Lý do chọn đề tài Biến đổi khí là vấn đề mà tất cả các quốc gia trên thế giới đang quan tâm trong thế kỷ 21, đã và đang gây ra những ảnh hưởng rất lớn đến toàn cầu, qua các hiện tượng n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
-
THẠCH THON
PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA HỘ NGHÈO HUYỆN CẦU NGANG, TỈNH TRÀ VINH TRONG BỐI CẢNH
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Hồ Chí Minh - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
-
THẠCH THON
PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA HỘ NGHÈO HUYỆN CẦU NGANG, TỈNH TRÀ VINH TRONG BỐI CẢNH
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số :60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN :GS-TS.NGUYỄN TRỌNG HOÀI
Hồ Chí Minh - 2017
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trà vinh, ngày 15 tháng 04 năm 2017
Tác giả luận văn
Thạch Thon
Trang 4TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU……….1
1 Lý do chọn đề tài……… ……….………1
2 Mục tiêu nghiên cứu……….……….….…………5
3 Câu hỏi nghiên cứu……… …… 5
4 Phạm vi nghiên cứu……… …….5
5 Đối tượng nghiên cứu.………6
6.Phương pháp nghiên cứu………6
7.Cấu trúc nghiên của luận văn……….7
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ……… ………9
I.1 Những khái niệm về Biến đổi Khí hậu……….………… 9
I.2 Tổng quan các nghiên cứu về Biến đổi khí hậu……… ……….10
I.3 Các khái niệm liên quan……… ……… 16
I.4 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu……… ………… 25
I.4.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường……….……… 25
I.4.1.1 Vị trí địa lý……… ………25
I.4.1.2 Khí hậu……… ………28
I.4.1.3 Thủy văn……….……28
I.4.2 Các nguồn tài nguyên……….… 28
I.4.2.1 Tài nguyên đất……… …… 28
I.4.2.2 Tài nguyên nước……….…29
I.4.3 Thực trạng môi trường……… ….29
I.4.4 Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội……….… 30
Trang 5I.4.4.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập……… … …32
I.4.4.4 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng……… 33
I.4.5 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường…… 34
I.4.5.1 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên……… ……… 34
I.4.5.2 Đánh giá chung về điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường………….… 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG I……… …37
CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………… 38
II.1 Nội dung nghiên cứu……….38
II.2 Khung phung tích……….………39
II.3 Phương pháp nghiên cứu……….…………41
II.3.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu……….……….41
II.3.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế……….………42
II.3.3 Phương pháp phỏng vấn hộ gia đình và phỏng vấn sâu……….… 42
II.3.4 Phương pháp xử lý số liệu……… ……….43
KẾT LUẬN CHƯƠNG II………45
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN……….46
III.1 Các hiện tượng biến đổi khí hậu giai đoạn năm 2014 đến nay ……… 46
III.2 Hiện trạng hộ nghèo trong bối cảnh hạn hán và xâm nhập mặn …… 48
III.2.1 Biến đổi nguồn thu của hộ gia đình……… …….48
III.2.2 Hiện trạng hộ nghèo trong canh tác nông nghiệp……… ….50
III.2.3 Hiện trạng hộ nghèo trong hoạt động chăn nuôi……….51
III.2.4 Hiện trạng hộ nghèo trong hoạt động nuôi trồng thủy sản……….52
III.2.5 Kiến thức của người dân trong BĐKH tại địa phương……….….54
III.3 Đánh giá khả năng thích ứng của hộ nghèo thông qua các nguồn vốn sinh kế………56
III.3.1 Vốn con người……… ……….56
III.3.2 Vốn vật chất………57
III.3.3 Vốn tài chính……… …………57
Trang 6CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ CÁC GỢI Ý CHÍNH SÁCH….…… …… 61
IV.1 Kết luận từ nghiên cứu………61
IV.2 Các gợi ý chính sách từ nghiên cứu……… …………62
IV.2.1 Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi……… ……… ….62
IV.2.2.Hoàn thiện hệ thống thủy lợi……….………… ………63
IV.2.3 Nâng cao nhận thức của mọi người về BĐKH……… 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Ký hiệu Diễn giải
BĐKH: Biến đổi khí hậu ĐBSCL: Đồng bằng sông cửu long NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
TDBTT: Tính dễ bị tổn thương
Trang 8Bảng 3.1: Nhận thức của người dân về tần suất xuất hiện của BĐKH so với năm
2014 ……… 46 Bảng 3.2: Tần suất xuất hiện của BĐKH trong giai đoạn 2014- 2016………… 48 Bảng 3.3: Hiện trạng hộ nghèo trong canh tác nông nghiệp……… 50 Bảng 3.4: Hiện trạng của hộ gia đình trong chăn nuôi……… …52 Bảng 3.5: Hiện trạng của hộ trong nuôi trồng thủy sản……… 53
Trang 9Hình 1.1: Sơ đồ vị trí huyện Cầu Ngang……….26 Hình 1.2: Sơ đồ vị trí xã Nhị Trường, huyện Cầu Ngang……… 27 Hình 1.3: Sơ đồ vị trí xã Trường Thọ, huyện Cầu Ngang……….….27
Hình 2.1: Khung phân tích đánh giá khả năng thích ứng thông qua sinh kế hộ gia đình……….40 Hình 3.1: Nhận thức của người dân về tần suất xuất hiện của BĐKH so với năm 2014……….………47 Hình 3.2: Hiện trạng nguồn thu của hộ gia đình thay đổi so với năm 2014 … 49 Hình 3.3: Tỷ lệ trình độ học vấn của hộ gia đình……… 56
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Biến đổi khí là vấn đề mà tất cả các quốc gia trên thế giới đang quan tâm trong thế kỷ 21, đã và đang gây ra những ảnh hưởng rất lớn đến toàn cầu, qua các hiện tượng như hạn hán, nước biển dâng, hiện tượng bảo, lũ, hiện tượng xâm nhập mặn….Trong đó, vấn đề đáng quan tâm nhất là những tác động và hậu quả của biến đổi khí hậu, đã gây ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới, trong đó Việt Nam là một quốc gia củng chịu ảnh hưởng rất lớn, đặc biệt ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người nghèo sinh sống ở khu vực nông thôn
Với bờ biển dài hơn 3200 km, Việt Nam được coi là một trong các quốc gia
bị đe doạ nghiêm trọng nhất bởi hiện tượng thiên tai do biến đổi khí hậu Cuối năm
2014 hiện tượng thiên tai do biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến nước ta, đã gây thiệt hại nặng nề và tiếp tục đe dọa nghiêm trọng đến sản xuất và dân sinh Các khu vực
bị ảnh hưởng đó là Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đông Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) Tính đến cuối năm 2014 đầu năm 2015 đối với ĐBSCL do mùa mưa đến muộn và kết thức sớm, dòng chảy thượng nguồn Mê Kông bị thiếu hụt, mực nước thấp nên xâm nhập mặn đã xuất hiện sớm, nên đã ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp Do ảnh hưởng của xâm nhập mặn năm 2014 đến năm 2016 nhiều diện tích cây trồng đã bị bởi biến đổi khí hậu, vụ mùa thu đông diện tích bị thiệt hại khoảng 90.000 ha lúa bị ảnh hưởng đến năng xuất trong đó thiệt hại nặng nhất ở các tỉnh Kiêng Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu diện tích khoảng 50.000 ha Trong đó tỉnh Trà Vinh diện tích bị thiệt hại là 29.609
ha bao gồm lúa, hoa màu và thủy sản Riêng vụ Đông Xuân năm 2015- 2016 tổng diện tích bị thiệt cả khu vực ĐBSCL là 104.000 ha lúa bị ảnh hưởng đến năng xuất
Trà Vinh là tỉnh có địa hình khá phức tạp với 65 km bờ biển là một trong các tỉnh phải chịu ảnh hưởng nặng nề do biến đổi khí hậu, điển hình cụ thể năm
2014 chưa khắc phụ hậu quả của hiện tượng xâm nhập nặm để lại, phải tiếp tục
Trang 11gánh chịu đợt xâm nhập nặm năm 2015 và nặng nề hơn là đợt xâm nhập nặm năm
2016 cả khu vực ĐBSCL, gây thiệt nghiêm trọng đến cây trồng, vật nuôi ảnh đe dọa đến cuộc sống của người dân
Trà Vinh là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long, nằm giữa hai sông lớn là sông Tiền và sông Hậu,có diện tích 2.341 km2, có bờ biển dài 65km,Trà Vinh là 01 trong những tỉnh chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu và nước biển dâng
Theo kịch bản được Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố nếu mực nước biển tăng lên 1m vào năm 2100 thì có đến 45,7% diện tích đất tự nhiên của Trà Vinh bị ngập chìm trong nước, các dải đất ven biển phục vụ cho nuôi trồng thủy sản sẽ bị biến mất dưới mực nước biển, việc xâm nhập mặn, lan truyền mặn vào sâu trong nội đồng một cách mạnh mẽ và trầm trọng, gây mặn hóa các vùng mà tỉnh đã được đầu tư để ngọt hóa những năm qua
Những biểu hiện của biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh trong thời gian qua được nghiên cứu và ghi nhận đó là: Hạn hán kéo dài gây thiếu nước ngọt vào mùa khô, xâm nhập mặn vào sâu trong nội đồng, lốc xoáy, triều cường xãy ra với tần suất ngày càng nhiều hơn,…
Nhiệt độ tăng cao, nước biển có chiều hướng dâng cao từ 2 đến 3mm/năm, xâm nhập mặn sâu vào nội đồng, lượng mưa trung bình hàng năm giảm, số đợt mưa bất thường gia tăng, xói lở đất khu vực ven biển, cửa sông; bão, lốc xoáy có chiều hướng gia tăng đặc biệt là cuối mùa mưa Năm 2014, 2015 diễn biến thời tiết, thuỷ văn của tỉnh tiếp tục diễn biến bất lợi như nhiệt độ trung bình tăng 0,20 so với trung bình các năm trước, xâm nhập mặn trên sông Cổ Chiên, sông Hậu diễn biến gay gắt tác động bất lợi đến sản xuất (Ranh mặn 4 phần ngàn lúc
độ mặn cao nhất xâm nhập theo hai cửa sông chính cách cửa biển khoảng 50km.)
Ngoài sạt lở bờ biển thì Trà Vinh còn phải gánh chịu thêm sạt lở bờ sông củng diễn ra khá nghiêm trọng gây thiệt hại và ảnh hưởng nặng nề đến đời sống của người dân ở vùng ven sông , toàn tỉnh có trên 19 đoạn sạt lở bờ sông ở mức nguy hiểm, với tổng chiều dài 13.188m : sông nội tỉnh 3 đoạn, dài 1.781m trên
Trang 12sông Tiền 13 đoạn, dài 5.400m; trên sông Hậu 3 đoạn, dài 6.007m, ( trong đó có
cù lao Hòa Minh trên sông Tiền và cù lao Tân Quy trên sông Hậu với 7.800m ở tình trạng bị đe dọa nghiêm trọng) Địa bàn vùng xung yếu ven biển, cù lao trên sông gồm 13 xã với 4.705 hộ dân cần bố trí di dời do sạt lỡ, thiên tai, triều cường bằng việc xây dựng các công trình hạ tầng để tái định cư, ứng phó BĐKH Nhu cầu vốn trên 670 tỷ đồng để thực hiện nhưng đã qua, vốn Bộ NN&PTNT phân bố cho các dự án thuộc Chương trình bố trí dân cư vùng thiên tai, đặc biệt khó khăn còn rất hạn chế
Là một tỉnh chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trong thời gian qua, tỉnh
đã huy động nhiều nguồn kinh phí trong và ngoài nước để triển khai các dự án nghiên cứu và đề xuất các giải pháp ứng phó BĐKH, chú trọng tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng Tăng cường khả năng ứng phó, thích ứng của cộng đồng ven biển dễ bị tổn thương nhất trước BĐKH.Hàng năm, tỉnh đều quan tâm bố trí nguồn đầu tư từ ngân sách cho công tác phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai, các chương trình mục tiêu cụ thể như: trồng rừng, nâng cấp hệ thống đê, phòng chống sạt lở
Ngoài ra tỉnh còn đang thực hiện các dự án: Dự án “Thích ứng với BĐKH khu vực đồng bằng sông Cửu Long tại tỉnh Trà Vinh- Bến Tre”, thời gian thực hiện 06 năm (2014 – 2020); địa điểm thực hiện dự án là 30 xã nghèo của 07 huyện trong tỉnh.Từ nguồn tài trợ của Chương trình Nông nghiệp thích ứng với BĐKH dành cho nông dân sản xuất nhỏ lẻ của IFAD, ngân sách đối ứng và đóng góp của người hưởng lợi.Các dự án trồng rừng:Dự án Đầu tư, xây dựng và phát triển bền vững rừng phòng hộ tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2014 – 2015, trồng mới 250 ha rừng phòng hộ ven biển
Tình hình biến đổi khí hậu tại Trà Vinh diễn ra mạnh mẻ và chịu ảnh hưởng nặng nhất là các huyện: Duyên hải, Trà cú và Cầu ngang Trong đó huyện Cầu ngang là huyện chịu ảnh hưởng nặng nhất của hiện tượng hạn hán và xâm nhập mặn Đặc biệt là từ năm 2014 đến nay huyện Cầu ngang phải gánh chịu những thiệt hại rất nặng nề từ hiện tượng xâm nhập mặn làm cho sản xuất của bà con bị
Trang 13ảnh hưởng nghiêm Điển hình như vụ lúa đông xuân năm 2016 tổng diện tích sản xuất nông nghiệp bị thiệt hại do xâm nhập mặn gây ra tại huyện Cầu ngang trên 40% là 3 384 ha Trong đó, tại 2 xã là Nhị trường và Trường thọ của huyện là bị thiệt hại nặng nề nhất do 2 xã này có diện tích sản xuất nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa
Huyện Cầu Ngang là một huyện chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu ở Trà Vinh diện tích bị thiệt hại là 5.756,87 ha với số tiền là 9.885.972.000 đồng Điều đó cho thấy biến đổi khí hậu là mối hiểm họa đe dọa đến cuộc sống của người nghèo trên địa bàn huyện Cầu Ngang và khả năng thích ứng cuộc sống, sau hậu quả do biến đổi khí hậu đã gây ra Chứng tỏa biến đổi khí hậu gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người nghèo của huyện Cầu Ngang trong tương lai, và khả năng thích ứng tốt nhất của hộ nghèo là tăng cường công tác sẳn sàng đối phó với thiên tai và công tác phát triển kinh tế gia đình của hộ nghèo Trong điều kiện mà kinh tế của huyện tập trung chủ yếu là nông nghiệp và thủy sản là hai ngành sản xuất chủ lực dựa trên số lượng và chất lượng, với kinh nghiệm tích lũy được trong việc đối phó với thiên tai và khả năng thích ứng của hộ nghèo, từ đó giúp cho họ duy trì cuộc sóng và tồn tại cho đến nay Tuy nhiên tác động của hiện tượng xâm nhập mặn gây nên bởi biến đổi khí hậu có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng thích ứng của hộ nghèo của huyện Cầu Ngang Do đó tầm quan trọng là việc đánh giá phân tích khả năng thích ứng của hộ nghèo, trước hiện tượng xâm nhập mặn do nước biển dân để từ đó đưa ra giải pháp cho phù hợp nhằm tạo điều kiện cho hộ nghèo có khả năng thích ứng cho hộ nghèo và vương lên trong cuộc sống Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nằm trong kế hoạch thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu của tỉnh Trà Vinh giai đoạn 2010- 2015 Củng như kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2016- 2020
Những thách thức do biến đổi khí hậu và nước biển dâng đòi hỏi tỉnh Trà Vinh có những nổ lực hơn nửa trong việc tăng cường nhận thức và nâng cao nâng lực ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, song song với việc ban hành
Trang 14các chính sách nhằm phát triển kinh tế bền vững đồng thời sử dụng hiệu quả các nguồn tài trợ ứng phó với biến đổi khí hậu của quốc tế
Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, tỉnh Trà Vinh vẫn chưa được kéo giảm, theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ, số hộ nghèo 35.506 hộ, chiếm 13,23% so với tổng số hộ toàn tỉnh, huyện Cầu Ngang là một trong những huyện có tỷ hộ nghèo cao, chiếm 17,02%, năm 2015, cao hơn so với số hộ nghèo chung của cả tỉnh Đây là vấn đề rất bức thiết đối với địa phương, vì vậy việc phân tích, đánh giá, đồng thời nghiên cứu đưa ra những giải pháp đồng bộ nhằm hạn chế tác động do biến đổi khí hậu
và khả năng thích ứng của hộ nghèo có hiệu quả trên địa bàn huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh trong những năm tới là hết sức cần thiết Xuất phát từ ý nghĩa đó
cũng chính là nguyên nhân hình thành nên đề tài: “Phân tích khả năng thích ứng của hộ nghèo huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh trong bối cảnh biến đổi khí hậu”
2 Mục tiêu nghiên cứu
-Mục tiêu chung:
-Phân tích khả năng thích ứng của hộ nghèo huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh trong bối cảnh biến đổi khí hậu và gợi ý chính sách nhằm nâng cao khả năng thích ứng của hộ nghèo tại huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh
-Mục tiêu cụ thể:
-Phân tích hiện trạng nghèo giai đoạn 2014- 2016 trong bối cảnh tác động của hạn hán, xâm nhập mặn huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh
-Phân tích khả năng thích ứng của hộ nghèo thông qua 05 nguồn vốn sinh
kế của hộ nghèo tại huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh
3 Câu hỏi nghiên cứu
- Hiện trạng hộ nghèo diễn biến như thế nào trong bối cảnh hạn hán, xâm nhập huyện Cầu Ngang , tỉnh Trà Vinh như thế nào?
-Khả năng thích ứng của hộ nghèo như thế nào sau các tác động hạn hán, xâm nhập mặn tại huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh?
4 Phạm vi nghiên cứu
Trang 15+ Không gian nghiên cứu: huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh
+Thời gian nghiên cứu: Năm 2014 đến năm 2016
5 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là khả năng thích ứng của hộ nghèo huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh
6 Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp thu thập số liệu
+Số liệu thứ cấp
số liệu thứ cấp gồm các số liệu sau:
Số liệu về tình hình phát triển kinh tế xã hội, nông nghiệp nông thôn tại huyện Cầu Ngang từ Ủy ban nhân dân Huyện Cầu Ngang
Các báo cáo về tình hình biến đổi khí hậu tại huyện Cầu Ngang từ Ủy ban nhân dân Huyện Cầu Ngang
Số liệu, thông tin từ báo, Website… liên quan đến nội dung nghiên cứu
+Số liệu sơ cấp
Lập bảng câu hỏi phỏng vấn Phỏng vấn trực tiếp hộ gia đình là hộ nghèo tại 02 xã Nhị Trường và Trường Thọ, huyện Cầu Ngang
Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện để thu thập số liệu sơ cấp
Cỡ mẫu: Trong đề tài này có khoảng 35 tham số ( biến quan sát) cần tiến hành phân tích, vì vậy số mẫu tối thiểu cần thiết là 35 x 5 = 175 Như vậy, số lượng mẫu n = 200 là chấp nhận được đối với đề tài nghiên cứu này
Trang 16được Trên cơ sở đó phân tích mức độ ảnh hưởng, nguyên nhân, khả năng thích ứng và thích ứng của các hộ gia đình
7.Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu luận văn trình bày các nội dung quan trọng được kết cấu như sau:
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Trong chương này tác giả sẽ giới thiệu các khái niệm, quan điểm liên quan đến vấn đề biến đổi khí hậu, cũng như các nghiên cứu trước có liên quan về biến đổi khí hậu Đồng thời tác giả cũng sẽ giới thiệu tổng quan về địa bàn nghiên cứu huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh Gồm các mục chính sau:
I.1: NHỮNG KHÁI NIỆM VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
I.2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
I.3: CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
I.4: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong chương này tác giả sẽ trình bày các nội dung cần nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đồng thời dựa vào sự nghiên cứu của mình cùng với tình hình thực tế tại địa bàn nghiên cứu huyện Cầu Ngang tác giả đưa ra khung phân tích để làm cơ sở phân tích ở chương sau Gồm các mục chính sau:
II.1: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
II.2: KHUNG PHÂN TÍCH
II.3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Trong chương này tác giả sẽ trình bày các kết quả có được từ khảo sát thực
tế thông qua bảng câu hỏi được phỏng vấn các hộ gia đình tại huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, đồng thời qua kết quả đó tác giả đánh giá khả năng thích ứng của hộ nghèo thông qua các nguồn vốn sinh kế Gồm các mục chính sau:
III.1: CÁC HIỆN TƯỢNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU GIAI ĐOẠN 2014 ĐẾN NAY
Trang 17III.2: HIỆN TRẠNG HỘ NGHÈO TRONG BỐI CẢNH HẠN HÁN VÀ XÂM NHẬP MẶN
III.3: ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG PHỤC HỒI CỦA HỘ NGHÈO THÔNG QUA CÁC NGUỒN VỐN SINH KẾ
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ CÁC GỢI Ý CHÍNH SÁCH
Trong chương này tác giả sẽ đưa ra các nhận định của mình về các kết quả
ở chương trước, đồng thời đưa ra các gợi ý chính sách để các nhà hoạch định chính sách địa phương và người dân có thể khắc phục những tổn thương và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu Gồm các mục chính sau:
IV.1: KẾT LUẬN TỪ NGHIÊN CỨU
IV.2: CÁC GỢI Ý CHÍNH SÁCH TỪ NGHIÊN CỨU
Trang 18CHƯƠNG I: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Để hiểu rõ hơn về các vấn đề cần nghiên cứu, trước hết chúng ta phải biết được vấn đề đó là gì thông qua các khái niệm, các định nghĩa của chúng Sau đây chúng ta sẽ đi tìm hiểu các khái niệm có liên quan về vấn đề cần nghiên cứu như: biến đổi khí hậu, nghèo, hộ nghèo, khả năng dễ bị tổn thương, sinh kế bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu…cũng như sơ lược các nghiên cứu trước có liên quan đến biến đổi khí hậu Bên cạnh đó, chúng ta cũng sẽ tìm hiểu sơ lược về địa bàn nghiên cứu như: điều kiện tự nhiên, môi trường, xã hội, kinh tế, cũng như các nguồn tài nguyên huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh
I.1 Những khái niệm về Biến đổi Khí hậu
Theo Công ước khung của Liên hợp Quốc về Biến đổi khí hậu đã định nghĩa “Biến dổi khí hậu là “những ảng hưởng có hại của Biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng thích ứng hoặc sinh sản của các hệ sinh thái
tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế-xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”
Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thủy quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo Sự thay đổi về khí hậu gây ra trực tiếp hay gián tiếp từ hoạt động của con người làm thay đổi cấu thành của khí quyển trái đất, cùng với biến đổi khí hậu tự nhiên, đã được quan sát trong một thời kỳ nhất định (UNFCCC, 1992)
Người nghèo là đối tượng chịu ảnh hưởng nghiêm trọng trước sự biến đổi khí hậu do tình trạng ấm dần lên của trái đất Đây là nhận định của nhà khoa học hàng đầu thế giới nghiên cứu về biến đổi khí hậu - ông Rajendra Pachauri, Chủ tịch Ủy ban Liên chính phủ về Thay đổi Khí hậu của Liên hợp quốc (LHQ) tại hội thảo về “ Biến đổi khí hậu và các sự kiện khí hậu cực đoan tại Việt Nam” diễn ra tại Hà Nội ngày 17 tháng 08 năm 2012
Trang 19Theo ông Pachauri, khí hậu biến đổi sẽ tác động đến hai lĩnh vực là y tế và nông nghiệp Đối với lĩnh vực y tế, các đợt thời tiết nóng bức làm giảm sức khoẻ con người, thậm chí dẫn đến tử vong Tình hình này đặc biệt nghiêm trọng ở những nước nghèo, nơi các cơ sở hạ tầng y tế vẫn còn yếu kém hay thiếu các phương tiện cần thiết để bảo vệ sức khỏe cho người dân khi nhiệt độ tăng cao
Trong lĩnh vực nông nghiệp, ông Pachauri nhấn mạnh, 2/3 dân số trên thế giới hiện đang sống ở các khu vực nông thôn, đa số tại các nước đang phát triển,
và phần lớn việc canh tác đều phải phụ thuộc vào thời tiết, cụ thể là nguồn nước mưa Biến đổi khí hậu sẽ gây ra tình trạng mất cân bằng về khí hậu, mưa nhiều ở các khu vực khí hậu ôn hòa nhưng lại gây ra hạn hán ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới
Hạn hán sẽ tác động tiêu cực đến hoạt động nông nghiệp làm giảm sản lượng lương thực và đẩy giá lương thực tăng cao
Ông Pachauri nhận định, châu Phi là châu lục dễ bị ảnh hưởng nhất khi lượng mưa giảm Sản lượng nông nghiệp đang giảm sút, gây ra nạn đói kém Trong khi đó, giá lương thực tăng cao đẩy những khu vực này lâm vào tình trạng không đủ khả năng tài chính để nhập khẩu số lượng lương thực cần thiết để nuôi sống người dân
Trong những năm gần đây bão, lũ lụt ở nước ta có chiều hướng gia tăng và biến động rất thất thường Một trong những nguyên nhân chính của hiện tượng này
đã được các nhà khoa học chỉ ra là do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
Các nhà khoa học củng đã nghiên cứu về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến các điều kiện tự nhiên, môi trường, kinh tế, sức khoẻ, phát triển nông nghiệp
ở nước ta Đặc biệt là ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến thiên tai bão lụt ở nước
ta trong những năm gần đây
I.2 Tổng quan các nghiên cứu về biến đổi khí hậu
- Các nghiên cứu quốc tế
Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 1994) đã xếp Việt Nam, đặc biệt là vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong nhóm quốc gia có nguy cơ tổn thương cao do tác động của hiện tượng biến đổi khí hậu và nước biển dâng Hiệp định
Trang 20khung về Biến đổi Khí hậu của Liên hiệp quốc (UNFCCC, 2003) đã dẫn chứng Thông báo Đầu tiên của Việt Nam về Biến đổi Khí hậu (SRV, MONRE 2003) cho biết trong suốt 30 năm vừa qua, mực nước quan trắc dọc theo bờ biển Việt Nam có dấu hiệu gia tăng, Bộ Tài nguyên và Môi trường ước tính đến năm 2050 mực nước biển sẽ gia tăng thêm 33cm và đến năm 2100 sẽ tăng thêm 1 mét Với nguy cơ này, Việt Nam sẽ chịu tổn thất mỗi năm chừng 17 tỉ USD (chiếm 80% tổng sản phẩm nội địa GDP) Nhiều nghiên cứu của Viện Khoa học Khí tượng – Thuỷ văn
và Môi trường Viện Khoa học thuỷ lợi miền Nam đều có những nghiên cứu liên quan đến biến đổi khí hậu ở Việt Nam và Đồng bằng sông Cửu Long
Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi Khí hậu - IPCC (2007) qua phân tích
và phỏng đoán các tác động của nước biển dâng đã công nhận ba vùng châu thổ được xếp trong nhóm cực kỳ nguy cơ do sự biến đổi khí hậu là vùng hạ lưu sông Mekong (Việt Nam), sông Ganges - Brahmaputra (Bangladesh) và sông Nile (Ai Cập) Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc – UNDP (2007) đánh giá: “khi nước biển tăng lên 1 mét, Việt Nam sẽ mất 5% diện tích đất đai, 11% người dân mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp (tương đương 5 triệu tấn lúa và 10% thu nhập quốc nội ĐBSCL sẽ có khoảng 2 triệu ha nằm dưới mực nước biển”
Hanh và Furukawa (2007) dựa vào những ghi nhận ở trạm đo thuỷ triều ở Việt Nam để kết luận về những bằng chứng của sự dâng lên của mực nước biển: trung bình mỗi năm mực nước biển ở Việt Nam đã tăng trong khoảng 1,75 – 2,56 mm/năm
Năm 2009, Trung tâm START vùng Đông Nam Á (Đại học Chulalongkorn, Thái Lan) và Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu - Đại học Cần Thơ đã phối hợp chạy mô hình khí hậu vùng PRECIS với kịch bản A2 và B2, dựa vào chuỗi số liệu khí hậu giai đoạn 1980-2000 để phỏng đoán giai đoạn 2030-2040 Kết quả mô hình cho thấy nhiều khu vực của vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị tác động sau (Tuan and Supparkorn, 2009):
+Nhiệt độ cao nhất trung bình trong mùa khô sẽ gia tăng từ 33-35°C lên 35-37°C +Lượng mưa đầu vụ Hè Thu (15/4 - 15/5) sẽ giảm chừng 10-20%
Trang 21+Sự phân bổ mưa tháng sẽ có khuynh hướng giảm vào đầu và giữa vụ Hè Thu nhưng gia tăng một ít vào cuối mùa mưa
+Tổng lượng mưa năm tại An Giang,Cần Thơ và Sóc Trăng sẽ giảm chừng 20%, đồng thời thời kỳ bắt đầu mùa mưa sẽ trễ hơn khoảng 2 tuần lễ
+Diện tích ngập ở ĐBSCL do lũ sẽ gia tăng
- Các văn bản liên quan và các nghiên cứu tại Việt Nam về biến đổi khí hậu
Về mặt thể chế chính sách, Việt Nam đã có những văn bản chính thức của Nhà nước liên quan đến phát triển bền vững và biến đổi khí hậu theo trình tự thời gian như sau:
+2003: Báo cáo Quốc gia Đầu tiên của Việt Nam theo Hiệp định khung về Biến đổi Khí hậu của Liên hiệp quốc (SRV, MONRE, 2003) Báo cáo cho biết trong suốt 30 năm, mực nước quan trắt dọc theo bờ biển có dấu hiệu gia tăng, Bộ tài nguyên và môi trường ước tính đến năm 2050 mực nước biển sẽ gia tăng thêm 33cm và đến năm 2100 sẽ tăng thêm 1m Với nguy cơ này nước ta sẽ bị tổn thất mỗi năm chừng 17 tỷ USD ( chiếm 80% tổng sản phẩm nội địa GDP)
+2004: Công bố Báo cáo Quốc gia về Giảm thiểu Rủi ro Thiên tai ở Việt Nam (SRV, 2004) Theo báo cáo thì Đồng bằng sông Cửu Long là vùng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH, đây là một dự báo rất ảm đạm Mực nước biển dâng cao như dự báo vào năm 2030 sẽ khiến khoảng 45% đất của đồng bằng này có nguy cơ nhiễm mặn cục độ và thiệt hại mùa màng do lũ lụt Năng suất lúa dự báo sẽ giảm 9% nếu mực nước biển dâng cao 1m, phần lớn đồng bằng này sẽ hoàn toàn ngập trắng nhiều thời gian dài trong năm Những biến đổi này sẽ tác động tới phát triển con người
ở Đồng bằng sông Cửu Long Mặc dù mức đói nghèo đã và đang giảm, bất bình đẳng đang gia tăng, một phần là do nhiều người không có đất Vẫn còn 4 triệu người đói nghèo ở Đồng bằng này Nhiều người trong số này thiếu sự chăm sóc y tế cơ bản và tỷ
lệ trẻ em bỏ học khá cao Đối với nhóm này, ngay cả một sụt giảm nhỏ về thu nhập hay mất cơ hội việc làm do lũ lụt sẽ có hậu quả nghiêm trọng đối với dinh dưỡng, sức khoẻ
và giáo dục Người nghèo phải chịu nguy cơ gấp đôi Khả năng số người này sinh sống
Trang 22ở những vùng dễ ngập lụt là cao hơn-song khả năng sống trong những ngôi nhà kiên cố, vững chắc thì thấp hơn
+2007: Công bố Chiến lược Quốc gia về Phòng chống, Thích nghi và Giảm nhẹ Thiên tai đến năm 2020 (SRV, 2007) Theo chiến lược này thì mục tiêu là Huy động mọi nguồn lực để thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai từ nay đến năm 2020 nhằm giảm đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản, hạn chế sự phá hoại tài nguyên thiên nhiên, môi trường và di sản văn hoá, góp phần quan trọng bảo đảm phát triển bền vững của đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh Đồng thời chiến lược củng chỉ ra một số nhiệm vụ và giải pháp cần thực hiện từ năm 2008 đến năm 2020 về phòng chống, thích nghi và giảm nhẹ thiên tai như: Xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách, Hoàn thiện tổ chức, Xã hội hoá và phát triển nguồn nhân lực, Nguồn tài chính, Nâng cao nhận thức của cộng đồng, Phát triển khoa học công nghệ về phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, Củng cố hệ thống đê điều, hồ đập, Nâng cao năng lực cứu hộ, cứu nạn, Đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế Và chỉ đạo cụ thể cho từng vùng, từng khu vực những nhiệm vụ cụ thể để thực hiện
+2008: Công bố Chương trình Mục tiêu Quốc gia Ứng phó với Biến đổi Khí hậu Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg ngày 2/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ (Thủ tướng Chính phủ, 2008) Theo Quyết định này thì chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu được chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn 1 là giai đoạn khởi động ( 2009-2010), giai đoạn 2 là giai đoạn triển khai ( 2011-2015), giai đoạn 3 là giai đoạn phát triển ( sau 2015) với mục tiêu là đánh giá được mức
độ tác động của biến đổi khí hậu đối với các lĩnh vực, ngành và địa phương trong từng giai đoạn và xây dựng được kế hoạch hành động có tính khả thi để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu cho từng giai đoạn ngắn hạn và dài hạn, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước, tận dụng các cơ hội phát triển nền kinh tế theo hướng các-bon thấp và tham gia cùng cộng đồng quốc tế trong nỗ lực giảm nhẹ biến đổi khí hậu, bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất Và các nhiệm vụ chính là: Đánh giá mức độ và tác động của biến đổi khí hậu ở Việt Nam, xác định các giải
Trang 23pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, Xây dựng chương trình khoa học công nghệ về biến đổi khí hậu, Tăng cường năng lực tổ chức, thể chế, chính sách về biến đổi khí hậu, nâng cao nhận thức và phát triển nguồn nhân lực, tăng cường hợp tác quốc
tế, Tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu vào các chiến lược, chương trình, quy hoạch,
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành và địa phương, xây dựng các
kế hoạch hành động của các Bộ, ngành và địa phương ứng phó với biến đổi khí hậu, Xây dựng và triển khai các dự án của Chương trình
Từ xưa, người dân miền Nam Việt Nam khá nhanh nhẹn trong việc thích ứng với các quy luật diễn biến thời tiết hằng năm như lũ tràn sông, hạn mùa khô, xâm nhập mặn, khan hiếm nước ngọt, Nông dân đã sáng tạo ra nhiều hình thức
“sống chung với lũ”, xây đê lửng, làm nhà sàn, điều chỉnh lịch thời vụ, Tuy nhiên khoảng năm 2005 về trước, vấn đề biến đổi khí hậu – nước biển dâng dường như còn khá xa lạ và chưa được quan tâm đúng mức đối với nhiều người dân và giới lãnh đạo ở miền Nam Việt Nam, mặc dầu phần lớn trong số họ cũng đã từng nghe đến hiện tượng này
Các năm gần đây, những diễn biến khí hậu bất thường đã xuất hiện thường xuyên hơn ở Việt Nam khiến mọi người bắt đầu chú ý và đã có những hoạt động ban đầu nhằm đối phó và thích ứng với hoàn cảnh mới Báo chí đã thường xuyên
có những phóng sự về biến đổi khí hậu Một số Hội thảo về Biến đổi Khí hậu đã được tổ chức ở TP HCM và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long
Ngày 20/11/2008, Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Đại học Cần Thơ (gọi tắt là Viện DRAGON-Mekong-CTU) đã ra mắt như một tổ chức hợp tác giữa Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ (USGS) và trường Đại học Cần Thơ Viện này được hình thành theo một thoả thuận giữa hai chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam sau cuộc gặp gỡ của Tổng thống Hoa Kỳ George W Bush và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng Viện này là thành viên đầu tiên của các Viện DRAGON (Delta Research and Global Observation Network– Mạng lưới Nghiên cứu Đồng bằng và Quan trắc Toàn cầu) Trong bài phát biểu ra mắt Viện, Bà Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ Anne Murray nhấn mạnh đây là cơ sở nghiên cứu khoa học đầu tiên liên
Trang 24quan trực tiếp đến biến đổi khí hậu của Việt Nam và cơ sở nghiên cứu khoa học đầu tiên của Hoa Kỳ nằm ngoài lãnh thổ của nước này Năm 2009, trường Đại học Cần Thơ đầu tiên đưa môn học “Biến đổi Khí hậu và Khả năng Thích ứng” vào chương trình giảng dạy Thạc sỹ
Ngày 27/3/2009 Uỷ ban Nhân dân Thành phố Cần Thơ đã thành lập Ban Chỉ đạo dự án “Ứng phó với Biến đổi Khí hậu tại Thành phố Cần Thơ” do một Phó Chủ tịch Tỉnh làm Trưởng Ban Uỷ Ban đang chuẩn bị phê duyệt Chương trình Mục tiêu của Thành phố Cần Thơ Ứng phó với Biến đổi Khí hậu (gọi tắt là Chương trình 158)
Đầu năm 2009, Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, trường Đại học Cần Thơ đã có dự án hợp tác với tổ chức JIRCAS của chính phủ Nhật Bản để bước đầu triển khai các hoạt động thí điểm cho Cơ chế Phát triển Sạch (Clean Development Mechanism – CDM) Mục tiêu của dự án là tìm các biện pháp giúp người dân giảm thiểu sự phát thải khí nhà kính ở địa phương
Trung tâm Học viện Công nghệ Châu Á tại Việt Nam (AITCV) đã phối hợp với Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu - Đại học Cần Thơ đã tổ chức một buổi Seminar cum Study Tour tại thành phố Cần Thơ ngày 31/3/2009 cho các quan chức cấp Bộ của Bangladesh Hai bên đã trao đổi về các tác động của biến đổi khí hậu lên cơ sở hạ tầng nông thôn của giữa hai vùng đồng bằng và tham quan một vùng công trình hạ tầng có nguy cơ hư hỏng do lũ lụt và nước biển dâng ở Cần Thơ
Năm 2008 – 2009, một số nghiên cứu thích nghi về biến đổi khí hậu đã và đang thực hiện ở một số tỉnh như Bến Tre (của Oxfam), Cà Mau (của Viện Quy hoạch Thuỷ lợi Nam bộ, của Quỹ WWF) Tổ chức GTZ (Đức) cũng đã có một số nghiên cứu ban đầu tìm phương cách thích nghi của nông dân, các doanh nhân nhỏ
và vừa ở tỉnh Trà Vinh Dự kiến trong thời gian tới, Tổ chức GTZ sẽ hợp tác với Viện DRAGON- Mekong-CTU để triển khai một dự án thí điểm giúp người dân nghèo tìm biện pháp thích nghi với biến đổi khí hậu ở tỉnh Trà Vinh
Trang 25Nhìn chung với tình hình biến đổi khí hậu như hiện nay, Việt Nam cũng như thế giới đã có nhiều văn bản, nghị định, công ước, các nghiên cứu khá đầy đủ
để có thể ứng phó và thích nghi Riêng ở ĐBSCL củng đã có nhiều nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH đến sinh kế của người dân, đặc biệt là hộ nghèo rất
dễ bị tổn thương do tác động của hạn hán và xâm nhập mặn do nước biển dâng, và các nghiên cứu cũng chỉ ra nhiều biện pháp như nâng cao ý thức của người dân về BĐKH hay cần sự hỗ trợ của các cấp chính quyền địa phương, các tổ chức phi chính phủ hay các tổ chức thế giới để người dân có thể phần nào ổn định sinh kế của mình trong bối cảnh BĐKH diễn tra mạnh mẻ như hiện nay
I.3 Các khái niệm liên quan
- Khái niệm về Nghèo và hộ nghèo
Trong một thời gian dài, các nhà kinh tế và nhiều nhà nghiên cứu đã định nghĩa giàu nghèo theo quan điểm định lượng, tức là đưa ra một chỉ số để đo lường chủ yếu nhằm đơn giản hoá việc hoạch định chính sách
Một số quan điểm về "nghèo":
Hội nghị về chống nghèo ở khu vực Châu á-Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9-1993 tại Bangkok, Thái Lan đã đưa ra định nghĩa về nghèo như sau :
" Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình
độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán của địa phương
Nhà kinh tế học Mỹ Galbraith cũng quan niệm:"Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập cộng đồng Khi đó họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực."
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 đưa định nghĩa về nghèo:"Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới một đô la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại."
Vậy tiêu chí để xác định nghèo ở nước ta là:
Trang 26Xác định nghèo là một việc khó vì nó gắn với từng thời điểm, từng quốc gia, và được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau Ở nước ta, từ khi có chủ trương xoá đói giảm nghèo, các cơ quan trong nước và quốc tế đã đưa ra những chuẩn mực để xác định tình hình đói nghèo Đó là: chuẩn mực của bộ lao động thương binh xã hội, chuẩn mực của Tổng cục Thống Kê, chuẩn mực đánh giá của Ngân Hàng Thế Giới để có cơ sở xây dựng chương trình xoá đói giảm nghèo phù hợp với tập quán và mức sống ở nước ta hiện nay
Trên cơ sở đó, bộ kế hoạch và Đầu tư đề nghị thống nhất dùng khái niệm nghèo đói theo nghĩa hẹp, và tỷ lệ là 15,5% tổng số hộ của cả nứơc năm 2006
Hộ nghèo:
Hộ nghèo là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái thất học, ốm đau không có tiền chữa trị, nhà ở rách nát (nếu theo thu nhập thì các hộ này chỉ có thu nhập bình quân đầu người của loại hộ này quy ra gạo dưới 25 kg/tháng ở thành thị, 20 kg/tháng ở nông thôn đồng bằng và trung du, dưới 15 kg/tháng ở nông thôn miền núi)
Theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 thì hộ nghèo là:
-Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
+Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
-Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên
Trang 27Xã nghèo là xã có trên 40% tổng số hộ nghèo đói, không có hoặc có rất ít những cơ sở hạ tầng thiết yếu, trình độ dân trí theo tỉ lệ mù chữ cao
Còn đối với thế giới, để đánh giá tương đối đúng đắn về sự phát triển, sự tiến bộ của mỗi quốc gia, Liên Hợp Quốc đưa ra chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội(GDP) và chỉ số phát triển con người (HDI)
- Khả năng dễ bị tổn thương của hộ nghèo
Tính dễ bị tổn thương ( TDBTT): là một khái niệm khá trừu tượng, được đề cập trong rất nhiều tài liệu và chưa thống nhất Cụ thể, một số định nghĩa về TDBTT điển hình như sau:
TDBTT là một đe dọa đến cộng đồng, bao gồm không chỉ cơ sở vật chất của cộng đồng đó mà còn cả đặc tính sinh thái, khả năng ứng phó với các tác động của cộng đồng vào mọi thời điểm
TDBTT là tính nhạy cảm của tài nguyên (tài nguyên tự nhiên, tài nguyên
xã hội) trước những tác động tiêu cực của tai biến
TDBTT là khả năng bị tổn thương của hệ thống tự nhiên – xã hội, là những đặc tính của hệ thống cho phép nó cảm nhận, ứng phó, chống đỡ và thích ứng từ những thay đổi bên ngoài tác động vào hệ thống
Theo quan niê ̣m thông thường, TDBTT thường được biểu thị thông qua cấu trúc của một hệ thống kinh tế - chính trị - xã hội hay môi trường và được tạo ra bởi
2 nhóm yếu tố là mức độ tổn thất và khả năng chống chịu Đối với các tổ chức quốc tế, đặc biệt là các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực liên quan đến tài nguyên - môi trường thì có những định nghĩa riêng về tính tổn thương tùy thuộc vào từng mục đích nghiên cứu và hoạt động:
Chương trình lương thực thế giới (WFP) và Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO) quan tâm đến tính tổn thương ở khía cạnh khủng hoảng lương thực Do đó
họ định nghĩa tính tổn thương là toàn bộ những yếu tố tác động đến con người làm cho họ mất lương thực hoặc mất an toàn thực phẩm
Cơ quan phát triển quốc tế của Hoa Kỳ thì coi tính tổn thương như là một công cụ đánh giá trong Hệ thống cảnh báo sớm nạn đói nghèo (Famine Early
Trang 28Warning System - FEWS) Họ cho rằng mọi người đều bị tổn thương nhưng ở mức độ khác nhau phụ thuộc vào nguyên nhân, diễn thế và điều kiện
Liên hợp quốc (UN, 1982) phân biệt 2 khái niệm quan trọng trong định nghĩa TDBTT Trước tiên, phân biệt TDBTT kinh tế và tính nhạy
cảm (Sensitivity) sinh thái và cho rằng tổn thương kinh tế bao gồm cả các yếu tố
sinh thái Do vậy, TDBTT phản ánh tính nhạy cảm kinh tế và sinh thái đối với những sự cố hay biến động từ bên ngoài Tiếp theo là phân biệt giữa TDBTT cấu trúc bắt nguồn từ tình hình chính trị và TBDTT bắt nguồn từ các chính sách kinh
tế Theo đó, TDBTT được coi là sự mất mát/tổn thất do các hiện tượng tự nhiên
có cường độ khác nhau
Theo quan niệm của Cục Bảo vệ Môi trường Hoa kỳ trong Chương trình đánh giá TDBTT vùng (Regional Vulnerability Assessment Programme) thì TDBTT của một hệ thống là mức độ tổn thất của hệ đó dưới tác động của một áp lực nào đó từ bên ngoài hay bên trong hệ thống Ví dụ, suy thoái chất lượng nước mặt và ô nhiễm môi trường khí là căn cứ để nhận biết TDBTT của hệ môi trường
Liên quan đến khía cạnh BĐKH, nghiên cứu và đánh giá TDBTT đã được
đề cập, thực hiện với nhiều công trình của các giả và tổ chức trên thế giới Một số khái niệm TDBTT do BĐKH điển hình có thể kể đến như:
TDBTT là khả năng tiềm tàng và sự ảnh hưởng của các tai biến trong từng bối cảnh cụ thể của xã hội, môi trường sống, BĐKH (RonBenioff, 1996)
TDBTT là sự nhạy cảm của hệ thống tự nhiên hay xã hội do những thiệt hại lâu dài từ BĐKH (IPCC, 1997)
TDBTT do BĐKH là mức độ mà hệ thống dễ bị tác động và không có khả năng chống chịu trước những tác động bất lợi (IPCC, 2007)
Như vậy, theo các định nghĩa đã có trước, thì TDBTT gồm 2 yếu tố: 1) mức
độ tổn thất, suy thoái của (hệ thống) và 2) mức độ chống chịu, thích ứng, ứng phó của đối tượng bị tổn thương Theo cách tiếp cận này, Mai Trọng Nhuận (2007) đã định nghĩa TDBTT của tài nguyên – môi trường biển là mức độ tổn thất, suy thoái
về tài nguyên – môi trường biển, mức độ chống chịu, thích ứng, ứng phó của tài
Trang 29nguyên – môi trường biển trước các tác động từ bên ngoài (tai biến và các hoạt động nhân sinh)
+ khả năng dễ bị tổn thương của các hộ nghèo đối với BĐKH
Trong sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng rõ nhất từ biến đổi khí hậu là dẫn đến mất mùa nên khả năng tái đầu tư, sản xuất của hộ nghèo là rất khó khăn vì họ thiếu vốn (nghèo), cho nên tình trạng nghèo đói của người nghèo sẽ càng nghiêm trọng hơn dưới tác động của biến đổi khí hậu
Nhà ở tạm bợ nên có nguy cơ ảnh hưởng lớn bởi sạt lở bờ sông, lũ lụt, mưa bão, nắng nóng, nhất là những hộ di cư nguồn nước ô nhiễm, không đảm bảo cho điều kiện sống, đặc biệt khi có thiên tai và thời tiết cực đoan
Hộ nghèo thường gắn với sản xuất nông nghiệp như là một nguồn thu nhập chính Trong khi đó, như đã nói ở trên, sản xuất nông nghiệp là lĩnh vực dễ bị tổn thương nhất bởi tác động của BĐKH Hộ nghèo thường là hộ có nguồn lực hạn chế, như nguồn đất dai hạn hẹp, nhà cửa và tài sản mang tính thô sơ, do vậy họ dễ
bị tổn thương hơn so với các loại hộ khác khi chịu tác động của BĐKH Hộ nghèo thường có các hoạt động sinh kế đơn điệu, do vậy khả năng đa dạng hóa các nguồn thu nhập để hạn chế tác động của BĐKH thấp hơn Hơn thế nữa, do hạn chế về nguồn lực cho nên khả năng hồi phục sau khi bị tác động bởi thiên tai của hộ nghèo thường chậm hơn so với các loại hộ khác trong cộng đồng
- Sinh kế bền vững
Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệm phát triển vào những năm đầu 1990 Tác giả Chambers và Conway (1992) định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai
Trang 30Khung sinh kế bền vững bao gồm năm nguồn vốn sinh kế: tự nhiên, xã hội, con người, vật chất và tài chính Mỗi hộ gia đình sẽ quyết định loại hình cũng như chiến lược sinh kế của mình dựa vào sự kết hợp năm nguồn vốn sinh kế nói trên cũng như môi trường chính sách, thể chế trong bối cảnh BĐKH
+ Nguồn vốn tự nhiên: là những tài sản thiên nhiên, cung cấp đầu vào cho các nguồn tài nguyên thiên nhiên và dịch vụ môi trường phục vụ sản xuất kinh tế, bao gồm 3 nhóm chính: trữ lượng tài nguyên thiên nhiên, đất đai và hệ sinh thái Các nhóm trên đóng vai trò không thể thiếu tới sự phát triển bền vững dài hạn trong việc cung cấp các “chức năng” cho nền kinh tế cũng như con người và các sinh vật khác
Tuy nhiên, những tài sản tự nhiên này từ lâu đã không được xem xét đúng mực Hậu quả là hệ sinh thái trên toàn thế giới đang bị suy thoái, ảnh hưởng tới khả năng hỗ trợ phúc lợi cho con người và tăng trưởng kinh tế bền vững Làm thế nào để phát huy vai trò của vốn tự nhiên trong các vấn đề về BĐKH cũng như lồng ghép vốn tự nhiên vào quy hoạch ngành là bài toán cần phải được thảo luận, trao đổi
+ Nguồn vốn xã hội: nguồn vốn xã hội được xem xét trên các khía cạnh như: quan hệ trong gia đình, tập quán và văn hóa địa phương, các luật tục và thiết chế cộng đồng, vai trò của các tổ chức và chính trị xã hội cũng như sự tham của người dân vào các họat động tập thể, khả năng tiếp cận và cập nhật thông tin của người dân đối với sản xuất và đời sống
+ Nguồn vốn con người: bao gồm những kỹ năng, kiến thức, những khả năng thể chất cũng như khả năng lao động và sức khỏe Đây là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất trong việc lựa chọn sinh kế cho hộ gia đình bởi lẽ trong bất kì loại hình sản xuất nào thì yếu tố con người luôn là sự quan tâm hàng đầu
+ Nguồn vốn vật chất: là cơ sở hạ tầng, vật chất, kỹ thuật, phương tiện sản xuất hoặc bao gồm cả những tài sản của cộng đồng và tài sản của các hộ gia đình Tài sản của cộng động chính là các yếu tố của cơ sở hạ tầng ( kỹ thuật và xã hội) phục vụ sản xuất và sinh hoạt như: điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế,
Trang 31công trình thủy lợi, thông tin liên lạc còn tài sản của hộ gia đình thì bao gồm tất
cả các tài sản phục vụ sản xuất và sinh hoạt của hộ
+ Nguồn vốn tài chính: Bao gồm tiền bạc, những khoản tiết kiệm, tín dụng
và những tài sản có giá trị kinh tế khác trong đó có cơ sở hạ tầng cơ bản, những thiết bị hay công nghệ trong sản xuất để phục vụ sinh kế
- Thích ứng với biến đổi khí hậu
Thích ứng với BĐKH là một khái niệm rất rộng, là một quá trình qua đó con người làm giảm những tác động bất lợi của khí hậu đến sức khỏe và đời sống
và tận dụng những cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại Thích ứng có nghĩa là điều chỉnh, hoặc thụ động hoặc phản ứng tích cực hoặc có phòng bị trước được đưa ra với ý nghĩa giảm thiểu và cải thiện những hậu quả có hại của BĐKH Thích ứng còn có nghĩa là tất cả những phản ứng đối với BĐKH nhằm làm giảm tính dễ bị tổn thương Cây cối, động vật, và con người không thể tồn tại một cách đơn giản như trước khi có BĐKH nhưng hoàn toàn có thể thay đổi các hành vi của mình để thích ứng và giảm thiểu các rủi ro từ những thay đổi đó
Trong phạm vi luận văn này, sự thích ứng được hiểu là việc người dân nắm bắt được những tác động của BĐKH đến hoạt động sản xuất và điều kiện sống, từ
đó có những điều chỉnh, những thay đổi để phù hợp với điều kiện mới
+ Thích ứng với hạn hán:
Mặc dù Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc Bán Cầu với lượng mưa hàng năm được xác định tương đối lớn, trung bình từ 1.500 – 2.000 mm (phân bố không đều theo thời gian và không gian), nhưng những diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu cùng sự quá tải về dân số, quy hoạch phát triển kinh tế –
xã hội vùng miền, quy hoạch đô thị kém hiệu quả càng làm cho tình hình hạn hán diễn ra gay gắt Theo thống kê của Cục Thủy lợi, Bộ NN&PTNT, trong vòng 46 năm từ 1960-2006, Việt Nam có tới 34 năm có hạn hán (chiếm 74%)
Các vụ hạn hán nghiêm trọng xảy ra vào các năm 1976 tại Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, hạn hán năm 1982 – 1983 tại ĐBSCL, hạn hán năm 1993, 1995-1996
Trang 32tại miền Trung làm hàng trăm ngàn ha cây lương thực, cây hoa màu bị hư hại, thiệt hại do hạn hán mỗi kỳ lên tới hàng trăm tỷ đồng
Trong 2 năm gần đây 2014, 2015, tình hình hạn hán diễn ra nghiêm trọng, nhiều tỉnh thành buộc phải công bố thiên tai hạn hán và xâm nhập mặn
Năm 2015, nắng hạn kỷ lục xảy ra tại các tỉnh Nam Trung Bộ, Tây Nguyên
và Đông Nam Bộ
Theo Trung tâm Khí tượng Thủy văn quốc gia, trong 8 tháng đầu năm
2015, lượng dòng chảy trên các sông phổ biến thiếu hụt từ 20-60% so với trung bình nhiều năm, có nơi thiếu hụt trên 80% như tại Nghệ An, Khánh Hòa Trên nhiều sông, mực nước đã giảm xuống mức thấp nhất lịch sử hoặc thấp nhất cùng
kỳ
Mùa khô 2015-2016 mới đây ghi nhận 15 tỉnh thành thuộc ĐBSCL, Tây Nguyên và Nam Trung Bộ công bố thiên tai hạn hán và xâm nhập mặn gồm ( Trong đó có tỉnh Trà Vinh)
Theo Ban chỉ đạo về phòng chống thiên tai, tính đến ngày 6/5/2016, tại các khu vực này đã có 432.863 hộ dân thiếu nước sinh hoạt, hơn 430.000 ha cây trồng
và 5.137 ha thủy sản bị thiệt hại, ước tính tổng thiệt hại gần 9.000 tỷ đồng
Trước thực trạng trên đòi hỏi các ngành, các cấp phải có biện pháp để có thể thích ứng với nó, một số biện pháp được chính quyền địa phương và người dân
áp dụng là :
Áp dụng hệ thống tưới nước nhỏ giọt ( từ mô hình của Israel), với hệ thống này người dân có thể tiết kiệm được từ 30-60% so với lượng nước tưới thông thường, nâng cao sản lượng cây trồng
Áp dụng các kỹ thuật trồng trọt tiên tiến tiết kiệm nước, với kỹ thuật này người dân được khuyến cáo nên sử dụng nước một cách hợp lý như chỉ bơm phun nước cho cây trồng vào những giai đoạn thích hợp vừa có thể tiết kiệm nước vừa không ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của cây và không bơm phun nước vào những giai đoạn không cần thiết để hạn chế nước tưới trong bối cảnh hạn hán diễn
ra phức tạp Với việc áp dụng các hệ thống, mô hình, kỹ thuật mới đòi hỏi người
Trang 33dân phải có kiến thức hơn trong hoạt động sản xuất của mình nhưng đây lại là những thích ứng chủ động để có thể duy trì sinh kế bền vững
+ Thích ứng với xâm nhập mặn:
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT), trong vụ Đông Xuân 2015 - 2016, 8 tỉnh ven biển ĐBSCL là Long An, Tiền Giang, Cà Mau, Trà Vinh, Kiên Giang, Bến Tre, Bạc Liêu và Hậu Giang đã xuống giống hơn 971.200 ha (chiếm 62,2% diện tích lúa của toàn vùng), trong đó khoảng 339.234 ha có nguy cơ bị xâm nhập mặn (chiếm 35,51% diện tích xuống giống của vùng ven biển) Cũng do tác động của xâm nhập mặn, diện tích vùng nuôi thủy sản bị thu hẹp đáng kể Hầu như toàn bộ vùng quy hoạch nuôi tôm nước lợ đều bị tác động Những vùng nuôi thủy sản ở hạ lưu sông Hậu thuộc tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng, Trà Vinh và Kiên Giang chịu ảnh hưởng nhiều nhất, có thể dẫn đến nguy cơ phá vỡ các quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản
Tình hình đó đã dẫn đến thực tế thiếu nguồn nguyên liệu tại nhiều nhà máy chế biến thủy sản trong vùng Theo Bộ NN&PTNT, trong quý 1/2016, Việt Nam
đã phải chi 228 triệu USD nhập khẩu nguyên liệu phục vụ chế biến thủy sản xuất khẩu Trong đó, nguồn cung nguyên liệu thủy sản chủ yếu đến từ Ấn Độ (34,1%),
Na Uy (8,1%), Đài Loan (6,8%), Nhật Bản (5,5%) và Hàn Quốc (5,1%)
Tình trạng xâm nhập mặn ở các tỉnh ĐBSCL đã góp phần khiến ngành nông nghiệp tăng trưởng âm lần đầu tiên sau nhiều năm Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng âm, giảm 1,23%, trong đó, ngành nông nghiệp giảm mạnh nhất là 2,69%
Trước thực tế đó, các giải pháp để chủ động ứng phó với xâm nhập mặn, hạn chế khó khăn, giảm thiệt hại đối với sản xuất nông nghiệp và các ngành kinh
tế khác đã được Chính phủ và các bộ, ngành, chính quyền địa phương tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc Tuy nhiên, vấn đề cần giải quyết về lâu dài là làm sao để ĐBSCL phát triển bền vững trong điều kiện thiên tai khắc nghiệt
Bộ TN&MT đã phê duyệt đề tài “Nghiên cứu xây dựng mô hình phát triển kinh tế ứng phó với xâm nhập mặn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long” xác lập cơ
Trang 34sở khoa học để xây dựng mô hình kinh tế ứng phó với BĐKH Đồng thời, xây dựng một số mô hình phát triển kinh tế ứng phó với xâm nhập mặn cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long; xây dựng và đánh giá hiệu quả mô hình trình diễn phát triển kinh tế thích ứng với xâm nhập mặn cho một huyện điển hình vùng đồng bằng sông Cửu Long trên cơ sở tận dụng cơ hội, chuyển hóa các thách thức từ xâm nhập mặn để phát triển kinh tế - xã hội
Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng đóng góp nhiều ý kiến về các giải pháp sống chung với mặn, đặc biệt là tái cơ cấu ngành trồng lúa, chọn hướng sản xuất thâm canh những cây trồng vật nuôi theo các hệ thống canh tác làm giàu bền vững tại vùng nhiễm mặn, có cách nhìn tổng thể về toàn bộ hệ thống của vùng và tránh việc từng địa phương phát triển riêng mà không quan tâm mức độ ảnh hưởng đến vùng khác
Tuy nhiên trên đây chỉ là những thay đổi thích ứng mang tính thụ động và
có thể bị phá vỡ bất cứ lúc nào nếu tình hình xâm nhập mặn diển ra mạnh mẽ và lâu dài
I.4 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
I.4.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường
I.4.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Cầu Ngang là một huyện:
Phía Đông giáp huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh và tỉnh Bến Tre
Phía Nam giáp Huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh
Phía Tây giáp huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
Phía Bắc giáp huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh
Toàn huyện hiện có 15 đơn vị hành chính gồm 2 thị trấn: Cầu Ngang (huyện lị), Mỹ Long và 13 xã: Hiệp Hòa, Hiệp Mỹ Đông, Hiệp Mỹ Tây, Kim Hòa, Long Sơn, Mỹ Hòa, Mỹ Long Bắc, Mỹ Long Nam, Nhị Trường, Thạnh Hòa Sơn, Thuận Hòa, Trường Thọ, Vĩnh Kim
Trung tâm hành chính huyện đặt tại thị trấn Cầu Ngang, nằm cách thành phố Trà Vinh 23 km theo quốc lộ 53 về phía tây Bắc
Trang 35Hình 1.1 Sơ đồ vị trí huyện Cầu Ngang Huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh là một huyện giàu truyền thống cách
mạng Mặc dù trung tâm huyện cách tỉnh 23km, là huyện có đồng bào dân tộc
Khmer trên 35%, đời sống còn gặp nhiều khó khăn nhưng bà con luôn cố gắng nổ
lực vươn lên trong cuộc sống Do là một huyện nông thôn nên ngành nghề chủ
yếu là nông nghiệp, cơ sở hạ tầng còn hạn chế
Trong huyện Cầu Ngang, luận văn lựa chọn 2 xã để làm địa bàn nghiên
cứu, đó là xã Nhị Trường và xã Trường Thọ vì 2 xã này vừa có hoạt động sản xuất
nông nghiệp và nuôi cá nước ngọt, không những thế còn là khu vực sản xuất lúa
chính của huyện
Trang 36Hình 1.2 Sơ đồ vị trí xã Nhị Trường, huyện Cầu Ngang
Hình 1.3 Sơ đồ vị trí xã Trường Thọ, huyện Cầu Ngang
Trang 3711, mùa khô từ tháng 12 - tháng 4 năm sau, lượng mưa trung bình từ 1.400 - 1.600
mm có điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và nuôi trồng thủy hải sản
I.4.1.3 Thủy văn
Điều kiện thuỷ văn trong huyện là kết quả phản ánh điều kiện khí hậu và địa hình Huyện Cầu Ngang có lượng mưa trung bình năm đạt ở mức cao (2500 mm/năm) và địa hình thấp tạo nên chế độ thủy văn riêng biệt của huyện Trong huyện có 2 con sông chính là sông Thâu Râu và sông Vinh Kim Trong mùa mưa
lũ nước chảy dồn kết hợp với triều cường nên nước sông lên rất nhanh có thể gây
ra ngập úng trên diện rộng Ngược lại về mùa khô, nước sông xuống thấp, do nước
ở các con sông này có độ mặn, phèn nên ảnh hưởng xấu tới sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên có thể vận dụng đặc điểm này để quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản nước mặn, lợ
I.4.2 Các nguồn tài nguyên
I.4.2.1 Tài nguyên đất
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện: 31.908,79 ha, chiếm 14,40% diện tích tỉnh Trà Vinh (221.515 ha)
Đất nông nghiệp: Diện tích 26.861,31 ha, chiếm 84.18% diện tích tự nhiên của huyện
Đất phi nông nghiệp: Diện tích 5.030,34ha,chiếm 15,76% diện tích đất tự nhiên của huyện
Trang 38Còn lại: Diện tích 17,14ha đất chưa sử dụng, chiếm 0,05% diện tích đất tự nhiên của huyện
Đất đai huyện Cầu Ngang chia thành các nhóm:
Đất giồng cát: có 4.172,62 ha, chiếm 13,08% diện tích đất
Đất phù sa: có 20.357,09 ha, chiếm 63.80% diện tích đất
Đất phèn: có 7.379,08 ha, chiếm 23.12% diện tích đất
Nhìn chung, đất đai trong huyện có sa cấu là sét đến sét pha thịt, tầng canh tác trung bình đến khá dày, thích hợp cho việc trồng lúa và các loại cây màu
I.4.2.2 Tài nguyên nước
Huyện Cầu Ngang có mạng lưới sông ngòi dày đặc Huyện có 02 con sông chính: sông Thâu Râu và sông Vinh Kim; đồng thời tiếp giáp với sông Cổ Chiên
Huyện Cầu Ngang có đặc điểm nguồn nước mặt rất đặc biệt, bao gồm ba nguồn mặn, ngọt, lợ do đó rất phù hợp cho việc canh tác đa cây, đa con của huyện Nguồn nước mặt của huyện chủ yếu được cung cấp từ sông Cổ Chiên, sông Thâu Râu, sông Vinh Kim và nguồn nước mưa Vào mùa khô do tác động của thủy triều đưa nước mặn từ biển xâm nhập sâu vào nội địa làm nhiểm mặn nước khu vực cửa sông nên khả năng cung cấp nước ngọt cho sinh họat và sản xuất gặp khó khăn, nhưng đây lại là lợi thế cho việc phát triển nuôi thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm sú Nguồn nước ngầm khá phong phú, với 3 tầng chứa nước thay đổi từ 60 - 400 m, phổ biến từ 90 - 120 m; khả năng khai thác 97.000 m3/ngày
ô nhiễm bởi hoạt động của con người do việc xử lý rác, chất thải chưa được đồng
bộ, kịp thời, do thói quen sử dụng phân bón hóa học, phun thuốc trừ sâu không theo quy định, do các phương tiện tham gia giao thông, các máy móc trong sản xuất…Ngoài ra, tác động của thiên nhiên như bão, lũ,…cũng gây áp lực mạnh đối
Trang 39với cảnh quan môi trường Sự phân hóa của khí hậu theo mùa (mùa mưa thường gây lũ lụt, xói mòn đất; mùa khô khan hiếm nước ngọt, đất đai dễ bị nhiễm mặn, bốc mặn lên bề mặt…) đã có ảnh hưởng đến môi trường sống
Để đảm bảo môi trường sinh thái phát triển bền vững trong thời gian tới, cần chú trọng phát triển và bảo tồn hệ thực vật xanh, có chính sách khuyến khích nhân dân thay đổi nếp sống sinh hoạt, giữ gìn vệ sinh sạch sẽ trong từng hộ gia đình và cộng đồng
I.4.4 Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội
I.4.4.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Những năm gần đây do tình hình kinh tế của thế giới có nhiều biến động phức tạp, khủng hoảng kinh tế toàn cầu, lạm phát đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của huyện Tuy nhiên bằng sự quyết tâm của toàn dân và sự quan tâm chỉ đạo của chính quyền địa phương, nên tình hình kinh tế trong những năm qua tương đối ổn định, tiếp tục tăng trưởng và phát triển Các chỉ tiêu cơ bản đạt theo chỉ tiêu đề ra, một số chỉ tiêu vượt kế hoạch đề
Tỷ trọng ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ có chuyển biến nhưng vẫn ở mức thấp, thu nhập chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản Trong những năm tới với xu thế phát triển kinh
tế xã hội của cả nước, huyện Cầu Ngang cần tăng cường đầu tư, đẩy mạnh sự phát triển của các ngành tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ - thương mại
I.4.4.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
- Về kinh tế nông nghiệp
Trang 40Cơ cấu giống phù hợp với điều kiện đất đai canh tác ở địa phương Đồng thời áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật đưa vào sản xuất thâm canh, đầu tư phân bón
đầy đủ, xây dựng lịch thời vụ phù hợp với điều kiện tình hình ở địa phương, thực hiện lịch gieo cấy đúng thời vụ
Về cây màu và cây công nghệp ngắn ngày: diện tích xuống giống 16.439ha, đạt 105% kế hoạch, nhìn chung cây trồng sinh trưởng phát triển khá tốt, do người người dân tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật, chọn giống năng suất cao, giá cả
ổn định
+ Chăn nuôi
Nhìn chung chăn nuôi đàn gia súc, gia cầm có xu hướng phát triển ổn định,
các loại dịch bệnh được kiểm soát tốt Tuy nhiên, tỷ lệ tiêm phòng đạt còn thấp, do nhận thức của một bộ phận người dân chưa thấy hết tác hại của sự lây lan dịch bệnh, một số ấp, xã chưa thực sự quan tâm trong việc điều tra đàn gia cầm, công tác phối hợp để thực hiện tiêm phòng chưa tốt, vì vậy tỷ lệ tiêm phòng đạt còn thấp đặc biệt là đàn gia cầm
+ Đánh bắt và nuôi trồng thủy sản
Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản là 4.832 ha, trong đó; diện tích nuôi tôm
sú là 1.846ha, tôm thẻ chân trắng là 2.986ha Sản lượng nuôi trồng là 26.178 tấn Tình hình dịch bệnh nuôi trồng thủy sản cá nước ngọt ổn định Riêng đối với tôm nước lợ, vẫn xây ra dịch bệnh đốm trắng gây thiệt hại khá lớn
- Về kinh tế công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Cùng với quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, các cơ sở sản xuất kinh doanh ngày càng gia tăng, tuy nhiên vẫn ở mức nhỏ lẻ và chủ yếu dừng lại ở sản xuất tiểu thủ công nghiệp và các làng nghề Các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp duy trì và mở rộng, toàn huyện có 1.150 cơ sở, 3.106 lao động, trong
đó có 2 làng nghề Bánh tét Trà Cuôn, xã Kim Hòa, làng nghề chế biến thủy sản thị trấn Mỹ Long, bình quân một cơ sở có từ 3-5 người làm thường xuyên Doanh thu
từ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trung bình năm từ 1-5 tỷ đồng