1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất lúa tại huyện đô lương, tỉnh nghệ an

93 226 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Điều tra, tìm hiểu, thu thập các số liệu thứ cấp ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất lúa và các biện pháp thích ứng của người dân trong sản xuất lúa tại điểm nghiên c

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

Tính cấp thiết của đề tài 1

Mục đích nghiên cứu 3

Yêu cầu nghiên cứu 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu 4

1.1.1 Khái niệm về biến đổi khí hậu 4

1.1.2 Biểu hiện về biến đổi khí hậu 4

1.1.3 Nguyên nhân của biến đổi khí hậu 6

1.2 Tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới và Việt Nam 9

1.2.1 Tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới 9

1.2.2 Tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam 10

1.3 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến tình hình sản xuất nông nghiệp 14

1.3.1 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến tình hình sản xuất nông nghiệp trên thế giới 14

1.3.2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến tình hình sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam 17

1.4 Biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp 20

1.4.1 Biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới 21

Trang 2

1.4.2 Biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp

ở Việt Nam 24

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đối tượng nghiên cứu 29

2.2 Phạm vi nghiên cứu 29

2.3 Nội dung nghiên cứu 30

2.4 Phương pháp nghiên cứu 30

2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp 30

2.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp 31

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 31

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An 32

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 32

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 34

3.2 Diễn biến biến đổi khí hậu tại huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An 37

3.2.1 Diễn biến về nhiệt độ 37

3.2.2 Diễn biến về lượng mưa 41

3.2.3 Diễn biến số giờ nắng 43

3.2.4 Diễn biến số ngày nắng nóng, nắng nóng gay gắt và số ngày rét đậm, rét hại 44

3.2.5 Diễn biến về bão 47

3.3 Hiện trạng sản xuất lúa tại huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An 49

3.4 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất lúa tại huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An 52

3.4.1 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến diện tích sản xuất lúa 52

3.4.2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến năng suất lúa 57

3.4.3 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến lịch thời vụ 61

3.4.4 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến cơ cấu cây trồng 63

Trang 3

3.5 Các biện pháp thích ứng trong sản xuất lúa tại huyện Đô Lương 65

3.6 Đề xuất các biện pháp thích ứng trong sản xuất nông nghiệp với biến đổi khí hậu tại huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An 74

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76

Kết luận 76

Kiến nghị 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

PHỤ LỤC 81

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BTNMT Bộ Tài nguyên Môi trường

CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc

IPCC Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu

IPM Chương trình quản lí dịch hại tổng hợp

UNDP Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc

UNFCCC Công ước khung của Liên Hiệp Quốc tế về biến đổi khí hậu

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Loại hình thời tiết có liên quan tới hiểm họa tự nhiên theo vùng ở

Việt Nam 11 Bảng 1.2: Các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực

trồng trọt 28 Bảng 3.1: Xu hướng biến đổi của nhiệt độ trung bình huyện Đô Lương giai

đoạn 1961 - 2012 38 Bảng 3.2: Tổng số ngày nắng nóng, nắng nóng gay gắt và rét đậm, rét hại

huyện Đô Lương giai đoạn 1961 - 2010 45 Bảng 3.3: Xu hướng biến đổi của bão giai đoạn 1961 - 2010 48 Bảng 3.4: Diện tích lúa của hộ được phỏng vấn xã Văn Sơn và Giang Sơn

Đông 5 năm trước và hiện nay 57 Bảng 3.5: Diện tích nhiễm một số sâu bệnh hại điển hình trên cây lúa huyện

Đô Lương giai đoạn 2010 - 2015 60 Bảng 3.6: Lịch thời vụ của cây lúa huyện Đô Lương năm 2010 và 2015 62 Bảng 3.7: Diện tích một số cây trồng huyện Đô Lương năm

2010 và năm 2015 63 Bảng 3.8: Biện pháp thích ứng với BĐKH trong sản xuất lúa của người dân

huyện Đô Lương 72

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Bản đồ huyện Đô Lương 29

Hình 3.1: Hiện trạng sử dụng đất huyện Đô Lương năm 2013 33

Hình 3.2: Diễn biến và xu thế nhiệt độ trung bình năm huyện Đô Lương giai đoạn 1961 - 2012 39

Hình 3.3: Diễn biến của nhiệt độ trung bình tối cao, nhiệt độ trung bình tối thấp huyện Đô Lương giai đoạn 1961 - 2012 40

Hình 3.4: Diễn biến và xu thế tổng lượng mưa trong năm huyện Đô Lương giai đoạn 1961 - 2012 41

Hình 3.5: Diễn biến và xu thế tổng lượng mưa tháng 1 và tháng 8 huyện Đô Lương giai đoạn 1961 - 2012 42

Hình 3.6: Diễn biến và xu thế số giờ nắng trong năm huyện Đô Lương giai đoạn 1961 - 2012 44

Hình 3.7: Diễn biến và xu thế số ngày nắng nóng, nắng nóng gay gắt huyện Đô Lương giai đoạn 1961 – 2012 46

Hình 3.8: Diễn biến và xu thế số ngày rét đậm, rét hại huyện Đô Lương giai đoạn 1961 - 2012 47

Hình 3.9: Tổng diện tích và năng suất lúa cả năm huyện Đô Lương giai đoạn 2010 - 2015 50

Hình 3.11: Diện tích và năng suất lúa vụ Xuân (a) và vụ Hè thu (b) huyện Đô Lương giai đoạn 2010 - 2015 51

Hình 3.12: Tần suất phun thuốc BVTV 5 năm trước và hiện nay 61

Hình 3.10: Nhận thức của người dân về BĐKH tại huyện Đô Lương 66

Hình 3.13: Diện tích NTTS huyện Đô Lương giai đoạn năm 2010 – 2015 69

Trang 7

MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu (BĐKH) được xem là vấn đề nóng bỏng nhất - yếu tố quan trọng, có tác động toàn diện đến sự phát triển bền vững trên toàn thế giới Do ảnh hưởng của BĐKH, thiên tai trên phạm vi toàn cầu đã, đang và sẽ xảy ra với tần suất nhiều hơn, phức tạp hơn, cường độ tăng mạnh hơn làm trầm trọng thêm mức độ ảnh hưởng của thiên tai Xét trên quy mô toàn cầu, số ngày đông giảm đi ở hầu khắp các vùng vĩ độ trung bình, số ngày cực nóng tăng lên và số ngày cực lạnh giảm đi Các sự kiện mưa lớn tăng lên ở nhiều vùng lục địa khác nhau từ khoảng sau năm 1950, thậm chí ở cả những nơi

có tổng lượng mưa giảm Trong giai đoạn 1995 - 2005 thì có 9 năm trong đó số lượng bão ở Bắc Đại Tây Dương đã vượt quá chuẩn (so với giai đoạn 1981 - 2000) Hạn hán nặng hơn và kéo dài hơn đã được quan trắc trên nhiều vùng khác nhau với phạm vi rộng lớn hơn, đặc biệt ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới từ

sau những năm 1970 (IPCC, 2007) Với sự BĐKH diễn ra trên phạm vi toàn cầu

như vậy đã làm cho thiên tai ngày càng gia tăng về số lượng, cường độ và mức

độ ảnh hưởng, ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế

xã hội Và một trong những lĩnh vực chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất do BĐKH là sản xuất nông nghiệp

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, một trong năm ổ bão của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, thường xuyên đối mặt với các loại hình thiên tai, hằng năm nước ta chịu nhiều tác động bất lợi của thiên tai, làm thiệt hại về người và của vô cùng to lớn Trong 12 năm gần đây (1996 - 2008), các loại thiên tai như bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, úng ngập hạn hán và các thiên tai khác đã làm thiệt hại đáng kể về người và tài sản, đã làm chết và mất tích hơn 9.600 người, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP/năm Mức độ thiên tai ở Việt Nam ngày càng gia tăng về cả quy mô cũng như chu kỳ

Trang 8

lặp lại kèm theo những đột biến khó lường (Đào Xuân Học, 2009) Nền nông

nghiệp nước nhà trong đó sản xuất lúa gạo đóng vai trò chính, chiếm vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội quốc gia đang bị biến đổi khí hậu ảnh hưởng khá nặng nề Chính vì vậy, sản xuất lúa cần được quan tâm trước thực trạng BĐKH hiện nay

Nghệ An là một tỉnh nằm trong khu vực duyên hải Trung Bộ với đặc điểm địa hình đặc biệt đã tạo nên nơi đây những đặc điểm khí hậu riêng biệt là một vùng nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh và có gió Tây khô nóng vào mùa hè Điều kiện khí hậu đặc biệt này đã tạo cho Nghệ An những thuận lợi nhất định và cũng không ít khó khăn trong sản xuất lúa - một loại cây lương thực chính của người dân nơi đây

Đô Lương là một huyện đồng bằng nằm về phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An, là một trong những huyện trọng điểm sản xuất lúa của tỉnh, có 33 đơn vị hành chính, dân số hơn 200 nghìn người, cách thành phố Vinh 75 km về phía Tây Bắc, có dòng sông Lam chảy qua Đô Lương với hơn 15 km.Tổng diện tích đất

tự nhiên của huyện là 35.008,35 ha tính đến năm 2013, trong đó diện tích đất trồng lúa là 14.949,63 ha (chiếm 42,7% diện tích đất tự nhiên) Đô Lương là huyện nằm vùng Tây Bắc tỉnh Nghệ An nên chịu nhiều tác động của thời tiết khắc nghiệt nên rất khó khăn cho sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng Sản xuất vụ Xuân thường đầu vụ chịu ảnh hưởng nhiều của rét đậm, rét hại, cuối vụ chịu ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam khô nóng, vụ Hè thu đầu vụ thì nắng hạn, cuối vụ lại mưa bão

Vì vậy việc đánh giá những biến động, ảnh hưởng của BĐKH đến sản xuất lúa là rất cần thiết, qua đó đưa ra được những biện pháp ứng phó kịp thời giúp cải thiện được năng suất cũng như chất lượng lúa Xuất phát từ thực tiễn

trên em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất lúa tại huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An”

Trang 9

Mục đích nghiên cứu

- Đánh giá được diễn biến khí hậu tại huyện Đô Lương - tỉnh Nghệ An trong 50 năm trở lại đây

- Tìm hiểu được hiện trạng sản xuất và năng suất lúa tại điểm nghiên cứu

- Đánh giá được ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất và năng suất lúa tại điểm nghiên cứu

- Tìm hiểu được các biện pháp thích ứng trong sản xuất lúa tại điểm nghiên cứu

- Đề xuất các giải pháp thích ứng nhằm giảm thiểu tác động bất lợi của biến đổi khí hậu trong sản xuất lúa

Yêu cầu nghiên cứu

- Thu thập được các số liệu khí tượng ở huyện Đô Lương - tỉnh Nghệ An trong 50 năm trở lại đây như: nhiệt độ, lượng mưa, số cơn bão, số giờ nắng, số ngày nắng nóng, nắng nóng gay gắt, số ngày rét đậm, rét hại

- Thu thập được các số liệu thống kê về hoạt động sản xuất lúa như diện tích, năng suất, lịch thời vụ trong giai đoạn 2010 - 2015 tại điểm nghiên cứu

- Điều tra, tìm hiểu, thu thập các số liệu thứ cấp ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất lúa và các biện pháp thích ứng của người dân trong sản xuất lúa tại điểm nghiên cứu

Trang 10

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về biến đổi khí hậu

1.1.1 Khái niệm về biến đổi khí hậu

Hệ thống khí hậu trái đất bao gồm khí quyển, lục địa, đại dương, băng quyển và sinh quyển Các quá trình khí hậu diễn ra trong sự tương tác liên tục của những thành phần này Theo định nghĩa của Tổ chức Liên chính phủ về biến

đổi khí hậu (IPCC) trong báo cáo lần thứ IV (AR4) năm 2007: Biến đổi khí hậu

là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể nhận biết qua sự biến đổi

về trung bình và sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn Nói cách khác, nếu coi

trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình và những biến động của nó trong vài thập kỷ hoặc dài hơn, thì BĐKH là sự biến đổi

từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu

Theo UNFCCC (1992) định nghĩa BĐKH trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo Sự thay đổi về khí hậu gây ra trực tiếp hay gián tiếp từ hoạt động của con người làm thay đổi cấu thành của khí quyển trái đất, cùng với biến đổi khí hậu tự nhiên, đã được quan sát trong một thời kì nhất định

1.1.2 Biểu hiện về biến đổi khí hậu

Sự BĐKH toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng Biểu hiện rõ nhất là sự nóng lên của trái đất, là băng tan, nước biển dâng cao; là các hiện tượng thời tiết bất thường, bão lũ, sóng thần, động đất, hạn hán và giá rét kéo dài… dẫn đến thiếu lương thực, thực phẩm và xuất hiện hàng loạt dịch bệnh trên

người, gia súc, gia cầm

Theo báo cáo đánh giá lần thứ IV của IPCC (2007), từ những quan trắc nhiệt độ và đại dương trung bình toàn cầu, sự tan chảy của băng và tuyết trên

Trang 11

phạm vi rộng lớn và sự dâng lên của mực nước biển trung bình toàn cầu cho

thấy sự nóng lên toàn cầu của hệ thống khí hậu hiện nay đã diễn ra mạnh mẽ

chưa từng có Xu thế tăng nhiệt độ trong 100 năm (1906 - 2005) là 0,74oC; xu

thế tăng nhiệt độ trong 50 năm gần đây là 0,13oC/ thập kỷ, gấp 2 lần xu thế tăng

của 100 năm qua Nhiệt độ trung bình ở Bắc cực đã tăng với tỷ lệ 1,5oC/100

năm, gấp 2 lần tỷ lệ tăng trung bình toàn cầu, nhiệt độ trung bình ở Bắc cực

trong 50 năm cuối thế kỷ 20 cao hơn bất kỳ nhiệt độ trung bình của 50 năm nào

khác trong 500 năm gần đây và có thể là cao nhất, ít nhất là trong 1.300 năm

qua Nhiệt độ trung bình ở đỉnh lớp băng vĩnh cửu ở Bắc bán cầu đã tăng 30oC

kể từ năm 1980, 11 trong số 12 năm gần đây (1995 - 2006) nằm trong số 12 năm

nóng nhất trong chuỗi quan trắc bằng máy kể từ năm 1850

Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng với tỷ lệ trung bình 1,8

mm/năm trong giai đoạn 1961 - 2003 và tăng nhanh hơn với tỷ lệ 3,1 mm/năm

trong giai đoạn 1993 - 2003 Tổng cộng, mực nước biển trung bình toàn cầu đã

tăng lên 0,31 m trong 100 năm gần đây Chính sự tan băng ở Greenland, Bắc

cực và Nam cực đã làm cho mực nước biển tăng nhanh hơn trong giai đoạn

1993 - 2003 Ngoài ra, nhiệt độ trung bình của đại dương toàn cầu tăng lên (ít nhất là tới độ sâu 3.000 m) cũng góp phần vào sự tăng lên của mực nước

biển Số liệu vệ tinh cho thấy, diện tích biển băng trung bình năm ở Bắc Cực đã

thu hẹp 2,7%/thập kỷ, riêng mùa hè giảm 7,4%/thập kỷ Diện tích cực đại của

lớp phủ băng theo mùa ở Bắc bán cầu đã giảm 7% kể từ năm 1990, riêng trong

mùa xuân giảm tới 15% Tại Hội nghị quốc tế về BĐKH họp ở Bruxen (Bỉ), các

báo cáo khoa học cho biết, ở Bắc cực, khối băng dày khoảng trên 3 km đang

mỏng dần và đã mỏng đi 66 cm Ở Nam Cực, băng cũng đang tan với tốc độ

chậm hơn và những núi băng ở Tây Nam cực đổ sụp Những lớp băng vĩnh cửu

ở Greenland tan chảy Ở Alaska (Bắc Mỹ), trong những năm gần đây nhiệt độ đã

tăng 1,5oC so với trung bình nhiều năm, làm tan băng và lớp băng vĩnh cửu đã

giảm 40%, những lớp băng hàng năm dày khoảng 1,2 m đã giảm 4 lần, chỉ còn

Trang 12

0,3 m Báo cáo cũng cho biết, các núi băng trên cao nguyên Thanh Hải (Trung Quốc) ở độ cao 5.000 m mỗi năm giảm trung bình 7% khối lượng và 50 - 60 m

độ cao, uy hiếp nguồn nước của các sông lớn ở Trung Quốc Trong 30 năm qua, trung bình mỗi năm, diện tích lớp băng trên cao nguyên Tây Tạng bị tan chảy khoảng 131 km2, chu vi vùng băng tuyết bên sườn cao nguyên mỗi năm giảm

100 - 150 m, có nơi tới 350 m Diện tích các đầm lầy trong khu vực này cũng giảm 10% Tất cả đang làm cạn kiệt hồ nước Thanh Hải, một hồ lớn nhất Trung Quốc, đe dọa hồ sẽ bị biến mất trong vòng 200 năm tới Nếu nhiệt độ trái đất tiếp tục tăng, khối lượng băng tuyết ở khu vực cao nguyên sẽ giảm 1/3 vào năm

2050 và chỉ còn 1/2 vào năm 2090 (BTNMT, 2008)

1.1.3 Nguyên nhân của biến đổi khí hậu

Trong lịch sử địa chất của trái đất chúng ta, sự BĐKH đã từng nhiều lần xảy ra với những thời kỳ lạnh và nóng kéo dài hàng vạn năm mà chúng ta gọi là thời kỳ băng hà hay thời kỳ gian băng Thời kỳ băng hà cuối cùng đã xãy ra cách đây 10.000 năm và hiện nay là giai đoạn ấm lên của thời kỳ gian băng Xét về nguyên nhân gây nên sự thay đổi khí hậu này, chúng ta có thể thấy đó là do sự tiến động và thay đổi độ nghiêng trục quay trái đất, sự thay đổi quỹ đạo quay của trái đất quanh mặt trời, vị trí các lục địa và đại dương và đặc biệt là sự thay đổi trong thành phần khí quyển

Trong khi những nguyên nhân đầu tiên là những nguyên nhân hành tinh, thì nguyên nhân cuối cùng lại có sự tác động rất lớn của con người mà chúng ta gọi đó là sự làm nóng bầu khí quyển hay hiệu ứng nhà kính Có thể hiểu sơ lược là: nhiệt độ trung bình của bề mặt trái đất được quyết định bởi sự cân bằng giữa hấp thụ năng lượng mặt trời và lượng nhiệt trả vào vũ trụ Khi lượng nhiệt bị giữ lại nhiều trong bầu khí quyển thì sẽ làm nhiệt độ trái đất tăng lên Chính lượng khí CO2 chứa nhiều trong khí quyển sẽ tác dụng như một lớp kính giữ nhiệt lượng tỏa ngược vào vũ trụ của trái đất Cùng với khí CO2 còn có một số khí khác cũng được gọi chung là khí nhà kính như NO , CH , CFC Với những gia

Trang 13

tăng mạnh mẽ của nền sản xuất công nghiệp và việc sử dụng các nhiên liệu hoá thạch (dầu mỏ, than đá,…), nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy nhiệt độ toàn cầu sẽ gia tăng từ 1,4oC đến 5,8oC từ năm 1990 đến 2100 và vì vậy sẽ kéo theo những nguy cơ ngày càng sâu sắc đối với chất lượng sống của con người

(Hân Hòa, 2015)

Kết luận của các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Berne - Thụy Sĩ công bố trên tạp chí khoa học Nature ngày 15/05 cho biết nồng độ khí CO2 trong khí quyển hiện ở mức cao nhất trong 800.000 năm qua Các dữ liệu đã chứng minh tương quan giữa nồng độ khí CO2 và hiện tượng tăng nhiệt độ trên trái đất Theo kết quả nghiên cứu, nhiệt độ trái đất đã ở mức cao nhất vào thời kỳ cách đây 320.000 năm, khi mà nhiệt độ tại Nam cực nóng hơn 3 - 5oC so với ngày nay và nồng độ CO2 trong khí quyển khi đó có tỷ lệ 320 ppm so với 380 ppm hiện nay Các nhà khoa học cũng cho biết thời kỳ nóng lên trước kia trải dài qua nhiều thế kỷ khiến người ta có cảm giác khí hậu ổn định, trong khi khoảng 150 năm gần đây, trái đất nóng lên rất nhanh do hiện tượng hiệu ứng nhà kính Theo thống kê, nồng độ CO2 đặc biệt tăng nhanh trong hơn hai thập kỷ qua Từ năm

1970 đến năm 2000, nồng độ CO2 tăng trung bình 1,5 ppm/năm và riêng trong năm 2007, nồng độ này đã tăng 2,14 ppm

Vì vậy, nguyên nhân chính làm BĐKH trái đất được cho là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định 6 loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SF6

+ CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển CO2 cũng sinh

ra từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép

+ CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại,

hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than

Trang 14

+ N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp

+ HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn (ODS) và HFC - 23

là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC - 22

+ PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm

+ SF6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magiê

Trang 15

1.2 Tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Tình hình biến đổi khí hậu trên thế giới

BĐKH đã và đang gây ra những tác động tiêu cực tới các hệ thống tự nhiên, nhân tạo và con người trên toàn thế giới Sự thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa đã gây ra sa mạc hóa, hạn hán, lũ lụt…, gây tác hại cho tài nguyên nước, tài nguyên đất, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống kinh tế - xã hội Mực nước biển dâng cao đe dọa làm ngập chìm các hòn đảo, các khu vực đất thấp, làm thay đổi toàn bộ đời sống, sinh hoạt của con người Sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão,

lũ, lũ quét cũng gây thiệt hại lớn cho các quốc gia Theo ước tính của các nhà khoa học, nếu nhiệt độ trung bình của trái đất tăng từ 1,5 đến 2,5oC so với thời

kỳ tiền công nghiệp, khoảng 20% - 30% các loài sinh vật sẽ đứng bên bờ tuyệt chủng Nếu nhiệt độ trung bình của trái đất tăng hơn 4oC thì sẽ chỉ còn rất ít các

hệ sinh thái có khả năng thích ứng được, hơn 40% hệ sinh thái sẽ chuyển đổi và rất nhiều hệ sinh thái sẽ biến mất hoặc sụp đổ trên quy mô toàn cầu Bên cạnh

đó, nếu mực nước biển dâng cao 1 m, hàng triệu người có thể mất nhà cửa và hàng nghìn ha đất canh tác bị ngập lụt, gây thiệt hại hàng trăm tỷ USD Nhiều quốc đảo có độ cao dưới 3 m so với mặt nước biển như Kiribati, Tuvalu, Madivale, sẽ mất phần lớn diện tích và một vài nước khác sẽ biến mất khi nước biển dâng cao 1 m

Trong ba thập niên liên tiếp vừa qua, nhiệt độ bề mặt trái đất luôn nóng hơn

so với tất cả các thập niên trước đây kể từ năm 1850 Giai đoạn 1983 - 2012 dường như là 30 năm nóng nhất trong vòng 800 năm qua tại Bắc Bán cầu Trong giai đoạn 1992 - 2011, một lượng băng lớn đã bị tan chảy ở Greenland và Nam Cực và dường như trong giai đoạn 2002 - 2011, quá trình tan băng đã xảy

ra với tốc độ lớn hơn Trong giai đoạn 1901 - 2010, mức nước biển đã dâng trung bình trên toàn cầu là 0,19 m với tốc độ trung bình 1,7 mm/năm Tốc độ

Trang 16

dâng của nước biển từ giữa thế kỷ 19 đã cao hơn tốc độ dâng trung bình trong 2

nghìn năm trước (IPCC, 2014)

Phát thải khí nhà kính đã tăng lên kể từ thời kỳ tiền công nghiệp, chủ yếu do tăng trưởng kinh tế, tăng dân số và hiện nay đang ở mức cao hơn bao giờ hết Nồng độ trong khí quyển của các loại khí CO2, CH4 và N2O đạt tới mức cao chưa từng có trong ít nhất 800.000 năm qua và đều có mức tăng lớn kể từ năm

1750, tương ứng là 40%, 150% và 20% Tổng lượng khí nhà kính do con người thải ra trong giai đoạn 2000 - 2010 là cao nhất trong lịch sử nhân loại và đạt

49 (± 4.5) GtCO2eq /năm trong năm 2010 (IPCC, 2014)

BĐKH là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại Vấn đề BĐKH đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn diện và sâu sắc quá trình phát triển và

an ninh toàn cầu như năng lượng, nước, lương thực, xã hội, việc làm, ngoại giao, văn hóa, kinh tế, thương mại

1.2.2 Tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam

Ở Việt Nam trong 50 năm qua biểu hiện của BĐKH đã rõ nét, cụ thể như sau:

- Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,5oC trên phạm vi cả nước; nhiệt

độ mùa đông tăng nhanh hơn mùa hè và nhiệt độ vùng sâu trong đất liền tăng nhanh hơn nhiệt độ vùng ven biển và hải đảo

- Lượng mưa có xu hướng giảm đi ở phía Bắc, tăng ở phía Nam Lượng mưa cực đại tăng lên ở hầu hết các vùng, nhất là trong những năm gần đây; số ngày mưa lớn cũng tăng lên tương ứng, nhiều biến động mạnh xảy ra ở khu vực miền Trung

- Mực nước biển theo dọc bờ biển Việt Nam đã tăng lên khoảng 20 cm

- Tần suất xuất hiện các cơn bão mạnh có xu hướng gia tăng Mùa bão có dấu hiệu kết thúc muộn hơn và bão có xu thế dịch dần vào phía nam trong những năm gần đây

- Lũ lụt xảy ra thường xuyên hơn ở tất cả các vùng, trong đó miền Trung thường chịu thiệt hại lớn nhất

Trang 17

- Ngập do triều cường gia tăng trên diện rộng với mức ngập sâu hơn như ở Cần Thơ, TP Hồ Chí Minh, Cà Mau, Hải Phòng, Vĩnh Long

- Tình trạng nhiễm mặn vào sâu trong đất liền xảy ra hầu hết ở các tỉnh đồng bằng ven biển, đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long

- Sạt lở xảy ra nhiều hơn: sạt lở tại các sông, suối trên phạm vi cả nước; sạt

lở bờ biển, ven các đảo do sóng, thuỷ triều, nước biển dâng và dòng hải lưu gây ra; trượt lở đồi núi, sườn dốc, lún, nứt đất

- Hạn hán có xu thế tăng lên, tuy mức độ không đồng đều giữa các vùng Hiện tượng nắng nóng có dấu hiệu gia tăng rõ rệt ở nhiều vùng trong cả nước, đặc biệt là ở Trung Bộ và Nam Bộ

Dưới đây là các loại hình thời tiết cực đoan được phân chia theo vùng ở Việt Nam (Bảng 1.1)

Bảng 1.1: Loại hình thời tiết có liên quan tới hiểm họa tự nhiên

theo vùng ở Việt Nam

Nguồn: Bộ NN&PTNT (2007)

Dưới tác động của BĐKH, thời gian qua ở Việt Nam lượng mưa và phân

bố mưa thay đổi, các hiện tượng khí hậu thời tiết cực đoan gia tăng cả về tần suất, mức độ và quy mô gây ra nhiều tác động tiêu cực, đe dọa nghiêm trọng đến

an ninh lương thực, an ninh sinh thái, gây ra nhiều tổn thất to lớn về người tài

Trang 18

sản, các cơ sở hạ tầng về kinh tế, văn hóa, xã hội và tác động xấu đến môi trường

Lượng mưa và phân bố mưa thay đổi có thể gây lũ lụt nghiêm trọng vào mùa mưa và khô hạn vào mùa khô, tăng mâu thuẫn trong khai thác và sử dụng tài nguyên nước, càng làm trầm trọng thêm vấn đề an ninh tài nguyên nước trong bối cảnh tài nguyên nước ở nước ta đang chịu nhiều áp lực từ các hoạt động phát triển thượng nguồn trong khi lại đang bị ô nhiễm, suy thoái ở nhiều nơi trước áp lực phát triển kinh tế xã hội ngày càng tăng

Nhiệt độ tăng lên ảnh hưởng đến các hệ sinh thái tự nhiên, làm thay đổi nơi

cư trú, cơ cấu tự nhiên của nhiều loài động thực vật, gây nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học cao do nhiều loại bị biến mất hoặc tuyệt chủng Nhiệt độ tăng lên còn tác động trực tiếp đến các lĩnh vực như năng lượng, giao thông vận tải, công nghiệp, xây dựng, du lịch, thương mại, y tế cộng đồng…ví dụ như trong sản xuất nông nghiệp, cơ cấu cây trồng, vật nuôi và mùa vụ có thể bị thay đổi ở một

số vùng, trong đó vụ đông ở miền Bắc có thể bị rút ngắn lại hoặc thậm chí không còn vụ đông, vụ mùa kéo dài hơn; hoặc trong lĩnh vực y tế cộng đồng, nhiệt độ tăng, độ ẩm cao làm gia tăng sức ép về nhiệt đối với cơ thể con người, nhất là người già và trẻ em, làm tăng bệnh tật, đặc biệt là các bệnh nhiệt đới, bệnh truyền nhiễm thông qua sự phát triển của các loài vi khuẩn, các côn trùng

và vật chủ mang bệnh, chế độ dinh dưỡng và vệ sinh môi trường suy giảm… BĐKH làm thay đổi các cực đoan khí hậu Các thiên tai như bão, lũ lụt, lũ quét, sạt lở đất, có tần suất, cường độ, mức độ tác động ngày càng tăng; các đợt rét đậm, rét hại kéo dài gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng như phát sinh các đợt dịch bệnh về tiêu hóa, hô hấp, bệnh truyền nhiễm; hạn hán, xâm nhập mặn còn gây thiếu nước sinh hoạt, ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân, về lâu dài có thể phát sinh các vấn đề xã hội như di dân, xung đột sử dụng nguồn nước khan hiếm

Trang 19

Theo kết quả nghiên cứu nêu trong Báo cáo đặc biệt của Việt Nam về quản

lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với biến

đổi khí hậu (IMHEN, 2015), chỉ tính trong 15 năm (1996 - 2011), các loại thiên

tai như: bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, úng ngập, hạn hán, xâm nhập mặn và các thiên tai khác đã làm thiệt hại đáng kể về người và tài sản, đã làm chết và mất tích hơn 10.711 người, giá trị thiệt hại về tài sản ước tính chiếm khoảng 1,5% GDP/năm Tác động của BĐKH đối với một số ngành, lĩnh vực (thể hiện qua tổn thất tính bằng % GDP cho năm 2010) ước tính vào khoảng 0,5% đối với thủy sản; 0,2% đối với nông nghiệp và năng suất lao động là 4,4% Theo một ước tính khác của Chương trình sáng kiến về tính dễ tổn thương do khí hậu

GDP, thiệt hại do nước biển dâng vào khoảng 1,5%; nắng nóng và giá rét khoảng 0,1%; lũ lụt và trượt lở vào khoảng 0,1%

Theo Kịch bản phát thải trung bình nêu trong Kịch bản BĐKH, nước biển dâng do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm 2012, vào cuối thế kỷ 21 khí hậu Việt Nam có những thay đổi như sau:

- Về nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình tăng từ 2oC đến 3oC trên phần lớn diện tích cả nước, riêng khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị có nhiệt độ trung bình tăng nhanh hơn so với những nơi khác

- Về lượng mưa: Lượng mưa năm tăng trên hầu khắp lãnh thổ, mức tăng phổ biến từ 2% đến 7%, riêng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ tăng ít hơn, dưới 3% Xu thế chung là lượng mưa mùa khô giảm và lượng mưa mùa mưa tăng

- Mực nước biển dâng: Mực nước biển dâng cao nhất ở vùng từ Cà Mau đến Kiên Giang trong khoảng từ 62 cm đến 82 cm, thấp nhất ở vùng Móng Cái trong khoảng từ 49 cm đến 64 cm; trung bình toàn Việt Nam, nước biển dâng trong khoảng từ 57 cm đến 73 cm

Trang 20

1.3 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến tình hình sản xuất nông nghiệp

1.3.1 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến tình hình sản xuất nông nghiệp trên thế giới

Theo dự báo của IPCC (2007), đến năm 2100 nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng thêm từ 1,4oC - 5,8oC Sự nóng lên của bề mặt trái đất sẽ làm băng tan ở hai cực

và các vùng núi cao, làm mực nước biển dâng cao thêm khoảng 90 cm (theo kịch bản cao), sẽ nhấn chìm một số đảo nhỏ và nhiều vùng đồng bằng ven biển

có địa hình thấp BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới: đến năm 2080 sản lượng ngũ cốc có thể giảm

2 - 4%, giá sẽ tăng 13 - 45%, tỷ lệ dân số bị ảnh hưởng của nạn đói chiếm

36 - 50%; mực nước biển dâng cao gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, và gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống KT - XH trong tương lai

Theo số liệu quan trắc mực nước biển trong giai đoạn 1961 - 2003 cho thấy tốc độ tăng của mực nước biển trung bình toàn cầu khoảng 1,8 mm/năm, trong đó đóng góp do giãn nở nhiệt là 0,42 mm/năm và tan băng khoảng 0,7 mm/năm Nhiệt độ ấm lên trong khí quyển sẽ kích thích bốc hơi nước trên bề mặt nước, giãn nở thể tích nước của đại dương, gia tăng ẩm độ không khí dẫn đến vũ lượng gia tăng, băng ở hai cực tan chảy và mực nước biển dâng cao Khác với vùng ôn đới, những loài cây trồng nhiệt đới hiện tại sẽ giảm năng suất tức thì khi nhiệt độ gia tăng vì hiện nay chúng đã được trồng trọt trong điều kiện gần đến giới hạn trên của sự chống chịu nhiệt độ cao Hai vùng sẽ phải chịu đựng sự tác động tiêu cực rộng lớn của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp là Châu Á và Châu Phi Kết quả nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng sản xuất lúa gạo tại châu Á có thể sẽ giảm 4% trong thế kỷ này Ở Ấn Độ, nếu nhiệt

độ không khí gia tăng 2°C, năng suất lúa sẽ giảm 0,75 tấn/ha và tại Trung Quốc năng suất lúa nước trời sẽ giảm từ 5 đến 12% Hơn 40 quốc gia vùng cận Sahara

Trang 21

ở Châu Phi sẽ giảm sản lượng cây lương thực lấy hạt từ 10 đến 20% do BĐKH

(Viện Khoa Học Nông Nghiệp Việt Nam, 2011)

Theo báo cáo của IPCC (2007), trong 100 năm qua nhiệt độ toàn cầu đã tăng 2°C, và sẽ còn tiếp tục tăng vào thế kỷ tới Như một phản ứng dây chuyền, khi nhiệt độ tăng, tốc độ bốc hơi từ đại dương và các mặt sông, hồ sẽ tăng Điều này sẽ ảnh hưởng đến việc hình thành và phân bố các đám mây, thay đổi lượng mưa trên diện rộng Cùng với hiện tượng ô nhiễm không khí, các hóa chất lơ lửng trong bầu khí quyển sẽ làm cho khả năng truyền và tán xạ tia sáng mặt trời giảm sút Trung bình, trái đất hấp thụ khoảng 60% năng lượng mặt trời, 40% còn lại sẽ phản xạ ngược trở lại vũ trụ Nhưng do hiệu ứng nhà kính, lượng nhiệt

mà trái đất hấp thụ sẽ ngày một tăng Bên cạnh đó, lượng mưa và phân bố mưa thay đổi khiến nhiều vùng hạn hán càng trở nên khô hạn trầm trọng trong khi lũ quét và ngập úng xảy ra thường xuyên hơn tại các vùng khác trên thế giới, biến trái đất thành bộ mặt tương phản Do vậy có những cây trồng không phát triển được vì thiếu nước và số khác lại chết vì ngập úng Một điều tra được tiến hành cho thấy khoảng gần 1.000 hồ nước ở Trung Quốc đã biến mất trong suốt 50 năm qua Ngoài ra, nhiệt độ của Ấn Độ Dương tăng cùng với hiện tượng

El Nino là nguyên nhân gây nên hạn hán ở Tây và Nam Phi và khiến lượng mưa

ở những nơi này giảm 25% trong suốt một thập kỷ qua

Trái đất nóng lên đồng nghĩa với việc mở rộng các sa mạc trên diện rộng, đồng thời mực nước biển dâng do tan chảy của những băng hà sẽ nhấn chìm những vùng đất duyên hải, khiến một diện tích lớn đất nông nghiệp biến mất UNDP dự báo, cuộc xâm lăng hành tinh xanh của sa mạc sẽ khiến vùng cận Sahara có thể mở rộng thêm 60 - 90 triệu hecta vào 2060, gây thiệt hại khoảng

26 tỷ USD Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng, đến năm 2100, Mỹ sẽ mất khoảng 5.000 dặm vuông đất khô ráo và 4.000 dặm vuông đất ướt do nước biển dâng Tổ chức FAO cũng thông báo rằng, các nước đang phát triển sẽ mất đi 11% diện tích đất canh tác sử dụng nước mưa vào năm 2080 so với năm 1995 và

Trang 22

65 nước đang phát triển có thể mất tới 280 tấn ngũ cốc, ước tính trị giá khoảng

56 tỷ USD do BĐKH (Đức Phường, 2008) Một yếu tố vật lý khác tác động đến

năng suất cây trồng đó là sự mở rộng của lỗ thủng tầng ôzôn sẽ khiến một lượng lớn bức xạ UV-B chiếu xuống bề mặt trái đất Những loại bức xạ này gây ra những tác hại trực tiếp đối với hệ thực vật và là một trong những nguyên nhân đối với thay đổi sinh quyển Tuy nhiên, những phản ứng của khí hậu không chỉ thể hiện thông qua các tác động vật lý Những nghiên cứu gần đây cho thấy thành phần và tính chất của đất, nước và không khí đang thay đổi mạnh mẽ Những đợt mưa axit tàn phá mùa màng ở Mỹ, Trung Quốc xuất hiện thường xuyên hơn Những vùng đất canh tác nông nghiệp ven biển bị nhiễm mặn nghiêm trọng

Mặc dù con người đã cải tiến công nghệ để tạo nên những công cụ canh tác hiệu quả với mục đích vừa nâng cao năng suất vừa giải phóng sức lao động như hệ thống tưới nước, những mô hình nông nghiệp công nghệ cao trồng cây không đất…, đột phá trong nghiên cứu tạo ra các giống cây trồng biến đổi gen siêu năng suất Nhưng tất cả những nỗ lực đó của con người sẽ bị vô hiệu hóa khi thời tiết đang trở thành chìa khóa quyết định an ninh lương thực toàn cầu

Và không ai khác, những quốc gia nghèo sẽ chịu những tác động nặng nề nhất Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp chiếm 1/3 doanh thu xuất khẩu của hơn 50 quốc gia và cung cấp khoảng một nửa việc làm ở các nước phát triển Đối với những công dân ở các nước nghèo thì sự sinh tồn phụ thuộc hoàn toàn vào gieo trồng Tuy nhiên, công cụ và kỹ thuật canh tác của họ đều rất thô sơ và việc nuôi gia súc cũng chủ yếu là chăn thả cho nên giá trị và sản lượng nông nghiệp và chăn nuôi ở những nơi này là cực kỳ nhạy cảm với những biến đổi của thời tiết Những quan sát và tiên đoán của các mô hình thời tiết chỉ ra rằng, khi trái đất nóng lên khiến thời tiết ở Châu Phi ngày càng bất ổn, lượng mưa giảm nhưng đồng thời tần suất xuất hiện những cơn bão có chiều hướng tăng nhanh từ vài thập niên trở lại đây Theo một điều tra cho thấy, những vùng cận Sahara, tỷ lệ

Trang 23

tăng trưởng kinh tế đi đôi với lượng mưa Bên cạnh đó, tốc độ hóa sa mạc diện rộng đang trở thành những trở lực đối với quá trình xóa đói ở Châu Phi, Trung Quốc và Nam Á Theo báo cáo của IPCC, số người đói ở Châu Phi vùng cận Sahara hiện nay đã vượt qua con số 300 triệu người Dự báo, do tác động của hạn hán, đến năm 2020, năng suất cây trồng ở các vùng đất nông nghiệp ở châu lục này sẽ giảm 10 - 20% Còn đối với Trung Quốc, trong vòng 20 - 80 năm nữa, sản lượng lúa, ngô có thể giảm 37% Rõ ràng, Châu Phi, Đông và Nam Á, Mỹ Latinh

là những khu vực mà nền nông nghiệp dễ bị tổn thương nhất trước những thách thức của BĐKH 3/4 dân số trên thế giới hiện nay sống leo lắt qua ngày chưa đầy

1 USD/ngày chủ yếu tập trung vào những khu vực này Sản lượng lương thực giảm do hạn hán, lụt lội tại những “nồi cơm” của thế giới sẽ dồn thế giới tới tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng, đẩy giá gạo, lúa mì và các mặt hàng nông sản khác lên mức chưa từng thấy Liên Hiệp Quốc cảnh báo, thế giới có thể thiếu

hụt khoảng 80 triệu tấn gạo trong năm tới (Đức Phường, 2008)

1.3.2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến tình hình sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam

Việt Nam là một trong 5 nước sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của BĐKH và nước biển dâng Theo tính toán của các chuyên gia nghiên cứu BĐKH, đến năm 2100, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 30°C và mực nước biển có thể dâng 1 m Theo đó, khoảng 40 nghìn km2 đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập Theo dự đoán của Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), các tác động trên sẽ gây thiệt hại khoảng 17 tỷ đồng mỗi năm và khiến khoảng 17 triệu người không có nhà

Theo nghiên cứu của ngân hàng thế giới (WB) năm 2008, nước ta với bờ biển dài và hai vùng đồng bằng lớn, khi mực nước biển dâng cao từ 0,2 - 0,6 m

sẽ có từ 100.000 đến 200.000 ha đất bị ngập và làm thu hẹp diện tích đất sản xuất nông nghiệp Nước biển dâng lên 1 m sẽ làm ngập khoảng 0,3 - 0,5 triệu ha tại Đồng bằng sông Hồng và những năm lũ lớn khoảng 90% diện tích của Đồng

Trang 24

bằng sông Cửu Long bị ngập từ 4 - 5 tháng, vào mùa khô khoảng trên 70% diện tích bị xâm nhập mặn với nồng độ lớn hơn 4g/l Ước tính Việt Nam sẽ mất đi khoảng 2 triệu ha đất trồng lúa trong tổng số 4 triệu ha hiện nay, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh lương thực Quốc gia và ảnh hưởng đến hàng chục triệu người dân

Ngành trồng trọt sẽ là ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất khi tổng sản lượng sản xuất trồng trọt có thể giảm từ 1 - 5%, năng suất các cây trồng chính có thể giảm đến 10%, đặc biệt đối với sản xuất lúa Nước biển dâng cao làm xâm nhập mặn sâu hơn vào nội địa, có thể làm cho khoảng 2,4 triệu ha đất bị nước biển xâm nhập Và khi mực nước biển dâng cao 1 m thì nhiều diện tích chuyên trồng lúa 2 vụ/năm sẽ không thể sản xuất được do nước mặn tràn vào Thực tế thì hiện nay, tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, mức độ nhiễm mặn trên 0,4% đã lấn sâu vào 30 - 40 km tại một số nơi Diện tích bị mặn trên 0,4% hiện nay là khoảng 1,303 triệu ha Diện tích này sẽ tăng lên 1,493 triệu ha ứng với kịch bản nước biển dâng 0,69 m và 1,637 triệu ha với kịch bản nước biển dâng

1 m

Còn với vùng núi Tây Bắc và Đông Bắc, sẽ phải đối mặt với nguy cơ tăng cường độ hạn hán do biến đổi khắc nghiệt của thời tiết trong những năm tới Tại Bắc Trung Bộ, trong tháng 5 và tháng 6 có thể trở thành các tháng khô nóng thường xuyên như ở Nam Trung Bộ, mưa phùn trở nên hiếm hoi Riêng với khu vực miền Trung, Tây Nguyên, tính bất ổn trong chế độ mưa cũng tăng lên khiến vùng này có khả năng đối mặt với nguy cơ hạn hán bất thường Và sự thực thì thời gian qua, trong vụ Đông Xuân 2012 - 2013, vụ Hè thu năm 2013, vùng này

đã thiếu nước trầm trọng và buộc phải chuyển đổi hàng trăm nghìn ha trồng lúa

sang trồng các loại cây khác (Ngọc Thọ, 2013)

Biến đổi khí hậu làm thay đổi điều kiện sinh sống của các loài sinh vật, dẫn đến tình trạng biến mất của một số loài và ngược lại làm xuất hiện nguy cơ gia tăng các loài thiên địch Trong thời gian 2 năm trở lại đây, dịch rầy nâu,

Trang 25

vàng lùn, lùn xoắn lá ở ĐBSCL diễn ra ngày càng phức tạp ảnh hưởng đến khả năng thâm canh tăng vụ và làm giảm sản lượng lúa Ở miền Bắc trong vụ Đông Xuân năm 2008 sâu quấn lá nhỏ cũng đã phát sinh thành dịch, thời cao điểm diện tích lúa bị hại đã lên đến 400.000 ha, gây thiệt hại đáng kể đến năng suất và làm tăng chi phí sản xuất

BĐKH có thể tác động đến thời vụ, làm thay đổi cấu trúc mùa, quy hoạch vùng, kỹ thuật tưới tiêu, sâu bệnh, năng suất, sản lượng; làm suy thoái tài nguyên đất, đa dạng sinh học bị đe dọa, suy giảm về số lượng và chất lượng do ngập nước và do khô hạn, tăng thêm nguy cơ diệt chủng của động vật, làm biến mất các nguồn gen quý hiếm

Một số loài nuôi có thể bị tác động làm giảm sức đề kháng do biên độ dao động của nhiệt độ, độ ẩm và các yếu tố ngoại cảnh khác tăng lên Sự thay đổi các yếu tố khí hậu và thời tiết có thể làm nảy sinh một số bệnh mới đối với chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy cầm và phát triển thành dịch hay đại dịch

Trên thực tế, sinh kế của hàng chục triệu người Việt Nam đang bị đe dọa với những ảnh hưởng của BĐKH Vấn đề này và những hệ quả của nó đang khiến cho cuộc sống người nghèo và những người cận nghèo Việt Nam ở vùng núi, vùng biển, vùng đồng bằng bị đe dọa Lượng mưa thất thường và luôn biến đổi Nhiệt độ tăng cao hơn, tình hình thời tiết khốc liệt hơn Tần suất và cường

độ của những đợt bão lũ, triều cường tăng đột biến Các dịch bệnh xuất hiện và lan tràn Tình trạng thiếu hụt nước tăng cao Diện tích rừng ngập mặn cũng bị tác động Phân bố rừng nguyên sinh, thứ sinh có thể dịch chuyển Nguy cơ tuyệt chủng các loài động thực vật gia tăng Nguy cơ cháy rừng, phát tán dịch bệnh ngày càng hiển hiện Nguồn thủy, hải sản bị phân tán Riêng việc nước biển dâng cao có thể khiến 22 triệu người Việt Nam mất nhà Một phần lớn diện tích của đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long có thể bị ngập lụt do nước biển dâng

Trang 26

1.4 Biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp

Sự thích ứng với khí hậu là một quá trình qua đó con người làm giảm những tác động bất lợi của khí hậu đến sức khoẻ và đời sống và sử dụng những

cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại

Thuật ngữ thích ứng có nghĩa là điều chỉnh, hoặc thụ động, hoặc phản ứng tích cực, hoặc có phòng bị trước, được đưa ra với ý nghĩa là giảm thiểu và cải thiện những hậu quả có hại của BĐKH

Khả năng thích ứng đề cập đến mức độ điều chỉnh có thể trong hành động, xử lý, cấu trúc của hệ thống đối với những biến đổi dự kiến có thể xảy ra hay thực sự đã và đang xảy ra của khí hậu Sự thích ứng có thể là tự phát hay được chuẩn bị trước, và có thể được thực hiện để đối phó với những biến đổi trong nhiều điều kiện khác nhau

Sự thích ứng còn có nghĩa là tất cả những phản ứng đối với BĐKH nhằm làm giảm tính dễ bị tổn thương Sự thích ứng cũng còn có nghĩa là các hành động tận dụng những cơ hội thuận lợi mới nảy sinh do BĐKH Trong việc đánh giá những tác động của BĐKH, nhất thiết phải kể đến sự thích ứng Cây cối, động vật, và con người không thể tiếp tục tồn tại một cách đơn giản như trước khi có BĐKH nhưng hoàn toàn có thể thay đổi các hành vi của mình Cây cối, động vật, và các hệ sinh thái có thể di cư sang một khu vực mới Con người cũng

có thể thay đổi hành vi để đối phó với những điều kiện khí hậu khác nhau, nếu như cần thiết thì cũng có thể di cư Để thích ứng với BĐKH cần hiểu rõ khái niệm thích ứng, đánh giá các công nghệ và biện pháp khác nhau nhằm phòng tránh những hậu quả bất lợi của BĐKH bằng cách ngăn chặn hoặc hạn chế chúng, bằng cách nhanh chóng tạo ra một sự thích ứng với BĐKH và phục hồi có hiệu quả sau những tác động, hay là bằng cách lợi dụng những tác động tích cực

Trang 27

1.4.1 Biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp trên thế giới

Các nhà lãnh đạo nhiều nước trên thế giới đã đồng tình rằng, BĐKH là một thách thức khẩn cấp và là mối đe dọa tiềm tàng ảnh hưởng đến sinh kế BĐKH hạn chế các lựa chọn cho sự phát triển và những nỗ lực để xóa đói giảm nghèo

và phát triển bền vững Tại hội nghị Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu năm

2014 được tổ chức tại New York với sự tham gia của 125 quốc gia, Tổng Thư

ký Liên hợp quốc Ban Ki - moon nhận định rằng: “BĐKH là vấn đề đã được

xác định trong thời kỳ của chúng ta BĐKH xác định sự tồn tại của chúng ta Phản ứng của chúng ta sẽ xác định tương lai của chúng ta Để giải quyết thách thức này, chúng ta cần cả thế giới cùng hành động” Vì vậy thích ứng và giảm

nhẹ tác động tiêu cực do BĐKH gây ra đã trở thành vấn đề cấp bách, đòi hỏi sự tham gia của tất cả cộng đồng thế giới

Trong canh tác, các hệ thống có thể được biến đổi theo nhiều cách để quản lý một cách hiệu quả hơn những nguy cơ BĐKH và khí quyển được dự báo Những phương

án bao gồm:

- Thay đổi các yếu tố đầu vào như giống cây trồng và các loài đối với những loài có yêu cầu về thời gian nhiệt và xuân hoá thích hợp hơn (ví dụ, nhu cầu về mùa đông lạnh) và có sức đề kháng tăng cao với sốc nhiệt và hạn hán, biến đổi lượng phân bón để duy trì chất lượng hạt và quả; biến đổi lượng và thời điểm tưới tiêu và các hoạt động quản lý nước khác

- Cải thiện công tác quản lý nước thông qua việc sử dụng công nghệ để “thu hoạch” nước, duy trì độ ẩm đất (ví dụ, thông qua việc duy trì các chất dư thừa của cây trồng) sử dụng và vận chuyển nước một cách hiệu quả hơn; cũng như ngăn ngừa hiện tượng ngập nước, xói mòn, trôi đi chất dinh dưỡng và trầm tích xảy ra do những trận mưa có lượng mưa cực lớn

- Thay đổi thời gian hoặc địa điểm của các hoạt động trồng trọt

Trang 28

- Đa dạng hoá chiến lược sinh kế bao hàm thu nhập từ các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp khác

- Cải thiện hiệu quả của các hoạt động quản lý thiên địch, bệnh dịch và cỏ dại thông qua sử dụng rộng hơn công tác quản lý thiên địch và mầm bệnh thích hợp, phát triển và sử dụng các giống và các loài có sức đề kháng với thiên địch và bệnh dịch; và duy trì hoặc cải thiện các năng lực kiểm dịch và các chương trình giám sát

- Sử dụng các công cụ dự báo thời tiết để làm giảm rủi ro sản xuất

Các mô hình sinh thái cung cấp một công cụ hữu ích để định lượng các tác động của BĐKH và hiệu quả của các chiến lược thích ứng Tổng hợp các mô phỏng

tác động BĐKH của Báo cáo AR4 (IPCC, 2007), trong đó trình bày về các cây ngũ

cốc chính như lúa mì, lúa gạo và ngô sinh trưởng ở một loạt các vùng khí hậu nông nghiệp và các phương án quản lý, cho thấy những ích lợi của việc thích nghi thay đổi theo các giống cây trồng, biến đổi nhiệt độ và lượng mưa Ví dụ, các ích lợi tiềm năng của việc thích ứng quản lý đối với cây lúa mì là giống như nhau ở các hệ ôn đới

và nhiệt đới (17,9% so với 18,6%), trong khi đó ích lợi đối với cây lúa và ngô tương đối nhỏ hơn so với lúa mì, ở mức 10% Những cải tiến đối với sản lượng này được chuyển hoá thành việc tránh sự thiệt hại của việc tăng từ 1 - 2oC ở các vùng ôn đới

và từ 1,5 - 3oC ở các vùng nhiệt đới, có thể làm trì hoãn các tác động tiêu cực tới nhiều thập kỷ Hầu hết các ích lợi của thích nghi có xu hướng chung là có thể đạt được trong phạm vi độ ấm vừa phải (chưa tới 2°C), lợi ích gần như không có với những biến đổi ngày càng tăng ở nhiệt độ trung bình Các ích lợi sản lượng nhờ thích ứng có xu hướng đạt lớn hơn ở các kịch bản có lượng mưa tăng hơn so

với lượng mưa giảm (Cục Thông Tin Và Khoa Học Công Nghệ Quốc Gia,

2013)

Trong nông nghiệp sử dụng nhiều phân bón hữu cơ để giảm phát thải khí metan rất nhiều Đôi khi những thay đổi tưởng như tầm thường lại có thể giúp được người dân đối phó được với tai họa tiềm tàng Chẳng hạn tại các vùng thường xuyên ngập lụt, tổ chức Hợp tác xã cho việc gửi hàng Mỹ sang châu Âu

Trang 29

(CARE) đã dạy cho người dân chuyển từ nuôi gà sang nuôi vịt ví dụ: phụ nữ

Bangladesh chuyển từ nuôi gà sang nuôi vịt (Trích báo cáo của CARE, tổ chức

nhân đạo chống nghèo khổ lớn nhất thế giới trình bày tại hội nghị chuẩn bị cho Hội nghị thượng đỉnh Liên Hiệp Quốc về BĐKH họp vào tháng 12/2009) Tại

những vùng khác lại cần chuyển đổi cả các giống cây trồng, từ những cây lương thực chỉ trồng trên cạn sẽ được thay thế bằng những cây trồng chịu nước hoặc ngược lại Với các biện pháp ấy, dù khí hậu thay đổi thất thường, lụt hoặc hạn, người ta sẽ không bị mất trắng cả một vụ thu hoạch

Chính phủ Bangladesh đã cho xây dựng gần 2.000 khu nhà tránh bão ở vùng duyên hải, khoảng 200 khu nhà tránh lũ lụt trên nền đất cao cho những người bị đe doạ bởi bão và ngập lụt Khoảng 3.931 km đê bao vùng ven biển đã được xây dựng qua các năm nhằm bảo vệ đất khỏi bị nhiễm mặn do thuỷ triều và nước dâng do bão

và đào thêm 4.774 km hệ thống kênh thoát nước Chính phủ cũng đã thực hiện Dự

án Vành đai Xanh ở các vùng ven biển với sự tham gia của cộng đồng địa phương Chương trình tái trồng rừng này nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng bất lợi của thiên nhiên, nhất là các ảnh hưởng do bão và nước dâng, đồng thời cải thiện sinh kế cho người dân địa phương Nền nông nghiệp thích nghi với ngập lụt được thúc đẩy thông qua nghiên cứu các giống lúa chịu mặn; lắp đặt hệ thống ống dùng cho tưới tiêu gần mặt đất nhằm giảm tác động của độ mặn…

Chiến lược Quốc gia thích ứng với BĐKH của Trung Quốc năm 2007 nêu

rõ mục tiêu chiến lược của Trung Quốc về đối phó với BĐKH trong nông nghiệp Thứ nhất, tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp, tiếp tục mở rộng trình diễn các hệ thống tưới tiêu tiết kiệm nước Cải thiện các hệ thống tưới tiêu và thoát nước Kiểm soát và khôi phục các diện tích canh tác có năng suất trung bình - thấp do nhiễm mặn và nhiễm phèn tại các khu vực sản xuất ngũ cốc chủ yếu Thứ hai, thay đổi, điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp và các hệ thống canh tác, chọn lọc, nuôi trồng, nhân giống các loại cây trồng có khả năng chịu hạn,

Trang 30

chịu mặn, nhiệt độ cao Thứ ba, thúc đẩy nghiên cứu và triển khai các công nghệ mới, công nghệ sinh học

1.4.2 Biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam

Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cao Đức Phát (2013), trong những năm qua, ở Việt Nam, việc phát thải khí nhà kính từ nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao trên 43%; trong đó canh tác lúa nước gần 58%,

sử dụng đất nông nghiệp chiếm 22%, chăn nuôi và chất thải chăn nuôi chiếm 12% Nhằm đối phó với tình trạng này, trong giai đoạn từ năm 2008 - 2012, Việt Nam đã triển khai nhiều biện pháp nhằm góp phần hạn chế sự gia tăng tốc độ BĐKH toàn cầu, thúc đẩy phát triển nền nông nghiệp xanh và bền vững

Cụ thể, một loạt các chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với nước biển dâng và BĐKH như xây dựng giải pháp quy hoạch đảm bảo 3,8 triệu ha diện tích đất lúa, trong đó 3,2 triệu ha đất canh tác 2 vụ, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; thúc đẩy quy trình VietGAP trong chăn nuôi; cải tiến kỹ thuật và công nghệ trong hoạt động khai thác thủy hải sản; đẩy mạnh trồng rừng, phục hồi rừng, xúc tiến tái sinh và làm giàu từ rừng

Các bộ ngành cũng đã quy hoạch chống ngập cho các thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Cần Thơ, Cà Mau và Hải Phòng Nhiều biện pháp lồng ghép BĐKH và nước biển dâng được lồng ghép vào chương trình nâng cấp đê biển từ Quảng Ninh đến Quảng Nam và từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang trong nỗ lực phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai từ BĐKH

Theo số liệu của Bộ NN&PTNT, tính chung giai đoạn 2008 - 2012, đã có 567,7 triệu USD dành cho các dự án chống chọi lại BĐKH Trong đó, hầu hết đều được tài trợ bởi các đối tác quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Tổ chức Nông lương Quốc tế của Liên Hiệp Quốc (FAO), Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP), Chương

Trang 31

trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP), Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa

Kỳ (USAID), chính phủ Úc, Đức và Na Uy…

Nhận thức rõ ảnh hưởng của BĐKH, để nâng cao khả năng thích ứng với BĐKH bảo đảm phát triển bền vững lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành ‘‘Khung chương trình hành động thích ứng với BĐKH của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2008 - 2020’’, trong đó chú trọng đến: bảo đảm ổn định, an toàn dân cư cho các thành phố, các vùng, miền, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Bắc Bộ, miền Trung, miền núi; bảo đảm sản xuất nông nghiệp ổn định, an ninh lương thực; bảo đảm 3,8 triệu ha canh tác lúa hai vụ; bảo đảm an toàn hệ thống đê điều, các công trình dân sinh, hạ tầng kinh tế kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai

Theo Ông Đinh Vũ Thanh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2015), ngoài các giống lúa thích ứng với điều kiện thâm canh, nước ta cũng đã có các bộ giống lúa thích ứng với điều kiện úng ngập úng: U17, U20, U21 của Viện Cây lương thực, cây thực phẩm, các giống chịu mặn như M6, bàu tép; các giống chịu phèn như Tép lai; các giống chịu hạn: CH2, CH3, CH5, CH133 của Viện Cây lương thực, thực phẩm; các giống thuộc sê-ri LC của Viện Khoa học nông nghiệp Miền Nam và Viện Bảo vệ thực vật Những giống này chưa nhiều nhưng sẽ là tiền đề để các nhà chọn giống tiếp tục nghiên cứu, lai tạo ra những giống thích ứng với các điều kiện của BĐKH như giống lúa có khả năng chịu mặn, chịu hạn, chịu ngập lụt Bên cạnh các giải pháp và công nghệ canh tác ở vùng khô hạn và sa mạc hóa, nhiều nơi cũng đã nghiên cứu tuyển chọn những cây giống khỏe chịu khô hạn khác như: điều, ca cao, ôliu, các cây nông nghiệp ngắn ngày: hành tím, khoai lang, sắn, đậu, mía,… các cây ăn quả đan xen: thanh long, xoài, mãng cầu xiêm, một vài loại rau, ớt cũng được tuyển chọn đã chịu được hạn

Trang 32

Nước ta có điều kiện tuyệt vời để né biển dâng nước ngập là sử dụng đất đồi núi để phát triển nhiều loại công - nông - lâm nghiệp trong những điều kiện đất, nước khác nhau, như: cao su, cây dừa, cây cọ dầu ; cây ăn trái, cây xa kê, cây hạt dẻ Để tăng sức sản xuất của vùng có nhiều loại đất nghèo, vấn đề phủ đất chống

xói mòn bằng cây họ đậu đỗ cần đặc biệt chú ý (Vũ Thế Tường, 2015)

Trong phương thức sản xuất nông nghiệp, cơ cấu và hệ thống cây trồng, vật nuôi cần được tổ chức, sắp xếp lại Với ảnh hưởng của BĐKH, mùa sinh trưởng của cây trồng sẽ kéo dài Ngoài ra, mùa khô hạn sẽ kéo dài và xuất hiện sớm hơn Do đó, thời vụ gieo trồng cũng sẽ phải được nghiên cứu, sắp xếp lại cho phù hợp với điều kiện khí hậu ấm lên

Trong hoạt động sản xuất lúa, nội bộ đất trồng lúa bao gồm: đất trồng lúa nước và đất trồng lúa nương Diện tích đất trồng lúa đã và đang có sự biến động, cần được bố trí lại nhằm khai thác hiệu quả đất nông nghiệp và thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.Với việc phát triển của khoa học nông nghiệp, công tác dự báo và lên lịch mùa vụ hiện tại khá phù hợp với sự biến đổi của thời tiết Tuy nhiên, tại các khu vực sản xuất lúa ven biển cần chú ý thêm là vụ mùa cần xuống giống sớm nhằm né mặn ở đầu vụ và vụ Hè thu cần gieo trồng muộn nhằm né mặn cuối vụ

Ngoài cây lúa, các giống cây hoa màu đã được trồng trên các diện tích đất cát và đất phù sa, phá thế độc canh của cây lúa trước đây Các mô hình sản xuất kết hợp hiệu quả cần nhân rộng như: mô hình đa canh tổng hợp lúa - cá - màu ở vùng ngọt, mô hình sản xuất đa canh lúa - tôm trong vùng nhiễm mặn, bồi dục vườn cây ăn quả chất lượng, nghiên cứu ứng dụng mô hình hệ thống lúa cải tiến, xây dựng vùng sản xuất rau an toàn… Từ đó mang lại hiệu quả sản xuất cho nông dân ngày càng tăng, từng bước hình thành các vùng sản xuất tập trung Ngoài ra, trước ảnh hưởng của BĐKH, thiếu nước do hạn hán cần được tính toán và lường trước, đối với những khu vực trồng lúa thiếu nước tưới còn

có thể chuyển sang trồng các loại cây có khả năng chịu hạn cao như: ngô, đậu

Trang 33

tương, mía, đậu đỗ và cỏ dùng trong chăn nuôi Đối với khu vực bị nhiễm mặn nặng có thể chuyển diện tích lúa, hoa màu sang quy hoạch thành các vùng nuôi tôm chuyên canh, đặc biệt là các khu vực ven biển Đối với những địa phương bị ngập úng vùng nội đồng thường xuyên và có nguy cơ ngập vào mùa mưa thì phải có kế hoạch bố trí mùa vụ né tránh, chuyển đổi cây trồng vật nuôi: không nhất thiết phải cải tạo vùng trũng để trồng lúa, có thể chuyển một số diện tích trồng lúa một vụ kém hiệu quả sang nuôi cá và thủy sản khác, đặc biệt là giảm diện tích trồng lúa - nơi mà tiêu nước úng không hiệu quả và tốn kém để thích ứng với tình trạng ngập úng gia tăng trong tương lai Dưới đây là các giải pháp thích ứng với BĐKH trong trồng trọt ở Việt Nam do Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường soạn thảo hướng dẫn (Bảng 1.2)

Trang 34

Bảng 1.2: Các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong lĩnh vực trồng trọt

Thay đổi loại cây trồng truyền thống tại mỗi vùng, gia tăng vùng cây trồng nhiệt đới

Nhiệt độ thay đổi

(gia tăng vào

mùa hè, giảm vào

mùa đông)

Dịch bệnh có điều kiện phát triển trong điều kiện nóng ẩm cao hơn làm giảm năng suất cây trồng

- Nghiên cứu các giống cây trồng có khả năng thích ứng được với sự thay đổi nhiệt độ và có khả năng kháng dịch bệnh cao hơn

Gây ngập lụt làm giảm diện tích canh tác Nguy cơ xói lở, bạc màu các vùng đất nông nghiệp

- Sử dụng có hiệu quả đất canh tác, sử dụng các loại luống, liếp, trồng trên giàn, trồng thủy sinh…

- Tăng cường hiệu quả công tác quy hoạch ngành trồng trọt

Giảm năng suất các loại cây trồng không ưa nước, làm tăng nhu cầu chuyển đổi giống cây trồng

Làm thiệt hại và giảm năng suất do mưa lớn thất thường xảy ra vào thời điểm ra hoa – kết quả

Mưa lớn thất thường gây ngập úng kéo dài và thiệt hại mùa màng

Đất và nước bị mặn xâm nhập làm ảnh hưởng đến các loại cây trồng

Làm thay đổi mùa vụ, ảnh hưởng đến an ninh lương thực

Thay đổi

lượng mưa,

nước biển dâng

Làm gia tăng dịch bệnh, sâu bệnh ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng

- Nâng cao nhận thức cho người nông dân về các tác động của biến đổi khí hậu và các giải pháp thích ứng

- Lồng ghép thích ứng với biến đổi khí hậu vào các

kế hoạch, quy hoạch, chính sách của ngành nông nghiệp

- Nghiên cứu giống cây trồng chịu nước và dịch bệnh, có năng suất cao

- Nghiên cứu các công nghệ sinh học, phân bón và khả năng trồng linh hoạt

- Nghiên cứu chuyển đổi thời vụ của các loại cây trồng dễ bị tác động

- Hình thành các chính sách xã hội hỗ trợ cho người làm nông nghiệp

- Xây dựng hệ thống đê bao ngăn nước, ngăn mặn

Nguồn: Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (2011)

Trang 35

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Xu hướng của biến đổi khí hậu và tình hình sản xuất lúa tại huyện Đô Lương - tỉnh Nghệ An

2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: từ tháng 01/2016 đến tháng 05/2016

- Phạm vi nghiên cứu về không gian: toàn bộ diện tích đất trồng lúa ở 2

xã Văn Sơn, xã Giang Sơn Đông trên địa bàn huyện Đô Lương - tỉnh Nghệ

An

Hình 2.1: Bản đồ huyện Đô Lương

Nguồn: Cổng thông tin điện tử huyện Đô Lương – tỉnh Nghệ An (2013)

- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa, số cơn bão, số giờ nắng, số ngày nắng nóng,

Trang 36

nắng nóng gat gắt, số ngày rét đậm, rét hại) tới sản xuất lúa (năng suất, diện tích canh tác, giống lúa, lịch thời vụ)

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Diễn biến khí hậu tại huyện Đô Lương - tỉnh Nghệ An trong 50 năm trở lại đây

- Hiện trạng sản xuất lúa và năng suất lúa tại điểm nghiên cứu

- Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu sản xuất lúa tại điểm nghiên cứu

- Các biện pháp thích ứng trong sản xuất lúa tại tại điểm nghiên cứu

- Đề xuất các giải pháp thích ứng nhằm giảm thiểu tác động bất lợi của biến đổi khí hậu trong sản xuất lúa

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp

- Thu thập thông tin về đặc điểm khí tượng của huyện Đô Lương - tỉnh Nghệ An Những số liệu khí tượng liên quan trực tiếp đến sản xuất lúa như: nhiệt

độ, lượng mưa, số cơn bão, số giờ nắng, số ngày nắng nóng, nắng nóng gay gắt,

số ngày rét đậm, rét hại tại Trung tâm Khí tượng thủy văn tỉnh Nghệ An

- Thu thập số liệu thống kê về hiện trạng canh tác lúa (năng suất, diện tích canh tác, giống lúa, lịch thời vụ) trong giai đoạn 2010 - 2015 từ số liệu thống kê hàng năm của Tổng cục Thống kê, các báo cáo phát triển kinh tế - xã hội trong năm tại địa phương

- Qua Internet để thu thập thêm các số liệu thống kê về biến đổi khí hậu và diện tích đất canh tác, năng suất lúa hiện nay của Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc các cơ quan thống kê khác

- Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài để thu thập thêm những số liệu có liên quan

Trang 37

2.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp

- Điều tra bảng hỏi: nhằm thu thập số liệu thực tế về hiện trạng canh tác lúa và những tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp Số lượng phiếu 72 phiếu, mỗi xã 36 phiếu Lựa chọn hai xã điển hình có khoảng cách địa địa lý và nguồn nước sử dụng cho tưới tiêu khác nhau để tiến hành điều tra Xã Văn Sơn sử dụng nước từ trạm bơm Văn Tràng, xã Giang Sơn Đông sử dụng nước từ hồ đập

- Đối tượng: cán bộ và người dân tại địa phương nơi tiến hành điều tra Người dân tham gia phỏng vấn được chọn ngẫu nhiên theo danh sách gồm cả

hộ giàu, nghèo, giới tính nam, nữ ở các độ tuổi khác nhau

- Cách chọn hộ phỏng vấn: chia đều số lượng phiếu theo từng thôn trong xã Sau đó, chọn theo phương pháp ngẫu nhiên

- Khảo sát hiện trường: nhằm quan sát, chụp ảnh để nắm rõ hơn hiện trạng, các vấn đề nổi bật tại địa bàn được khảo sát

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu

- Sử dụng phương pháp thống kê để xử lý số liệu: Sử dụng phần mền Excel để tính toán các giá trị của biến số, xử lý thống kê và xây dựng các bảng biểu phân tích số liệu

Trang 38

Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Đô lương là một huyện đồng bằng nằm về phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An Toàn huyện có 32 xã và 1 thị trấn với tổng diện tích tự nhiên 35.008 ha, dân

số có 199.820 người tính đến năm 2013 Về ranh giới, phía Bắc giáp huyện Tân Kỳ, Anh Sơn Phía Nam giáp huyện Nam Đàn, Nghi Lộc Phía Đông giáp huyện Yên Thành Phía Tây giáp huyện Anh Sơn, Thanh Chương Là nơi tiếp giáp giữa các huyện đồng bằng với các huyện miền núi tạo thành ngã tư kinh

tế với 3 tuyến giao thông quan trọng: đường 7A, 15A và đường 46 tại thị trấn

Đô Lương, vùng cầu Tiên và Ba ra Đô Lương, trở thành một trung tâm kinh

tế - văn hoá, thương mại có nhiều tiềm năng, triển vọng phát triển kinh tế và không gian đô thị có tầm cỡ một thị xã trong tương lai

Đất đai và địa hình

Là một huyện có địa hình phức tạp vừa có đồng bằng vừa có miền núi, vừa có vùng ven sông, vừa có vùng bán sơn địa Mỗi vùng có những đặc điểm sinh thái riêng tạo nên một nền nông nghiệp đa dạng

Theo số liệu thống kê, kiểm kê đất đai, tính đến năm 2013, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 35.008 ha được phân bố tại 33 xã và thị trấn, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 26.152 ha chiếm 74,7% diện tích đất tự nhiên, đất phi nông nghiệp 7.788 ha chiếm 22,3% diện tích đất tự nhiên; đất chưa qua sử dụng là 1.070 ha chiếm 3% diện tích đất tự nhiên (Hình 3.1)

Trang 39

Hình 3.1: Hiện trạng sử dụng đất huyện Đô Lương năm 2013

Nguồn: Phòng NN&PTNT (2013) Khí hậu và thủy văn

Đô Lương có chế độ khí hậu phức tạp mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, nhiệt độ bình quân trong năm là 23,8oC, lượng mưa bình quân là 1.789 mm song chỉ tập trung vào 3 tháng (từ tháng 8 đến tháng 10 trên 1.000 mm, chiếm 60% lượng mưa cả năm), chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô và nóng về mùa hè và gió mùa Đông Bắc về mùa đông

Khí hậu Đô Lương được chia làm hai mùa rõ rệt là mùa nóng và mùa lạnh Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 Mùa này thời tiết rất nóng nực, nhiệt độ trung bình là 27 - 28oC nhưng có khi lên đến 40oC Mùa lạnh thường bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Đặc điểm của mùa này là khô và lạnh Trong các tháng mùa đông, các điều kiện thời tiết như sương mù hoặc bầu trời u ám nặng, kèm theo mưa phùn nhẹ là phổ biến và có thể kéo dài đến nhiều ngày liên tục Đây là một vùng có khí hậu rất khắc nghiệt Hằng năm thường có nhiều trận bão, lũ lụt, mưa lớn gây thiệt hại không nhỏ về người cả và tài sản

Trang 40

Đô Lương có dòng sông Lam chảy qua địa phận dài 20 km, sông Đào

9 km và hệ thống sông Khuôn là nguồn cung cấp nước chính cho sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên trên địa bàn huyện thường xảy ra lũ lụt ở 7 xã dọc theo sông Lam, tình hình sạt lở đất vẫn xảy ra nhiều trong mùa mưa, đặc biệt

là những năm gần đây diện tích đất nông nghiệp mất do sạt lở tương đối lớn

Các nguồn tài nguyên

Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 35.008 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm gần 74,7% tổng diện tích Do địa hình phức tạp nên tài nguyên đất của huyện khá phong phú bao gồm: đất phù sa, đất vàng đỏ, đất xám vàng

Bên cạnh đó Đô Lương có các khoáng sản trữ lượng lớn như đá vôi, cát sạn, đất sét, sứ và cao lanh… đây cũng là một thế mạnh đã được các cơ quan

có chức năng khai thác nhằm thúc đẩy sự phát triển của huyện nhà

Có nhiều sông ngòi chảy qua nên tài nguyên nước của huyện rất dồi dào phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, tưới tiêu cho nông nghiệp, giao thông đường sông

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Dân số và lao động

Theo thống kê đến năm 2013 dân số huyện Đô Lương là 199.820 người Dân số của huyện phân bố không đều ở các xã, thị trấn, mật độ dân số bình quân là 571 người/km2 Đô Lương có nguồn lao động dồi dào, dân số thuộc độ tuổi lao động là 105.726 người chiếm khoảng 53% tổng dân số

Kinh tế - xã hội

Với những tiềm năng và thế mạnh sẵn có, Đô Lương đang tiếp tục phấn đấu xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị ngang tầm với nhiệm vụ đẩy mạnh CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn và có bước đột phá mới, bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả bền vững Đến năm 2015, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 9,6%, thu nhập bình quân đầu người ước đạt hơn

Ngày đăng: 01/08/2017, 11:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Bản đồ huyện Đô Lương - Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất lúa tại huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Hình 2.1 Bản đồ huyện Đô Lương (Trang 35)
Hình 3.1: Hiện trạng sử dụng đất huyện Đô Lương năm 2013 - Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất lúa tại huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Hình 3.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Đô Lương năm 2013 (Trang 39)
Hình 3.2: Diễn biến và xu thế nhiệt độ trung bình năm huyện Đô Lương - Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất lúa tại huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Hình 3.2 Diễn biến và xu thế nhiệt độ trung bình năm huyện Đô Lương (Trang 45)
Hình 3.3: Diễn biến của nhiệt độ trung bình tối cao, nhiệt độ trung bình - Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất lúa tại huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Hình 3.3 Diễn biến của nhiệt độ trung bình tối cao, nhiệt độ trung bình (Trang 46)
Hình 3.4: Diễn biến và xu thế tổng lượng mưa trong năm - Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất lúa tại huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Hình 3.4 Diễn biến và xu thế tổng lượng mưa trong năm (Trang 47)
Hình 3.5: Diễn biến và xu thế tổng lượng mưa tháng 1 và tháng 8 huyện - Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất lúa tại huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Hình 3.5 Diễn biến và xu thế tổng lượng mưa tháng 1 và tháng 8 huyện (Trang 48)
Hình 3.6:  Diễn biến và xu thế số giờ nắng trong năm huyện Đô Lương - Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất lúa tại huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Hình 3.6 Diễn biến và xu thế số giờ nắng trong năm huyện Đô Lương (Trang 50)
Hình 3.7: Diễn biến và xu thế số ngày nắng nóng, nắng nóng gay gắt - Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất lúa tại huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Hình 3.7 Diễn biến và xu thế số ngày nắng nóng, nắng nóng gay gắt (Trang 52)
Hình 3.8: Diễn biến và xu thế số ngày rét đậm, rét hại - Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất lúa tại huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Hình 3.8 Diễn biến và xu thế số ngày rét đậm, rét hại (Trang 53)
Hình 3.9: Tổng diện tích và năng suất lúa cả năm  huyện Đô Lương giai đoạn 2010 - 2015 - Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất lúa tại huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Hình 3.9 Tổng diện tích và năng suất lúa cả năm huyện Đô Lương giai đoạn 2010 - 2015 (Trang 56)
Hình 3.11: Diện tích và năng suất lúa vụ Xuân (a) và vụ Hè thu (b) - Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất lúa tại huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Hình 3.11 Diện tích và năng suất lúa vụ Xuân (a) và vụ Hè thu (b) (Trang 57)
Bảng 3.5: Diện tích nhiễm một số sâu bệnh hại điển hình trên cây lúa - Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất lúa tại huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Bảng 3.5 Diện tích nhiễm một số sâu bệnh hại điển hình trên cây lúa (Trang 66)
Hình 3.12: Tần suất phun thuốc BVTV 5 năm trước và hiện nay - Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất lúa tại huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Hình 3.12 Tần suất phun thuốc BVTV 5 năm trước và hiện nay (Trang 67)
Hình 3.10: Nhận thức của người dân về BĐKH tại huyện Đô Lương - Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất lúa tại huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Hình 3.10 Nhận thức của người dân về BĐKH tại huyện Đô Lương (Trang 72)
Hình 3.13: Diện tích NTTS huyện Đô Lương - Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến hoạt động sản xuất lúa tại huyện đô lương, tỉnh nghệ an
Hình 3.13 Diện tích NTTS huyện Đô Lương (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w