1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý nhà nước về biển, đảo. Vấn đề và tiếp cận

702 158 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 702
Dung lượng 12,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu trong bài viết sẽ được nhấn mạnh vào một số vấn đề sau: 1 Tổng hợp các khái niệm về khoa học tư duy hệ thống và phân tích rõ các yếu tố để nhận dạng hệ thống cũng như tư duy

Trang 1

Quản lý nhà nước về biển, đảo Vấn đề và tiếp cận

Book · December 2016

CITATIONS

0

READS506

Trang 2

TƯ DUY KHOA HỌC HỆ THỐNG VÀ TƯ DUY QUẢN LÝ TỔNG HỢP TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BIỂN VÀ HẢI ĐẢO

ÁP DỤNG KHOA HỌC TƯ DUY HỆ THỐNG TRONG QUẢN LÝ KHÔNG GIAN BIỂN

VÀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP VÙNG BỜ TẠI VIỆT NAM

(MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÙNG BỜ TÂY VỊNH BẮC BỘ

- TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG)

Thượng tướng, PGS.TS Nguyễn Văn Thành

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Thứ trưởng Bộ Công an

Hệ thống trong quản lý không gian biển là một trong những khái niệm cơ bản của khoa học

tư duy hệ thống, trong đó thể hiện sâu sắc giữa nhận thức lý luận tư duy hệ thống với hành động thực tiễn của khoa học này Nghiên cứu trong bài viết sẽ được nhấn mạnh vào một số vấn đề sau: 1) Tổng hợp các khái niệm về khoa học tư duy hệ thống và phân tích rõ các yếu

tố để nhận dạng hệ thống cũng như tư duy hệ thống trong thế giới xung quanh; 2) Quy hoạch không gian biển và áp dụng tư duy hệ thống trong quản lý không gian biển, quản lý tổng hợp vùng bờ Tây vịnh Bắc Bộ tại Việt Nam (mà cụ thể qua nghiên cứu về vùng bờ của thành phố Hải Phòng); 3) Giải pháp chung đối với quản lý không gian biển và quản lý tổng hợp vùng

bờ thực hiện theo hướng phát triển bền vững trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1 KHOA HỌC TƯ DUY HỆ THỐNG - NHẬN THỨC VÀ SỰ CẦN THIẾT

1.1 Khái niệm hệ thống (System), phân tích các yếu tố

1.1.1 Quan niệm hệ thống và những yếu tố cơ bản

Quan niệm về "Hệ thống" có lịch sử từ rất dài, ở thời cổ đại cho rằng: “Cái toàn thể lớn hơn tổng thể các bộ phận của nó”; sau đó “hệ thống” và các tính chất của nó được các nhà triết học Platon (427 - 347 TCN), Aristoteles (384 - 322 TCN) tiếp là Kant (1724 - 1804), Hegel (1770 - 1831) tiếp tục nghiên cứu phát triển

Toàn bộ hệ thống như một thực thể nguyên vẹn (nguyên khối) xác định các yếu tố cấu

trúc Theo đó, có thể hiểu: "Hệ thống là tập hợp các yếu tố liên kết với nhau và toàn bộ tập hợp đó có tính chất không thể quy về tính chất từng yêu tố, từng mối liên kết riêng rẽ Trong

Trang 3

hệ thống có các thành tố (Elements) và tạo các mối liên kết (Connections) là sự tác động, trao đổi, tương tác, ảnh hưởng, phụ thuộc giữa các yếu tố tạo mối quan hệ nhân quả"

Những yếu tố cơ bản của sơ đồ vòng tròn nhân quả thường bao gồm chứa đựng hai yếu tố "biến" và "liên kết", cụ thể là:

BIẾN là một điều kiện, trạng thái hành động hoặc quyết định có thể ảnh hưởng hoặc

bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác Biến có thể là: định lượng (ví dụ: lợi nhuận, thị phần, sức chứa, năng suất, v.v); định tính (ví dụ: động lực, tinh thần, danh tiếng…)

LIÊN KẾT chỉ ra quan hệ nhận quả hoặc thay đổi trạng thái của hai biến

Y

X

1.1.2 Phân tích hệ thống (Systems Analysis)

Có thể hiểu phân tích hệ thống là hệ thống các phương pháp và phương tiện dùng trong nghiên cứu và thiết kế chế tạo các đối tượng phức tạp và siêu phức tạp

Theo từ điển bách khoa vạn vật: Hệ thống là “tập hợp các hiện tượng và sự kiện phụ thuộc lẫn nhau và bằng phương pháp suy luận trí tuệ có thể xem xét tập hợp đó như một thể thống nhất”

Hệ thống được hiểu là tập hợp của các phần tử liên hệ qua lại bởi các mối liên kết

chức năng và tuân theo 3 nguyên tắc cơ bản sau:

Một là, các phần từ phụ thuộc lẫn nhau; tác động giữa hai phần từ đó theo một chiều

hoặc hai chiều (tác động tương tác); tùy theo mức độ và tốc độ phân biệt thành tác động

“mạnh”, “yếu”

Hai là, hệ quả xuất hiện các thuộc tính chung và liên kết giữa các phần tử tạo thành

tập hợp cấu trúc; ngược lại tập hợp các cấu trúc tác động ngược đến các phần tử

Ba là, hệ thống tác động đến thuộc tính, chức năng và sự tiến hoá của các phần tử, các

hệ thống không bị cô lập, tách biệt mà là “phần tử” của hệ thống lớn hơn và chứa đựng hệ thống nhỏ hơn

Năm 1948, ông Nobert (1894 - 1964) - nhà khoa học người Mỹ đã đưa ra lý thuyết về điều khiển hệ, tức là nghiên cứu sự điều khiển lẫn nhau của các phần tử trong mạng lưới, nhấn mạnh đến sự tác động phản hồi ”feedback” phản hồi có thể là (+) hoặc (-)

Như vậy, để có thể phân tích được hệ thống này thì trước hết cần phải tiếp cận hệ thống, xác định đó là nghiên cứu logic các tập hợp theo nguyên lý nhìn nhận sự vật, hiện

tượng một cách tổng thể

Trang 4

- Thuộc tính cơ bản của hệ tự nhiên: Hệ tự nhiên tồn tại nhờ quá trình tương tác bên

trong hệ (tương tác nội tại), tập hợp các tương tác giữa các phần tử trong hệ, các phần tử này

liên kết thành các đơn vị quy mô nhỏ và chức năng lớn hơn và tiếp tục như xậy

Hệ phát triển được là nhờ quá trình tương tác giữa hệ với hệ thống, do đó, theo nghĩa tổng quát hệ thống là một phần bất kỳ trong vũ trụ và Trái Đất; hệ tự nhiên đều vận động theo

chu trình: phát sinh - phát triển - tiến hóa - suy tàn Hiểu được vấn đề này để chúng ta tác

động nhanh chóng đến giai đoạn suy tàn hoặc làm chậm chu trình đó

Tư duy hệ thống gồm các thành phần liên kết và tác động lẫn nhau hướng tới mục tiêu được xác định: 1) Tư duy hệ thống là cách nghiên cứu tìm hiểu và nhận thức trên nguyên tắc tính toàn tổng thể (Winson -2004 p7) 2) Là cách tìm tòi thảo luận thực tế nhằm giúp chúng ta hiểu biết tốt hơn về công việc với nguyên tắc hoạt động hệ thống hiệu quả nâng cao chất lượng cuộc sống con người (Kim 1999 – P2) 3) Là cách nghĩ và hành động trên nguyên tắc

tư duy tổng thể (Bosh -2007)

- Mục tiêu tiếp cận hệ thống (Systems Approach): (i) Nghiên cứu các phương tiện, các

đối tượng như là các hệ thống; (ii) Xây dựng các mô hình khái quát về hệ thống, các loại hệ thống và nghiên cứu tính chất hệ thống; (iii)Nghiên cứu cấu trúc và lý thuyết về quan điểm,

tư duy tiếp cận hệ thống; (iv) Tìm ra phương pháp luận để điều khiển hệ trên cơ sở định lượng, mô hình hóa, toán học hóa hệ thống

1.2 Tư duy hệ thống (Systems thingking) và nhận dạng tư duy hệ thống:

1.2.1 Nhận thức

Là tư duy vận dụng các luận điểm của khoa học hệ thống vào các giai đoạn: phát sinh

- phát triển - tiến hóa - suy tàn để làm tăng hiệu quả trên cơ sở tư duy sáng tạo và năng lực

đổi mới của người sử dụng Hay nói cách khác: tư duy hệ thống là quá trình suy nghĩ của người xử lý vấn đề không chỉ để thấy, hiểu về hệ mà xử lý vấn đề trên nguyên tắc tổng thể như xem xét một vấn đề dựa trên mô hình “cây vấn đề”; “ cây mục tiêu”

Những điểm cần chú ý: mỗi vấn đề, mỗi sự vật hiện tượng đều có một hệ thống, mỗi vấn đề cụ thể là một hệ thống cụ thể

1.2.2 Nhận dạng hệ thống và tư duy hệ thống trong thế giới xung quanh

Nhận dạng hệ thống theo các đặc điểm sau:

Thứ nhất, đối với tự nhiên: có hệ vũ trụ, hệ ngân hà, hệ mặt trời;

Thứ hai, hệ sinh thái: một cây cũng là một hệ rễ, thân, cành, lá, hoa, quả….);

Thứ ba, đối với con người: có hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp; hệ tiêu hóa,…

phân tích các chỉ số thông minh trong hệ thần kinh

Tư duy hệ thống trong thế giới xung quanh, đặc biệt khi đặt trong xã hội thì được hiểu là: các tố chức, nhóm, hiệp hội… Cụ thể ở lĩnh vực giáo dục (các trường học là một hệ thống;

Trang 5

trong trường đại học tổ chức như các khoa, các phòng, các tổ bộ môn); hay trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội (gồm các vấn đề chính: biến đổi khí hậu; khủng hoảng năng lượng; khủng hoảng lương thực; ô nhiễm môi trường; phát thải các-bon; thiếu nước ngọt; vấn đề sử dụng đất; đa dạng sinh học; tăng trưởng kinh tế; dịch chuyển xã hội; đói nghèo; sức khỏe con người; sức khỏe động vật; an toàn thực phẩm; toàn cầu hóa và sự tác động; yêu cầu phát triển bền vững) Do đó, từ phân tích tư duy hệ thống về không gian biển để nhận thức rõ và xác định về vai trò, trách nhiệm của Nhà nước cần phải thực hiện trong chiến lược quy hoạch và phát triển kinh tế biển của Việt Nam.

2 QUY HOẠCH KHÔNG GIAN BIỂN, VÙNG BỜ NHẰM TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

2.1 Một số định nghĩa về quy hoạch không gian biển

Theo UNESCO (2010): "Quy hoạch không gian biển là một quá trình chung phân tích

và bố trí không gian và thời gian các hoạt động của con người tại một vùng biển để đạt được các mục tiêu sinh thái, kinh tế và xã hội thường được cụ thể hoá thông qua một quá trình quản lý Nhà nước"

Về cơ bản, quy hoạch không gian biển (QHKGB) là một công cụ quy hoạch cho phép tổng hợp, dự báo và ra quyết định phù hợp về việc sử dụng biển Nhiều nước trên thế giới đang nắm giữ công cụ này để quản lý việc sử dụng các vùng biển của mình

Chẳng hạn như ở Vương quốc Anh, Bộ Các vấn đề Môi trường, Thực phẩm và Nông thôn Liên hiệp (Department of Environment, Food and Rural Affairs (DEFRA) of the United

Kingdom) đã xây dựng một định nghĩa được sử dụng rộng rãi, đó là: "Quy hoạch có tính

chiến lược và dự báo nhằm quy định, quản lý và bảo vệ môi trường biển, bao gồm cả việc bố trí không gian, mà nhấn mạnh việc sử dụng biển đa mục tiêu, chồng gối mâu thuẫn tiềm tàng " (DEFRA, 2004)

2.2 Nội dung quản lý và quy hoạch không gian biển, vùng bờ

Theo đó, cho thấy đặc điểm cơ bản của QHKGB là tiếp cận trên cơ sở sinh thái, khu vực, tổng hợp, thích ứng, chiến lược và tham gia cộng đồng QHKGB không phải là sự kết thúc quy hoạch, mà là phương thức thực tế để tạo dựng và thiết lập việc sử dụng hợp lý hơn không gian biển và tương tác giữa chúng, để cân bằng nhu cầu phát triển với nhu câu bảo vệ môi trường và để đạt được các mục tiêu kinh tế và xã hội theo quy hoạch

Quá trình QHKGB thường tạo ra một kế hoạch chi tiết hay tầm nhìn cho một vùng biển QHKGB là một yếu tố của quản lý sử dụng biển và đại dương; các kế hoạch phân vùng

và điều chỉnh là một trong bộ các giải pháp quản lý nhằm thực hiện QHKGB Sau đó, các kế hoạch phân vùng có thể hướng dẫn cho phép hoặc từ chối cấp phép sử dụng không gian biển QHKGB chỉ là một yếu tố của quá trình quản lý không gian biển bên cạnh các yếu tố khác thực hiện, tăng cường hiệu lực, quan trắc, đánh giá, nghiên cứu, tham gia cộng đồng và tạo nguồn tài chính, tất cả cần hội đủ để tiến hành quản lý có hiệu quả theo thời gian

Trang 6

Chính vì vậy, khái niệm QHKGB còn mới không chỉ ở Việt Nam, nhưng ở chừng mực nhất định, nội hàm của quy hoạch này không hoàn toàn mới bởi tiếp cận quản lý tổng hợp vùng bờ biển ở Việt Nam đã có lịch sử 20 năm trải nghiệm Theo đó, quy hoạch bảo vệ môi trường trước hành động phát triển kinh tế - xã hội ngày càng sôi động, trước tác động của các quá trình tự nhiên sinh tai biến có xu hướng gia tăng, định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn tự nhiên đã được thực hiện dù kết quả bước đầu còn hạn chế

QHKGB không phải là quy hoạch phát triển kinh tế biển, mà là quy hoạch quản lý và

sử dụng hợp lý không gian biển để đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất theo quy hoạch phát triển Không gian biển bao gồm cả môi trường tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và vị thế của biển Theo đó, nội hàm của QHKGB là: (1) Quy hoạch quản lý môi trường biển trước sức ép phát triển kinh tế - xã hội và tác động của các quá trình tự nhiên (2) Quy hoạch sử dụng hợp

lý tài nguyên thiên nhiên và vị thế của biển Hiện trạng và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội đang tạo sức ép tới cả hệ thống tài nguyên và môi trường biển và thách thức nỗ lực quản

lý to lớn Ô nhiễm môi trường biển chủ yếu nguồn lục địa và ô nhiễm xuyên biên giới khi các

dự án đầu tư phát triển

Ngoài sức ép phát triển kinh tế - xã hội, còn có sức ép của biến đổi khí hậu, nước biển dâng tác động nặng nề đến các quốc gia ven biển, Việt Nam là một trong 5 quốc gia bị tác động nặng nề của biến đổi khí hậu và nước biển dâng

3 QUẢN LÝ BỜ TÂY VỊNH BẮC BỘ

3.1 Căn cứ pháp lý và thực tiễn

3.1.1 Các văn bản pháp quy cấp Nhà nuớc

- Luật Bảo vệ môi trường năm 2005;

- Luật Biên giới quốc gia năm 2003;

- Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004;

- Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005;

- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014;

- Luật Dầu khí năm 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí năm

2000; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí năm 2008;

- Luật Đa dạng sinh học năm 2008;

- Luật Khoáng sản năm 2014;

- Luật Biển Việt Nam năm 2012;

- Các nghị quyết, nghị định của Chính phủ: Nghị định số 57/2008/NĐ-CP ngày

02/5/2008 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý các khu bảo tồn biển Việt Nam

có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế; Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP ngày 30/5/2007 của

Trang 7

Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020; Nghị định

số 25/2009/NĐ-CP ngày 06/3/2009 của Chính phủ về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo

- Các quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày

17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền

vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam); Quyết định số 485/QĐ-TTg

ngày 02/5/2008 về việc phê duyệt Đề án “Bảo vệ các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020; Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 2 tháng 12 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Định hướng chiến lược Bảo

vệ môi trường quốc gia dến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Quyết định số TTg ngày 28/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch phát triển kinh tế biển đảo Việt Nam đến năm 2020;

- Các thông tư, công văn hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Thông tư số

19/2011/TT-BTNMT ngày 10/6/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quy định kỹ thuật

về lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo; Công văn số 3503/BTNMT-TCBHĐVN ngày 20/9/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc triển khai Chương trình quản lý tổng hợp vùng bờ

3.1.2 Hiệp định hợp tác quốc tế

- Hiệp định Phân định vịnh Bắc Bộ ký ngày 25/12/2000 tại Bắc Kinh giữa Chính phủ

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về xác định biên giới lãnh hải, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế trong vịnh Bắc

Bộ

- Hiệp định Hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ ký ngày 25/12/2000 tại Bắc Kinh giữa

Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Trung Quốc

3.1.3 Công ước quốc tế liên quan mà Chính phủ Việt Nam đã ký tham gia

- Công ước về đất ngập nước, RAMSAR 1971 (Chính phủ Việt Nam đã ký tham gia ngày 21/01/1989);

- Công ước quốc tế về an toàn tính mạng trên biển, SOLAS 1974 (Chính phủ Việt Nam đã ký tham gia ngày 18/3/1991)

- Công ước về quy tắc quốc tế tránh đâm va trên biển, COLREG 1972 (Chính phủ Việt Nam đã ký tham gia ngày 18/12/1991)

- Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu thuyền, MARPOL 1973 và Nghị định thư

bổ sung năm 1978 Chính phủ Việt Nam đã ký tham gia ngày 29/8/1991

- Công ước của Liên hợp quốc năm 1982 về Luật biển (Chính phủ Việt Nam đã ký tham gia ngày 16/11/1994)

Trang 8

- Công ước về kiểm soát vận chuyển xuyên biên giới các chất độc hại và việc loại bỏ chúng, BASEL, 1989 (Chính phủ Việt Nam đã ký tham gia ngày 11/6/1995)

- Công ước về đa dạng sinh học, 1992 (Chính phủ Việt Nam đã ký tham gia ngày 14/02/1995)

Bên cạnh các công ước quốc tế mà Chính phủ Việt Nam đã ký tham gia, còn có một

loạt công ước quốc tế đang xem xét tham gia, một loạt tuyên bố quốc tế liên quan tới bảo vệ tài nguyên và môi trường cũng được Chính phủ Việt Nam quan tâm, hưởng ứng tích cực và

có ảnh hưởng nhất định tới quyêt sách của mình, trong đó có:

- Tuyên bố Stockholm, 1972 - Một trong bốn nguyên tắc cơ bản là để quản lý hợp lý hơn và cải thiện môi trường, các quốc gia cần thông qua một hướng tiếp cận tổng hợp và điều phối kế hoạch phát triển;

- Tuyên bố Rio tại Hội nghị thượng đỉnh Trái đất (UN, 1992), Nghị sự 21, Chương 17, phần 5, đã chính thức cho ra đời quản lý tổng hợp VBB (integrated coastal zone management)

- một thể thức quản lý tiên tiến nhất hướng tới phát triển bền vững

- Tuyên bố Washington, GPA 1995, về bảo vệ môi trường biển từ các hoạt động trên đất liền

3.2 Mục tiêu quy hoạch không gian biển, vùng bờ

đã được khai thác và sử dụng từ lâu Tài nguyên thiên nhiên biển thành phố Hải Phòng vốn

đa dạng và đa dụng, cho phép phát triển đa ngành như một đòi hỏi tất yếu khách quan nhưng cần có lựa chọn ưu tiên để phát huy tối đa giá trị sử dụng tài nguyên, tránh lãng phí tài nguyên và tránh phát sinh mâu thuẫn lợi ích sử dụng trong định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên của QHKGB thành phố Hải Phòng

Quản lý môi trường biển, quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên biển trước sức ép phát triển kinh tế biển theo quy hoạch ngày một gia tăng và sức ép của thiên tai do biến đổi khí hậu có xu thế gia tăng chỉ có thể thực hiện có hiệu quả trong khuôn khổ QHKGB thành phố Hải Phòng, trước mắt đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

Đề án “QHKGB thành phố Hải Phòng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” có ý nghĩa quan trọng và cấp thiết để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển biển như được xác định trong Nghị quyết số 27-NQ/TU ngày 13/04/2009 của Ban Thường vụ Thành ủy về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X

về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020; Nghị quyết số 01/2009/NQ-HĐND ngày

Trang 9

06/05/2009 của Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng về phát triển kinh tế biển thành phố Hải Phòng đến năm 2015, định hướng đến năm 2020; Quyết định số 1274/QĐ-UBND ngày 02/08/2010 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng về việc phê duyệt Đề án Quy hoạch phát triển kinh tế biển thành phố Hải Phòng định hướng đến năm 2020

Thực hiện Quyết định số 210/QĐ-UBND ngày 15/02/2012 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng về việc ban hành Chương trình công tác năm 2012 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng và Công văn số 1478/UBND-MT ngày 23/3/2012 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, Sở Tài nguyên và Môi trường cùng Viện Tài nguyên và Môi trường biển đã xây dựng đề cương Đề án QHKGB thành phố Hải Phòng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

3.2.2 Mục tiêu đề ra

Thứ nhất, mục tiêu chung: QHKGB là khung hành động quản lý môi trường và sử dụng

hợp lý không gian biển hướng tối phát triển bền vữngvùngbiển đảo thành phố Hải Phòng, đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển

Thứ nhất, mục tiêu cụ thể: (1) Tạo hệ thống tư liệu đồng bộ về điều kiện tự nhiên, tài

nguyên thiên nhiên và môi trường biển làm cơ sở khoa học cho QHKGB Hải Phòng đến năm

2020, tầm nhìn đến năm 2030; (2) Xây dựng QHKGB biển thành phố Hải Phòng với khung hành động quản lý môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên không gian biển đặc thù cho các vùng trước sức ép phát triển kinh tế-xã hội và tác động của các quá trìinh tự nhiên liên quan tới biến đổi khí hậu; (3) Đề xuất các giải pháp thực hiện quy hoạch

3.3 Quy hoạch không gian biển của thành phố Hải Phòng

- Đối tượng nghiên cứu theo Đề án QHKGB của thành phố, gồm:

(1) Các điều kiện tự nhiên: địa hình, địa mạo, địa chất, khí hậu, thủy văn sông, hải văn, đất và thảm thực vật trên đảo, đất ngập nước ven bờ và đảo, các hệ sinh thái;

(2) Tài nguyên thiên nhiên: tài nguyên sinh vật, tài nguyên phi sinh vật, tài nguyên vị thế, quản lý khai thác và sử dụng tài nguyên; tài nguyên nhân văn: văn hoá, di tích lịch sử, khảo cổ;

(3) Môi trường tự nhiên: chất lượng các hợp phần môi trường đất, nước và không khí,

ô nhiễm môi trường, các vấn đề môi trường xuyên biên giới, thiên tai và năng lực ứng xử, quản lý môi trường;

(4) Kinh tế - xã hội: hiện trạng và quy hoạch phát triển, hệ thống thể chế và chính sách hiện hành có liên quan

- Phạm vi nghiên cứu xây dựng QHKGB thành phố Hải Phòng bao gồm cả vùng bờ biển và biển đảo

Trang 10

Về phía lục địa, phạm vi nghiên cứu được tính tới các quận huyện ven biển; về phía biển, phạm vi được tinh tới đường phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc, xác định bởi 2 đoạn thẳng nối các điểm 10 (200 24’ 05”B-1080 22’ 45”Đ) - 11 (19057’33”’B-

107056’47”’Đ) - 12 (19039’33”B-107031’40”Đ); giáp vùng biển tỉnh Quảng Ninh ở phía Đông Bắc theo đường A (20005’31”B-108004’00”Đ) nằm trên đường phân định - D (20040’ 00”B-107011’00”Đ) ở phía Bắc quần đảo Long Châu, giáp vùng biển tỉnh Thái Bình ở phía Tây nam theo đường B (19050’00”B-107047’00”Đ) nằm trên đường phân định - C (20035’00”B-106042’20”Đ) ở cửa sông Thái Bình Không gian biển thành phố Hải Phòng là

tổ hợp của 4 vùng tự nhiên, cụ thể:

(1) Vùng biển đảo Cát Bà - Long Châu gồm đảo Cát Bà, quần đảo Long Châu và vùng biển tới độ sâu khoảng 30 m xác định bởi 2 điểm E (20028’21”B-107027’32”Đ)-F (20023’00”B-107024’40”Đ);

(2) Vùng biển đảo Bạch Long Vĩ, gồm đảo Bạch Long Vĩ và vùng biển xung quanh

từ khoảng độ sâu tới đường phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc giới hạn bởi các điểm A-B-H (20011’48”B- 107016’31”Đ)-E;

(3) Vùng biển và cửa sông hình phễu Bạch Đằng, gồm đảo Cát Hải và các quận (Hồng Bàng, Ngô Quyền, Hải An, Dương Kinh và Đồ Sơn), huyện (Thủy Nguyên) ven biển

và vùng biển tới độ sâu khoảng 30 m xác định bởi 2 điểm F-G (20017’43”B-107020’39”Đ);

(4) Vùng biển và cửa sông châu thổ Văn Úc - Thái Bình, gồm các huyện ven biển Kiến Thụy, Tiên Lãng và vùng biển tới độ sâu khoảng 30 m xác định bởi 2 điểm G-H

3.4 Nội dung nghiên cứu

3.4.1 Xây dựng cơ sở khoa học cho quy hoạch không gian biển

Thứ nhất, đánh giá đặc điểm tự nhiên không gian biển thành phố Hải Phòng Bao

gồm:

(1) Phân vùng tự nhiên không gian biển thành phố Hải Phòng

(2) Đặc điểm điều kiện tự nhiên:

- Đặc điểm địa hình bờ, đảo và đáy biển;

- Đặc điểm địa mạo bờ, đảo và đáy biển; đặc điểm địa chất khu vực bờ và đảo;

- Đặc điểm môi trường địa chất vùng bờ biển và đảo;

- Đặc điểm cơ học, khoáng vật và địa hoá trầm tích;

- Đặc điểm phân bố trầm tịch biển tầng mặt tới độ sâu 1 m;

- Tốc độ lắng đọng trầm tích trong thời gian 200 năm được đánh giá bằng phân tích phóng xạ vết; đánh giá vận chuyển và lắng đọng trầm tích bằng mô hình trầm tích;

- Đặc điểm địa chất - địa vật lý đáy biển;

Trang 11

- Đặc điểm khí hậu: hoàn lưu khí quyển, gió, nắng, bức xạ mặt trời, nhiệt độ không khí, mây, mưa, ẩm, bốc hơi, sương mù, bão, dông và lốc đặc trựng cho 2 vùng - vùng biển đảo Bạch Long Vĩ, vùng bờ biển thành phố Hải Phòng từ Cát Bà-Long Châu tới Tiên Lãng

- Đặc điểm thủy văn: đặc điểm thủy văn sông ở vùng bờ biển và các đảo; đặc điểm hải văn - sóng, dòng chảy, thủy triều và mực nước, nước dâng chân tĩnh, nước dâng do bão ở 2 vùng – vùng biển ven bờ và vùng biển Bạch Long Vĩ

- Đặc điểm phân bố các hệ sinh thái trên đảo, vùng triều và dưới triều ven bờ đảo, cửa sông, vũng vịnh

(3) Kiểm kê và đánh giá tài nguyên thiên nhiên ở vùng biển, ven bờ và các đảo

- Tài nguyên sinh vật (biotic/living resources), bao gồm đa dạng sinh học (đa dạng hệ sinh thái và sịnh cánh, đa đạng loài, các loài đặc hữu và quý hiếm), tiềm năng nguồn lợi, tiềm năng bảo tồn

- Tài nguyên phi sinh vật (abiotic/non-living resources), bao gồm khoáng sản, tiềm năng phát triển, đa dạng địa chất, tiềm năng bảo tồn địa chất

- Tài nguyên vị thế (position resources), bao gồm các giá trị vị thế tự nhiên, vị thế địa kinh tế và vị thế địa chính trị

- Tài nguyên di sản (heritage values), Đây là tài nguyên có giá trị ngoại hạng, bao gồm các kỳ quan thiên nhiên (natural wonders) - kỳ quan sinh thái, kỳ quan địa chất

(4) Môi trường và thiên tai

- Đặc điểm hóa - lý cơ bản của nước biển

- Hiện trạng chất lượng các hợp phần môi trường nước và trầm tích biển

- Đặc điểm chất lượng nước và không khí vùng ven biển và các đảo

- Mô phỏng lan truyền các chất ô nhiễm tại các vùng biển

- Đánh giá tích lũy một số chất ô nhiễm trong cơ thể sinh vật các loài thực phẩm phổ biến

- Đặc điểm thiên tai ở 2 vùng - vùng biển đảo Bạch Long Vĩ và vùng ven biển và các đảo ven bờ, đặc biệt là thiên tai liên quan tới các nhiễu động nhiệt đới và nước biển dâng do biến đổi khí hậu

(5) Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường biển

Thứ hai, đánh giá hiện trạng sử dụng không gian biển thành phố Hải Phòng

(1) Phân tích hiện trạng và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng

và các quận huyện ven biển và hải đảo

(2) Phân tích định hướng chiến lược phát triển kinh tế biển thành phố Hải Phòng

Trang 12

(3) Phân tích các giá trị tài nguyên nhân văn chủ yếu: đa dạng văn hoá, di tích lịch sử văn hoá, khảo cổ và hiện trạng bảo tồn

(4) Phân tích vị trí chiến lược của không gian biển thành phố Hải Phòng trong liên kết kinh tế khu vực Bắc Bộ và trong hợp tác Việt - Trung phát triển hai hành lang và một vành đai kinh tế

(5) Phân tích sử ép phát triển sử dụng không gian biển thành phố Hải Phòng tới hệ hống tài nguyên và môi trường

(6) Phân tích hiện trạng quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên biển thành phố Hải Phòng

(7) Phân tích hiện trạng bảo tồn tự nhiên biển đảo thành phố Hải Phòng

(8) Phân tích hiện trạng quản lý môi trường, ứng xử thiên tai và biến đổi khí hậu (9) Phân tích và đánh giá tính hợp lý và bất hợp lý của hiện trạng và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội sử dụng không gian biển thành phố Hải Phòng

Thứ ba, dự báo biến đổi không gian biển thành phố Hải Phòng

(1) Dự báo biến đổi sức ép phát triển kinh tế-xã hội của các quy hoạch các cấp chồng gối và giao thoa trong khu vực, sức ép phát triển trong hợp tác quốc tế và hội nhập kinh tế thế giới

(2) Hiện trạng và dự báo ô nhiễm xuyên biên giới

(3) Dự báo biến đổi môi trường tự nhiên và hệ thống tài nguyên thiên nhiên trước tác động của con người thông qua các hoạt động kinh tế - xã hội cũng như tác động của các quá trình tự nhiên do biến đổi khí hậu

(4) Dự báo gia tăng giá trị vị thế biển thành phố Hải Phòng trong tiến trình hợp tác

và hội nhập kinh tế thế giới

3.4.2 Xây dựng quy hoạch không gian biển thành phố Hải phòng

3.4.2.1 Quan điểm xây dựng quy hoạch: một là, quan điểm nhất thể hóa: quan điểm chung

của Đảng và Nhà nước, trong đó nhấn mạnh các quan điểm kế thừa; hai là, quan điểm phục

vụ phát triển đa ngành có lựa chọn ưu tiên

3.4.2.2 Căn cứ xây dựng quy hoạch: căn cứ khoa học, căn cứ pháp lý, căn cứ thực tiễn và

kinh nghiệm quốc tế

3.4.2.3 Nội dung quy hoạch

QHKGB thành phố Hải Phòng bao gồm quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết, là

khuôn khổ hành động cần thực hiện trong ba giai đoạn như sau: 2016 - 2020, 2021 - 2025 và

2026 - 2030

Trang 13

Quy hoạch tổng thể cho toàn bộ không gian biển thành phố Hải Phòng ở tỷ lệ 1:200000 Quy hoạch chi tiết cho các vùng tự nhiên ở tỷ lệ 1:10 000-1:50 000 tương ứng

Nội hàm của QHKGB là xây dựng khuôn khổ hành động quản lý, bảo vệ môi trường,

sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và vị thế không gian biển, đảm bảo an toàn môi trường

và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng tài nguyên trước sức ép phát triển và tác động của các quá trình tự nhiên, đảm bảo an ninh - quốc phòng, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển Trên cơ sở đó xác định rõ không gian biển là không gian chiến lược đặc biệt quan trọng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đồng thời, đưa ra những giải pháp chung về quản lý không gian biển và quản lý tổng hợp vùng bờ tại Việt Nam nói chung và của thành phố Hải Phòng nói riêng nhằm mục tiêu đến năm 2020 và các giai đoạn tiếp theo, Việt Nam phấn đấu để trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển

Trang 14

ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NGUỒN NHÂN LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BIỂN VÀ

HẢI ĐẢO Ở VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

PGS.TS Triệu Văn Cường

Thứ trưởng Bộ Nội vụ phụ trách điều hành Học viện Hành chính Quốc gia

Quản lý nhà nước về biển và hải đảo có nội hàm rất rộng, đa dạng, vừa quản lý tổng hợp, vừa quản lý ngành và chuyên ngành liên quan đến phạm vi quản lý nhà nước của hầu hết các ngành, lĩnh vực như công thương, xây dựng, giao thông vận tải, du lịch, nông nghiệp và phát triển nông thôn, tài nguyên và môi trường, khoa học và công nghệ, ngoại giao, quốc phòng,

an ninh Trong phạm vi bài viết này, nguồn nhân lực quản lý nhà nước về biển và hải đảo được xem xét, tập trung vào nguồn nhân lực trong quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo Những nội dung này hiện nay thuộc phạm vi quản lý nhà nước của ngành tài nguyên và môi trường, một ngành đa lĩnh vực được hình thành trên cơ sở hợp nhất nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước và đang thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trên 08 lĩnh vực, bao gồm: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa chất; môi trường; khí tượng thuỷ văn; biến đổi khí hậu; đo đạc, bản đồ; viễn thám; quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo

Việt Nam là một quốc gia ven biển có những ưu thế và vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng đối với khu vực và trên thế giới Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, biển luôn gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của đất nước và con người Việt Nam Với chiều dài đường bờ biển trên 3.260 km, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa rộng gấp khoảng ba lần diện tích đất liền, biển Việt Nam chứa đựng nhiều hệ sinh thái quan trọng và nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng Trong 63 tỉnh, thành phố của nước ta, có 28 tỉnh, thành phố ven biển và là nơi sinh sống của hơn 1/5 dân số

cả nước

Là một quốc gia ven biển, với vị trí địa lý chiến lược, Việt Nam đã có quá trình phát triển kinh tế - xã hội gắn liền với việc quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên biển Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã xác định đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn

Để thực hiện mục tiêu phát triển nêu trên, việc củng cố, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực QLNN về biển và hải đảo có năng lực, trình độ, chất lượng, công tác hoạch định và thực thi các chính sách phát triển nguồn nhân lực; trong đó việc đào tạo, bồi dưỡng nhằm bảo

Trang 15

đảm nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu QLNN ề biển và hải đảo trong hiện tại và tương lai là yêu cầu cấp thiết hiện nay

1 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NGUỒN NHÂN LỰC QUẢN

LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BIỂN VÀ HẢI ĐẢO

1.1 Nguồn nhân lực QLNN về biển và hảo đảo

1.1.1 Nguồn nhân lực ngành tài nguyên và môi trường

Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành tài nguyên và môi trường, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong ngành đã phát triển nhanh về số lượng, trưởng thành một bước về chất lượng, thích nghi dần với nền kinh tế thị trường và có những đóng góp đáng kể trong sự nghiệp phát triển của ngành tài nguyên và môi trường nói riêng, phát triển kinh tế - xã hội nói chung Hiện nay, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong toàn ngành tài nguyên và môi trường từ trung ương đến cơ sở rất lớn - có khoảng trên 65.000 người; chưa kể đến lực lượng lao động ngoài ngành có liên quan đang làm việc trong các khu vực của nền kinh tế quốc dân

Đội ngũ công chức, viên chức và người lao động của ngành ở cấp trung ương: có khoảng 1.200 công chức đang công tác tại các đơn vị QLNN và gần 11.000 viên chức, người lao động làm việc trong các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp

Về cơ cấu công chức: tại các đơn vị trực thuộc Bộ hiện có hơn 80 chuyên viên cao cấp; hơn 1.000 chuyên viên chính và tương đương; khoảng 5.000 chuyên viên và tương đương Về cơ cấu chức danh nghề nghiệp viên chức: tính đến năm 2014, các chức danh viên chức hạng II (tương đương ngạch chính) tại các đơn vị thuộc Bộ có khoảng 630 người1

Theo trình độ đào tạo khối QLNN có: 8% tiến sỹ; 23% thạc sỹ; 61% đại học; số còn lại có trình độ thấp hơn; khối sự nghiệp có 2% tiến sỹ; 5% thạc sỹ; 43% đại học; 50% còn lại

có trình độ dưới đại học Chia theo độ tuổi có: 24% trên 50 tuổi; 62% từ 30 đến 50 tuổi; 14% dưới 30 tuổi Đa số viên chức công tác tại các đơn vị sự nghiệp hoạt động điều tra cơ bản, dự báo như các liên đoàn địa chất, khoáng sản và tài nguyên nước; các đài, trạm, trung tâm khí tượng thủy văn; các trung tâm, doanh nghiệp điều tra, quan trắc về đo đạc, bản đồ, đất đai,

1 Dự thảo Đề án điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển nhân lực ngành tài nguyên và môi trường giai đoạn

2016 - 2020

Trang 16

môi trường, biển, hải đảo Tuy nhiên, số viên chức có trình độ cao, được đào tạo cơ bản tại Liên Xô (cũ) và các nước xã hội chủ nghĩa trước đây đã nghỉ hưu hoặc chuẩn bị nghỉ hưu

Bên cạnh đó, đội ngũ công chức, viên chức làm công tác tài nguyên và môi trường ở các ngành, lĩnh vực QLNN khác có khoảng 10.000 người (chưa kể lực lượng cảnh sát môi trường và lực lượng sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp về tài nguyên và môi trường trong quân đội)

Đến nay, toàn quốc đã có 223 khu công nghiệp được thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ (171 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động); có 12 tập đoàn kinh tế nhà nước và hàng chục tổng công ty nhà nước, trong đó đa số đều có nhân sự chuyên trách về tài nguyên và môi trường, ước tính có khoảng 20.000 người1

Bảng 1 Cơ cấu công chức tại Bộ Tài nguyên và Môi trường

và biến đổi khí hậu đang thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, cơ cấu đội ngũ chưa hợp lý Hiện nay, công chức, viên chức có chuyên môn ở lĩnh vực quản lý đất đai chiếm tỷ lệ khá lớn, trong khi công chức, viên chức có chuyên môn về môi trường, địa chất khoáng sản, tài nguyên nước, quản lý biển, hải đảo, biến đổi khí hậu, khí tượng thủy văn còn rất thiếu

Phần lớn số công chức, viên chức được đào tạo về các chuyên ngành kỹ thuật, thiếu các kỹ năng quản lý Trong khi đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực ngành tài nguyên và môi trường còn bất cập Chính sách thu hút học sinh, sinh viên học tập một số chuyên ngành liên quan về tài nguyên và môi trường chưa được quan tâm xây dựng dẫn đến tình trạng một

1 Dự thảo Đề án điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển nhân lực ngành tài nguyên và môi trường giai đoạn

2016 - 2020

Trang 17

số ngành, chuyên ngành được đào tạo tràn lan trong khi một số ngành ít có sinh viên, học sinh theo học (như ngành quản lý biển và hải đảo ) Số công chức, viên chức, chuyên gia được đào tạo trình độ cao ở các nước tiên tiến trên thế giới trước đây đã nghỉ hưu hoặc chuẩn

bị nghỉ hưu hiện nay chưa có đội ngũ chuẩn bị kế cận, bổ sung Thực trạng nêu trên đòi hỏi phải có chiến lược, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có năng lực, có chuyên môn sâu, nhiệt huyết, trí tuệ, đáp ứng nhu cầu nhân lực trước mắt cũng như lâu dài của ngành tài nguyên và môi trường và nhu cầu của xã hội

b) Nhân lực ngành tài nguyên và môi trường ở địa phương

Theo số liệu thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đội ngũ công chức, viên chức ngành tài nguyên và môi trường ở địa phương có 33.600 người: ở cấp tỉnh có khoảng 12.600 người, cấp huyện có khoảng 9.000 người và ở cấp xã có trên 12.000 người; trong đó,

có khoảng 20.200 công chức: cấp tỉnh có khoảng gần 4.000 người, cấp huyện khoảng 5.200 người và cấp xã trên 11.000 người Về trình độ đào tạo: đại học và sau đại học chiếm 15%; trung học chuyên nghiệp chiếm 48,1%; sơ cấp 10,8%; chưa qua đào tạo chiếm 26,1%

Cơ cấu độ tuổi của công chức, viên chức thuộc hệ thống quản lý tài nguyên và môi trường ở địa phương có độ tuổi trẻ hơn so với hệ thống ở Trung ương (<30 tuổi: 31%, từ 30 đến 50 tuổi: 56,1%; trên 50 tuổi: 12,8%)

Về cơ cấu nhân lực giữa các ngành chuyên môn đang có sự mất cân đối: nhân lực quản lý đất đai chiếm 52,2% nguồn nhân lực, trong khi nhân lực tài nguyên nước và khí tượng thủy văn chiếm 1,2%, địa chất khoáng sản chiếm 1,8% tổng số nhân lực, nhân lực được đào tạo ở các chuyên ngành khác chiếm tới 30,8%

Bảng 2 Một số thông tin về công chức ngành tài nguyên

và môi trường ở địa phương

3 Chuyên ngành đào tạo

(Nguồn: Dự thảo Đề án điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển nhân lực ngành tài nguyên

và môi trường giai đoạn 2016 - 2020)

Trang 18

Trình độ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức địa phương không đồng đều, đặc biệt

là cấp huyện và cấp xã còn yếu chuyên môn, tập trung nhiều ở lĩnh vực quản lý đất đai, trong khi đó cán bộ, công chức có chuyên môn về môi trường, địa chất khoáng sản, tài nguyên nước, quản lý biển, hải đảo, biến đổi khí hậu, khí tượng thủy văn còn rất thiếu Khối lượng nhiệm vụ hiện nay tại địa phương chủ yếu vẫn tập trung giải quyết các vấn đề về quản lý đất đai; tuy nhiên, các vấn đề khác, nhất là về quản lý môi trường, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, biển, hải đảo (đối với các địa phương có biển) ngày càng trở lên cấp thiết Thực

tế hiện nay, các địa phương đang đứng trước tình trạng khan hiếm nhân lực có trình độ cao về chuyên môn nghiệp vụ Việc tuyển dụng người có năng lực chuyên môn, được đào tạo chính quy ở các chuyên ngành về tài nguyên và môi trường rất khó khăn, kể cả ở các đơn vị cấp sở

c) Đánh giá chung

So sánh mặt bằng chung về trình độ thì công chức khối QLNN có trình độ cao hơn so với viên chức các đơn vị sự nghiệp Đội ngũ công chức đã bước đầu đáp ứng yêu cầu công tác quản lý, trong khi đó đội ngũ viên chức cần được tăng cường đào tạo nâng cao trình độ, đặc biệt là trình độ sau đại học mới đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, ứng dụng, triển khai khoa học kỹ thuật phục vụ công tác quản lý nhà nước

Về năng lực quản lý, hầu hết các cán bộ quản lý lớn tuổi của ngành được đào tạo cơ bản về chuyên môn, có bề dày kinh nghiệm, nhưng chậm tiếp thu phương pháp quản lý mới cũng như ứng dụng công nghệ mới Đối với thế hệ cán bộ trẻ của ngành, đa số được đào tạo

cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ, năng động, sáng tạo, nắm bắt nhanh những phương thức quản lý mới; nhưng chưa có nhiều kinh nghiệm quản lý cũng như nắm bắt tình hình thực tế của ngành Một số cán bộ quản lý của ngành còn lúng túng trong công tác quản lý công việc

và quản lý nhân viên trong bối cảnh kinh tế thị trường và toàn cầu hóa Việc quản lý những nội dung công việc mới, những con người mới được điều chuyển từ các vị trí, đơn vị khác nhau tiềm ẩn những khó khăn, thách thức trong quản lý văn hoá tổ chức và quản lý nhân viên Hơn nữa, nhiều cán bộ quản lý hầu như chưa được đào tạo các kỹ năng quản lý nhân viên, quản lý nhóm làm việc “Tính chuyên môn” của các nhà quản lý ngành rất cao trong khi đó

kỹ năng quản lý lại thiếu Các cán bộ quản lý ngành tài nguyên môi trường phần nhiều trưởng thành từ các cán bộ chuyên môn giỏi, hầu hết chưa được đào tạo về kỹ năng quản lý, kinh tế

Do đó, họ gặp phải nhiều khó khăn trước yêu cầu mới về công tác quản lý mang tính tổng hợp, phải phối hợp đa ngành, đa lĩnh vực

Tình trạng quá tải trong công việc khiến cho các cán bộ quản lý nhiều khi sa vào giải quyết các công việc sự vụ, chưa dành nhiều thời gian cho các hoạt động mang tính chiến lược cũng như các hoạt động nghiên cứu thực tiễn Điều này ảnh hưởng tới chất lượng của các quyết định mà nhà quản lý đưa ra

Đối với các cán bộ, công chức chuyên môn của ngành, phần lớn xuất thân từ cán bộ

kỹ thuật; quen làm việc với các vấn đề mang tính kỹ thuật, việc thực hiện các chức năng QLNN với họ còn mới mẻ và còn nhiều khó khăn Tinh thần, thái độ phục vụ và ý thức trách

Trang 19

nhiệm của một bộ phận cán bộ công chức chưa cao, kỹ năng giao tiếp chưa tốt ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ

Cơ cấu đội ngũ cán bộ, công chức chưa phù hợp: số cán bộ, công chức được đào tạo

về kỹ thuật nhiều hơn số cán bộ công chức được đào tạo về nghiệp vụ quản lý, kinh tế Số cán bộ, công chức có chuyên ngành đào tạo phù hợp với vị trí công tác không nhiều; tỷ lệ cán

Trong những năm qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ cùng với các bộ, ngành khác có liên quan đã có nhiều cố gắng trong công tác đào tạo

và phát triển nhân lực ngành tài nguyên và môi trường Tuy nhiên, nguồn nhân lực này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế do sự bất cập cả về số lượng, chất lượng cũng như cơ cấu ngành nghề, hầu hết các lĩnh vực quản lý đều thiếu công chức, viên chức, đặc biệt là ở các cấp địa phương Trong khi đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng, thu hút, sử dụng nhân lực ngành tài nguyên và môi trường còn nhiều hạn chế và bất cập

1.1.2 Thực trạng nhân lực trong lĩnh vực biển và hải đảo

Số lượng công chức, viên chức hiện có khoảng 950 người; trong đó, cấp trung ương khoảng 800 người, cấp địa phương khoảng 150 người

a) Cấp trung ương:

Tính đến nay, thực trạng nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực biển và hải đảo ở Tổng cục Biển và hải đảo Việt Nam xấp xỉ 800 công chức, viên chức và người lao động, cụ thể:

- Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ được đào tạo của công chức, viên chức: tiến sỹ, chiếm tỷ lệ là 5%; thạc sỹ: tỷ lệ: 22%, trình độ khác: tỷ lệ: 73%

Trang 20

- Về cơ cấu theo ngạch của công chức, viên chức: chuyên viên cao cấp và tương đương tỷ lệ: 1,3%; chuyên viên chính và tương đương tỷ lệ: 20%; còn lại có số lượng: 337, tương ứng tỷ lệ: 78,7%

- Về cơ cấu cán bộ theo chuyên ngành đào tạo của công chức, viên chức: 1) Các chuyên ngành đào tạo về tài nguyên nước, thủy lợi, khí tượng thủy văn biển, hải dương học:

76 người, chiếm 17,8%; 2) Các chuyên ngành đào tạo về mỏ, địa chất, địa vật lý biển: 57 người, chiếm 13,3%; 3) Chuyên ngành đào tạo về môi trường, sinh thái học: 20 người, chiếm 4,7%; 4) Chuyên ngành đào tạo về đo đạc bản đồ, viễn thám: 113 người, chiếm 26,5%; 5) Chuyên ngành đào tạo về kinh tế: 78 người, chiếm 18,3%; 6) Chuyên ngành đào về luật, quản

lý hành chính có: 27 người, chiếm 6,3%; 7) Chuyên ngành đào tạo về ngoại ngữ có 40 người (bao gồm cả những người có bằng đại học thứ 2), chiếm 9,4%; 8) Các chuyên ngành khác (tin học, sư phạm ) có 17 người, chiếm 3,7%

Bảng 3 Cơ cấu nguồn nhân lực của Tổng cục Biển và hải đảo

2 Cơ cấu ngạch công chức

3 Chuyên ngành đào tạo

Tài nguyên nước, thủy lợi, khí tượng thủy văn biển, hải

(Nguồn: Dự thảo Đề án điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển nhân lực ngành tài nguyên

và môi trường giai đoạn 2016 - 2020)

b) Cấp địa phương

Thực hiện Thông tư liên tịch số 26/2010/TTLT-BTNMT-BNV ngày 05/11/2010 của

Bộ Tài nguyên và Môi trường - Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và biên chế của Chi Cục biển và hải đảo trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường (được thay thế bởi Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV ngày 28/8/2014) hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài nguyên và Môi trường thuộc

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh), đến nay cả nước đã có

Trang 21

22/28 Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ven biển thành lập Chi cục Biển và hải đảo

Về lĩnh vực quản lý biển và hải đảo, Sở Tài nguyên và Môi trường có biên chế công chức theo dõi lĩnh vực này là khoảng 07 người Ở cấp huyện và cấp xã hiện nay vẫn chưa có cán bộ chuyên trách về lĩnh vực biển, đảo

Tại bộ phận quản lý tổng hợp các vấn đề về biển, đảo thuộc các Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh ven biển và cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện ven biển, huyện đảo: số lượng cán bộ được đào tạo chuyên môn về lĩnh vực biển nhìn chung rất hiếm, chủ yếu là cán bộ được đào tạo hoặc có kinh nghiệm làm công tác trong các lĩnh vực đất đai, môi trường, thuỷ sản

Tại một số Sở Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân tỉnh có điều chuyển một

số ít cán bộ, công chức làm công tác thủy sản sang tăng cường Số lượng cán bộ, công chức làm công tác biển đảo ở địa phương chưa ổn định, tại nhiều nơi phải kiêm nhiệm các lĩnh vực khác có liên quan đến chuyên môn được đào tạo Chưa có đơn vị sự nghiệp và viên chức sự nghiệp phục vụ riêng cho công tác quản lý biển đảo ở địa phương Một số đơn vị sự nghiệp thuộc các lĩnh vực công nghệ môi trường, thông tin dữ liệu, điều tra quy hoạch đất đai thuộc

Sở Tài nguyên và Môi trường vẫn phải đảm nhận luôn các dịch vụ liên quan đến địa bàn biển, hải đảo Ở địa phương nguồn cán bộ, công chức được đào tạo cơ bản về các ngành khoa học liên quan đến biển có rất ít

c) Đánh giá khả năng đáp ứng của nguồn nhân lực

Đội ngũ công chức, viên chức làm công tác điều tra cơ bản và nghiên cứu về tài nguyên - môi trường biển của nước ta còn phân tán, thiếu công chức, viên chức có trình độ cao, đặc biệt là vấn đề hẫng hụt nguồn kế cận

Có thể thấy rằng, phần lớn công chức, viên chức có chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực biển, hải đảo tập trung ở các đơn vị sự nghiệp, trước hết là những đơn vị sự nghiệp được thành lập trước đó, hoạt động trong lĩnh vực biển Còn trong khối quản lý nhà nước, số công chức được đào tạo có trình độ chuyên môn sâu về biển (ví dụ: hải dương học, kinh tế hàng hải, kinh tế thủy sản, luật biển quốc tế ) tương đối ít

Qua điều tra, khảo sát, tỷ lệ công chức, viên chức tham gia trực tiếp tại các đơn vị sự nghiệp được đào tạo bài bản hoặc đúng chuyên ngành còn thấp so với yêu cầu Chỉ khoảng 40% công chức, viên chức có chuyên môn phù hợp tại các đơn vị sự nghiệp Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ của công chức, viên chức tại các đơn vị sự nghiệp là rất lớn (94% số lượng công chức, viên chức được điều tra/phỏng vấn trực tiếp xác định có nhu cầu lớn về bồi dưỡng nâng cao trình độ)1 Trong đào tạo, bồi dưỡng, mới chú trọng đến đào tạo,

1 Dự thảo Đề án điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển nhân lực ngành tài nguyên và môi trường giai đoạn

2016 - 2020

Trang 22

bồi dưỡng nguồn nhân lực điều tra cơ bản, chưa chú trọng đến đào tạo, bồi dưỡng nhân lực quản lý

Có tình trạng mất cân đối với lực lượng nhân lực điều tra cơ bản, quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển giữa trung ương và địa phương Ở các địa phương, nhân lực làm công tác điều tra cơ bản rất ít và hầu hết cán bộ quản lý phải kiêm nhiệm Thiếu hụt nghiêm trọng một đội ngũ có năng lực, kinh nghiệm về quản lý tài nguyên và môi trường biển phù hợp với đòi hỏi của hướng tiếp cận tổng hợp Số lượng cán bộ trình độ cao, có năng lực quản lý tốt, nắm rõ việc vận dụng nguyên tắc quản lý tổng hợp trong tổ chức triển khai công tác còn rất ít

1.2 Thực trạng công tác đào tạo, phát triển nhân lực ngành Tài nguyên và môi trường giai đoạn 2012 - 2015

1.2.1 Kết quả đạt được

Công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực phát triển nhân lực ở trung ương và tại các địa phương nhìn chung đã đáp ứng được một phần nguồn nhân lực cho ngành, trong đó: tổng số tiến sỹ được đào tạo là khoảng 165 người; khoảng 1.000 người đã được đào tạo trình độ thạc sỹ; đào tạo mới hoặc chuyển đổi và đào tạo nâng cao 1.375 cán bộ có trình độ đại học các chuyên ngành về tài nguyên và môi trường

Bên cạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng dài hạn, Bộ đã quan tâm tới công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức của ngành nói chung, đội ngũ chuyên gia, cán bộ khoa học

và công nghệ nói riêng Hàng năm, Bộ đã tổ chức trung bình 50 khóa đào tạo, bồi dưỡng cho khoảng 5.000 - 7.000 lượt cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật Các nội dung bồi dưỡng tập trung vào việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; trang bị cho công chức, viên chức những kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý và tiêu chuẩn ngạch công chức và hạng viên chức

Thông qua các chương trình, đề án, dự án hợp tác với nước ngoài, hàng năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức được nhiều lớp nghiệp vụ quản lý, nâng cao trình độ chuyên môn trong nước và cử hàng trăm lượt cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng ở ngoài nước, qua

đó tiếp cận với phương pháp quản lý, khoa học công nghệ của các nước tiên tiến trên thế giới

Công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ quản lý tài nguyên

và môi trường ở các cấp địa phương cũng được chú trọng và được sự quan tâm của của các cấp chính quyền Với sự hỗ trợ của Bộ Tài nguyên và Môi trường, mỗi năm có hàng nghìn lượt cán bộ đã được qua các khóa đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ Đồng thời, Bộ đã hỗ trợ các Sở Tài nguyên và Môi trường biên soạn các tài liệu hướng dẫn

về chuyên môn và tổ chức đào tạo giáo viên cho địa phương

1.2.2 Về các cơ sở đào tạo

Trang 23

Cả nước hiện có khoảng 80 cơ sở đào tạo có mở ngành đào tạo nhân lực về lĩnh vực tài nguyên và môi trường; trong đó có khoảng 20 cơ sở đào tạo trình độ thạc sỹ và tiến sỹ; khoảng 20 cơ sở có thành lập khoa, viện và trung tâm nghiên cứu; 60 cơ sở có đào tạo một số chuyên ngành như địa chất, khoáng sản, trắc địa, bản đồ, quản lý đất đai, viễn thám, khí tượng, thủy văn, quản lý môi trường, quản lý tài nguyên nước, ứng phó với biến đổi khí hậu

Các cơ sở giáo dục đại học đào tạo trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường với quy

mô lớn gồm các trường đại học: Quốc gia Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh; Bách khoa Hà Nội, Xây dựng, Mỏ - Địa chất, Thủy lợi, Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, Nông lâm - Thái Nguyên, Nông lâm - Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Huế; Học viện Nông nghiệp Việt Nam Các cơ sở giáo dục đại học này hàng năm đã đào tạo hàng trăm thạc sỹ và tiến sỹ, hàng nghìn kỹ sư về lĩnh vực tài nguyên và môi trường phục vụ phát triển kinh tế đất nước Trong đó, các cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, gồm: các trường đại học: Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh; các Viện Khoa học: Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, Địa chất và Khoáng sản, Đo đạc và Bản đồ đã tham gia tích cực vào công tác đào tạo nguồn nhân lực cho ngành và cho xã hội, tập trung vào các lĩnh vực: Địa chất, Khoáng sản, Môi trường, Khí tượng, Thủy văn, Quản lý đất đai, Đo đạc bản đồ Trong 4 năm (2012 - 2015) các trường Đại học đã đào tạo khoảng 2.300 người có trình độ đại học và đang đào tạo bậc đại học cho khoảng 10.000 người; trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường miền Trung đã đào tạo được khoảng 1.170 người có trình độ cao đẳng; các viện trực thuộc Bộ

đã và đang đào tạo trình độ tiến sỹ cho 57 người; từng bước đáp ứng nhu cầu nhân lực của ngành, của xã hội

Trong đào tạo nhân lực quản lý biển và hải đảo, hiện nay, các ngành và chuyên ngành đào tạo chủ yếu liên quan bao gồm: ngành khoa học quản lý biển; chuyên ngành luật biển; chuyên ngành quản lý tài nguyên biển; chuyên ngành quản lý môi trường biển; chuyên ngành khoa học công nghệ biển Chưa có chuyên ngành QLNN về biển và hải đảo

Hiện nay, ở Việt Nam, các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực liên quan đến biển và hải đảo tập trung ở một số cơ sở đào tạo lớn là: 1) Đại học Quốc gia Hà Nội: Khoa Địa lý, Khoa Địa chất, Khoa Khí tượng Thủy văn và Hải dương học, Khoa Môi trường, Khoa Sinh học; 2) Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: Khoa Địa chất, Khoa Vật lý - Vật lý kỹ thuật, Khoa Sinh học, Khoa Môi trường; 3) Đại học Mỏ - Địa chất: các chuyên ngành được đào tạo bao gồm: Địa chất khu vực, Địa chất biển, Cấu trúc - Kiến tạo, Cổ sinh - Địa sử, Địa hoá, Thạch học, Khoáng sản, Tìm kiếm - Thăm dò, Địa chất Công trình - Địa kỹ thuật, Địa chất Thuỷ văn, Địa chất mỏ, Địa chất Môi trường, Nguyên liệu khoáng, Địa sinh thái và Công nghệ Môi trường; 4) Đại học Xây dựng: đào tạo chuyên ngành xây dựng các công trình biển (ngoài khơi) ở các bậc kỹ sư, thạc sỹ và tiến sỹ kỹ thuật; 5) Đại học Thủy Lợi: Khoa Kỹ thuật biển, Khoa Môi trường, Khoa Thủy văn và Tài nguyên nước; 6) Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và một số Viện: Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam hiện có 3 Viện nghiên cứu biển là Viện Hải dương học (tại Nha Trang - Khánh Hoà), Viện Tài nguyên và Môi trường

Trang 24

biển (tại Thành phố Hải Phòng) và Viện Địa chất và Địa vật lý biển (tại Hà Nội) Ngoài ra, còn một số Viện như Viện Nghiên cứu Hải sản, Viện Khí tượng thủy văn và môi trường…

Về ngành nghề đào tạo: có 60 ngành nghề đào tạo chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực: địa chất biển; địa chất dầu khí; địa chất môi trường ven biển và biển nông ven bờ; giao thông hàng hải; điều khiển, máy tàu; đóng tàu; kỹ thuật tàu biển; nuôi trồng thủy sản; chế biến hải sản Tuy nhiên, các ngành nghề chủ yếu là đào tạo về chuyên môn, kỹ thuật; chưa đào tạo nhân lực quản lý

1.3 Một số tồn tại và hạn chế

Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác về biển và hải đảo ở các bộ, ngành khá đa dạng song chủ yếu làm chuyên môn sâu Cán bộ, công chức ở các Sở Tài nguyên và Môi trường lại là cán bộ kiêm nhiệm Cán bộ, công chức QLNN về biển và hải đảo hạn chế cả về

số lượng và chất lượng Ở cấp trung ương, nhân lực có chuyên môn sâu, kinh nghiệm trong lĩnh vực biển, hải đảo tập trung ở các đơn vị sự nghiệp; cán bộ, công chức QLNN có trình độ chuyên môn sâu còn ít Ở địa phương, cán bộ, công chức QLNN về biển và hải đảo rất thiếu Nguồn nhân lực còn mất cân đối bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân trong đó một nguyên nhân quan trọng là chưa xác định rõ nhu cầu nguồn nhân lực để các cơ sở đào tạo có thông tin, xây dựng chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu này Hiện nay các trường chưa có chuyên ngành đào tạo riêng về quản lý biển và hải đảo Giữa các cơ sở đào tạo, cơ quan QLNN và các đơn

vị sự nghiệp làm dịch vụ công về biển còn thiếu phối hợp

Về cơ bản, công tác đào tạo, bồi dưỡng đã đáp ứng được một phần yêu cầu xây dựng

và phát triển nguồn nhân lực cho ngành Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu QLNN hiệu lực và hiệu quả về biển và hải đảo, công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực có trình

độ cao cho ngành vẫn còn không ít những bất cập, mất cân đối giữa các ngành, lĩnh vực Nhiều lĩnh vực quản lý mới của ngành chưa được các cơ sở đào tạo quan tâm xây dựng chương trình và tuyển sinh kịp thời, dẫn đến thiếu hụt nguồn nhân lực cả ở trung ương và địa phương; đặc biệt là đào tạo, bôi dưỡng chuyên sâu về QLNN về biển và hải đảo chưa được chú ý đúng mức và có các bước đi phù hợp

Việc đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý và cán bộ hoạch định chính sách ở trung ương và địa phương đối với lĩnh vực biển và hải đảo mới bước đầu tập trung vào tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin biển, hải đảo; pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển, hải đảo; về khắc phục và giải quyết hậu quả sự cố tràn dầu trên biển; về phòng chống thiên tai, khắc phục sự cố môi trường biển, hải đảo, Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ cho biển, đảo hiện nay tập trung chủ yếu vào lĩnh vực nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản, khí tượng thủy văn biển, kỹ thuật tàu thủy, kỹ thuật xây dựng trên biển, giao thông vận tải trên biển, hải dương học Nhiều ngành đào tạo liên quan tới môi trường biển, sinh thái biển, địa chất, địa vật lý và khoáng sản biển, quản lý biển, quy hoạch phát triển kinh tế biển, luật biển, hải dương học chưa có các chương trình riêng

Trang 25

Một trong những vấn đề ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vụ QLNN về biển và hải đảo là vấn đề việc làm và thu nhập Thực tế cho thấy, số lượng việc làm liên quan tới các lĩnh vực khoa học, kinh tế và quản lý biển còn nhiều hạn chế nên sinh viên được đào tạo theo các ngành này sau khi ra trường tìm được việc làm nhưng công việc vất vả lại có thu nhập không cao Do vậy, các ngành đào tạo về biển thường khó nhận được những sinh viên giỏi

2 GIẢI PHÁP ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NGUỒN NHÂN LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BIỂN VÀ HẢI ĐẢO

Thứ nhất, đánh giá hiện trạng và dự báo đúng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của

toàn hệ thống QLNN về biển và hải đảo để lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực trung hạn

và dài hạn, cùng với việc xây dựng cơ chế, chính sách đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm khuyến khích cán bộ khoa học, quản lý đảm nhận các công tác trọng yếu và công tác tại những vùng biển đảo Đồng thời, xác định trọng tâm, trọng điểm đào tạo nhân lực cho giai đoạn trước mắt để kịp thời đáp ứng yêu cầu quản lý cấp bách đặt ra

Thứ hai, có chính sách ưu tiên, khuyến khích, hỗ trợ để nhanh chóng mở các khoa,

ngành đào tạo chuyên về quản lý biển và hải đảo tại các cơ sở đào tạo lớn của đất nước, trước mắt tập trung vào các trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Đà Nẵng, Học viện Hành chính Quốc gia để đào tạo chính quy, bài bản nhân lực có trình độ đại học và trên đại học trong lĩnh vực này Xây dựng và phát triển Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh thành trường trọng điểm quốc gia, trong đó, có đào tạo nhân lực về quản lý biển và hải đảo Xây dựng và đưa vào hoạt động Trung tâm Đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức, cán bộ tài nguyên và môi trường trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường để đào tạo, bồi dưỡng về quản lý biển và hải đảo cho các công chức, viên chức, cán bộ tài nguyên và môi trường các cấp kiến thức, kỹ năng về quản lý biển và hải đảo Tăng cường năng lực các viện thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường bảo đảm điều kiện đào tạo các chuyên gia đầu ngành về quản lý biển và hải đảo

Thứ ba, trước mắt cần ưu tiên đầu tư, tập trung đào tạo lại, bổ sung, phát triển kiến

thức cho đội ngũ cán bộ, công chức QLNN về biển và hải đảo các cấp; chú trọng đội ngũ lãnh

đạo, quản lý, đối tượng trong diện quy hoạch lãnh đạo, quản lý và cán bộ hoạch định chính

sách; ưu tiên đào tạo cán bộ có trình độ cao, chuyên gia đầu ngành cho cấp trung ương và cấp tỉnh Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cán bộ ở cấp cơ sở

Triển khai mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo kế hoạch, bảo đảm công tác đào tạo, bồi dưỡng gắn với tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và theo quy hoạch, kế hoạch đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; chú trọng bồi dưỡng kỹ năng mềm và năng lực tham mưu, đề xuất cơ chế chính sách của cán bộ, công chức QLNN về biển và hải đảo

Trang 26

Cần ưu tiên tăng số chỉ tiêu đào tạo dài hạn bằng nguồn ngân sách nhà nước tại các cơ

sở đào tạo đại học, sau đại học trong nước và ngoài nước cho đội ngũ cán bộ, công chức các

cơ quan QLNNvề biển và hải đảo

Tăng cường hợp tác, trao đổi chuyên gia nhằm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ với những nước bạn có trình độ quản lý biển tiên tiến, các tổ chức quốc tế đã thiết lập quan hệ đối tác về lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ cần thiết về quản lý tổng hợp biển đảo với nước ta

Chú trọng tổ chức thực hiện đào tạo bồi dưỡng các nghiệp vụ chuyên sâu cho cán bộ các cơ quan QLNN về biển và hải đảo ở trung ương qua các chương trình dự án trọng điểm cấp nhà nước và dự án hợp tác quốc tế

Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức QLNN về biển và hải đảo tập trung vào:

- Đào tạo lại, bồi dưỡng ngắn hạn nhằm cập nhật kiến thức chuyên môn nghiệp vụ hàng năm cho cán bộ, công chức

- Đào tạo dài hạn sau đại học theo hướng chuyên sâu cho các chuyên gia đầu ngành về lĩnh vực biển đảo

- Đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức những kiến thức

cơ bản về quản lý nhà nước, kinh tế, kỹ thuật, khoa học công nghệ, lý luận chính trị, quốc phòng an ninh

- Đào tạo, bồi dưỡng các chuyên gia về kỹ năng lập và phân tích, đánh giá, quy hoạch

sử dụng biển, đảo, giải quyết các vấn đề về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường biển đảo

- Đào tạo, bồi dưỡng về kỹ năng quản lý, khai thác, sử dụng thông tin dữ liệu tài nguyên môi trường bản đồ biển nói chung và công tác thiết lập, quản lý hồ sơ các vùng biển nhạy cảm, vùng bờ cần bảo vệ

- Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng về lập, triển khai và đánh giá hiệu quả chương trình, kế hoạch quản lý tổng hợp vùng bờ

- Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng về xây dựng và tổ chức thực hiện phương án phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển

- Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng tổ chức các hoạt động điều tra, nghiên cứu, tuyên truyền, thu hút sự tham gia của cộng đồng vào quá trình quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và môi trường biển

- Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghiên cứu khoa học, công nghệ biển, giải quyết các vấn đề có tầm vĩ mô về biển

Đa dạng hoá các hình thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với từng đối tượng trong đó cần ưu tiên đào tạo lại đội ngũ công chức, viên chức ở trung ương và địa phương hiện nay bằng hình thức đào tạo qua công việc thực tế, tham quan, học hỏi, tập huấn kỹ năng, nghiệp

Trang 27

vụ, kiểm tra chuyên môn thông qua các hoạt động khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế về biển và hải đảo Đối với cán bộ, công chức trẻ cần có kế hoạch đào tạo dài hạn, chính quy ở các bậc đại học khác nhau trong và ngoài nước Kết hợp giữa đào tạo, bồi dưỡng trong nước với đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài; đào tạo, bồi dưỡng bằng nhiều hình thức, trình độ khác nhau

Tổ chức bồi dưỡng kiến thức về QLNN về biển và hải đảo cho đại biểu khối dân cử (Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp của các địa phương có biển); cán bộ của các cơ quan Đảng; cán bộ trung, cao cấp trong lực lượng vũ trang

Đưa chuyên đề “QLNN về biển và hải đảo” vào chương trình bồi dưỡng các lớp cao cấp lý luận chính trị, chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính

Thứ tư, xây dựng, hoàn thiện chương trình, giáo trình; biên soạn và xuất bản tài liệu

phục vụ đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu về QLNN về biển và hải đảo

Cần sớm triển khai xây dựng giáo trình chuẩn cho đào tạo QLNN về biển và hải đảo đảm bảo cập nhật thông tin về quản lý biển và hải đảo của thế giới và thực tế trong nước, xác định rõ nội dung và nhiệm vụ QLNN về biển và hải đảo Trong đó, tập trung vào các nội dung cơ bản như quản lý tổng hợp tài nguyên biển và hải đảo dựa trên tiếp cận hệ sinh thái, hoạch định các chính sách, lập quy hoạch, phân vùng phát triển bền vững các vùng biển, luật biển quốc tế, bảo vệ môi trường biển, hải dương học (Oceanography - một ngành khoa học tổng hợp trí thức cơ bản về tự nhiên của biển và đại dương), quản lý và phát triển kinh tế biển Nội dung quản lý tổng hợp tài nguyên biển và hải đảo là nội dung trọng yếu trong đào tạo nhân lực QLNN về biển và hải đảo; lồng ghép nội dung này vào các chương trình đào tạo

về quản lý môi trường, bảo tồn và sử dụng tài nguyên thiên nhiên; các chương trình đào tạo các ngành khoa học, công nghệ, kinh tế biển

Do đặc thù của biển, công tác phát triển nguồn nhân lực QLNN về biển và hải đảo phải gắn liền với đào tạo chuyên môn, quản lý biển phải có chuyên môn sâu Do vậy, đội ngũ cán bộ QLNN về biển và hải đảo cũng phải được trang bị các kiến thức cơ bản về khoa học khí tượng thuỷ văn biển, địa chất, địa vật lý biển, sinh vật, hệ sinh thái biển, tài nguyên biển… Việc đào tạo nhân lực quản lý biển bao giờ cũng gắn bó chặt chẽ với đào tạo về khoa học kỹ thuật biển, để đảm bảo những người tham gia quản lý biển hiểu biết về những quy luật

tự nhiên, kinh tế xã hội biển và hảo đảo, đảm bảo hiệu quả của việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật cũng như thực hiện quản lý biển đảo một cách hiệu quả

Khẩn trương xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình khung về đào tạo, bồi dưỡng kiến thức QLNN về biển và hải đảo từ trung ương xuống địa phương nhằm trang bị một cách tổng quát, toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về QLNN của Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Quyết định số 163/QĐ-TTg ngày 25/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt

Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 - 2025

Trang 28

2 Báo cáo tổng kết Dự án “Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, quy hoạch, kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công tác nghiên cứu, điều tra và quản lý tài nguyên - môi trường biển, khí tượng thủy văn biển Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” -

Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2012 (thuộc Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên, môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn 2020)

3 Dự thảo Đề án điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển nhân lực ngành tài nguyên

và môi trường giai đoạn 2016 - 2020 (http://www.monre.gov.vn/wps/portal/vanbanduthao)

4 Thông tư liên tịch số 26/2010/TTLT-BTNMT-BNV ngày 05/11/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường - Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và biên chế của Chi Cục biển và hải đảo trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường

5 Thông tư liên tịch số 50/2014/TTLT-BTNMT-BNV ngày 28/8/2014 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tài nguyên và Môi trường thuộc

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

Trang 29

THÀNH PHỐ XANH VEN BIỂN: TỔNG QUAN CÁC THÁCH THỨC

TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI

GS.TS Luc Hens

Viện Nghiên cứu Phát triển vùng Flander, Vương quốc Bỉ Tổng biên tập Tạp chí Môi trường và Phát triển bền vững (VITO)

Thượng tướng, PGS.TS Nguyễn Văn Thành

Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Thứ trưởng Bộ Công an

TS Trần Đình Lân

Viện trưởng Viện Tài nguyên và Môi trường biển

Các thành phố sở hữu hơn một nửa dân số thế giới, mỗi tuần có 1,4 triệu lượt chuyển đến và

đi, chiếm mật độ cao nhất về tài sản và phát sinh hơn 85% tổng GDP toàn cầu Phần lớn các thành phố nằm ở ven biển hoặc ở các cửa sông chính, chính vì vậy, vị thế này hỗ trợ chúng phát triển nhanh thành các thành phố ven biển cùng với vùng nước xanh quan trọng

Ý tưởng về thành phố sinh thái gắn liền với các vấn đề môi trường mà các thành phố

đã phát triển phải đối mặt như: gia tăng đô thị hóa và hiện đại hóa, loại bỏ các di sản công nghiệp của những thập kỷ trước và suy giảm sự hấp dẫn cũng như chất lượng cuộc sống Các thành phố thải ra lượng cacbon lớn, là các điểm nóng ô nhiễm không khí và ô nhiễm nước, hiện trạng khan hiếm đất và khủng hoảng sử dụng đất và các thành phố cũng là nơi sản xuất chất thải cực lớn Điều này không những tác động đến chất lượng môi trường mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người Các tác động này trong thực tế là “các căn bệnh hiện đại” như tiểu đường: tỉ lệ và nguy cơ của tiểu đường típ 2 bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm không khí; có tồn tại mối liên hệ phức tạp và đa dạng giữa “bệnh tiểu đường ở đô thị” và biến đổi khí hậu (IDF, 2015) Các thành phố ngày càng nổi lên như là vị trí chủ chốt kết nối giữa biến đổi khí hậu, chất lượng môi trường và sức khỏe

Các đô thị ven biển đang đối mặt với các thách thức cụ thể do sự phát triển của họ Bài báo này tập trung vào 3 thách thức chính:

(-) Do có vị trí nằm gần biển hoặc ở ven các sông lớn, các đô thị này là đối tượng nhạy cảm nhất đối với tác động của biến đổi khí hậu Sự kết hợp của lũ lụt, bão và nước biển dâng có vai trò đáng kể gây tổn thất tài sản Phân tích về thiệt hại do lũ lụt ở 136 thành phố

lớn nhất ven biển (Hallegate et al., 2013) cho thấy, tổng chi phí trong 2005 ước tính khoảng

6 tỉ USD, con số này được dự đoán sẽ tăng lên 60 - 63 tỉ USD vào năm 2050 Điều này chứng

tỏ các chi phí chuẩn bị cho các hiểm họa lớn hơn mà chúng trải qua hôm nay được dự báo sẽ trở lên cực lớn

Trang 30

(-) Thiếu nước sạch ngày càng gia tăng ở nhiều đô thị ven biển Do dân số gia tăng, thực tế quản lý và sử dụng đất thay đổi, gia tăng áp lực vào nguồn dự trữ và lượng sử dụng nước sạch Gia tăng lượng chất thải không được xử lý đầy đủ gây ô nhiễm sông và biển, tiêu diệt các loại cá và tác động đến dịch vụ hệ sinh thái Việc quản lý nước đô thị một cách tổng hợp, toàn diện trong toàn bộ chu trình nước tỏ ra ngày càng phức tạp Hình thức quản lý này liên quan đến rất nhiều vấn đề khác: an ninh nước (độ tin cậy của nước cấp), chất lượng nước, nước uống, khai thác, phân bố, vệ sinh, hạ tầng, bảo tồn tài nguyên, đa dạng sinh học, tính hấp dẫn, sự tham gia của cộng đồng

(-) Nhiều thành phố ven biển có các cảng, là một nhân tố xác định trong phát triển bền vững của thành phố Cảng và khu vực cảng đang đối mặt với các vấn đề môi trường về ô nhiễm nước (dầu, hóa chất), chất lượng trầm tích (PCBs, hydrocarbons, tributyltin, kim loại nặng), chất thải (từ tàu và từ vận hành cầu cảng, nước dằn), sử dụng năng lượng (dầu nặng được tàu thuyền sử dụng), vận tải (bao gồm hàng hóa nguy hại) và vận tải tổng hợp, sử dụng đất (mất đa dạng sinh học) Phát triển bền vững của cảng cần thiết một hệ thống quản lý môi trường giải quyết các vấn đề có liên quan đó

Mỗi một các tiếp cận chỉ hiệu quả khi kết hợp với một tầm nhìn dài hạn về phát triển cảng gắn liền với sự phát triển thành phố, một quy hoạch kinh tế dài hạn và có sự tham gia

tích cực của nhiều nhóm người có lợi ích liên quan (Tran Dinh Lan et al, 2014)

(-) Bên cạnh đó, các đô thị ven biển còn đối mặt với loạt các vấn đề “xanh” khác mà

họ cần phải giải quyết Một số các vấn đề đó bao gồm: giao thông, rạn san hô, nguồn đa dạng sinh học biển, đô thị hóa, việc bổ sung các phân khu khác nhau dựa và chất lượng môi trường (ví dụ du lịch bền vững), đô thị hóa, công nghệ phát thải xanh, các tòa nhà xanh và hiểm họa địa chất

Thành phố xanh là một đáp án quan trọng để giải quyết các vấn đề này Thành phố xanh có ô nhiễm không khí thấp ở mức độ không gây ra nguy hiểm đối với sức khỏe con người hay môi trường vật lý của đô thị, xây dựng một chính sách về chất lượng và sử dụng nước, phấn đấu hướng đến phát thải chất thải bằng không - đó là cac-bon trung tính và cung cấp một lượng đầy đủ về khả năng tiếp cận không gian xanh cho mỗi cư dân đô thị (Lucarelli and Roe, 2012)

Các thành phố giáp biển hoặc ven các sông lớn cần chú ý đặc biệt đến nền kinh tế dựa vào biển Cảng và khu vực cảng đang đối mặt với các vấn đề môi trường cụ thể (không gian

và ô nhiễm) và cần có những hệ thống quản lý môi trường tiên tiến, hỗ trợ bởi sự hợp tác của tất cả các bên có lợi ích liên quan Hệ thống này sẽ giải quyết các vấn đề về giao thông quá tải do vận hành của cảng gây ra, hướng tới các giải pháp dài hạn và bền vững

Những thách thức này cần có các quá trình ra quyết định mới Quy hoạch dài hạn, bao gồm cơ sở hạ tầng xanh, đầu tư hệ thống vào các khu vực tự nhiên (cả trên đất liền và trong môi trường biển), cải tiến công nghệ sạch hơn (trong xử lý nước thải, công nghệ phát thải ít

Trang 31

cacbon, quản lý xử lý và ngăn ngừa chất thải tiên tiến, mái nhà xanh và đất ngập nước (nhân tạo)) Việc giám sát các khía cạnh này cần được cấu trúc và tổ chức có phản hồi Đây được xem như là các công cụ thiết yếu cho thế hệ cán bộ lãnh đạo tiếp theo ở các thành phố ven biển

1 VỀ QUÁ TRÌNH CHUYỂN HÓA ĐÔ THỊ

Hơn 50% dân số thế giới sống ở các thành phố; quá trình chuyển hóa đô thị (bao gồm

cả môi trường nước, không khí và đất) tiêu thụ khoảng 65% nguồn tài nguyên thiên nhiên, chủ yếu là thu hút từ bên ngoài lãnh thổ; điều này dẫn đến khoảng 70% tổng lượng khí phát

thải do con người gây ra (Varol và nnk, 2010; Schnitzer, 2015) Các thành phố bắt đầu phát

triển ở nước Anh trong suốt thế kỷ 18 với lượng người nhập cư Các thành phố trên toàn thế giới đã tăng trưởng 3% trong năm 1800, tăng lên 50% vào năm 2008 Với một kịch bản kinh

tế không có gì thay đổi thì tốc độ tăng trưởng các thành phố dự kiến khoảng 60% vào năm

2030 và 70% vào năm 2050 (Khazaei và Razavian, 2013) Mặt khác, các thành phố trên toàn

thế giới vừa giữ gìn di sản văn hóa quan trọng và họ sống và làm việc trong đó Trung tâm thành phố trở thành đường đi bộ, phương tiện cơ giới được di chuyển trên tuyến đường vành đai xung quanh thành phố, vận tải công cộng tăng, sự xuất hiện trở lại của xe đạp và giao thông gây ảnh hưởng đến chất lượng không khí được cải thiện và số vụ tai nạn giảm Điều này dẫn đến chất lượng môi trường được cải thiện, góp phần cho chất lượng cuộc sống tốt hơn đối với người dân, công nhân và khách du lịch

Các mục tiêu và thách thức lớn của thành phố bền vững trong tương lai:

- Về mặt môi trường: các thành phố nên phát triển nhiều cây xanh, phát thải carbon ở

mức trung bình, chất thải bằng không (tất cả các chất thải được sử dụng như là một nguồn tài nguyên), nguồn nước mặt không ô nhiễm và nguồn nước sinh hoạt chất lượng tốt, sử dụng tối

ưu nguồn đất hiếm hoi

- Về mặt xã hội: thành phố nên đưa ra một môi trường lành mạnh, đáp ứng với thay

đổi xu hướng nhân khẩu học (như già hóa dân số và di cư), và cung cấp một điều kiện sống

an toàn, công bằng (thu nhập, cơ hội) Nơi mà người dân không phải chịu đựng và được đáp ứng nhu cầu thay đổi nhà ở

- Về các thành phố: đều phải đối phó với một thay đổi tăng trưởng và đa dạng hóa nền

kinh tế

Các thành phố cảng chính có vai trò đặc biệt quan trọng trong khía cạnh:

- Xử lý vấn đề ô nhiễm môi trường và tràn dầu, thu hút phát triển kinh tế với bảo vệ

đa dạng sinh học tại các cảng và đương nhiên cảng có cơ hội lớn để hoạt động trên một không gian tiết kiệm, hiệu quả

- Các cảng chi phối đời sống kinh tế - xã hội của chính thành phố đó

Trang 32

- Các thành phố cảng có tính quốc tế, nơi gia tăng về đa dạng dân tộc và các nền văn hóa Tuy nhiên, thành phố cũng phải đáp ứng nhu cầu nhà ở cụ thể với số dân của thành phố

đó

- Cảng có một vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi kinh tế cho thế hệ sau Họ

là cốt lõi trong việc thực hiện cả phát triển xanh và kinh tế biển (Griggs et al., 2013)

Những khía cạnh khác nhau về những gì thành phố dự kiến sẽ nhận ra trong những thập kỷ tới, được kết hợp trong tầm nhìn về thành phố tương lai, nhằm xây dựng một nơi tốt đẹp hơn, an toàn hơn và công bằng hơn đáng sống cho người dân Mặc dù không có ngoại lệ, các định nghĩa khái quát chung đều được chấp nhận tồn tại, các thành phần chính của tầm nhìn đa ngành và tổng hợp cần thực hiện:

- Thành phố lành mạnh: Những năm 70 thế kỷ XX, Tổ chức Y tế thế giới tại châu Âu

đặt trọng tâm vào chất lượng môi trường thể chất và xã hội như là điều kiện tiên quyết về sức khỏe của con người Sự cần thiết của cách tiếp cận như vậy dần dần trở nên rõ ràng hơn là kết quả của bệnh tật và tử vong khác nhau giữa các thành phố và vùng xung quanh Sự xuất hiện của cái gọi là "bệnh văn minh chỉ là biểu hiện của xu hướng: 2 người thoát khỏi khổ đau từ bệnh tiểu đường sống tại các thành phố; tỷ lệ mắc và nguy cơ bệnh tiểu đường loại 2 cũng bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm bụi trong không khí; sự liên kết đa dạng và phức tạp giữa "tiểu đường

ở đô thị" và thay đổi khí hậu (IDF 2015) WHO đầu tư phát triển các khái niệm về "thành phố

lành mạnh" và truyền bá ý tưởng thông qua các sáng kiến với các đại học và các bên có lợi ích liên quan khác

- "Thành phố xanh" nổi lên từ những thách thức của bước ngoặt những nhược điểm

của thành phố hậu công nghiệp (ô nhiễm, suy thoái đô thị, sử dụng tài nguyên tiêu hao) thành

cơ hội Họ tập trung vào một môi trường lành mạnh trong đó hướng tới xanh hóa là một thành phần chính, bên cạnh phát thải cacbon ở mức trung bình, và quản lý môi trường xuất

sắc (không rác thải) và dịch vụ (Lucarelli và Roe, 2012)

- "Các thành phố bền vững" tập trung vào việc kết hợp các khía cạnh môi trường, xã

hội và kinh tế Ở đó có một cách nhìn công bằng giữa các thế hệ, hướng tới các cộng đồng sống tốt hơn Một định nghĩa tuân thủ của một thành phố bền vững : "một thành phố bền vững là một thành phố mà có các điều kiện sống theo đó tôi có thể tạo ra cho các thế hệ sau

cũng được sống trong cùng một điều kiện” (Castel, 2010) Khái niệm này bao trùm trong nội

dung của "Chương trình nghị sự địa phương 21", một sáng kiến quốc tế của chính quyền địa

phương về việc thực hiện Chương trình nghị sự của Rio 21 (UN, 1992) Hội nghị Rio + 20

đặt trọng tâm vào những cơ hội của một nền kinh tế xanh, đặc biệt cũng tại cấp địa phương

(UN, 2012) Trong quy hoạch đô thị, các thành phố bền vững là mục tiêu cốt lõi của phong

trào "đô thị hóa mới" (Godschalk, 2007)

- "Thành phố thông minh" là chính sách tổng hợp gần đây của các thành phố đáng

sống trong tương lai Kết hợp ba khái niệm đã nói trên cho thấy tính hiệu quả như là một

Trang 33

thành phần thiết yếu Điều này có thể đạt được, ít nhất là một phần, bởi sự phát triển công

nghệ tiên tiến (Avin và Holden, 2000; Giffinger et al, 2007; Taghvaei, 2013) Phát triển công

nghệ tiên tiến dựa vào các dịch vụ hệ sinh thái của môi trường đô thị công bằng "Thông minh" có nghĩa là sáng tạo, có kỹ năng toàn diện và bền vững Mô hình, quan điểm đa chiều mới này tích hợp vào các thành phố xanh, bền vững và khỏe mạnh

Những phân tích trên cho thấy rằng, khái niệm "thành phố xanh" đặc biệt đối với các thành phố ven biển thay đổi mạnh theo thời gian và kết quả là gia tăng sự phức tạp Bài viết này đánh giá các yếu tố quan trọng của quá trình chuyển đổi năng lượng ở các thành phố xanh và các vấn đề liên quan đến tiêu thụ nước và chất lượng Bài viết sẽ chi tiết hơn về các mối quan hệ giữa cảng và đô thị ở các thành phố ven biển chính và "tòa nhà xanh" Đây là bốn thách thức quan trọng đối với các thành phố xanh theo nghĩa chuyển đổi Tuy nhiên, đây không phải là những thách thức duy nhất mà là minh họa đóng góp trong mô hình thay đổi sau này của môi trường đô thị được xây dựng Đối với từng khía cạnh cả hai yếu tố chung và

cụ thể tại Việt Nam được thảo luận

2 QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI NĂNG LƯỢNG

Năng lượng là cần thiết cho phúc lợi kinh tế - xã hội ở mọi quy mô môi trường, từ địa phương đến toàn cầu Hiện nay, hầu hết năng lượng được sản xuất một không cách bền vững Nhiên liệu hóa thạch (dầu mỏ, than đá, khí tự nhiên chiếm cơ bản hơn 90% sản lượng năng lượng thương mại toàn cầu, trong khi nguồn tài nguyên bền vững như năng lượng mặt trời, nước, gió (cả trên đất liền và ngoài khơi) hoặc năng lượng địa nhiệt không được tận dụng Sự kết hợp không rõ ràng về phát triển năng lượng nguyên tử an toàn tạo ra lượng phát thải CO2 tăng nhanh chóng mà khi kết hợp với các khí nhà kính khác trong khí quyển đã gây ra biến đổi khí hậu Các khía cạnh môi trường vật lý như tan băng ở vùng cực và núi băng cũng như nhiệt độ tăng và cường độ, tần suất bão ngày nay thay đổi nhanh hơn so với bất kỳ mô hình

dự báo cách đây 20 năm Hơn nữa, do con người có tính thích nghi và thành công nhất định trong việc thiết lập các chính sách giảm nhẹ trên toàn thế giới cho vấn đề toàn cầu này, cũng như tác động của nó đối với đói nghèo và bất bình đẳng xã hội cho phép hướng tới chuyển đổi cấp thiết sang các nguồn năng lượng bền vững

Người ta uớc tính rằng, ở mức tiêu thụ như hiện nay trong suốt thế kỷ XXI này, chúng

ta sẽ đi vào một thời kỳ khan hiếm năng lượng toàn cầu Cải tiến kỹ thuật trong sản xuất, chuyển giao, phân phối và tiêu thụ có thể sẽ không bổ sung năng lượng dự trữ không tái tạo Ngược lại, các nguồn năng lượng tái tạo là thích hợp đáp ứng nhu cầu (định tính và định lượng) cho năng lượng của tương lai một cách bền vững Nguồn năng lượng tái tạo nổi bật thực sự với lợi thế về môi trường và xã hội khi so sánh với các loại nhiên liệu hóa thạch, và chúng chắc chắn có tính khả thi về mặt kinh tế Tuy nhiên, các giải pháp nên đi xa hơn việc

sử dụng năng lượng hiện tại dựa trên bảng điện mà sử dụng năng lượng trong quá trình xây dựng nhiều hơn năng lượng tạo ra Ngược lại, gió thông minh, sử dụng năng lượng mặt trời,

Trang 34

dòng hải lưu và quang hợp là đủ để đáp ứng nhu cầu năng lượng của thế hệ mai sau (De Las

Heras, 2014)

Ngoài chuyển đổi sang nguồn năng lượng sạch và tái tạo, các lựa chọn chính sách khác cũng cần xem xét Đặc biệt quan trọng là khái niệm không cacbon và cacbon âm

(Kennedy và Sgouridis, 2011) Các thành phố không cacbon trong vành đai xanh khi mà

lượng lớn cacbon được giảm thông qua chuyển hóa trong đô thị Thành phố không cacbon đã thiết lập một chính sách năng động về mở rộng không gian xanh tương ứng với chính sách giảm thiểu phát thải CO2 do khuyến khích đi bộ, tiết kiệm năng lượng, phục hồi chu kỳ sống

tự nhiên Các thành phố cacbon âm là biến chuyển một bước tiến hợp lý so với các thành phố không cacbon, loại bỏ CO2 từ không khí nhiều hơn lượng phát thải ra và do đó hoạt động như một trung tâm lưu trữ carbon Một khái niệm có liên quan là một nền kinh tế carbon thấp, chủ yếu bao gồm tiêu thụ điện ít hơn với một lượng khí thải khí nhà kính phù hợp và hạn chế Điều này nên được thực hiện với sự can thiệp của công nghệ sạch hơn trong kỹ thuật và kinh

tế, cùng với chính sách phù hợp và hướng tới mục tiêu Nghiên cứu hiện nay cho thấy rằng cả hai giải pháp thành phố không carbon và carbon âm đều khả thi

Đặc biệt, khu vực ven biển phải đối mặt với những rủi ro liên quan đến biến đổi khí

hậu (IPCC, 2007, 2014, Ngân hàng Thế giới, 2010) Điều này chắc chắn áp dụng cho Việt Nam, nơi các cộng đồng ven biển dễ bị ảnh hưởng bởi cơn bão nhiệt đới (Dasgupta et al,

2009; Nguyen et al, 2011; Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012), Việt Nam với chiều dài hơn

3.000 km đường bờ biển cũng chịu ảnh hưởng trên, phần lớn nền kinh tế diễn ra ở đó Hơn nữa, phát triển đô thị giáp với biển và nhiều cửa sông chính và phía sau sườn núi có bãi biển chạy quanh, vùng đất trũng nông nghiệp và đông dân cư dễ bị tổn thương nhất đối với lũ lụt ảnh hưởng đến cộng đồng dân cư ở đó Các khu vực ven biển của Việt Nam phải đối mặt với

ba rủi ro chính có liên quan đến biến đổi khí hậu (IPCC, 2007, 2014; UNDP, 2007; Dasgupta

et al., 2009): hạn hán, nước biển dâng, và điều kiện thời tiết khắc nghiệt Hiệu ứng xấu của những hiện tượng này gây ra lũ lụt và xói mòn và đem đến rủi ro các tai nạn trên biển Trong

số này, tai nạn với sản xuất và vận chuyển dầu và khí tự nhiên thu hút sự chú ý thường xuyên Thông tin chi tiết về các tác động gần đây ở miền Bắc Việt Nam được cung cấp trong khung

1

Trang 35

Cần phải nhấn mạnh rằng cơ sở hạ tầng của cảng, các hoạt động liên quan và các thành phố cảng nói chung dễ bị tổn thương do nước biển dâng và bão

Tất cả các mối rủi ro liên quan đến biến đổi khí hậu đang gia tăng tại các khu vực ven biển Tổn thất trung bình toàn cầu trong năm 2005 được ước tính là khoảng 6 tỷ đô la trên năm, tăng lên 52 tỷ đô la vào năm 2050 Điều này cho thấy sự cần thiết phải đầu tư vào các biện pháp phòng ngừa và chuẩn bị cho thảm họa còn lớn hơn so với những gì chúng ta đối

mặt ngày hôm nay (Hallegate et al., 2013) Cả hai hoạt động phòng ngừa và phục hồi đòi hỏi

ngân sách cho đô thị cần được tăng cường Thật khó định lượng bao nhiêu kinh phí khi chưa

có gì chắc chắn

3 NƯỚC NGỌT

Nước ngọt khan hiếm, phân bố không đều trên hành tinh xanh này Nước ngọt khan hiếm vì nói chung chỉ một phần ba nước trên toàn cầu là nước ngọt Nước khan hiếm vì chúng ta dùng khối lượng lớn để uống Hơn nữa, sự cạnh tranh mãnh liệt giữa các ngành vẫn tồn tại về sử dụng nguồn nước này Khai thác nguồn nước ổn định toàn cầu từ năm 1975 Mặc dù chưa rõ lý do, nhưng giả thiết cho rằng thế giới đã đạt giới hạn về năng lực khai thác nước cả về công nghệ và môi trường Nước được phân bố không đều trên các hệ sinh thái trên thế giới Nước ngọt ở sa mạc chủ yếu là nước hóa thạch, trong đó chỉ có thể được sử dụng một lần, trong khi một đất nước vùng ôn đới như Canada có trữ lượng nước ngọt lớn nhất Có sự gia tăng số lượng địa phương biến nước biển thành nước ngọt với chi phí năng lượng cao

Nước bị lãng phí khi phần lớn nước uống lại được sử dụng cho các mục đích không yêu cầu phải có chất lượng cao Rất nhiều nước qua sử dụng như nước từ bếp, chậu rửa, và hoa sen không được sử dụng tiếp, trong khi nó có thể sử dụng hữu ích cho tưới tiêu, làm giảm chi phí xử lý nước thải và cải thiện an ninh lương thực, nhưng phải có ký hiệu chỉ rõ nước bẩn Ở nhiều nơi trên toàn thế giới, nước mưa, nguồn chính của nước uống, lại không được

sử dụng và thoát tự do trong tự nhiên

Khung 1: Bão gây ngập lụt miền Bắc Việt Nam năm 2014 và 2015

Những cơn bão bất thường xảy ra tần xuất dày hơn ở các thành phố tại vùng ven biển của Việt Nam Trong năm 2014, hai cơn bão (3 KALMEGI và 4-SINLAKU) đã đổ bộ và ảnh hưởng đến hai

thành phố ven biển là Hải Phòng và Qui Nhơn, độ cao nước dâng tương ứng là 1.1m và 0.4m (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015) Mưa lớn gây ra lũ lụt và ngập lụt cả trong đất liền và ở các

thành phố ven biển Trong năm 2015, mưa lớn tại Quảng Ninh, bao gồm các thành phố ven biển

là Hạ Long và Cẩm Phả kéo dài khoảng một tuần (25 tháng Bảy đến đầu tháng Tám) với lượng mưa đạt lên đến 1.000mm ở một số nơi, gây lũ lụt, ngập úng, sạt lở đồng thời gây thiệt hại nghiêm trọng về người (17 người chết), hàng trăm ngôi nhà bị phá hủy, 4863,2 ha lúa và các loại lương thực khác bị mất, 2 258 lồng nuôi hải sản biển bị hư hỏng, cơ sở hạ tầng giao thông vận

tải bị phá hủy, v.v thiệt hại ước tính tới 2 700 tỷ đồng (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015)

Nước biển dâng có thể gây ngập lụt nghiêm trọng tại thành phố ven biển Hải Phòng Bộ Tài

nguyên và Môi trường Việt Nam (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2009) đã được công bố 3 kịch

bản nước biển dâng Xã ven biển Vinh Quang (Hải Phòng) theo dự báo sẽ bị ngập ở mức <0,5m

chiếm 34% bề mặt (Vũ Thanh Ca et al., 2010) Hải Phòng có thể bị mất một phần ba toàn bộ diện

tích với những hậu quả rõ ràng là rất lớn

Trang 36

Chính sách ngăn ngừa sự ô nhiễm nguồn nước bằng cách quy định trong các sản phẩm chúng ta sử dụng vẫn còn khan hiếm hoặc không tồn tại Tại các thành phố, nước đều được

sử dụng trực tiếp và gián tiếp Khía cạnh trực tiếp liên quan đến lớp phủ lên mặt thổ nhưỡng

ở thành phố đang mở rộng hơn so với khu vực nông thôn Điều này làm cho nước mưa thoát nhanh, ngăn không cho nó thấm qua đất và bổ sung nguồn nước ngầm Sử dụng trực tiếp nguồn nước uống của hộ gia đình giới hạn trong khoảng 1% tổng lượng nước tiêu dùng

Nước sử dụng gián tiếp vượt quá lượng nước sử dụng trực tiếp Sản xuất lương thực đòi hỏi một lượng lớn nước Nông nghiệp chiếm 70% lượng nước sử dụng Nguyên liệu thực phẩm khác nhau và hệ thống sản xuất có tác động khác nhau đến nguồn nước: Với 15.000 - 70.000 lít nước mỗi kg, thịt có ảnh hưởng lớn nhất, các loại rau tiêu thụ nước ít hơn Các thành phố nhập khẩu hầu hết thực phẩm của họ từ các láng giềng hoặc nhiều vùng nông thôn

xa xôi Trên thực tế, việc sử dụng gián tiếp của nước nên được đưa vào báo cáo của thành phố

Nhận biết được tầm quan trọng trong kết hợp sử dụng nước trực tiếp và gián tiếp đã

dẫn đến việc thiết lập các khái niệm của khung nước (Hoekstra và Chapagain, 2007) Hơn

nữa, thế giới phải đối mặt với một sự chuyển đổi chất lượng nước mà có thể được xử lý bởi việc phòng ngừa nhiễm bẩn nước, loại bỏ các chất ô nhiễm (sử dụng pin của công nghệ xử lý nước) và đối phó hiệu quả hơn với dư thừa nước trong trường hợp thiên tai Sự kiện môi trường cực đoan góp phần làm thiệt hại thảm khốc ở các khu vực đô thị hoá trên toàn thế giới Đối với các chính trị gia, kiến trúc sư, nhà xã hội học và địa học thì bảo vệ người dân và thành phố đã trở thành một nhiệm vụ hết sức quan trọng

Tất cả các thành phố cần phải thay đổi cách quản lý nước đô thị rời rạc truyền thống

mà hiện nay chiếm ưu thể Họ phải hướng tới một cách tiếp cận tổng hợp hơn dựa trên các chu trình nước Chính sách này phải đối phó với các vấn đề hiện tại và nhu cầu trong tương

lai (Diaz et al., 2016) Có thể vượt lên bằng cách sử dụng nước sinh hoạt và nước thải, lồng

ghép sử dụng nước ngầm và nước mưa trong chiến lược nước ở đô thị, cũng như giải quyết các vấn đề an ninh và chất lượng nước uống, vệ sinh môi trường, cơ sở hạ tầng, ổn định khí hậu, đa dạng sinh học, sự hấp dẫn và nhận thức, quản trị, trong đó có sự tham gia của cộng đồng

Tại các thành phố ven biển khai thác nước và hao hụt là một vấn đề then chốt bởi các nguy cơ xâm nhập mặn

Đối phó với vấn đề nước ngọt ở các thành phố đòi hỏi một loạt các vấn đề:

(-) Cơ sở hạ tầng xanh bao gồm các vùng đất ngập nước, ao, kênh, và vùng ngập lũ (hoạt động như vùng đệm trong trường hợp ngập lụt)

(-) Cơ sở hạ tầng xanh bao gồm đường xanh và hành lang Tăng lớp phủ thực vật để điều hòa dòng chảy, tăng và tái nạp mực nước ngầm và ít đi các đảo y tế đô thị Điều này góp phần giảm ô nhiễm như ô nhiễm bụi

Trang 37

Ở Việt Nam, tình trạng thiếu nước cấp nói chung và đặc biệt là nước uống ảnh hưởng đến nhiều thành phố ven biển, đặc biệt là ở các tỉnh miền Trung như Quảng Trị, Bình Định,

Khánh Hòa và Ninh Thuận (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015)

Các trường hợp ô nhiễm nước do con người trong các sông cung cấp nước ngọt cho thành phố ven biển / tỉnh đã được ghi nhận Ví dụ, nước tại hạ lưu sông Hồng tại tỉnh Nam Định bị ô nhiễm chất hữu cơ và chất dinh dưỡng với giá trị hàm lượng gần hoặc vượt quá các

tiêu chuẩn Việt Nam (Hình 1)

Hình 1 Hàm lượng COD trong nước của các sông nhánh thuộc sông Hồng tại tỉnh Nam

Định, 2011 - 2014 (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015)

Nhu cầu cấp nước tại thành phố ven biển của Hải Phòng tăng mười phần trăm trong suốt giai đoạn 2009 - 2013 (Hình 2), mặc dù những nỗ lực thuyết phục nhất của chính quyền thành phố Hải Phòng xác định vùng ven biển Hải Phòng như một "thành phố xanh"

Hình 2: Tỷ lệ phần trăm dân số tại Hải Phòng với nguồn cung cấp nước sinh hoạt

(Nguyễn Văn Thành, 2014)

Trang 38

4 CẢNG XANH

Phần lớn các đô thị trên thế giới nằm ở rìa các lục địa hoặc dọc ven bờ các cửa sông chính Trong số đó, rất nhiều các thành phố có các cảng qui khác nhau, song tất cả các cảng này có tác động đáng kể đến nền kinh tế địa phương và chất lượng cuộc sống của đô thị Các cảng là các doanh nghiệp chính và như vậy họ đương nhiên tạo ảnh hưởng cả trực tiếp đối với môi trường xung quanh cũng như các tác động gián tiếp đối với môi trường nội địa và môi trường biển

Cụ thể, các tác động môi trường trực tiếp của cảng bao gồm:

- Nước bên trong và xung quanh cảng bị ô nhiễm bởi dầu và hóa chất Cả hai vấn đề đều bắt nguồn từ hoạt động của cảng (tràn dầu nhỏ), là nguồn gốc của ô nhiễm thường xuyên

và cũng là nơi phát sinh các vụ tràn dầu lớn Một phần ô nhiễm dầu cũng bắt nguồn từ việc

xử lý nước ô nhiễm dầu Nước ở hạ nguồn sông Cấm của cảng Hải Phòng có hàm lượng dầu

0,62mg/l vào năm 2007 (Duong Thanh Nghi và nnk, 2014) Hơn nữa, nước trong và ngoài

cảng cũng phát hiện thấy bị ô nhiễm vi sinh vật

- Đất dười nước đóng vai trò như một bộ nhớ của ô nhiễm nước và chứa hàm lượng cao của chất hữu cơ bền, kim loại nặng, butyltin và hàng loạt các hydrocacbon bao gồm cả thuốc trừ sâu Trong 205 mẫu trầm tích ở cảng Đà Nẵng, tổng hàm lượng butyltin là 22,3ng/g trầm tích khô Trong tổng giá trị hàm lượng này, tributyltin phá hủy nội tiết chiếm 8,4ng/g

khô (Do Thị Thu Huong và Tran Dinh Lan, 2014)

- Chất thải từ quá trình vận hành cảng và chất thải thu lượm từ tàu thuyền là vấn đề đáng quan tâm ở các cảng chính Một khối lượng lớn chất thải phát sinh từ việc nạo vét Việc

đổ thải chúng có thể gây ra các hậu quả môi trường nghiêm trọng Bên cạnh chất thải từ nạo vét, nước dằn tàu cũng có thể gây ra các vấn đề môi trường như du nhập sinh vật lạ vào môi trường bản địa

- Cũng như các tổ chức khác, cảng cần sử dụng năng lượng, nước và nguyên liệu Một

mô hình quản lý thích đáng các nguồn này cũng đã được đề xuất (Le Xuan Quynh, 2014)

- Hoạt động cảng làm gia tăng hoạt động giao thông, trong đó có cả việc vận chuyển hàng hóa nguy hại Phương thức phù hợp là vận tải đa phương thức (xe tải, vận tải thủy nội địa, tàu hỏa), quy hoạch giao thông và tối ưu hóa vận tải hàng hóa có thể làm giảm bớt các tác động môi trường

- Sử dụng đất: các cảng ngày càng gia tăng sản lượng hàng hóa qua cảng theo sự phát triển của nền kinh tế, làm gia tăng nhu cầu đất để đáp ứng các hoạt động của cảng Nhìn chung, họ sẽ tìm đất ở các khu công nghiệp, nông – lâm nghiệp – thủy sản, các khu vực cho giải trí và bảo vệ thiên nhiên xung quanh cảng Đối với các thành phố cảng, việc gia tăng vai trò của khoảng không đô thị liền kề (giữa cảng và khi vực nông thôn/đô thị) là về việc gia

tăng tầm quan trọng của mục đích giải trí và thư giãn của cư dân đô thị (Zlender and

Trang 39

Thompson, 2016) Một chính sách thận trọng về tần suất hoạt động của cảng có thể làm giảm

nhu cầu về đất đai trong bối cảnh phát triển kinh tế ngày càng tăng

Rất nhiều vấn đề môi trường mà cảng và khu vực cảng phải đối mặt hôm nay có thể được giải quyết hoặc giảm thiểu ở mức độ cao, chứng minh hiệu quả của hệ thống quản lý môi trường Do tính phức tạp và chuyên biệt của một số vấn đề môi trường, các quá trình và thủ tục cụ thể điều chỉnh phù hợp với cảng đã được xây dựng Các ví dụ về quản lý môi trường cảng ở Hải Phòng, Đà Nẵng và Vũng Tàu được trình bày trong khung 2

Tuy nhiên, hoạt động của cảng cũng có tác động rộng rãi đến vùng xung quanh cảng,

cả trên đất liền và trên biển Trên đất liền, chúng là các tương tác không bền với thành phố

Khung 2: Quản lý môi trường ở cảng Hải Phòng, Đà Nẵng và Vũng Tàu

Việc xây dựng và vận hành các cảng ở Hải Phòng có tác động đến môi trường Một loạt các phương pháp được đề xuất nhằm mục tiêu giảm tác động tiêu cực, hạn chế phơi nhiễm chất ô nhiễm, nhằm tăng cường khả năng của cảng và nhằm đáp ứng được các tình huống khẩn cấp Mục tiêu là xác định được các biện pháp giảm thiểu đối với các tác động môi trường đã biết Những biện pháp này cần được ứng dụng vào các nền tảng chu trình sống của cảng, trong suốt các giai đoạn của quy hoạch tổng thể; trong xây dựng, vận hành và phá hủy Các biện pháp giảm thiểu kết hợp với các cải tiến và điều chỉnh công nghệ với các quy trình quản lý Các biện pháp được phân loại theo tác động đến các khía cạnh môi trường khác nhau

Các vấn đề môi trường ở cảng Đà Nẵng bao gồm: suy giảm chất lượng môi trường nước, ô nhiễm không khí và quản lý chất thải Chất lượng nước suy giảm là hậu quả của ô nhiễm dầu, chất vô cơ và kim loại nặng Hơn nữa, không khí xung quanh cảng Đà Nẵng bị ô nhiễm bụi gây ra

do hoạt động vận chuyển hàng hóa (đặc biệt là chuyển tải dằm gỗ và cát trắng ở cảng Tiên Sa) Quản lý môi trường ở cảng Đà Nẵng vẫn còn hạn chế mặc dù đã có một phần hệ thống môi trường được áp dụng trong phát triển cảng Quản lý chất thải và ngăn ngừa ô nhiễm môi trường

là những thách thức đối với quản lý môi trường Bản thân các cảng không đủ năng lực tự giải quyết các vấn đề này Các vấn đề này chỉ được giải quyết đầy đủ khi có sự hỗ trợ của các chuyên gia môi trường và sự hợp tác quốc tế

Tốc độ gia tăng lượng hàng hóa thông qua cảng phía nam Vũng Tàu rất ngoạn mục, đi đôi với việc phát triển kinh tế nhanh chóng của khu vực thành phố Hồ Chí Minh và lân cận Tuy nhiên, các hậu quả tác động đến môi trường, hệ sinh thái và chất lượng nước chưa được các cảng quan tâm đầy đủ Các vấn đề môi trường xung quanh cảng bao gồm cả xả thải nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý, không có thiết bị thu gom và xử lý chất thải rắn và chất thải từ tàu thuyền, hạn chế trong ứng cứu sự cố tràn dầu, hóa chất cũng như rỉ sắt thải vào môi trường nước Hơn nữa, các hoạt động kiểm tra và giám sát của cảng vụ gặp nhiều khó khăn Một cảng biển bền vững ở Vũng Tàu cần có các chiến lược bảo vệ môi trường lồng ghép trong quy hoạch tổng thể Một hệ thống quản lý môi trường là buộc phải có đối với cảng Hệ thống này sẽ mang lại lợi ích cho cảng

và giúp Vũng Tàu có vai trò tiên phong trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam (Tran Dinh Lan và nnk., 2014).

Trang 40

chủ quản, và các vùng lân cận (nông nghiệp, công nghiệp, giải trí) Quản lý những khía cạnh này cần có một cơ cấu với sự tham gia của các nhóm tương tác với các hoạt động của cảng như: nông dân, cơ quan quản lý, thành phố, cư dân đô thị

Cũng như các vấn đề giao thông trên đất liền, hoạt động cảng liên quan đến các lộ trình trên biển Tai nạn trên biển (chủ yếu là tràn dầu, hoặc thất thoát hóa chất) có tác động môi trường nghiêm trọng nhất đôi khi diễn ra trên một vùng rộng lớn Vấn đề này vượt quá khả năng làm sạch của môi trường tự nhiên, ví dụ dầu nổi hay màng dầu bám dọc bờ biển Đó

là vấn đề chính cho công tác chuẩn bị ứng cứu cho lần tràn dầu tiếp theo, nhờ đó các tác động

có thể được hạn chế Một số chính sách ngăn ngừa là sự tập trung và phân bố địa lý của các luồng tàu và thành lập các khu bảo tồn biển

5 CAO ỐC XANH

Như đã đề cập trong phần giới thiệu của bài báo, các thành phố thu hút một lượng lớn các nguồn lực từ các vùng lân cận cũng như các vùng nông thôn xa xôi khác Vào cuối thế kỉ này, 70% các vật liệu phi nguyên liệu được sử dụng cho xây dựng ở Mỹ Ngành công nghiệp xây dựng sử dụng 40% tổng năng lượng tiêu thụ và phát thải khí CO2 của đất nước Đồng thời, sự gia tăng về nhu cầu tiện nghi nhà cửa, gia tăng các khu ngoại ô cho định cư không tương tích và tăng giá nhà đất làm cho hệ thống đô thị phải trải qua các sức ép ngày càng tăng Thách thức thật sự gần đây là tạo ra các thành phố và chúng ta sống trong nó bền vững hơn

Các giải pháp đề xuất rất đa dạng và khác nhau:

- Cao ốc bền vững: Ứng dụng các khái niệm bền vững (về môi trường, mong muốn xã hội và đặc điểm kinh tế trong các khu vực nhà ở) Các công nghệ xây dựng mới và các hợp phần của các cao ốc mới cần cho phép để giảm các tải lượng sinh thái cho tòa nhà đến một đơn vị của giá trị hiện tại của nó Tuy nhiên, vấn đề tạo ra tòa nhà bền vững hơn chỉ đối với phạm vị nhỏ bé về mặt kỹ thuật Việc yêu cầu thay đổi công nghệ chỉ có thể được quản lý khi

có sự tham gia đồng thời về mặt kỹ thuật và xã hội Kết quả là các cao ốc bền vững sử dụng một lượng hạn chế năng lượng và nước uống chất lượng cao, duy trì chất lượng không khí bên trong ở mức độ chất lượng cao, ánh sáng tiên tiến, hạn chế và không có tiếng ồn gây phiền, góp phần hài lòng cư dân ở mức độ cao và là thành viên của hoạt động không rác của

các thành phố (Malcolm, 2004)

- Các khu vực sinh học và đô thị sinh học: Hòa nhập tự nhiên và văn hóa, phối hợp các giá trị sống, giải trí và kinh tế của thành phố Khái niệm thành phố sinh thái liên quan chặt chẽ với các tiếp cận này

- Sinh thái công nghiệp đô thị - nông thôn: Các thành phố thu hút cả con người và tài nguyên từ các vùng lân cận Thành phố bền vững cần phấn đấu đến khả năng tự trị và tự cung

cấp hơn nữa Ngoại trừ tối đa hóa không gian xanh, sử dụng mái nhà xanh (Olivien và nnk,

Ngày đăng: 01/08/2017, 08:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w