVTV được sử dụng trong MHTT tại xã Võ Miếu 58

Bảng 3.11: Cách sử dụng thuốc BVTV của các hộ trong MHTT xã Võ Miếu 59

Bảng 3.12: Cách thức xử lý các vỏ bao thuốc BVTV sau sử dụng của các hộ trong MHTT 61

Bảng 3.13: Các loại thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở MHVG xã Võ Miếu 63

Bảng 3.14: Liều lượng một số loại thuốc BVTV được sử dụng trong MHVG tại xã Võ Miếu 64

Bảng 3.15: Cách sử dụng thuốc BVTV của các hộ trong MHVG xã Võ Miếu 65

Bảng 3.16: Cách thức xử lý các vỏ bao thuốc BVTV sau sử dụng của các hộ trong MHVG 67

Bảng 3.17: Một số chỉ tiêu chất lượng đất trồng chè ở MHTT và MHVG tại Võ Miếu 69

Bảng 3.18: Số lượng giun qua các lần thu mẫu ở cả 2 mô hình tại xã Võ Miếu 73

Bảng 3.19: Nhận thức của người dân về độ độc hại của phân bón và thuốc BVTV 77

Bảng 3.20: Cảm nhận của người dân về sự thay đổi của môi trường và sức khỏe sau nhiều năm sử dụng phân bón, thuốc BVTV trong sản xuất chè 78

Trang 6

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1: Cây chè Thanh Sơn- Phú Thọ 16

Hình 1.2: Biểu đồ sản lượng chè tại một số nước trên thế giới từ 2010 – 2013 19

Hình 1.3: Biểu đồ giá chè bình quân thế giới từ 2010 – 2012 19

Hình 1.4: Biểu đồ tỷ trọng thị trường xuất khẩu chè Việt Nam 2012 21

Hình 1.5: Biểu đồ biến động giá chè xuất khẩu năm 2010 – 2013 22

Hình 1.6: Biểu đồ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam 22

Hình 3.1: Bản đồ vị trí xã Võ Miếu- huyện Thanh Sơn- tỉnh Phú Thọ 38

Hình 3.2: Đoàn đại biểu tham quan khu vực chè VietGap xã Võ Miếu 45

Hình 3.3: Nhà máy chế biến chè sạch được xây dựng trong khu 26,9 ha 46

Hình 3.4: Biểu đồ tỷ lệ các hộ dân sử dụng phân hữu cơ trong canh tác cây chè ở MHTT 47

Hình 3.5: Biểu đồ tỷ lệ các loại phân hóa học trung bình được sử dụng trong một năm canh tác chè trên 1 ha ở MHVG 52

Hình 3.6: Đồ thị tổng lượng giun đất thu được tại mỗi mô hình qua 3 lần thu mẫu giun 73

Hình 3.7: Biểu đồ mức độ tham gia hoạt động tuyên truyền về môi trường và sử dụng phân bón, thuốc BVTV của các hộ sản xuất chè xã Võ Miếu 76

Trang 7

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Phú Thọ là tỉnh thuộc vùng đông bắc Việt Nam, diện tích khoảng

35000 km2, chủ yếu là địa hình gò đồi Dựa trên lợi thế đó, Phú Thọ đã lựa chọn cây chè là một trong những cây trồng chủ lực của tỉnh với diện tích trên 16.000ha (Chuyên trang Chè - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (BNN&PTNT), 2015)

Xã Võ Miếu là 1 trong 23 xã của huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ Toàn

xã có 22 xóm, với dân số hơn 12 nghìn người chủ yếu là người dân tộc Mường, ngoài ra còn có một số hộ là người Dao và người Kinh Sản xuất nông nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu của xã với hệ thống cây trồng trong năm gồm: đất bằng gieo trồng 2 vụ lúa, đất đồi chủ yếu gieo trồng cây ngô, sắn và cây chè Trong những năm qua, cây chè là cây mang lại thu nhập đáng

kể cho bà con người địa phương, cây chè như là cây công nghiệp mang giá trị kinh tế cao, giúp người dân xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên, canh tác chè ở xã

Võ Miếu vẫn mang tính truyền thống là chủ yếu Theo phương thức canh tác này, người dân đã lạm dụng sử dụng phân bón và thuốc Bảo vệ thực vật (BVTV) có nguồn gốc hóa học trong sản xuất gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và môi trường (Ủy ban Nhân dân (UBND) xã Võ Miếu, 2015) Theo kết quả nghiên cứu của Chi cục BVTV tỉnh Phú Thọ tại huyện Thanh Ba nhận thấy nếu thực hành sản xuất chè theo mô hình chè hữu cơ, sau

5 năm năng suất chè búp tươi tăng lên 20- 25% so với các nương chè sản xuất theo mô hình truyền thống (MHTT), còn sản xuất theo mô hình quản lý dịch hại tổng hợp IPM (Integrated Pest Management) thì sau 3 năm (2005-2007) năng suất bình quân tăng lên 14,7% (Nguyễn Văn Toàn, 2014)

Theo Lê Văn Khoa (2007), giun đất là nhóm chỉ thị sinh học môi trường đất, nó tham gia rất tích cực và thường xuyên vào quá trình hình thành đất trồng trọt Do đất và giun đất có mối quan hệ tương tác qua lại với nhau, nên khi tiến hành nghiên cứu về số lượng của giun đất ta có thể xác định được

Trang 8

một số các chỉ tiêu cơ bản về chất lượng đất trồng tại khu vực nghiên cứu Mà năng suất và chất lượng cây trồng được quyết định chính bởi chất lượng đất

và phương thức canh tác, vì vậy hoạt động của giun đất đã tác động gián tiếp tới cây trồng thông qua đất trồng trọt

Với những lý do trên đây, chúng tôi triển khai nghiên cứu đề tài: “Đánh

giá ảnh hưởng của phân bón và thuốc bảo vệ thực vật đến số lượng giun đất trong sản xuất chè tại xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.”

Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Đánh giá thực trạng sử dụng phân bón và thuốc BVTV trong quá trình canh tác cây chè tại xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón và thuốc BVTV đến số lượng giun trong đất trồng cây chè tại xã Võ Miếu

- Đề xuất giải pháp sử dụng phù hợp phân bón và thuốc BVTV trên cây chè tại địa bàn nghiên cứu

Yêu cầu nghiên cứu

- Tìm hiểu về các loại phân bón, liều lượng bón, cách thức bón và đối tượng sử dụng của mỗi loại phân bón

- Tìm hiểu về các loại thuốc BVTV được sử dụng, cách thức sử dụng

và đối tượng sử dụng của mỗi loại thuốc

- Đánh giá ảnh hưởng của phân bón và thuốc BVTV đến môi trường

- Đề xuất giải pháp phù hợp trong sử dụng phân bón và thuốc BVTV

Trang 9

Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan chung về phân bón và thuốc BVTV

K, Ca, Mg, S, Fe… hoặc các nguyên tố vi lượng và siêu vi lượng

Tóm lại, ta có thể hiểu phân bón là chất hữu cơ hay vô cơ có nguồn gốc

tự nhiên hay nhân tạo dùng để bón vào đất làm thức ăn cho cây và cải tạo độ phì của đất

1.1.1.2 Phân loại phân bón theo BNN&PTNT (2014)

Có nhiều cách phân loại phân bón, tùy thuộc vào nguồn gốc, thành phần, tính chất hoặc tác dụng của phân bón Phân bón được chia làm 3 nhóm chính: phân hóa học (phân vô cơ), phân hữu cơ và phân bón khác:

a) Phân bón vô cơ là loại phân bón được sản xuất từ khoáng thiên nhiên hoặc

từ hóa chất, trong thành phần có chứa một hoặc nhiều chất dinh dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng, có các chỉ tiêu chất lượng đạt quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, trong đó:

* Chất dinh dưỡng đa lượng là các chất bao gồm đạm tổng số (Nts), lân hữu hiệu (P2O5hh), kali hữu hiệu (K2Ohh) ở dạng cây trồng có thể dễ dàng hấp thu được

* Chất dinh dưỡng trung lượng là các chất bao gồm canxi (Ca), magie (Mg), lưu huỳnh (S), silic hữu hiệu (SiO2hh) ở dạng cây trồng có thể dễ dàng hấp thu được;

Trang 10

* Chất dinh dưỡng vi lượng là các chất bao gồm bo (B), côban (Co), đồng (Cu), sắt (Fe), mangan (Mn), molipđen (Mo), kẽm (Zn) ở dạng cây trồng

có thể dễ dàng hấp thu được

Trong phân bón vô cơ lại được chia nhỏ thành:

- Phân bón đơn đa lượng hay còn gọi là phân khoáng đơn, gồm:

Phân đạm: Trong thành phần chính chỉ chứa một chất dinh dưỡng đa

lượng là đạm Đây là chất dinh dưỡng cơ bản nhất, tham gia vào thành phần chính của protein, tham gia vào quá trình hình thành các chất quan trọng như tạo clorophil, protit, peptit, các amino axit, men và nhiều Vitamin cho cây Ngoài ra, phân đạm cần cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng, đặc biệt là giai đoạn tăng trưởng mạnh, và cần cho các loại cây ăn lá Một số loại đạm thông dụng như urê (CO(NH)2), đạm amôn nitrat (NH4NO3), đạm sunfat ((NH4)2SO4), đạm clorua (NH4Cl)

Phân lân: Trong thành phần chính chỉ chứa một chất dinh dưỡng đa lượng là lân Các loại phân lân bao gồm phân lân nung chảy, supephosphat đơn, supephosphat kép, supe phosphat giàu, canxi phosphat và các hợp chất

có chứa phospho Phân lân đóng vai trò quan trọng trong đời sống của cây trồng vì nó có trong thành phần của protit tạo nên nhân tế bào, cần cho việc tạo nên một bộ phận mới của cây Tham gia vào thành phần các men, tham gia tổng hợp axit amin, kích thích phát triển rễ, giúp cây đẻ nhiều chồi, ra hoa kết trái và tăng khả năng chống chịu của cây như chống rét, chống hạn, nóng, chua đất

Phân kali: Trong thành phần chính chỉ chứa một chất dinh dưỡng đa lượng là kali Các loại phân kali bao gồm phân kali clorua, kali sulphat, kali clorat và các hợp chất chứa kali Nó giúp tăng khả năng đề kháng của cây, tăng khả năng chịu úng, chịu hạn, chịu rét cho cây, tăng phẩm chất cà tăng năng suất nông sản khi thu hoạch cũng như làm giàu đường trong quả, màu sắc đẹp hơn, dễ bảo quản

- Phân trung lượng: Trong thành phần chính chứa một hoặc nhiều chất dinh dưỡng trung lượng có bổ sung hoặc không bổ sung chất giữ ẩm, chất

Trang 11

tăng hiệu suất sử dụng, chất điều hòa sinh trưởng, chất làm tăng khả năng miễn dịch cây trồng, chất chống vón cục

- Phân vi lượng: Các nguyên tố vi lượng cũng góp phần nâng cao năng suất nông sản, mang lại hiệu quả kinh tế cao Các nguyên tố vi lượng thường

có sẵn trong các loại phân đa lượng, cây thiếu vi lượng sẽ phát triển không cân đối Ngoài ra, trong một số trường hợp người ta cũng tiến hành sản xuất phân vi lượng để bón cho cây

- Phân phức hợp: Trong thành phần có chứa ít nhất 2 (hai) chất dinh dưỡng đa lượng liên kết bằng liên kết hóa học (Phân diamoni phosphat (DAP), monoamoni phosphat (MAP), sunlhat kali magie, kali nitrat, amoni polyphosphat (APP), nitro phosphat, kali dihydrophosphat…)

- Phân hỗn hợp: Được sản xuất bằng cách trộn từ hai loại phân bón vô cơ b) Phân bón hữu cơ là loại phân bón được sản xuất từ nguồn nguyên liệu hữu

cơ, có các chỉ tiêu chất lượng đạt quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia Phân hữu cơ là phân chứa những chất dinh dưỡng ở dạng những chất hữu cơ gồm: phân chuồng (phân lợn, trâu, bò, gà…), phân xanh, phân than bùn, phế phụ phẩm nông nghiệp, rác… Tác dụng của phân hữu cơ là giúp tăng năng suất cây trồng đồng thời chúng nâng cao độ ẩm, độ xốp và độ phì nhiêu trong đất

Phân chuồng: Đây là nguồn phân hữu cơ chính, được dùng phổ biến ở

cả nước và trên thế giới

Phân xanh: là loại phân hữu cơ sử dụng các loại lá cây tươi bón ngay vào đất mà không qua quá trình ủ mục Do đó, phân xanh chỉ dùng để bón lót vào lần cày đầu tiên để các chất hữu cơ có thời gian phân hủy thành các dạng

dễ tiêu cho cây và đất hấp thụ

Phân vi sinh: có nguồn gốc là chế phẩm vi sinh bón cho đất để làm tăng độ phì của đất Hiện nay loại phân này đang được khuyến khích sử dụng

để hạn chế ô nhiễm môi trường

Các loại phân hữu cơ khác: là tro, bùn ao, phân gia cầm, phân dơi,

phân thỏ, xác mắm, khô dầu…

Trang 12

c) Phân bón khác là hỗn hợp của phân hữu cơ và phân vô cơ hoặc các loại phân bón dưới đây:

- Phân bón hữu cơ khoáng là loại phân bón có chất hữu cơ được bổ sung ít nhất một chất dinh dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng;

- Phân bón khoáng hữu cơ là loại phân bón có ít nhất một chất dinh dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng được bổ sung chất hữu cơ;

- Phân bón hữu cơ vi sinh là loại phân bón có chất hữu cơ được bổ sung

- Phân bón vi sinh vật là loại phân bón có ít nhất một loại vi sinh vật có ích;

- Phân bón có chất giữ ẩm là loại phân bón hữu cơ hoặc phân bón kể trên được phối trộn với chất giữ ẩm;

- Phân bón có chất tăng hiệu suất sử dụng là loại phân bón hữu cơ hoặc phân bón kể trên được phối trộn với chất làm tăng hiệu suất sử dụng, có tác dụng tiết kiệm lượng phân bón sử dụng ít nhất là hai mươi phần trăm;

- Phân bón có khả năng tăng miễn dịch cây trồng là loại phân bón hữu

cơ hoặc phân bón kể trên có chứa chất làm tăng miễn dịch của cây trồng đối với các điều kiện ngoại cảnh bất thuận hoặc với các loại sâu bệnh hại;

- Phân bón có chất điều hòa sinh trưởng là phân bón hữu cơ hoặc phân bón kể trên được bổ sung một hoặc nhiều chất điều hòa sinh trưởng có trong Danh mục thuốc BVTV ở Việt Nam do Bộ trưởng BNN&PTNT ban hành năm 2015, có tổng hàm lượng các chất điều hòa sinh trưởng £ 0,5%;

- Phân bón đất hiếm là loại phân bón trong thành phần có chứa các chất Scandium (số thứ tự 21), Yttrium (số thứ tự 39) và các nguyên tố trong dãy Lanthanides trong bảng tuần hoàn Mendêleép;

Trang 13

- Phân bón cải tạo đất là loại phân bón chứa những chất có tác dụng cải thiện tính chất lý, hóa, sinh học của đất tạo điều kiện thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng, phát triển (BNN&PTNT, 2014)

Ngoài ra cũng có thể chia phân bón làm 2 nhóm chính: là phân bón rễ và phân bón lá (Bộ Công thương, 2014)

- Phân bón rễ: là loại phân bón được bón trực tiếp vào đất hoặc vào

nước để cung cấp chất dinh dưỡng cho cầy trồng thông qua bộ rễ

- Phân bón lá: là loại phân bón dùng để tưới hoặc phun trực tiếp vào lá, thân cây trồng

1.1.1.3 Thực trạng sử dụng phân bón trong nông nghiệp

Theo Viyas (1983, dẫn theo Lê Quốc Phong) thì từ giữa những năm

1960 phân bón đóng góp vào việc gia tăng năng suất ở các nước đang phát triển tại châu Á từ 50-75%

- Nhu cầu phân bón trên thế giới: Trong giai đoạn từ 1960 – 1990, các nước đang phát triển sử dụng phân bón rất nhiều từ 4 triệu tấn năm 1960 lên đến 65 triệu tấn năm 1990 để gia tăng năng suất (IFA, 1998) Theo Bruinsma (2003, dẫn theo Lê Quốc Phong), tại Ấn Độ, năm 1960 chỉ tiêu thụ

có 1 triệu tấn dinh dưỡng thì năm 1990 con số này lên đến 10 triệu tấn và năm 2002 là 17 triệu tấn Mức tiêu thụ phân bón đạt gần 173 triệu vào năm 2007, sau đó giảm mạnh xuống còn 155,3 triệu tấn vào năm 2008/2009

và tăng trở lại từ cuối năm 2009 lên 163,5 triệu tấn, đạt 172,6 triệu tấn năm 2010/2011 và 176,8 triệu tấn năm 2011/2012 (IFA, 2012) Trong các nước tiêu thụ phân bón trên thế giới Trung Quốc là nước tiêu thụ phân bón lớn nhất, tiếp đến Ấn Độ, Mỹ, Braxin…nhóm 10 nước này chiếm trên 74% sản lượng tiệu thụ toàn cầu Trong các sản phẩm phân bón được tiêu thụ thì sản lượng urê chiếm nhiều nhất, có đến 150 triệu tấn urê được tiêu thụ trong năm 2010 và lượng này tăng lên 155 triệu năm 2011 (Magnus Berge, 2012, dẫn theo Lê Quốc Phong) Theo Tổ chức nông lương thế giới (FAO) (2011), với nhu cầu lương thực tăng, nông dân sẽ đầu tư thêm phân bón để gia tăng năng suất, vì vậy nhu cầu phân bón được dự báo sẽ tăng khoảng 2,0% năm và đạt 190,4 triệu tấn vào năm 2015

Trang 14

Bảng 1.1: Nhóm 10 nước trên thế giới tiêu thụ phân bón nhiều nhất

giai đoạn 2010 - 2011

Đơn vị: triệu tấn

Trung Quốc 34,10 Trung Quốc 11,70 Trung Quốc 5,30 Trung Quốc 51,10

Ấn Độ 16,15 Ấn Độ 8,00 Mỹ 4,26 Ấn Độ 27,95

Indonesia 3,35 Braxin 3,30 Ấn Độ 3,80 Braxin 9,80 Pakistan 2,93 Pakistan 0,80 Indonesia 1,05 Indonesia 4,90 Braxin 2,70 Úc 0,74 Malaysia 1,00 Pakistan 3,76 Pháp 2,12 Canada 0,65 Pháp 0,48 Pháp 3,05 Canada 1,94 Thổ Nhĩ Kỳ 0,54 Đức 0,38 Canada 2,91

1.1.1.4 Ảnh hưởng của phân bón đến môi trường và sức khỏe con người

Chúng ta đều biết phân bón hóa học tốt cho cây trồng, theo đánh giá của Viện Dinh Dưỡng cây trồng quốc tế (IPNI) (2013, dẫn theo Trương Hợp Tác), phân bón đóng góp khoảng 30-35% tổng sản lượng cây trồng Nhưng phân đạm chỉ hấp thụ khoảng 30-45%, phân lân từ 40-45% và phân kali 40-50% tùy theo chân đất, giống cây trồng, thời vụ, phương pháp bón…

Trang 15

Cách bón phân hiện nay chủ yếu là bón vãi trên mặt đất, phân bón ít được vùi vào trong đất Xét về mặt hoá học đất, các keo đất là những keo

âm (-) còn các yếu tố dinh dưỡng hầu hết là mang điện tích dương (+) Khi bón phân vào đất, được vùi lấp cẩn thận thì các keo đất sẽ giữ lại các chất dinh dưỡng và nhả ra một cách từ từ tuỳ theo yêu cầu của cây trồng theo từng thời kỳ sinh trưởng của cây Các nghiên cứu cho thấy việc bón phân

có vùi lấp làm tăng hiệu suất sử dụng phân bón của cây trồng có thể đạt được từ 70-80% so với bón rải trên bề mặt chỉ đạt được từ 20-30% Đồng thời bón phân khoáng cho đất sẽ gây tích lũy anion, trong thời gian dài sẽ làm đất bị chua hóa

Các yếu tố dinh dưỡng vi lượng như Đồng (Cu), Kẽm (Zn)… rất cần thiết cho cây trồng sinh trưởng và phát triển và có khả năng nâng cao khả năng chống chịu cho cây trồng Tuy nhiên, khi lạm dụng các yếu tố trên lại trở thành những loại kim loại nặng khi vượt quá mức sử dụng cho phép và gây độc hại cho con người và gia súc

Nếu sử dụng cho các loại cây rau ăn lá, cho chè và các loại quả không có vỏ bóc mà không chú ý tới thời gian cách ly và liếu lượng sử dụng theo đúng quy thì các yếu tố dinh dưỡng trên lại trở thành các yếu tố độc hại cho người tiêu dùng.

Dư thừa đạm trong đất hoặc trong cây đều gây nên những tác hại đối với môi trường và sức khoẻ con người Do bón quá dư thừa hoặc do bón đạm không đúng cách đã làm cho nitơ và photpho theo nước xả xuống các thủy vực là nguyên nhân gây ra sự ô nhiễm cho các nguồn nước

Đạm dư thừa bị chuyển thành dạng nitrat (NO3-) hoặc nitrit (NO2-) là những dạng gây độc trực tiếp cho các động vật thuỷ sinh, gián tiếp cho các động vật trên cạn do sử dụng nguồn nước (Tabuchi and Hasegawa, 1995, dẫn theo Trương Hợp Tác) Đặc biệt gây hại cho sức khoẻ con người thông qua việc sử dụng các nguồn nước hoặc các sản phẩm trồng trọt, nhất

là các loại rau quả ăn tươi có hàm lượng dư thừa nitrat Theo các nghiên cứu gần đây, nếu trong nước và thực phẩm hàm lượng nitơ và photpho,

Trang 16

đặc biệt là nitơ dưới dạng muối nitrit và nitrat cao quá sẽ gây ra một số bệnh nguy hiểm cho người đặc biệt là trẻ em

Lê Thị Hiền Thảo (2003) đã xác định, trong những thập niên gần đây, mức NO3- trong nước uống tăng lên đáng kể mà nguyên nhân là do sự

sử dụng phân đạm vô cơ tăng, gây rò rỉ NO3- xuống nước ngầm Hàm lượng NO3- trong nước uống tăng gây ra nguy cơ về sức khoẻ đối với cộng đồng Ủy ban châu Âu quy định mức tối đa của NO3- trong nước uống là

Tại Việt Nam khi sử dụng phân chuồng, phân bắc chưa hoai mục có chứa nhiều mầm bệnh cho người và gia súc và còn có thể gây hại cho rễ cây vì thế bón phân chuồng khi chưa hoai mục sẽ phản tác dụng (Trần Văn Hiến, 2010)

Theo qui định tại điều 1, chương 1, Điều lệ quản lý thuốc BVTV (ban hành kèm theo Nghị định số 58/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của Chính phủ), ngoài tác dụng phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật, thuốc BVTV

Trang 17

còn bao gồm cả những chế phẩm có tác dụng điều hoà sinh trưởng thực vật, các chất làm rụng lá, làm khô cây, giúp cho việc thu hoạch mùa màng bằng cơ giới được thuận tiện (thu hoạch bông vải, khoai tây bằng máy móc…) Những chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loài sinh vật gây hại tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt

1.1.2.2 Phân loại thuốc BVTV

Theo Nguyễn Trần Oánh (2007): Phân loại thuốc BVTV

a) Dựa vào đối tượng phòng chống:

Thuốc trừ sâu (Insecticide): Gồm các chất hay hỗn hợp các chất có tác

dụng tiêu diệt, xua đuổi hay di chuyển bất kỳ loại côn trùng nào có mặt trong môi trường (AAPCO) Trong thuốc trừ sâu, dựa vào khả năng gây độc cho từng giai đoạn sinh trưởng, người ta còn chia ra: thuốc trừ trứng (Ovicide), thuốc trừ sâu non (Larvicide)

Thuốc trừ bệnh (Fungicide): Thuốc trừ bệnh bao gồm các hợp chất có

nguồn gốc hoá học (vô cơ và hữu cơ), sinh học (vi sinh vật và các sản phẩm của chúng, nguồn gốc thực vật), có tác dụng ngăn ngừa hay diệt trừ các loài vi sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản (nấm ký sinh, vi khuẩn, xạ khuẩn) bằng cách phun lên bề mặt cây, xử lý giống và xử lý đất

Thuốc trừ chuột (Rodenticde hay Raticide): là những hợp chất vô cơ,

hữu cơ; hoặc có nguồn gốc sinh học có hoạt tính sinh học và phương thức tác động rất khác nhau, được dùng để diệt chuột gây hại trên ruộng, trong nhà và kho tàng và các loài gậm nhấm

Thuốc trừ nhện (Acricide hay Miticide): những chất được dùng chủ yếu

để trừ nhện hại cây trồng và các loài thực vật khác, đặc biệt là nhện đỏ Đại đa

số thuốc trong nhóm là những thuốc đặc hiệu có tác dụng diệt nhện, có khả năng chọn lọc cao, ít gây hại cho côn trùng có ích và thiên địch Một số thuốc trừ nhện nhưng cũng có tác dụng diệt sâu Một số thuốc trừ sâu, trừ nấm cũng

có tác dụng trừ nhện

Trang 18

Thuốc trừ tuyến trùng (Nematocide): các chất xông hơi và nội hấp được

dùng để xử lý đất trước tiên trừ tuyến trùng rễ cây trồng, trong đất, hạt giống

và cả trong cây

Thuốc trừ cỏ (Herbicide): các chất được dùng để trừ các loài thực vật cản

trở sự sinh trưởng cây trồng, các loài thực vật mọc hoang dại, trên ñồng ruộng, quanh các công trình kiến trúc, sân bay, đường sắt và gồm cả các thuốc trừ rong rêu trên ruộng, kênh mương Đây là nhóm thuốc dễ gây hại cho cây trồng nhất Vì vậy khi dùng các thuốc trong nhóm này cần đặc biệt thận trọng

b) Dựa vào con đường xâm nhập (hay cách tác động của thuốc) đến dịch hại: tiếp xúc, vị độc, xông hơi, thấm sâu và nội hấp

c) Dựa vào nguồn gốc hoá học:

Thuốc có nguồn gốc thảo mộc: bao gồm các thuốc BVTV làm từ cây cỏ

hay các sản phẩm chiết xuất từ cây cỏ có khả năng tiêu diệt dịch hại

Thuốc có nguồn gốc sinh học: gồm các loài sinh vật (các loài ký sinh

thiên địch), các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật (như các loài kháng sinh )

có khả năng tiêu diệt dịch hại

Thuốc có nguồn gốc vô cơ: bao gồm các hợp chất vô cơ (như dung dịch

boocđô, lưu huỳnh và lưu huỳnh vôi ) có khả năng tiêu diệt dịch hại

Thuốc có nguồn gốc hữu cơ: Gồm các hợp chất hữu cơ tổng hợp có khả

năng tiêu diệt dịch hại (như các hợp chất clo hữu cơ, lân hữu cơ, cacbamat )

Ngoài cách phân loại chủ yếu trên, tuỳ mục đích nghiên cứu và sử dụng, người ta còn phân loại thuốc BVTV theo nhiều cách khác nữa Không

có sự phân loại thuốc BVTV nào mang tính tuyệt đối, vì một loại thuốc có thể trừ được nhiều loại dịch hại khác nhau, có khả năng xâm nhập vào cơ thể dịch hại theo nhiều con đường khác nhau, có cùng lúc nhiều cơ chế tác động khác nhau; trong thành phần của thuốc có các nhóm hay nguyên tố gây độc khác nhau nên các thuốc có thể cùng lúc xếp vào nhiều nhóm khác nhau

Trang 19

1.1.2.3 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV trong nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam

Nguyễn Trần Oánh (2007) đã khái quát tình hình sản xuất và sử dụng hóa chất BVTV trên thế giới:

- Từ đầu thế kỷ 20 đến năm 1960: Các thuốc trừ dịch hại hữu cơ ra đời, làm thay đổi vai trò của biện pháp hoá học trong sản xuất nông nghiệp: Ceresan - thuốc trừ nấm thuỷ ngân hữu cơ đầu tiên (1913); các thuốc trừ nấm lưu huỳnh (1940) Thuốc trừ cỏ còn xuất hiện muộn hơn (những năm 40 của thế kỷ thế kỷ 20) Việc phát hiện khả năng diệt côn trùng của DDT (năm 1939) đã mở ra cuộc cách mạng của biện pháp hoá học BVTV Hàng loạt các thuốc trừ sâu ra đời sau đó, mọi vấn đề BVTV đều giải quyết bằng thuốc hoá học Từ cuối những năm 1950, những hậu quả xấu của thuốc BVTV gây

ra cho con người và môi trường được phát hiện Khái niệm phòng trừ tổng hợp sâu bệnh ra đời

- Những năm 1960 - 1980: Việc lạm dụng thuốc BVTV đã để lại những hậu quả rất xấu cho môi trường, tư tưởng sợ hãi, không dám dùng thuốc BVTV xuất hiện Tuy vậy, các loại thuốc BVTV mới có nhiều ưu điểm, thân thiện với môi trường như thuốc trừ cỏ mới, các thuốc trừ sâu nhóm perethroid tổng hợp (1970), các thuốc trừ sâu bệnh có nguồn gốc sinh học vẫn liên tục ra đời

- Từ những năm 1980 đến nay: Vấn đề bảo vệ môi trường được quan tâm hơn bao giờ hết Nhiều loại thuốc BVTV mới, trong đó có nhiều thuốc trừ sâu bệnh sinh học, có hiệu quả cao với dịch hại, nhưng an toàn với môi trường ra đời Quan điểm phòng trừ tổng hợp được phổ biến rộng rãi

Tại Việt Nam: Tình hình sử dụng thuốc BVTV: Theo số liệu của cục BVTV trong giai đoạn 1981 - 1986 số lượng thuốc sử dụng là 6,5 - 9,0 ngàn tấn thương phẩm, tăng lên 20 - 30 ngàn tấn trong giai đoạn 1991 - 2000 và từ

36 - 75,8 ngàn tấn trong giai đoạn 2001 - 2010 Trong năm 2010 lượng thuốc Việt Nam sử dụng bằng 40% mức sử dụng TB của 4 nước lớn dùng nhiều

Trang 20

thuốc BVTV trên thế giới (Mỹ, Pháp, Nhật, Brazin) (Trương Quốc Tùng, 2013)

1.1.2.4 Ảnh hưởng của thuốc BVTV đến môi trường và sức khỏe con người

Theo Phạm Bích Ngân (2006), thuốc BVTV có những tác động sau:

- Ảnh hưởng đến quần thể sinh vật- môi trường:

Trong tự nhiên có rất nhiều loại sâu khác nhau, có loại sâu ẩn nấp dưới

lá, có loại đục vào thân cây, có loại chui vào đất, nên phải dùng nhiều loại thuốc khác nhau để tiêu diệt chúng Nhiều người chỉ thích sử dụng thuốc rẻ để phun, không cần biết phạm vi tác dụng của thuốc ra sao Nhiều người có thói quen phun quá liều để cho “ăn chắc”, làm tăng lượng thuốc dư thừa tích đọng trong môi trường

Các loại thuốc trừ sâu có tính năng thường rộng, nghĩa là có thể tiêu diệt nhiều loài sinh vật Chính vì thế mà nhiều loài có ích cũng bị tiêu diệt như các loài chim, loài ếch, côn trùng có lợi… Các loại thiên địch cũng bị tiêu diệt tạo điều kiện cho sâu hại có nguy cơ bùng phát thành đại dịch

Dư lượng thuốc BVTV sẽ tích lũy lại trong đất, nước mặt và ngấm sâu vào nước ngầm Nó sẽ kìm hãm, hủy diệt các hệ sinh thái (HST), làm mất đi trạng thái cân bằng tự nhiên của môi trường Một số loại thuốc BVTV làm giảm số lượng cá thể của các loài động vật sống trong đất ngay cả ở liều sử dụng Một số khác không những gây hại mà còn làm tăng các loài động vật sống trong đất Tác hại nặng nhẹ của các thuốc BVTV đến các loài động vật sống trong đất phụ thuộc chủ yếu vào loại thuốc, liều lượng và nồng độ, phương pháp sử dụng thuốc và điều kiện ngoại cảnh Nhìn chung các thuốc trừ nấm ít gây hại đến những động vật không xương sống có ích sống trong đất Có một số trường hợp đặc biệt: nồng độ đồng trong đất 2000ppm đã giết chết 100% giun đất ở vườn cây ăn quả Các thuốc trừ nấm xông hơi khi dùng

xử lý đất, đã làm giảm số lượng bọ đuôi bật, bét và các loài rết, cuốn chiếu trong đất (Nguyễn Trần Oánh, 2007)

- Ảnh hưởng tới sức khỏe con người

Trang 21

Các loại thuốc BVTV đều có tính độc cao, trong quá trình dùng thuốc, một lượng thuốc nào đó có thể đi vào trong thân cây, quả hoặc dính bám chặt trên lá và quả Do trình độ hạn chế, một số người dân không tuân thủ quy định

về sử dụng, bảo quản thuốc trừ sâu nên nhiều khi đã gây những tai nạn đáng tiếc

Bảng 1.2: Các triệu chứng biểu hiện sau khi phun thuốc

Trang 22

1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên Thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Tổng quan về cây chè

Theo Wikipedia, cây Chè có tên khoa học là Camellia sinensis là loài cây mà lá và chồi của chúng được sử dụng để sản xuất trà Ngoài ra các danh pháp khoa học còn có: Thea bohea và Thea viridis

Hình 1.1: Cây chè Thanh Sơn- Phú Thọ

Camellia sinensis xuất xứ từ Đông Á, Nam Á và Đông Nam Á, nhưng ngày nay nó được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, trong các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới Nó là loại cây xanh lưu niên mọc thành bụi hoặc các cây nhỏ, thông thường được xén tỉa để thấp hơn 2 mét (6 ft) khi được trồng để lấy lá Nó có rễ cái dài Hoa trà màu trắng ánh vàng, đường kính từ 2,5-4 cm, với 7 - 8 cánh hoa Hạt của nó có thể ép để lấy dầu

Lá của trà dài từ 4-15 cm và rộng khoảng 2-5 cm Lá tươi chứa khoảng 4% caffein Lá non có sắc xanh lục nhạt được thu hoạch để sản xuất trà Ở thời đoạn đó, mặt dưới lá có lông tơ ngắn màu trắng Thông thường, chỉ có lá chồi và 2 đến 3 lá mới mọc gần thời gian đó được thu hoạch để chế biến Việc thu hoạch thủ công bằng tay diễn ra đều đặn mỗi 1 đến 2 tuần (theo Wikipedia)

Dưới đây giới thiệu phân loại của Cohen Stuart (1919, dẫn theo Giáo trình cây Chè) Cách phân loại này được nhiều người chấp nhận Tác giả

chia Camellia sinensis L làm 4 thứ (varietas):

Trang 23

a) Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var Bohea):

Đặc điểm:

- Cây bụi thấp phân cành nhiều

- Lá nhỏ, dày nhiều gợn sóng, màu xanh đậm, lá dài 3,5 - 6,5 cm Có 6

- 7 đôi gân lá không rõ, răng cưa nhỏ, không đều Búp nhỏ, hoa nhiều, năng suất thấp, phẩm chất bình thường

- Khả năng chịu rét ở độ nhiệt -12oC đến -15oC

Phân bố chủ yếu ở miền đông, đông nam Trung Quốc, Nhật Bản và một số vùng khác

b) Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var macrophylla):

Đặc điểm:

- Thân gỗ nhỡ cao tới 5m trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên

- Lá to trung bình chiều dài 12 - 15 cm, chiều rộng 5 - 7 cm, màu xanh nhạt, bóng, răng cưa sâu không đều, đầu lá nhọn Có trung bình 8 - 9 đôi, gân lá rõ

- Năng suất cao Phẩm chất tốt

Nguyên sản ở Vân Nam, Tứ Xuyên (Trung Quốc)

c) Chè Shan (Camellia sinensis var Shan):

- Thân gỗ, cao từ 6 đến 10 m Có khoảng 10 đôi gân lá

- Lá to và dài 15 - 18 cm màu xanh nhạt, đầu lá dài, răng cưa nhỏ và dày

- Tôm chè có nhiều lông tơ, trắng và mịn trông như tuyết, nên còn gọi

d) Chè Ấn Độ (Camellia sinensis var atxamica):

- Thân gỗ cao tới 17 m phân cành thưa

- Lá dài tới 20 - 30 cm, mỏng, mềm, thường có màu xanh đậm, dạng

Trang 24

- Có trung bình 12 - 15 đôi gân lá Rất ít hoa quả

- Không chịu được rét hạn Năng suất, phẩm chất tốt

Trồng nhiều ở Ấn Độ, Miến Điện, Vân Nam (Trung Quốc) và một số vùng khác

Bốn thứ (varietas) chè trình bày trên đây đều có trồng ở Việt Nam, nhưng

phổ biến nhất là hai thứ C sinensis var macrophylla và C sinensis var Shan

- Camellia sinensis var macrophylla được trồng nhiều nhất ở các tỉnh

trung du với các tên gọi của địa phương (tùy theo màu sắc của lá) như: Trung du lá xanh, Trung du lá vàng, v.v Tỷ lệ trồng các giống chè trung du

ở miền bắc đạt tới 70% Năng suất búp trong sản xuất đại trà khi chè 5 - 19 tuổi thường đạt 4 - 5 tấn/ha

Các giống chè Trung du chịu được đất xấu, nhưng nhiều sâu hại: rầy xanh, bọ cánh tơ , ở vùng cao thường bị bệnh phồng lá Chè Trung du thường để chế biến chè xanh, chè đen đều cho phẩm chất tốt

- Camellisa sinensis var Shan được trồng ở miền núi các tỉnh miền

bắc và ở miền nam Tây Nguyên (Lâm Đồng) (Giáo trình cây Chè)

1.2.2 Trên Thế giới

Cây chè (Camellia sinensis L.O Kuntze) phân bố từ 45o vĩ Bắc đến 45o

vĩ Nam Hiện nay có 58 nước sản xuất chè, trong đó tại châu Á có 20 nước, châu Phi: 21 nước, châu Mỹ: 12 nước, châu Đại Dương: 3 nước, châu Âu: 2 nước Trên thế giới có diện tích trồng chè khoảng 2,55 triệu ha Ấn Độ là nước sản xuất chè lớn nhất, với sản lượng 870.000 tấn/năm Nước sản xuất chè lớn thứ 2 là Trung Quốc, với sản lượng đạt 685.000 tấn/ năm (Nguyễn Văn Toàn, 2014)

Theo Hiệp hội Chè thế giới (2013, dẫn theo Nguyễn Thị Lan Anh), sản lượng chè của một số nước xuất khẩu chính có sự biến động theo các hướng khác nhau Sản lượng chè của Sri Lanka, Ấn Độ xu hướng tăng vào những tháng đầu năm 2013 Tại Sri Lanka, sản lượng chè tháng 1 đạt 23,21 triệu kg, giảm khoảng 2,78 triệu kg so với tháng 12/2012 (giảm khoảng 10%) Sản lượng chè của Ấn Độ trong tháng 1 đạt 22,82 triệu kg, giảm 37,26 triệu tấn so với tháng 12 năm 2012 (giảm khoảng 62,17%)

Trang 25

Hình 1.2: Biểu đồ sản lượng chè tại một số nước trên thế giới từ 2010 – 2013

Nguồn: Nguyễn Thị Lan Anh, 2013

Giá cả: tiếp tục chuỗi giảm giá chè xuất khẩu trung bình trong nhưng tháng đầu quý I năm 2013 Giá chè xuất khẩu trung bình tháng 2 đạt 320,9 US cent/kg, giảm 30,54 US Cent/kg so với giá cuối năm 2012 Tuy nhiên, tùy từng loại chè và tùy nước mà giá chè lại có những thay đổi khác nhau

Hình 1.3: Biểu đồ giá chè bình quân thế giới từ 2010 – 2012

Nguồn: Nguyễn Thị Lan Anh, 2013

Trang 26

Giá các loại Chè CTC của Sri Lanka tại thị trường Colombo có sự biến động Giá chè CTC vùng cao và vùng trung du giảm trong những tháng đầu năm 2013 nhưng giá chè CTC vùng thấp lại tăng nhẹ Giá chè CTC vùng cao tháng 1 đạt 423,2 Rs/kg, cao hơn 4,41 Rs/kg so với giá tháng 12 năm 2012

(Nguyễn Thị Lan Anh, 2013)

1.2.3 Ở Việt Nam

Tính đến hết năm 2005, cả nước có 123.742 ha chè, trong đó diện tích chè kinh doanh là 102 ngàn ha với tổng sản lượng đạt 133.350 tấn chè khô Cả nước có khoảng 260 doanh nghiệp xuất khẩu chè, kim ngạch đạt 96.887.000 USD, giá bán bình quân 1.102 USD/tấn (Nguyễn Văn Toàn, 2014)

Hiện nay chè của Việt Nam được xuất khẩu đến gần 100 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới Chè đen được chế biến theo công nghệ Orthodox, phần lớn xuất sang thị trường Trung Cận Đông Chè đen chế biến theo công nghệ CTC được xuất sang thị trường châu Âu, châu Mỹ Chè xanh hầu như chỉ xuất được sang thị trường châu Á (Nguyễn Văn Toàn, 2014)

Nhìn chung, sản phẩm chè xuất khẩu của Việt Nam còn nhiều điểm yếu như: chất lượng còn chưa cao, còn có nhiều khuyết tật, dư lượng nhiều độc tố quá mức cho phép do sử dụng tràn lan thuốc trừ sâu và phân bón hóa học, nguồn nước ô nhiễm và chưa có uy tín trên thị trường thế giới Giá bán chè đen của Việt Nam bình quân chỉ đạt 1,0- 1,1 USD/kg, trong khi giá bán bình quân của các nước khác là 1,4- 2,2 USD/kg Xuất khẩu sang các thị trường

Mỹ, EU, Nhật Bản vẫn đạt thấp (Nguyễn Văn Toàn, 2014)

Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam tăng khoảng 40 triệu USD so với năm trước đó, đạt 117 ngàn tấn, nhờ khối lượng xuất khẩu tăng Triển vọng thiếu cung chè trong những tháng tới sẽ là cơ hội tốt cho ngành chè Việt Nam (Cục xúc tiến thương mại, 2013)

Trang 27

Hình 1.4: Biểu đồ tỷ trọng thị trường xuất khẩu chè Việt Nam 2012

Nguồn: Tổng cục Hải quan, 2012

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan (2013, dẫn theo Cục xúc tiến thương mại, 2013), trong 3 tháng đầu năm 2013, xuất khẩu chè ước đạt xấp xỉ

29 ngàn tấn với tổng kim ngạch ước đạt 43,6 triệu USD giảm 3,9% về lượng

và tăng 4,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2012

Hiện Việt Nam là quốc gia sản xuất và xuất khẩu chè đứng thứ 5 thế giới Nhìn chung trong bối cảnh kinh tế tiếp tục khó khăn, thị trường tiêu thụ chè Việt Nam vẫn khá khả quan với thị trường xuất khẩu hàng đầu là thị trường Pakistan, với thị phần lớn nhất, giá trị xuất khẩu đạt khoảng 6,3 triệu USD; tiếp theo đó là thị trường Đài Loan với sản lượng nhập khẩu 4.065 tấn, trị giá 5,6 triệu USD, và đứng thứ 3 là thị trường Nga, sản lượng đạt 2.974 tấn trị giá 4,67 triệu USD (Cục xúc tiến thương mại, 2013)

Trang 28

Hình 1.5: Biểu đồ biến động giá chè xuất khẩu năm 2010 – 2013

Nguồn: Trung tâm Tin học và Thống kê, Bộ NN&PTNT, 2013

Giá chè tại các thị trường trong nước giai đoạn đầu năm 2013 có sự biến động mạnh Giai đoạn đầu năm giá chè có xu hướng tăng, do nhu cầu tiêu dùng chè cho dịp tết Nguyên Đán của nước ta, giá chè cành chất lượng cao trong tháng

2 được bán với giá 550 nghìn đồng/kg, giá chè xanh búp khô là 280 nghìn đồng/kg Tuy nhiên, giai đoạn sau đó giá chè lại có xu hướng giảm mạnh Giá chè trong tháng 4/2013 đạt 220 nghìn đồng/kg đối với chè cành chất lượng cao (giảm 330 nghìn đồng/kg so với giá chè tháng 2) và 100 nghìn đồng/kg đối với chè búp khô (giảm 160 nghìn đồng/kg so với giá chè tháng 2)

(Đơn vị: triệu USD, %)

Hình 1.6: Biểu đồ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam

Nguồn: Tổng cục Hải quan, 2013

Trang 29

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan (2013, dẫn theo Cục xúc tiến thương mại, 2013), Việt Nam, trong 3 tháng đầu năm 2013, Pakistan tiếp tục là thị trường nhập khẩu chè lớn nhất của Việt Nam, mặc dù xuất khẩu chè sang thị trường này vẫn gặp phải một số rào cản thương mại Theo số liệu báo cáo mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2015, dẫn theo Kiều Linh, 2015), khối lượng xuất khẩu chè tháng 8 năm

2015 ước đạt 13 nghìn tấn với giá trị đạt 21 triệu USD Tính chung 8 tháng đầu năm, khối lượng xuất khẩu chè ước đạt 79 nghìn tấn với giá trị đạt 134 triệu USD, giảm 5,6% về khối lượng và giảm 4,8% về giá trị so với cùng kỳ năm

2014

Giá chè xuất khẩu bình quân 7 tháng đầu năm 2015 đạt 1.706 USD/tấn, tăng 2,86% so với cùng kỳ năm 2014 Về thị trường xuất khẩu, trong 7 tháng đầu năm 2015 Pakistan vẫn là thị trường nhập khẩu chè lớn nhất của Việt Nam, chiếm 37,96% thị phần Khối lượng chè xuất khẩu sang Pakistan tăng 15,11% về khối lượng và tăng 14,16% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014

Trong những năm tới, mục tiêu của Ngành Chè Việt Nam là phát triển thương hiệu chè Việt, thị trường tiềm năng cần hướng tới là thị trường Mỹ và

EU nhằm có bước nhảy về giá để cải thiện đời sống người trồng chè Để làm được điều này, không có cách nào khác là ta phải nâng cao chất lượng chè, sản xuất chè an toàn theo các tiêu chuẩn đảm bảo vệ sinh (ISO, HACCP, GMP, GAP ) (Kiều Linh, 2015)

1.3 Các chỉ tiêu chất lượng đất liên quan đến số lượng giun

1.3.1 Khái niệm giun đất

Giun đất là tên thường gọi cho một nhóm loài động vật sống chủ yếu trong đất và một số ít sống bán thủy sinh thuộc ngành Giun đốt (Annelida), phân ngành Có đai (Clitellata), lớp Giun ít tơ (Oligochaeta).Giun đất giữ vai trò quan trọng quyết định tính chất vật lý, hóa học và sinh học của đất Những loài giun đất đào hang sẽ làm tăng độ thông thoáng, tơi xốp và khả năng thấm nước cho đất Chúng ăn rác thải hữu cơ và thải phân chứa những chất dinh dưỡng cần thiết cho cây (Nguyễn Thanh Tùng, 2013)

Trang 30

Theo nhóm nghiên cứu của Trình Nghiên (2003), giun đất hay trùn đất thuộc ngành hoàn tiết trùng lớp olygochaetae, họ lumbricidae Giun có phân đốt bên ngoài và bên trong cơ thể cũng chia thành từng đốt tương ứng, ngăn cách gần như những phần độc lập Số lượng đốt từ 110 – 180 đốt, di chuyển nhờ các sợt tơ ngắn hai bên hông

1.3.2 Vai trò của giun đất

Trong nông nghiệp, giun đất là một trợ thủ đắc lực của người nông dân Với hoạt động cơ học của mình, giun đất giúp giảm đáng kể công đoạn làm đất nhất là công cày, cuốc, giun làm tăng độ phì nhiêu cho đất Trong nông nghiệp hiện nay phân bón hóa học là nguồn bổ sung dinh dưỡng chính cho cây trồng, nhưng do việc sử dụng không hợp lý nên lượng phân bón trở thành hiểm họa cho môi trường, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước ngầm Giun đất đã góp phần giải quyết vấn đề này Nhờ vai trò to lớn trong việc cải tạo đất của mình giun đất đã được Aristot coi là “ruột của đất trồng”, C Darwin đã nhận xét một cách rất hình tượng và chính xác “cái cày là một trong số những phát minh cổ nhất

và có ý nghĩa nhất của con người, nhưng trước đó rất lâu, đất được giun đất cày xới và sẽ còn mãi được giun đất cày xới” (Trình Nghiên, 2003)

Ngoài ra, dựa trên cơ sở thành phần loài và các biểu hiện về số lượng, người ta còn dùng giun đất như một nhóm động vật chỉ thị cho các vùng đất hoặc mức độ thay đổi của cảnh quan, còn nếu dựa vào phân bố của từng loài giun đất có thể chỉ thị cho tính chất của đất như Pheretima posthuma thường gặp ở đất cát pha, Pheretima elongata ở đất nặng, Pontoscolex corethrurus ở đất nghèo mùn và chua Giun đất cũng là những mắt xích vật chất quan trọng trong các chuỗi và lưới thức ăn góp phần khép kín chu trình tự nhiên Đa số chúng là sinh vật tiêu thụ bậc 1 chúng ăn các vụn hữu cơ trong đất (Trình Nghiên, 2003)

Theo Nguyễn Xuân Thành (1999): giun đất di chuyển theo kiểu chủ động đào hang bằng cách nuốt đất vào bụng, sau đó thải ra phía sau Vỏ cơ thể giun luôn luôn có dịch nhờn để dễ chuyển động, đồng thời giun còn có khả năng co thắt cơ thể để ép đất chặt lại và mở đường đi Giun sống nhờ vào

Trang 31

các rễ, lá cây bị chết giun lớn một ngày có thể đồng hóa được một lượng lớn thức ăn nặng gấp nhiều lần cơ thể chúng và đương nhiên lượng thức ăn ấy có rất nhiều vi sinh vật (Gerad, 1963, dẫn theo Nguyễn Xuân Thành, 1999) Trong cuộc sống của mình, giun có thể tích lũy lá cây chết, các chất hữu cơ ở trong hang tổ của mình Những chất này dần dần được phân giải do

vi sinh vật Những chất hữu cơ được vùi như vậy sẽ được phân giải nhanh hơn khi chúng ở trên lớp đất mặt Như vậy, giun có vai trò quan trọng ban đầu

để sơ chế các chất xơ sợi trong đất và phân giải chất hữu cơ trong đất

Giun đã nuốt vào cơ thể những chất hữu cơ đã được phân giải và một phần đất Trong cơ thể giun, các chất hữu cơ và đất quyện vào nhau thành dạng viên rất mịn Những hạt mịn này sau khi giun bài tiết ra ngoài sẽ tạo điều kiện tốt cho việc cải tạo kết cấu đất và hoạt động của vi sinh vật Đây là tác dụng thứ hai của giun, tác dụng này rất quan trọng

Ở hệ tiêu hóa của giun, thức ăn được phân giải một phần, một số khác như xenlulo, kitin còn chưa được phân giải thì sẽ được tiếp tục phân giải nhờ

hệ vi sinh vật sống trong hệ tiêu hóa của giun Những chất bài tiết của giun gồm một phần là những chất hữu cơ có nguồn gốc từ thực vật đã được phân chia nhỏ, dễ biến đổi, một phần khác là những hợp cơ chứa nitơ từ cơ thể giun

và vi sinh vật như mucoprotein, ure, axit uric (do các tuyến dưới da của giun) Ngoài ra, trong chất bài tiết còn có CaCO3 được luyện từ các tuyến đặc biệt cảu giun Nó giúp cho quá trình giữ độ pH ở mức thuận lợi Chất bài tiết của giun có cấu trúc bền vững, có sức giữ nước cao hơn đất bình thường Tất cả những điều kiện trên tạo cho đất tốt hơn

Những chất bài tiết của giun còn tạo một môi trường mới, làm tăng lượng N, P, K trao đổi, tạo điều kiện cho vi sinh vật cũng như cây trồng phát triển thuận lợi

Nhiều thí nghiệm cho thấy đất có phân giun thì số lượng vi khuẩn, xạ khuẩn cao hơn đất không có phân giun tới 10 lần; còn tảo, nấm men, nấm mốc giảm một ít Các loại vi sinh vật khác nhau có ảnh hưởng không giống nhau: Azotobacter giảm, vi khuẩn nitrat hóa tăng, sự phân giải xenlulozo của vi

Trang 32

khuẩn tăng, còn quá trình phân giải xenlulozo của nấm mốc giảm Những vi khuẩn có nha bào như Bacillus cereus, Bacillus var, Mycoides khi tăng lên 20- 30 lần, khi thì giảm Sự tăng giảm này tùy từng loại giun

1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của giun đất

Hệ sinh thái đất rất phong phú và đa dạng, giữa loài này và loài khác luôn có tác động qua lại lẫn nhau Số loài và số lượng cá thể từng loài thường xuyên biến đổi theo loại đất, khu vực địa lý tầng đất, thời vụ, chế độ canh tác… (Kraxinhicop N.A, dẫn theo Nguyễn Xuân Thành, 1999)

1.3.3.1 Ảnh hưởng của phương thức làm đất:

Phương thức làm đất tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tiểu vùng sinh thái, loại đất, địa hình… mà có các phương thức làm đất khác nhau Tùy từng biện pháp làm đất khác nhau mà có những ảnh hưởng đến hệ sinh vật đất là khác nhau

Từ kết quả thí nghiệm của Mixustin và Niacop (dẫn theo Nguyễn Xuân Thành, 1999) nhận thấy việc xáo trộn đất đã làm tăng quá trình khoáng hóa chất hữu cơ tích lũy ở các tầng sâu, giải phóng nhiều chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của sinh vật đất

Tuy nhiên đối với cây chè: đây là cây trồng lâu năm nên kết cấu thường

ổn định Tác động tới đất chỉ bao gồm hoạt động xới cỏ và bón phân, trồng thay thế cây già cỗi (thường ít xảy ra) Khi cây chè khép tán, mật độ các loài

cỏ dại trong khu vực trồng chè thường xuất hiện rất thấp, người dân thường nhổ cỏ bằng tay hoặc xới nhẹ nên hầu như không ảnh hưởng tới giun đất nói riêng và hệ sinh vật đất nói chung Phương thức bón phân thường là đào rạch nhỏ và nông chạy theo rãnh luống, bón như vậy cũng không gây biến động nhiều trong kết cấu tầng đất Còn đối với đạm thì được bón trực tiếp lên bề mặt đất, sau mỗi trận mưa lớn nên cũng không gây xáo trộn bề mặt đất

1.3.3.2 Ảnh hưởng của luân canh:

Theo kết qủa nghiên cứu của Tropkin và các nhà khoa học trong nước (dẫn theo Nguyễn Xuân Thành, 1999) cho thấy luân canh có tác dụng tăng số lượng sinh vật đất, tăng năng suất cây trồng và giảm mạnh tỷ lệ sâu bệnh

Trang 33

trong thâm canh Đối với chè: đây là cây lâu năm nên không tiến hành luân canh các loại cây trồng mà chỉ thay đổi các giống chè truyền thống năng suất, chất lượng thấp bằng các giống chè mới Nhưng sự thay đổi này nếu có thì diễn ra theo chu kỳ từ 5 – 10 năm một lần, thậm chí là 20- 30 năm một lần nên có ảnh hưởng không đáng kể đến sinh vật đất

1.3.3.3 Ảnh hưởng của phân bón và thuốc BVTV:

Phân hữu cơ: Là nguồn dinh dưỡng có tác động tốt đến thành phần cơ giới, kết cấu, độ ẩm, chế độ nhiệt, chế độ không khí trong đất Ngoài ra, phân hữu cơ còn chứa một lượng lớn vi sinh vật đất, nó vừa là nguồn nguyên liệu vừa thúc đẩy quá trình hình thành mùn cho đất Chính vì vậy phân hữu cơ có ảnh hưởng rất lớn đến số lượng giun đất

Phân vô cơ: Nếu bón với liều lượng cân đối, phân vô cơ có ảnh hưởng tốt đến sự phát triển của sinh vật đất Nhưng bón quá liều lượng, hoặc lạm dụng trong một thời giann dài sẽ khiến đất bị chua hóa và ở một nồng độ dinh dưỡng vượt quá ngưỡng chịu đựng sẽ gây ức chế hoặc giết chết một số chủng sinh vật đất Vậy nên phân vô cơ có cả tác động trực tiếp lẫn gián tiếp đến số lượng giun trong đất

Thuốc BVTV: có ảnh hưởng đến hệ sinh vật đất, tùy vào loại thuốc và nồng độ sẽ gây ra các ảnh hưởng khác nhau Đa phần thuốc BVTV có ảnh hưởng xấu đến sinh vật đất, tuy nhiên đối với một số ít các loài thì không bị hoặc ít chịu ảnh hưởng từ thuốc BVTV Đối với giun đất, thuốc BVTV thường có tác động xua đuổi giun xuống sâu trong lòng đất hoặc di cư đến các khu vực khác, nhưng nếu tác động mạnh có thể gây ức chế sự phát triển hoặc tiêu diệt toàn bộ loài giun

Mức độ tương quan giữa các chỉ tiêu lý hóa và các chỉ số sinh học là tiêu chí quan trọng nhằm đánh giá khả năng phản ánh chất lượng môi trường của giun đất Kết quả phân tích tương quan giữa hàm lượng OM với sinh khối giun đất cho thấy, hàm lượng chất hữu cơ trong đất có tương quan thuận ở mức trung bình với sinh khối giun đất (r = 0,35, pvalue = 0,06) Kết quả phân tích tương quan cũng cho thấy, hàm lượng Nts trong đất tương quan thuận với

Trang 34

sinh khối giun đất Cụ thể, hệ số tương quan giữa hàm lượng Nts với sinh khối giun đất với hệ số r = 0,09, pvalue = 0,647 Hàm lượng Pts tương quan thuận tương đối chặt với sinh khối của giun đất với hệ số tương quan là r = 0,54, pvalue = 0,02 (Nguyễn Văn Khánh, 2012)

Kết quả nghiên cứu của Huỳnh Thị Kim Hối (2007, dẫn theo Nguyễn Văn Khánh, 2012) tại vườn quốc gia Tam Đảo, cho thấy, hàm lượng %OM ảnh hưởng đến sự phân bố theo tầng đất khác nhau của giun đất và có mối tương quan thuận với giun đất Pts tỷ lệ thuận với sự biến động về số lượng loài, mật độ và sinh khối của giun đất

Theo kết quả nghiên cứu của Buckerfield et al (1996, dẫn theo Nguyễn Văn Khánh, 2012) tại Australia, giun đất được sử dụng như một chỉ số tiềm năng của tính bền vững dựa vào kết quả điều tra trên 95 mảnh đất gieo lúa mì, lúa mạch và đậu Hà Lan với diện tích khoảng 3500 km2 Nghiên cứu trên cũng khẳng định, sự phong phú về giun đất và cường độ canh tác trên đất tương quan nghịch với nhau (r = - 0,69) Đồng thời cho thấy, có sự tương quan thuận giữa việc bón phân nitơ với số lượng giun đất (r = 0,48) và sinh khối của giun đất (r = 0,43) Lượng chất hữu cơ tăng lên, tỷ lệ với việc việc

bổ sung phân bón nitơ (r = 0,48), nhưng không tương quan với việc bổ sung phân lân Kết quả phân tích tương quan trong nghiên cứu này tại khu vực Cẩm Lệ, Đa Mặn và Hồ Bứa cho thấy, chỉ số sinh khối giun đất có tương quan ở mức trung bình đến tương đối chặt với các chỉ tiêu %OM và Pts, điều này cho thấy có thể sử dụng chỉ số sinh khối giun đất để đánh giá về hàm lượng dinh dưỡng Pts và chất hữu cơ trong đất trồng rau (Nguyễn Văn Khánh, 2012)

Hoạt động của giun ngoài phụ thuộc vào tính chất đất còn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, khí hậu Nhiệt độ trung bình từ 20- 25oC, độ ẩm 30- 60% thì giun hoạt động tốt Nói chung giun có tác dụng tốt trong quá trình phân giải và mùn hóa chất hữu cơ Giun đã làm cho đất có cấu tượng tốt, tích lũy được chất dinh dưỡng như N, P, K cho cây trồng (Nguyễn Xuân Thành, 1999)

Trang 35

1.4 Khái quát về phát triển nông nghiệp bền vững và quy trình sản xuất chè theo hướng VietGap

1.4.1 Khái niệm về phát triển nông nghiệp bền vững

Theo FAO (1992), phát triển nông nghiệp bền vững (PTNNBV) là quá trình quản lý và duy trì sự thay đổi về tổ chức, kỹ thuật và thể chế cho nông nghiệp phát triển nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người về nông phẩm và dịch vụ vừa đáp ứng nhu cầu của mai sau

Theo Đỗ Kim Chung (2009), PTNNBV là quá trình đảm bảo hài hòa ba nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường, thỏa mãn nhu cầu về nông nghiệp hiện tại mà không tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của tương lai Tác giả Phạm Doãn (2005, dẫn theo Serey Mardy, 2013) cho rằng PTNNBV là quá trình đa chiều, bao gồm: (1) tính bền vững của chuỗi lương thực (từ người sản xuất đến tiêu thụ, liên quan trực tiếp đến cung cấp đầu vào, chế biến và thị trường); (2) tính bền vững trong sử dụng tài nguyên đất và nước về không gian và thời gian; (3) khả năng tương tác thương mại trong tiến trình phát triển nông nghiệp và nông thôn để đảm bảo cuộc sống đủ, an ninh lương thực trong vùng và giữa các vùng

Theo xu hướng chung trên thế giới, các chủ trương và biện pháp nhằm PTNNBV cần phải đồng thời hướng đến ba mục tiêu chính: (1) Phát triển bền vững về kinh tế; (2) Phát triển bền vững về mặt xã hội và (3) Phát triển bền vững về tài nguyên và môi trường Những công nghệ, kỹ thuật canh tác có tiềm năng lớn cho PTNNBV là trồng xen, luân canh cây trồng, nông lâm kết hợp, sử dụng phân hữu cơ, kiểm soát dịch bệnh bằng công nghệ sinh học và quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) (Conway và Barier, 1990)

Thực tiễn PTNNBV ở Việt Nam: Việt Nam là một quốc gia đã có những thành công nhất định trong phát triển nông nghiệp bền vững Thực hiện đầu tư công, chính sách tài chính ưu đãi và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp phát triển một cách bền vững (Hoàng Thị Chỉnh, 2010)

Trang 36

1.4.2 Khái quát về VietGap

Theo trung tâm Thông tin nghiên cứu và Phát triển (IRC): Sau khi gia nhập WTO, ngành xuất khẩu Việt Nam đã có nhiều thay đổi tích cực Tuy nhiên, lượng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam ra nước ngoài chưa được như

kỳ vọng Một phần nguyên nhân chính là hàng hóa của chúng ta vấp phải các quy định về tiêu chuẩn hàng hóa rất khắt khe của các nước nhập khẩu Hiện nay, thị trường xuất nhập khẩu nông sản-thủy sản-thực phẩm trên thế giới đang được kiểm soát bởi những tiêu chuẩn rất cao về chất lượng sản phẩm cũng như vệ sinh an toàn thực phẩm Nắm bắt được những khó khăn trên, từ năm 2006, ASEAN đã công bố bản quy trình GAP (Good Agricultural Practices: Thực hành nông nghiệp tốt) chung cho các nước thành viên Và ngày 28-1-2008, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành tiêu chuẩn riêng của Việt Nam có tên viết tắt là VietGAP

VietGAP (là cụm từ viết tắt của: Vietnamese Good Agricultural Practices) có nghĩa là Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam, do Bộ

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành đối với từng sản phẩm, nhóm sản phẩm thủy sản, trồng trọt, chăn nuôi.VietGAP là những nguyên tắc, trình

tự, thủ tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch, xử lý sau thu hoạch nhằm đảm bảo an toàn, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội, sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng; đồng thời bảo vệ môi trường và truy nguyên nguồn gốc sản xuất (IRC)

Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho chè búp tươi của Việt Nam (VietGAP) là những nguyên tắc, thủ tục hướng dẫn tổ chức, cá nhân sản xuất, thu hoạch, bảo quản và chứng nhận chè búp tươi đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo phúc lợi xã hội và sức khỏe người sản xuất, người tiêu dùng và bảo vệ môi trường, làm cơ sở để truy nguyên nguồn gốc sản phẩm (BNN&PTNT, 2008)

Trang 37

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Phân bón và thuốc BVTV sử dụng trong canh tác chè tại xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

Số lượng giun trong đất canh tác cây chè tại xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế- xã hội của xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ

2.3.2 Hiện trạng sản xuất và tiêu thụ cây chè tại xã Võ Miếu

2.3.3 Thực trạng sử dụng phân bón trên cây chè tại xã Võ Miếu

2.3.4 Thực trạng sử dụng thuốc BVTV trên cây chè tại xã Võ Miếu

2.3.5 Ảnh hưởng của phân bón và thuốc BVTV đến số lượng giun đất tại đất trồng chè xã Võ Miếu

2.3.6 Nhận thức của người dân về ô nhiễm môi trường do sử dụng phân bón

và thuốc BVTV trong sản xuất chè tại xã Võ Miếu

2.3.7 Đề xuất một số giải pháp sử dụng phù hợp phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trên chè tại địa bàn nghiên cứu

Trang 38

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Số liệu thứ cấp, nguồn dữ liệu, thông tin sẵn có của các cơ quan Nhà nước, cơ quan nghiên cứu ở trung ương và địa phương, các tài liệu chuyên khảo của các nhà xuất bản, các báo cáo khoa học được công bố phát hành, các tạp chí khoa học, các báo cáo chính thống, các tài liệu trên mạng internet chính thống, tham vấn ý kiến của cán bộ xã (Ban Địa chính, ban Khuyến nông…), xin tham khảo các giấy tờ, văn bản cấp xã, thôn, tham vấn chủ Câu lạc bộ sinh kế cộng đồng xã Võ Miếu để thu thập thông tin về tình hình sản xuất chè an toàn, các giấy phép và văn bản của Câu lạc bộ có liên quan… để tìm hiểu các vấn đề liên quan đến đề tài:

- Các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn nghiên cứu

- Tình hình sản xuất chè ở Võ Miếu

- Hiện trạng sử dụng phân bón và thuốc BVTV ở địa bàn nghiên cứu

- Các số liệu phân tích hiện trạng môi trường đất và số liệu phân tích chất lượng nông sản chè

- Các chương trình, dự án tuyên truyền về bảo vệ môi trường, quy định hướng dẫn sử dụng phân bón, thuốc BVTV cho người dân

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

2.4.2.1 Nghiên cứu tình hình sản xuất và tiêu thụ, thực trạng sử dụng phân bón và thuốc BVTV trên cây chè

a) Phương pháp thu thập thông tin nghiên cứu

- Thu thập thông tin từ các bảng hỏi mở

- Tham quan, khảo sát thực địa, ghi lại những hình ảnh liên quan đến nghiên cứu của đề tài, rồi đối chiếu với thông tin thu thập được từ người dân

- Tham vấn ý kiến cán bộ cấp xã, thôn

Lập bảng hỏi và phỏng vấn các gia đình trồng chè nhằm thu thập các thông tin liên quan tới tình hình sản xuất, cách thức, liều lượng phân bón và thuốc BVTV được sử dụng, nhận thức của người dân về ô nhiễm môi trường…

Trang 39

b) Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Xã Võ Miếu mới có 87 hộ sản xuất theo MHVG (với tổng diện tích là

30 ha), còn lại chủ yếu vẫn sản xuất theo MHTT, số lượng hộ sản xuất theo MHTT lớn hơn rất nhiều so với số lượng hộ sản xuất theo MHVG

Trên cơ sở công thức tính số mẫu cần lấy của Nguyễn Tri Khiêm (2003, dẫn theo Nguyễn Thanh Lâm, 2012):

N = 4*S2/L2 Trong đó:

S là tổng số cá thể trong quần thể hoặc tổng số hộ tại khu vực nghiên cứu N: dung lượng mẫu cần lấy

L: khoảng sai số cho phép của trung bình ước lượng mẫu và độ tin cậy

để sai số vượt phép L là 95%

Nên ta tính được tổng số hộ cần điều tra phỏng vấn ở MHVG là

N = 4* 872 / 0,052 = 12 (hộ) Tương ứng trên MHTT, chúng tôi loại bỏ các hộ không có diện tích hoặc diện tích không đại diện cho sản xuất chè của xã Tiến hành chọn ngẫu nhiên 12 hộ trong số các hộ còn lại của MHTT để tiến hành phỏng vấn chuyên sâu

Vậy tổng số hộ tiến hành phỏng vấn ở cả hai mô hình là 24 hộ

2.4.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón và thuốc BVTV đến số lượng giun đât trong canh tác chè ở Võ Miếu

Mô tả khu vực lấy mẫu:

Khu vực sản xuất theo MHVG: Với 30 ha chè đã được cấp chứng chỉ

VietGap- đây là một khu vực sản xuất chè tập chung, địa hình tương đối bằng phẳng, đường giao thông là đường mòn và đồng thời chính là dải phân cách giữa các khu vực Giữa khu sản xuất chè theo MHVG và các khu vực khác tuy không có hàng rào chắn bảo vệ nhưng vị trí canh tác của MHVG có bề mặt cao hơn các khu vực khác từ 1,5 đến 3 mét nên ít chịu ảnh hưởng từ các khu vực bên ngoài Độ tuổi của chè là trong khoảng 15- 20 năm

Khu vực sản xuất theo MHTT: Khu vực lựa chọn là khu sản xuất chè

theo MHTT tập trung, gần đường đi cầu phao ông Chí, địa hình khu vực sản xuất khá bằng phẳng, đường đi lại cũng chủ yếu là đường mòn, đồng thời đường đi cũng chính là ranh giới phân chia các khu vực Do đây là khu vực

Trang 40

sản xuất chè theo MHTT khác rộng (khoảng 15 ha) và tập trung nên địa phương đã có định hướng chuyển từ sản xuất chè truyền thống thành sản xuất chè theo tiêu chuẩn xuất khẩu nhằm mục đích bảo vệ môi trường và sức khỏe người tiêu dùng, đồng thời tăng thu nhập cho người dân, phát triển kinh tế được bền vững Chính vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn khu vực này làm khu vực đối chứng với MHVG, vừa thấy được sự khác biệt giữa hai hình thức sản xuất vừa làm nghiên cứu tiền đề để góp phần phát triển mở rộng vùng chè sạch cho

địa phương Độ tuổi của chè là khoảng 10- 20 năm

a) Phương pháp thu thập và phân tích mẫu đất

Tại mỗi mô hình nghiên cứu, tôi tiến hành lựa chọn các điểm nghiên cứu theo TCVN 4046 - 85: Đất trồng trọt - Phương pháp lấy mẫu do Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước ban hành năm 1985 Vị trí lấy mẫu nghiên cứu được xác định theo quy tắc đường thẳng góc

Số đợt lấy mẫu:

Đợt 1: Ngày lấy mẫu 24/03/2016, khi chè đang cho thu lứa chè xuân Lấy mẫu ở các vị trí đã đánh dấu trên sơ đồ hình 2.1.1 (Phụ lục 3) đối với MHVG, theo sơ đồ hình 2.2.1(Phụ lục 7) ở MHTT Lấy mẫu đất ở giữa hai hàng chè

để giảm ảnh hưởng đến các cây chè

Đợt 2: Ngày lấy mẫu 04/04/2016, khi lứa chè xuân đã thu xong, đã bón phân thúc cho chè Lấy mẫu ở các vị trí cách vị trí lấy mẫu lần một khoảng 3 hàng chè về phía Bắc theo sơ đồ hình 2.1.2 (Phụ lục 4) đối với MHVG, theo

sơ đồ hình 2.2.2 (Phụ lục 8) đối với MHTT Tương tự ta cũng lấy mẫu đất ở giữa hai hàng chè để giảm ảnh hưởng đến các cây chè

Đợt 3: Ngày lấy mẫu 12/04/2016, sau bón phân từ 8- 15 ngày Lấy mẫu ở các vị trí cách vị trí lấy mẫu lần một khoảng 3 hàng chè về phía Nam theo sơ

đồ hình 2.1.3 (Phụ lục 5) đối với MHVG, theo sơ đồ hình 2.2.3 (Phụ lục 9) đối với MHTT Tương tự ta cũng lấy mẫu đất ở giữa hai hàng chè để giảm ảnh hưởng đến các cây chè

- Thu thập mẫu: Tôi sử dụng xẻng đào ô đất với kích thước 0,2 x 0,2 m, sâu 0,3 m ở vị trí giữa hai hàng chè, tránh đào quá sát gốc chè gây ảnh hưởng đến sinh trưởng bình thường của cây Sau đó tôi trộn đều đất, lấy ra 0,5 – 1kg

Ngày đăng: 01/08/2017, 11:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w