Tuy nhiên, bởi vì báo cáo tài chính củanhiều doanh nghiệp không được kiểm toán và chấp nhận, các nhà phân tích khi sửdụng các báo cáo tài chính này thường không đảm bảo về mức độ chính x
Trang 13 – ĐGDN chi u ch nh t ều chủ nhật ủ nhật ật CHƯƠNG 4
PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Trang 2NỘI DUNG
1 PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 2
2 KHOẢNG THỜI GIAN ĐƯỢC SỬ DỤNG 3
3 BÁO CÁO TÀI CHÍNH THƯỜNG ĐƯỢC TRÌNH BÀY DẠNG CỘT 3
4 ĐIỀU CHỈNH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 6
5 CHUẨN HÓA BÁO CÁO TÀI CHÍNH 6
6 CÁC KHOẢN MỤC KHÔNG THÔNG THƯỜNG, KHÔNG THƯỜNG XUYÊN VÀ BẤT THƯỜNG 7
7 KHOẢN MỤC PHI KINH DOANH 8
8 NHỮNG THAY ĐỔI TRONG NGUYÊN TẮC KẾ TOÁN 8
9 KHÔNG PHÙ HỢP VỚI GAAP 9
10 THUẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NHẬP CÁC DOANH NGHIỆP TIỂU CHƯƠNG S VÀ CÁC ĐIỀU CHỈNH KHÁC 9
11 MỨC ĐỘ CỦA QUYỀN SỞ HỮU 10
12 CÁC ĐIỀU CHỈNH CHUẨN HÓA 11
13 BÁO CÁO TÀI CHÍNH CHUẨN HÓA THÔNG THƯỜNG 17
14 PHÂN TÍCH TỶ LỆ 25
15 PHÂN TÍCH SO SÁNH 26
16 PHÂN TÍCH RỦI RO (PHÂN TÍCH CHẤT LƯỢNG) 29
17 PHÂN TÍCH CẤU TRÚC NGÀNH – MÔ HÌNH PORTER 30
Tiến hành trong ngành-Mô hình McKinsey 7-S 31
Mô hình DuPont 32
Phân tích S.W.O.T 33
Những mối quan tâm khác về Phân tích rủi ro Công ty 34
18 PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ 35
PHỤ LỤC 1- CÁC TỶ LỆ TÀI CHÍNH THƯỜNG ĐƯỢC SỬ DỤNG: ÁP DỤNG CHO ALE’S 36
1
Trang 3nternet phát triển đã làm cho khả năng thu thập, khai thác và phổ biến thông tintăng cao Những thông tin chỉ dành cho các chuyên gia, giờ đây đã được phổ biếnrộng rãi, gần như ngay khi thông tin được công bố Tính khả dụng và khả năng tiếpcận nhanh của tất cả các dữ liệu này cung cấp cho các nhà phân tích một công cụ mởrộng để có được cái nhìn sâu hơn về những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và tháchthức của một công ty hay một nhóm ngành nhất định.
Do lượng dữ liệu có sẵn rất nhiều, các nhà phân tích cần có một thước đo thu nhậpcủa một doanh nghiệp cụ thể Các nhà phân tích cũng phải cố gắng xác định nhữngyếu tố làm tăng hay giảm lợi nhuận của doanh nghiệp trong tương lai gần; nghĩa là họphải đánh giá rủi ro doanh nghiệp theo chiều sâu Do đó, một phân tích đưa ra mộtđịnh giá hợp lý phải bao gồm những yếu tố quan trọng sau:
Ước tính lợi ích kinh tế trong tương lai (chuẩn hóa và dự báo dòng tiền trongtương lai)
Nhận diện và đánh giá rủi ro mà doanh nghiệp sẽ gặp phải ảnh hưởng đến lợinhuận trong tương lai
Chương này trình bày về các phương pháp thường được dùng để phân tích tàichính của một doanh nghiệp, thường có năm bước:
1 Lập báo cáo tài chính
2 Chuẩn hoá báo cáo tài chính
3 Tính các tỷ số tài chính
4 Phân tích tỷ số tài chính
5 So sánh với các công ty cùng ngành
1 PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Báo cáo tài chính của công ty thường cung cấp những thông tin đáng tin cậy đểđánh giá hoạt động và nhận diện những rủi ro trong tương lai Báo cáo tài chính(BCTC) đã được kiểm toán thì đáng tin cậy hơn BCTC được chấp nhận, tuy khôngcung cấp mức độ đảm bảo cho việc kiểm toán, nhưng nhìn chung vẫn đáng tin cậy vìchúng được chuẩn bị theo Nguyên tắc Kế toán Được chấp nhận Chung (GAAP) baogồm những chú thích và phụ lục bổ sung Tuy nhiên, bởi vì báo cáo tài chính củanhiều doanh nghiệp không được kiểm toán và chấp nhận, các nhà phân tích khi sửdụng các báo cáo tài chính này thường không đảm bảo về mức độ chính xác và thườngkhông có báo cáo thuyết minh Trong các trường hợp khác, nhà phân tích có thể phảidựa vào các báo cáo thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc các báo cáo tài chính nội bộ,gây khó khăn cho việc phân tích báo cáo tài chính một cách hợp lý
2
I
Trang 4Nhà phân tích CPA phải đặc biệt quan tâm để đặt kỳ vọng trong cả thư cam kết
và báo cáo định giá về mức độ phản ứng giả định về các báo cáo tài chính được trình bày trong báo cáo vì các tiêu chuẩn kế toán cho các chứng nhận, đánh giá và biên soạn.
2 KHOẢNG THỜI GIAN ĐƯỢC SỬ DỤNG
Một phân tích trải dài năm năm của báo cáo tài chính lịch sử nhìn chung được coi
là đủ để xác định những xu hướng xảy ra trong kinh doanh Giai đoạn năm năm nàyđược gợi ý trong Quy chế Doanh thu 59-60 cho các báo cáo kết quả kinh doanh (hainăm cho bảng cân đối kế toán) và thường được sử dụng Tuy nhiên, các báo cáo tàichính có thể trải dài nhiều năm hoặc ít hơn năm năm nếu chu kỳ kinh doanh của công
ty không trùng với khung thời gian 5 năm hoặc nếu những chỉ số trong những nămtrước đó không liên đới với nhau hoặc có sẵn
3 TRÌNH BÀY BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Thông thường, bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh trong giai đoạnđược lựa chọn được đặt cạnh nhau theo kiểu cột Định dạng này cho phép nhà phântích so sánh doanh nghiệp với chính nó trong giai đoạn này (so sánh hàng ngang) và
để phát hiện các xu hướng hoặc để xác định những bất ổn trong tình hình tài chính củadoanh nghiệp Định dạng này cũng cho phép nhà phân tích hợp nhất dữ liệu của công
Trang 74 ĐIỀU CHỈNH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Một trong những mục tiêu của việc phân tích tài chính là đảm bảo rằng các báo cáotài chính có thể cung cấp cơ sở cho những ước tính tương lai, phản ánh đúng sự thựchiện hoạt động của doanh nghiệp Do đó, các báo cáo tài chính cần được điều chỉnhcho một số khoản mục mà đã doanh nghiệp đã bóp méo trong BCTC nhằm làm đẹpBCTC
Việc điều chỉnh báo cáo tài chính được thực hiện vì nhiều lý do, cụ thể:
Dựa trên thu nhập quá khứ để dự báo thu nhập trong tương lai
Trình bày các thông tin tài chính quá khứ trên báo cáo được chuẩn hoá, nghĩa
là trong điều kiện hoạt động bình thường
Để điều chỉnh cho các thực tiễn kế toán bắt đầu từ ngành hoặc các tiêu chuẩnGAAP
Để tạo thuận lợi cho việc so sánh một công ty nhất định với chính mình, vớicác công ty khác trong cùng ngành hoặc với tiêu chuẩn ngành được chấp nhận
So sánh nợ và / hoặc cấu trúc vốn của công ty với công ty của đối thủ cạnhtranh hoặc các doanh nghiệp cùng ngành
So sánh phần bù với định mức ngành
Việc điều chỉnh các báo cáo tài chính nên được thực hiện nếu hiệu quả của việcđiều chỉnh sẽ trình bày chính xác hơn hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp Do đó, cần phải có những điều chỉnh hợp lý, bất kể chúng có phản ảnh tíchcực về công ty hay không Vì các điều chỉnh thích hợp cho một định giá có thể khôngphù hợp với một cách xác định giá trị khác, điều quan trọng là phải công bố các giảđịnh chính nằm trong điều chỉnh
5 CHUẨN HÓA BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Để dễ dàng phân tích và giải thích các chỉ số tài chính của công ty, cần phải điềuchỉnh các báo cáo này để phản ánh thực tế kinh tế của điều kiện hoạt động "bìnhthường" Mục tiêu của việc bình thường hóa các báo cáo tài chính là trình bày dữ liệutrên cơ sở so sánh với các công ty khác trong ngành, do đó cho phép nhà phân tíchđưa ra kết luận về điểm mạnh hoặc điểm yếu của công ty chủ đề liên quan đến cáccông ty khác
Chuẩn hóa thường liên quan đến điều chỉnh cho một số mục sau:
Các khoản mục không thông thường
Các khoản mục không thường xuyên
6
Trang 8 Các khoản mục bất thường (cả không bình thường và không chính xác, theoHội đồng xây dựng các Nguyên tắc Kế toán [APB] 30)
Các khoản mục phi kinh doanh
Thay đổi nguyên tắc kế toán
Không phù hợp với GAAP
Mức độ quyền sở hữu, bao gồm cả việc có quyền kiểm soát hay không
6 CÁC KHOẢN MỤC KHÔNG THÔNG THƯỜNG, KHÔNG
THƯỜNG XUYÊN VÀ BẤT THƯỜNG
Mặc dù APB 30 không tập trung đến việc định giá doanh nghiệp nhưng nó cungcấp các định nghĩa hữu ích về các khoản mục không thông thường, không thườngxuyên và bất thường
Các khoản mục không thông thường Các sự kiện hoặc giao dịch có sự bất
thường nhưng xảy ra thường xuyên
Các khoản mục không thường xuyên Các sự kiện hoặc các giao dịch không
xuất hiện thường xuyên trong hoạt động của doanh nghiệp
Các khoản mục bất thường Các sự kiện hoặc các giao dịch mang tính bất
thường của chúng và không thường xuyên xảy ra trong hoạt động của doanh nghiệp
Do đó, đối với một khoản mục được phân loại như một khoản mục bất thường, khoảnmục phải là cả một khoản mục không thông thường và một khoản mục không thườngxuyên
Doanh thu hoặc chi phí không thông thường, không thường xuyên hoặc bất thườngthường được xóa khỏi dữ liệu lịch sử vì chúng có thể bóp méo hình ảnh về sức mạnhthu nhập liên tục của doanh nghiệp Tuy nhiên, cần thận trọng trong những điều mà cóthể coi là không thông thường và không thường xuyên trong một ngành có thể khôngđược xem là khác Các khoản mục đại diện của loại hình điều chỉnh được lập cho cácbáo cáo tài chính trước cho các khoản mục không thông thường, không thường xuyên
và bất thường bao gồm:
Đình công và các hành động đình công khác (trừ khi thông thường đối vớingành)
Chi phí kiện tụng hoặc thu hồi
Không có bảo hiểm tổn thất do thiên tai không lường trước được như lửa hoặc
lũ lụt
Doanh thu hoặc chi phí thực hiện một lần do hợp đồng không thường xuyên
Thu nhập hoặc lỗ khi bán một đơn vị kinh doanh hoặc tài sản kinh doanh
Ngừng hoạt động
7
Trang 9 Số tiền bảo hiểm nhận được đối với cuộc sống của một người chủ chốt hoặc từmột khiếu nại về tài sản hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại
7 KHOẢN MỤC PHI KINH DOANH
Để có được hình ảnh rõ ràng về hiệu suất hoạt động thực sự, nhà phân tích cần loại
bỏ các tài sản và nợ phi kinh doanh và các khoản thu nhập và / hoặc chi phí liên quan
từ các báo cáo tài chính Điều này giả định chúng không được sử dụng, hoặc chỉ được
sử dụng một phần, trong kinh doanh Các ví dụ phổ biến về các khoản mục phi kinhdoanh bao gồm:
Tiền thừa
Chứng khoán thị trường (nếu vượt quá nhu cầu hợp lý của doanh nghiệp)
Bất động sản (nếu không được sử dụng trong hoạt động kinh doanh, hoặc,trong một số trường hợp, nếu doanh nghiệp có thể hoạt động trong các cơ sởthuê)
Các cơ sở tư nhân, giải trí hoặc các cơ sở thể thao (nhà nghỉ săn bắn, hợp đồng
vé mùa chuyển nhượng, skyboxes )
Đồ cổ, bộ sưu tập cá nhân, v.v
8 NHỮNG THAY ĐỔI TRONG NGUYÊN TẮC KẾ TOÁN
Các nhà phân tích thường tìm các báo cáo tài chính có sự thay đổi trong nguyêntắc kế toán APB 20 tuyên bố rằng việc thay đổi nguyên tắc kế toán là kết quả của việc
áp dụng một nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi khác với quy tắc đã được sửdụng trước đây cho mục đích báo cáo tài chính Thuật ngữ "nguyên tắc" bao gồmkhông chỉ các nguyên tắc và thực tiễn mà còn các phương pháp áp dụng chúng Do
đó, một nhà phân tích phải hiểu được tác động của sự thay đổi trong các nguyên tắc kếtoán đối với báo cáo tài chính của công ty Một số ví dụ phổ biến về những thay đổitrong các nguyên tắc kế toán là:
Sự thay đổi trong phương pháp định giá hàng tồn kho, chẳng hạn như LIFO(nhập trước, xuất sau) sang FIFO (nhập trước, xuất trước) hoặc FIFO sangLIFO
Sự thay đổi trong phương pháp khấu hao tài sản đã ghi nhận trước đó, nhưphương pháp đường thẳng sang phương pháp khấu hao nhanh hoặc phươngpháp khấu hao nhanh sang phương pháp đường thẳng
Sự thay đổi trong phương pháp kế toán trong hợp đồng xây dựng dài hạn
Sự thay đổi đến hoặc từ phương pháp kế toán chi phí đầy đủ trong các ngànhkhai khoáng
8
Trang 109 KHÔNG PHÙ HỢP VỚI GAAP
Trong nhiều trường hợp, các công ty đại chúng thường có xu hướng lựa chọnphương pháp kế toán nhằm làm hài lòng các cổ đông Hầu hết các chủ doanh nghiệpđều có xu hướng chọn một phương pháp kế toán nhằm giảm thiểu thu nhập, và làmgiảm gánh nặng thuế doanh nghiệp Các lựa chọn này có thể có nghĩa là nếu các báocáo tài chính của một công ty tư nhân chưa được kiểm toán hoặc chấp nhận thì cácthông lệ kế toán áp dụng bởi ban quản lý có thể không phù hợp với GAAP Nhà phântích có thể chọn điều chỉnh để đưa chúng vào hoặc gần hơn với sự tuân thủ của GAAP
để các kết quả tài chính của đối tượng có thể được so sánh với kết quả tài chính củacác đối tác ngành công khai của nó (nếu có và áp dụng được) Các điều chỉnh cũng cóthể được thực hiện để tính toán dòng tiền
Các ví dụ về các lĩnh vực thường gặp của việc không phù hợp với GAAP là:
Báo cáo tài chính được lập trên cơ sở tính thuế hoặc tiền mặt
Doanh thu không được ghi lại trong kinh doanh tiền mặt
Dự phòng nợ xấu không đầy đủ (hoặc sử dụng phương pháp khấu hao cụ thể)
Lượng hàng tồn kho chưa kiểm kê, không ghi lại hàng tồn kho đã lỗi thời hoặcđang di chuyển chậm và các vấn đề về kế toán hàng tồn kho khác
Khoản nợ chưa được ghi nhận như hợp đồng thuê tài chính, chi phí nhân công(tiền lương, tiền ốm đau / nghỉ phép ), thuế thu nhập hoãn lại
Chính sách vốn hóa / chi phí cho tài sản cố định và chi phí trả trước
Chính sách xoá tài sản cố định
Phương pháp khấu hao
Kế toán cho các khoản đầu tư vào công ty con hoặc các đơn vị liên kết
Thời điểm ghi nhận doanh thu / chi phí cho việc hạch toán hợp đồng, bán hàng,bảo đảm, đăng ký, và như thế
10.THUẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NHẬP CÁC DOANH NGHIỆP TIỂU CHƯƠNG S VÀ CÁC ĐIỀU CHỈNH KHÁC
Một trong những vấn đề gây tranh cãi lớn nhất trong định giá kinh doanh là việc
xử lý thuế thu nhập đối với các công ty thuộc Tập đoàn S
Mã số thuế đặc biệt tạo ra lợi thế về thuế đối với các công ty S vì thu nhập chịuthuế của một công ty S không bị đánh thuế ở cấp độ doanh nghiệp nhưng được "thôngqua" cho các cổ đông để chịu thuế trên phương diện cá nhân Do không có thuế doanhnghiệp, tất cả những thứ khác đều như nhau, một công ty S sẽ có nhiều dòng tiền thuếthu nhập doanh nghiệp hơn một công ty C Bỏ qua tất cả các yếu tố khác, hai công ty
9
Trang 11khác giống nhau sẽ có giá trị khác nhau nếu là một công ty C và một là công ty S vàcác dòng thu nhập của họ đang được định giá (xem Phụ lục 4.3).
Do đó, nhiều điều đã được viết và trình bày về chủ đề này đối với việc định giá cảlợi ích kiểm soát và không kiểm soát được trong các công ty S Vào cuối ngày, các sựkiện và hoàn cảnh của một tình huống định giá nhất định phải được chuyên gia phântích cẩn thận xem xét trước khi đưa ra quyết định liệu cần phải có những điều chỉnhkhác nhau
Các lập luận về đề tài này rất thú vị nhưng lại quá rộng để trình bày ở đây Do đó,người đọc được khuyến khích tham khảo Chương 12, "Định giá của các Chủ thể vượtqua", trong đó có phân tích chi tiết về các lý thuyết khác nhau nhằm giải quyết vấn đềnày và cung cấp hướng dẫn cần thiết để giúp nhà phân tích đưa ra quyết định thôngbáo khi phải đối mặt với vấn đề bình thường hóa các báo cáo tài chính của một công
ty S
11.MỨC ĐỘ CỦA QUYỀN SỞ HỮU
Sự phù hợp của những điều chỉnh báo cáo tài chính nhất định phụ thuộc vào việcliệu quyền sở hữu có đang kiểm soát hay không kiểm soát Trừ trường hợp có các điềukhoản siêu đa số (thường là 66% chiếm 2/3 trở lên), quyền sở hữu quyền kiểm soátthường được coi là quyền biểu quyết lớn hơn 50%, cho phép chủ sở hữu kiểm soátđơn phương thực hiện quyết định trực tiếp ảnh hưởng đến thu nhập, tài sản hoặc cấutrúc vốn của doanh nghiệp Một số điều chỉnh thông thường chỉ được thực hiện trongviệc định giá phần lợi ích có quyền kiểm soát trừ khi có bằng chứng rằng quyền sởhữu chủ thể có thể trở thành một cổ phần có quyền kiểm soát trong tương lai gần Cácđiều chỉnh không hợp lý phản ánh sự thiếu khả năng của quyền sở hữu không kiểmsoát để ảnh hưởng đến kết quả tài chính, phân phối, hoặc vận mệnh của công ty dướibất kỳ hình thức nào
Ví dụ về các điều chỉnh kiểm soát thường gặp là:
10
Trang 12 Che giấu mức bồi thường thừa hoặc thiếu hoặc bổng lộc
Loại bỏ các chi phí tùy ý và hoạt động không hiệu quả
Loại bỏ các giao dịch với gia đình hoặc những người trong cuộc khác như tiềnlương, trợ cấp, hoặc các giao dịch phi thị trường
Thực hiện các thay đổi trong cơ cấu vốn có thể được thực hiện bằng quyềnkiểm soát
12.CÁC ĐIỀU CHỈNH CHUẨN HÓA
Các bảng 4.4, 4.4A và 4.5 cung cấp các điều chỉnh chuẩn hóa chi tiết cho cả bảngcân đối kế toán và báo cáo thu nhập của Công ty phân phối Ale, đối với một số mặthàng thường gặp của nhà phân tích, nhiều trong số đó đã được mô tả trong các đoạntrên
Các bảng 4.6, 4.6A và 4.7 cung cấp bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập đượcchuẩn hóa cho giai đoạn 5 năm được phân tích
Các bảng 4.4 và 4.4A, và các Bảng 4.6 và 4.6A chỉ khác biệt trong các Bảng 4.4A
và 4.6A bao gồm điều chỉnh chuẩn hóa điều chỉnh lại tài sản cố định sang giá trị thịtrường hợp lý Các bảng 4.4 và 4.6 không bao gồm điều chỉnh này
11
Trang 16Bảng 4.4 & 4.4A – Chú thích ở cuối trang
Những điều chỉnh thông thường - Bảng cân đối kế toán:
Các khoản mục không thường xuyên và bất thường
Không có
Các khoản mục không hoạt động
Điều chỉnh thứ nhất - Dựa trên đánh giá phân tích, bao gồm so sánh với dữ liệu chuẩn về tỷ lệ tài chính, chúng ta xác định rằng công ty thặng dư chứng khoán khả mại,, vượt quá yêu cầu về vốn lưu động của công ty.
Không phù hợp với GAAP
Điều chỉnh thứ hai - Dựa trên những cuộc thảo luận với ban quản lý, người ta phát hiện ra rằng công ty đã không xóa bỏ được hàng tồn kho lỗi thời.
Kiểm soát sự điều chỉnh
Điều chỉnh thứ ba - Căn cứ vào các định giá về đất đai, tòa nhà và tài sản cố định của công ty,
có một sự điều chỉnh được thực hiện để xác định lại tài sản cố định của công ty nhằm phản ánh giá trị thị trường hợp lý Lưu ý: Một số nhà phân tích không thực hiện việc điều chỉnh này cho mục đích so sánh vì dữ liệu tiêu chuẩn của các công ty thường không có sự điều chỉnh này Đây là quyết định mà mỗi nhà phân tích phải đưa ra Ngoài ra, một số nhà phân tích thực hiện điều chỉnh thuế đối với giá trị tài sản.
Bảng 4.5
Chú thích
Những điều chỉnh thông thường – Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Các khoản mục không thường xuyên và bất thường
Điều chỉnh thứ nhất - Dựa trên các cuộc thảo luận với ban quản lý, người ta phát hiện ra rằng công ty đã liên quan đến một vụ kiện trong năm 20X5 và được xác định là bất thường.
Các khoản mục không hoạt động
Điều chỉnh thứ hai - Dựa vào đánh giá phân tích, chúng ta xác định rằng công ty thặng dư chứng khoán khả mại, vượt quá yêu cầu về vốn lưu động của Công ty Thu nhập và lãi/lỗ của chứng khoán khả mại đã được loại bỏ khỏi báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Không phù hợp với GAAP
Không có
Kiểm soát sự điều chỉnh
15
Trang 17Điều chỉnh thứ ba - Trên cơ sở thảo luận với ban quản lý, người ta khám phá ra rằng các thành viên trong gia đình chủ sở hữu của Công ty đã sử dụng thẻ xăng của Công ty để mua và sử dụng xăng cho xe cá nhân của họ để đi du lịch không liên quan đến hoạt động kinh doanh.
Điều chỉnh thứ tư - Trên cơ sở thảo luận với ban quản lý, người ta đã phát hiện ra rằng các khoản phí câu lạc bộ quốc gia cho chủ sở hữu của công ty đã được Công ty thanh toán mặc dù không
có cuộc họp nào được tổ chức tại câu lạc bộ quốc gia đó.
Điều chỉnh thứ năm - Trên cơ sở đánh giá phân tích và thảo luận với ban quản lý, đã có những điều chỉnh đối với tiền công, tiền lương và thuế tiền lương của các nhân viên nhằm (1) cung cấp mức tiền công hợp lý cho các nhân viên, (2) xóa bỏ bảng lương được nhận bởi các thành viên gia đình Chủ
sở hữu của công ty không phục vụ cho Công ty, và (3) loại bỏ các khoản thuế tiền lương liên quan đến những điều chỉnh như vậy.
Điều chỉnh thứ sáu - Trên cơ sở xem xét phân tích và thảo luận với ban quản lý, đã xác định rằng giá thuê trên thị trường đã được Công ty chi trả cho việc thuê một tòa nhà do một bên liên quan
sở hữu.
Nhiều nhà phân tích không thực hiện sự điều chỉnh này vì các dữ liệu tiêu chuẩn củangành hoặc công ty hướng dẫn thường không có sự điều chỉnh này, do đó việc so sánhvới công ty mục tiêu khó khăn hơn Những người khác nghĩ rằng kết quả của việc điềuchỉnh làm cho việc so sánh tốt hơn trong giai đoạn lịch sử phân tích Đây là quyết định
mà mỗi nhà phân tích phải đưa ra Cả hai phương pháp đều được trình bày ở đây
13.BÁO CÁO TÀI CHÍNH CHUẨN HÓA THÔNG THƯỜNG
Một khi dữ liệu tài chính đã được chuẩn hóa, các nhà phân tích thường sử dụngmột phương pháp phân tích để xác định các xu hướng hoạt động - "kiểm định chung"các báo cáo tài chính "Kiểm định chung" bao gồm việc thể hiện từng khoản mục trênbáo cáo tài chính theo tỷ lệ phần trăm của một số cơ sở và được thực hiện trên cả bảngcân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh đã được chuẩn hoá chotừng giai đoạn Trên bảng cân đối kế toán, mỗi hạng mục được biểu diễn theo tỷ lệphần trăm của tổng tài sản và trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, mỗi hạngmục được thể hiện dưới dạng phần trăm doanh thu
Phân tích tài chính thông thường cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả hoạt độngtrong quá khứ của công ty, tạo điều kiện cho việc đánh giá các mối quan hệ giữa cáctài khoản nhất định, xác định xu hướng nhất định hoặc các khoản mục không bìnhthường và có thể được sử dụng để so sánh hiệu quả hoạt động của công ty với ngànhcủa công ty đó hoặc với các công ty hướng dẫn cụ thể Phân tích này đôi khi hữu íchtrước khi thực hiện các điều chỉnh thông thường để xác định các điều chỉnh tiềm năngkhác, với một quá trình chuẩn hóa lần thứ hai được tiến hành sau đó Phụ lục 4.8,4.8A, và 4.9 trình bày bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập bình thường của Công
16
Trang 18ty phân phối Ale, Inc trong giai đoạn 5 năm phân tích Phụ lục 4.8A bao gồm việcđiều chỉnh lại tài sản cố định theo giá thị trường hợp lý.
17