Tuy nhiên lớp đất có khả năng canh tác này lạiluôn chịu những tác động mạnh mẽ của tự nhiên và các hoạt động canh tác docon người như canh tác trên đất dốc lạc hậu: cạo sạch đồi, chọc lỗ
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn : TS PHẠM VĂN HỘI
HÀ NỘI - 2016
Trang 2HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
Giáo viên hướng dẫn : TS PHẠM VĂN HỘI
Địa điểm thực tập : XÃ ĐỒNG PHÚC, HUYỆN YÊN
DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận là của riêng tôi, được nghiên cứu một cách độc lập Các số liệu thu thập được là các tài liệu được sự cho phép công bố của các đơn vị cung cấp số liệu Các tài liệu tham khảo đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả được nêu trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực và chưa từng có ai công bố trong bất kì tài liệu nào.
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Hằng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của các tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Khoa Môi trường
và các thầy cô giáo trường Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS Phạm Văn Hội đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các cán bộ, nhân viên tại UBND xã Đồng Phúc và toàn bộ người dân trong xã đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi thực hiện trong suốt thời gian thực tập tại địa phương.
Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và người thân đã luôn bên cạnh tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian tôi học tập, rèn luyện tại trường Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Hằng
Trang 5Kinh tế - Xã hội
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Khái niệm về hệ thống cây trồng 4
1.1.2 Khái niệm về công thức luân canh 4
1.1.3 Tác dụng của luân canh 6
1.1.4 Quan điểm về quản lý dinh dưỡng tổng hợp 8
1.2 Cơ sở thực tiễn 10
1.2.1 Tình hình luân canh cây trồng trên thế giới 10
1.2.2 Tình hình luân canh cây trồng ở Việt Nam 13
CHƯƠNG 2 : ĐỒI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tượng nghiên cứu 16
2.2 Phạm vi nghiên cứu 16
2.3 Nội dung nghiên cứu 16
2.4 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 16
2.4.1 Dữ liệu 16
2.4.2 Phương pháp 17
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18
3.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của xã Đồng Phúc 18
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 18
3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 19
Trang 73.1.3 Tình hình kinh tế - xã hội xã Đồng Phúc 21
3.1.4 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập 24
3.1.5 Thực trạng phát triển các khu dân cư nông thôn 26
3.1.6 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội 27
3.1.7 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của xã Đồng Phúc 28
3.2 Hiện trạng và cấu trúc sản xuất rau màu tại xã Đồng Phúc 29
3.3 Vai trò của luân canh cây trồng trong quản lý dinh dưỡng đất tại xã Đồng Phúc 31
3.4 Các yếu tố chi phối việc áp dụng hệ thống luân canh cây trồng của người dân 38
3.4.1 Khí hậu 38
3.4.2 Tính khu vực nghiêm ngặt của cây trồng, tính thời vụ khẩn trương và tính liên tục của sản xuất nông nghiệp 39
3.4.3 Đất đai 40
3.4.4 Quần thể sinh vật 40
3.4.5 Hiệu quả kinh tế 40
3.4.6 Nông hộ 41
3.4.7 Chính sách 41
3.4.8 Thị trường 41
3.4.9 Các yếu tố kinh tế - xã hội 42
3.5 Một số giải pháp góp phần tăng cường việc áp dụng luân canh cây trồng 42
3.5.1 Áp dụng tiến khoa học kỹ thuật vào sản xuất 42
3.5.2 Xây dựng kết cấu hạ tầng 43
3.5.3 Mở rộng và tìm kiếm thị trường 43
3.5.4 Hoàn thiện hệ thống chính sách, khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp 43
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp qua 1 số năm của xã
Đồng Phúc 22Bảng 3.2 Tình hình phát triển dân số của xã qua một số năm tại xã Đồng
Phúc 24Bảng 3.3 Hiện trạng phân bố dân cư và đất ở của xã Đồng Phúc năm 2015 25Bảng 3.4 Diện tích, cơ cấu các loại đất nông nghiệp của xã Đồng Phúc
năm 2015 28Bảng 3.5 Lý do áp dụng các CTLC của 36 hộ dân tại xã Đồng Phúc 31Bảng 3.6 Năng suất và giá trị một số cây trồng xã Đồng Phúc 31Bảng 3.7 Đánh giá của người dân xã Đồng Phúc về mức độ luân hồi dinh
dưỡng giữa các vụ cây trồng qua lượng phân bón và tàn dư 33Bảng 3.8 Lượng phân bón và số lần phun thuốc BVTV( /sào/vụ )cho một số
loại cây trồng chính tại xã Đồng Phúc 34Bảng 3.9 Đánh giá của người dân về sự thay đổi chất lượng đất đối với các
CTLC chính tại xã Đồng Phúc 35
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và nócũng là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và
các sinh vật khác trên trái đất, Các Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp” Bởi vậy, nếu
không có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con ngườikhông thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duytrì nòi giống đến ngày nay
Cuộc sống của con người phụ thuộc rất nhiều vào lớp đất trồng để sảnxuất ra lương thực, thực phẩm và các nguyên liệu sản xuất công nghiệp phục
vụ cho cuộc sống của mình Tuy nhiên lớp đất có khả năng canh tác này lạiluôn chịu những tác động mạnh mẽ của tự nhiên và các hoạt động canh tác docon người như canh tác trên đất dốc lạc hậu: cạo sạch đồi, chọc lỗ bỏ hạt,không chống xói mòn, không luân canh; canh tác độc canh, bỏ hoang hóa,không bón phân hoặc bón phân, sử dụng thuốc trừ sâu, trừ cỏ không hợp lý….Khi lớp đất canh tác này bị tác động mạnh mẽ lâu dài làm giảm hàm lượngdinh dưỡng trong đất, suy giảm khả năng sản xuất của đất, năng suất câytrồng giảm dẫn đến nhiều vần đề về an ninh lương thực, sinh kế của ngườinông dân Cho nên cái thiện chất lượng đất, quản lý dinh dưỡng đất luôn làmột trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu
Để giải quyết vấn đề này có rất nhiều giải pháp đã được áp dụng trong
đó giải pháp luân canh cây trồng là một trong những giải pháp rất khả thi,đang áp dụng rộng rãi ở nhiều nơi, luân canh là giải pháp vừa dễ thực hiện lại
có nhiều tác dụng: làm cho đất tăng độ phì nhiêu; điều hòa dinh dưỡng vàgiảm sâu bệnh, giảm lượng thuốc BVTV sử dụng cho đất, dần cải thiện tínhchất đất; ngoài ra tăng vụ còn góp phần tăng thêm sản phẩm thu hoạch, tăng
Trang 10thu nhập và nâng cao đời sống của người dân….
Tác dụng cải thiện dinh dưỡng đất của việc luân canh cây trồng là rấthiệu quả, dinh dưỡng trong đất được cân bằng hơn so với trồng độc canh Mỗiloại cây trồng đều có nhu cầu dinh dưỡng riêng, nếu chỉ chuyên canh một loạicây trồng sẽ dẫn đến cạn kiệt hoặc dư thừa một số loại dinh dưỡng nhất định.Ngoài ra, sau mỗi vụ thu hoạch thì các loại cây trồng đều trả lại dinh dưỡngcho đất thông qua các bộ phận của cây như rễ, thân, lá cây
Xã Đồng Phúc thuộc huyện Yên Dũng là một xã miền núi thuộc tỉnhBắc Giang có diện tích tự nhiên là 1248,22 ha đất tự nhiên, chiếm 5,84% sovới tổng diện tích đất tự nhiên của huyện, hoạt động kinh tế của người dânnằm trên địa bàn chủ yếu là hoạt động nông nghiệp Canh tác lúa và rau màu
là một trong những kế sinh nhai quan trọng không thể thiếu Người dân đãluân canh lúa – rau màu trong nhiều năm qua dù đã đạt được nhiều hiệu quảcao về mọi mặt song hiểu biết của người dân về kỹ thuật luân canh vẫn cònhạn chế, do đó chưa thể phát huy hết được vai trò của luân canh trong sảnxuất nông nghiệp
Nhận thấy rõ vai trò trò to lớn và khó khăn của các hộ nông dân về việc
áp dụng biện pháp luân canh trong sản xuất nông nghiệp, chúng tôi đã tiến
hành đề tài: “Quản lý dinh dưỡng đất trên cơ sở giải pháp luân canh cây trồng trong sản xuất rau màu tại xã Đồng Phúc, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang” nhằm tìm hiểu nhận thức của người dân địa phương về vai trò của
luân canh cây trồng trong quản lý dinh dưỡng đất, xác định các yếu tố ảnhhưởng đến việc áp dụng hệ thống luân canh và từ đó đề xuất một số giải phápgóp phần tăng cường việc áp dụng luân canh cây trồng tại địa phương
Trang 112 Mục đích và yêu cầu nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
1 Tìm hiểu hiện trạng và cấu trúc sản xuất rau màu tại xã Đồng Phúc,
huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
2 Đánh giá vai trò của luân canh cây trồng trong quản lý dinh dưỡng
đất trên cơ sở hiểu biết và trải nghiệm của người dân
3 Xác định các yếu tố chính chi phối việc áp dụng hệ thống luân canh
cây trồng của người dân
4 Đề xuất một số giải pháp góp phần tăng cường việc áp dụng luân
canh cây trồng tại địa phương, góp phần cải thiện môi trường sản xuất và hiệuquả sản xuất cho người dân
2.2 Yêu cầu nghiên cứu
1 Điều tra được hiện trạng các công thức luân canh cây trồng tại địa
phương
2 Điều tra được hiểu biết của người dân về vai trò của luân canh trong
quản lý dinh dưỡng đất tại địa điểm nghiên cứu
3 Điều tra những thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế –
xã hội, các yếu tố chính chi phối việc áp dụng hệ thống luân canh cây trồngtại địa phương
4 Đề xuất một số giải pháp tăng cường áp dụng hệ thống luân canh
nhằm cải tạo chất lượng đất
5 Những tài liệu, số liệu điều tra về hệ thống luân canh của địa điểm
nghiên cứu chính xác, đầy đủ
Trang 12CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Khái niệm về hệ thống cây trồng
Hệ thống cây trồng là thành phần các giống và loài cây trồng được bốtrí theo không gian và thời gian của một hệ thống sinh thái nông nghiệp nhằmtận dụng hợp lý nhất các nguồn lợi tự nhiên, kinh tế - xã hội sẵn có (Đào ThếTuấn, 1984) [8]
Hệ thống cây trồng là hình thức đa canh bao gồm: Trồng xen, trồnggối, trồng luân canh, trồng thành băng, canh tác hỗn hợp, vườn hỗn hợp (ĐàoThế Tuấn, 1997) [9]
Theo Zandstra, (1981)[23], HTCT là hoạt động sản xuất cây trồngtrong nông trại bao gồm tất cả các hợp phần cần có để sản xuất một tổ hợpcác cây trồng và mối quan hệ giữa chúng với môi trường Các hợp phần nàybao gồm tất cả các yếu tố vật lý, sinh học, kỹ thuật, lao động và quản lý
Cơ cấu cây trồng hợp lý là phát triển hệ thống cây trồng mới trên cơ sởcải biến hệ thống cây trồng cũ hoặc xây dựng hệ thống cây trồng mới Trênthực tế là tổ hợp lại các công thức luân canh, tổ hợp lại các công thức luâncanh, tổ hợp lại các thành phần cây trồng và giống cây trồng đảm bảo cácthành phần trong hệ thống có mối quan hệ tương tác với nhau, thúc đẩy lẫnnhau nhằm khai thác tốt nhất lợi thế về điều kiện đất đai, tạo cho hệ thống cósức sản xuất cao, bảo vệ môi trường sinh thái (Đào Thế Tuấn, 1984)
1.1.2 Khái niệm về công thức luân canh
Theo Zandstra (1981) [23] đã đưa ra khái niệm về công thức luân canhnhư sau:
Công thức luân canh là tổ hợp không gian và thời gian của các câytrồng trên một mảnh đất và biện pháp canh tác dùng để sản xuất chúng
Lý Nhạc và cộng sự (1987) [5] lại cho rằng:
Trang 13Luân canh là sự luân phiên thay đổi cây trồng theo không gian và thờigian trong một chu kỳ nhất định.
Luân canh theo thời gian là ở những thời vụ khác nhau ta trồng nhữngloại cây khác nhau như cây vụ đông – lúa xuân – lúa mùa
Luân canh theo không gian là cùng một loại cây trồng ở trong một thời
vụ như nhau được trồng trên đất khác nhau qua các năm khác nhau
Chu kỳ luân canh là thời gian các cây trồng (hoặc công thức luân canh)được trồng trên tất cả các cánh đồng
Chu kỳ luân canh ở các nước kéo dài nhiều năm, ngắn nhất là hai năm
5 cây như ở Nam Trung Quốc ở nước ta chu kỳ luân canh phổ biến nhất làmột năm, trong một năm trồng được nhiều loại cây Do ngắn ngày nên có nơigọi là công thức luân canh
Ghép cơ cấu cây trồng vụ đông xuân và vụ mùa thành ra chu kỳ luâncanh Nhiều chu kỳ luân canh (công thức luân canh) gọi là chế độ luân canh
Công thức luân canh là một số cây trồng được trồng luân phiên nhautrên cùng một chân đất (cánh đồng) với chu kỳ là 1 năm Các công thức luâncanh được áp dụng cho một vùng nào đó sẽ tạo thành chế độ luân canh (hệthống luân canh)
Luân canh là trung tâm của các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp khác.Tất cả các biện pháp kỹ thuật nông nghiệp khác đều căn cứ vào chế độ luâncanh mà xác định nội dung của mình Các chế độ canh tác khác như: Thủylợi, bón phân, tưới nước, làm đất, diệt trừ cỏ dại… đều căn cứ vào loại câytrồng, trình tự luân phiên cây trồng trong hệ thống luân canh để xây dựng cácbiện pháp kỹ thuật cụ thể cho suốt cả chu kỳ luân canh (Lý Nhạc, 1987) [5]
Chế độ luân canh bao giờ cũng đi trước và nó quyết định kể hoạch chomột vùng Các công thức luân canh là vẫn đề cốt lõi xây dựng nên hệ thốngcây trồng
Xây dựng chế độ luân canh hợp lý là nhằm tăng hiểu quả sử dụng tàinguyên thiên nhiên (đất đai, bức xạ mặt trời, lượng mưa, nguồn nước sẵn
Trang 14có…) với một mức đầu tư tài nguyên kinh tế nhất định (vốn, vật tư, trang thiết
bị, lao động…) để phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là tăng tổng sảnlượng nhằm mang lại lợi nhuận cao nhất
1.1.3 Tác dụng của luân canh
Lý Nhạc và các nhà khoa học (1987) [5] đã đúc rút về tác dụng củaluân canh cây trồng hợp lý như sau:
- Điều hoà dinh dưỡng và nước trong đất
Mỗi loại cây trồng lấy đi từ đất các chất dinh dưỡng với số lượng khácnhau cho nên nếu cây trồng độc canh cây sẽ lấy đi một số dinh dưỡng nào đóvới số lượng lớn và các chất đó trở thành yếu tố tối thiểu hạn chế năng suấtcây trồng Bên cạnh đó cây cũng để lại dinh dưỡng cho đất từ các bộ phận già,
bộ phận con người không thu hoạch Do vậy nếu luân canh hợp lý thì các chấtdinh dưỡng lấy đi hoặc để lại đất sẽ trở nên điều hoà
- Luân canh chính xác có tác dụng cải tạo và bồi dưỡng đất
Luân canh làm cho tính chất lý học của đất được điều hoà, các đặc tínhcủa đất được cải thiện Nhiều loại cây nhất là cây bộ đậu, cây phân xanh cótác dụng bồi dưỡng đất làm cho đất ngày càng màu mỡ
- Điều tiết hoạt động của vi sinh vật trong đất
Mỗi loại cây trồng cùng với biện pháp canh tác thích hợp đã tạo điềukiện cho sự sinh trưởng và hoạt động của một quần thể vi sinh vật đất phùhợp Cây trồng cạn phù hợp với các loại vi sinh vật hảo khí hoạt động, cây
Trang 15trồng nước phù hợp với các loại vi sinh vật yếm khí Cho nên luân canh giữacây trồng cạn với cây trồng nước dẫn đến làm thay đổi hệ vi sinh vật trong đất.
- Tăng năng suất cây trồng và tăng sản lượng nông nghiệp
Chế độ luân canh phù hợp có tác dụng nâng cao năng suất từng câytrồng nói riêng và tổng sản lượng nông nghiệp nói chung, bởi vì nó khôngnhững lợi dụng tốt nhất các yếu tố và điều kiện tự nhiên, môi trường mà cònphát huy vai trò của các yếu tố quản lý như chọn giống, gieo trồng, chăm sóc,phòng trừ sâu bệnh, bón phân, làm cỏ và thu hoạch
- Điều hoà lao động và việc sử dụng các vật tư kỹ thuật khác
Mỗi loại cây trồng đòi hỏi phải gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch trongkhoảng thời vụ nhất định cho nên lao động, các vật tư, máy móc, công cụcũng phải tập trung sử dụng trong thời gian ngắn Nếu có chế độ luân canhchính xác, nhiều loại cây trồng được bố trí trong luân canh có thời vụ gieotrồng, chăm sóc và thu hoạch khác nhau làm cho tình trạng lao động và sửdụng vật tư được điều hoà trong các tháng
Bùi Huy Đáp (1974) [10], cũng đã đề cập đến vấn đề luân canh, tăng
vụ, xen canh, trồng gối để sử dụng tối ưu nguồn lợi về đất đai, khí hậu sẵn cótại các vùng sản xuất
- Thâm canh: Là sản xuất mà người ta sử dụng các yếu tố sản xuất đếnmức tối đa để tăng năng suất và sản lượng cây trồng Các yếu tố sản xuất ởđây là chọn giống cây trồng tốt để tăng năng suất cây trồng, sử dụng tối đamọi loại phân bón, phù hợp với yêu cầu của cây trồng và đầu tư nhân lực đểthực hiện các khâu kỹ thuật thâm canh
- Tăng vụ: Là tăng số lần gieo trồng trên cùng một đơn vị diện tích đấttrong năm có nghĩa là trên một diện tích đất và trong một thời gian nhất địnhđược sắp xếp để tăng thêm một vụ sản xuất nữa Để đánh giá mức độ tăng vụcủa đất, người ta tính số vòng quay của đất Vòng quay của đất là số lượng vụsản xuất đã tiến hành trên một đơn vị diện tích đất trong vòng một năm
Trang 16- Luân canh: Là sự thay đổi cây trồng khác nhau trên cùng một mảnhđất hay vài vụ Luân canh có tác dụng khai thác tốt tiềm năng của đất, bồidưỡng cho đất, có khả năng ngăn chặn sâu bệnh và tránh được cỏ dại.
- Luân canh tăng vụ: Là làm tăng tổng sản lượng sản phẩm, tăng hệ số
sử dụng đất Tạo điều kiện cho việc khai thác sử dụng tiềm năng lợi thế sãn
có về điều kiện tự nhiên, đất đai, khí hậu và tiềm năng xã hội Sử dụng nguồnlao động còn dư thừa trong nông nghiệp, tạo công ăn việc làm cho các laođộng còn nhàn rỗi và tăng phần thu giá trị kinh tế trong nông nghiệp cao hơn,làm cho nông nghiệp đảm bảo được đa dạng hoá sản phẩm
Thâm canh, luân canh tăng vụ là một trong những cơ sở cho việc bố trí
hệ thống cây trồng hợp lý Ngược lại, bố trí hệ thống cây trồng hợp lý tạo điềukiện cho việc thực hiện luân canh tăng vụ đạt hiệu quả cao trên nhiều khíacạnh như: Kinh tế, xã hội và môi trường
1.1.4 Quan điểm về quản lý dinh dưỡng tổng hợp
Theo Nguyễn Văn Bộ [2], Quản lý dinh dưỡng tổng hợp cho cây trồng
là hệ thống các biện pháp nhằm sử dụng một cách hợp lý nhất các nguồn dinhdưỡng cho cây trồng trong mối quan hệ với đất đai cây trồng, thời tiết, trình
độ canh tác, tập quán để nâng cao hiệu lực phân bón, tăng năng suất và phẩmchất nông sản và an toàn môi trường sinh thái Khái niệm này ngày càng đượcứng dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển và FAO là người đề xướng
Những nội dung cơ bản cũng như những quan điểm chính của quản lýdinh dưỡng tổng hợp cần được quán triệt trong điều kiện cụ thể ở việt nam là:
QLDDTH cho cây trồng phải dựa trên sự hiểu biết về đất đai: phân bốđịa lý, hiện trạng và xu thế biến đổi của độ phì nhiêu đất, trong đó việc phântích đất để xác địnhh các yếu tố hạn chế và hướng khắc phục là yêu cầu tiênquyết Thêm vào đó dựa vào phương pháp đánh giá đất tiên tiến, cần thiếtphải xác định mức độ thích nghi của một số loại cây trồng chính trên một sốlọai đất chính làm cơ sở quy hoạch sản xuất ổn định
Trang 17Quản lý dinh dưỡng tổng hợp phải được thực hiện với sự hiểu biết đầy
đủ về thế mạnh cũng như nhược điểm của các yếu tố thời tiết để khai thácnhững lợi thế so sánh cho sản xuất Việc bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý vớinhững khuyến cáo cụ thể về liều lượng, tỉ lệ bón không những cho phép tránhđược những bất lợi của thời tiết mà còn tránh lãng phí phân bón
Trong QLDDTH cho cây trong việc đảm bảo cân bằng dinh dưỡng đầuvào và đầu ra ở mức độ cần thiết để vừa tăng năng suất vừa đảm bảo ổn định
độ phì nhiêu đất có tầm quan trọng đặc biệt
Sự hiểu biết không đầy đủ về vai trò của phân bón dẫn dến sự làm dụngquá đáng phân hóa học ở một số nới trên thế giới đã làm cho đất bị thoái hóa,
ô nhiễm môi trường và cân bằng sinh thái bị phá vỡ và đây là lý do để xuấthiện một xu hướng quá khích trong vài thập kỷ nay: bài xích phân hóa học đểtrở về với nên nông nghệp hữu cơ truyền thống Xuất phát từ thực tiễn này,những nhà khoa học về dinh dưỡng cây trồng dưới sự phối hợp của Fao đã đề
ra được khái niệm quản lý dinh dưỡng tổng hợp Với sự hiểu biết mới này, ởviệt nam, dinh dưỡng được cung cấp cho cây trồng ngày càng hiệu quả hơn,các lợi thế so sánh của đất đai, khí hậu được khai thác triệt để hơn và cùng vớigiống mới , thủy lợi, phòng trừ dịch hại tổng hợp mà năng suất cây trồngngày một nâng cao, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, xây dựngmột nền nông nghiệp sinh thái bền vững
Sự phát triển không nhịp nhàng ở nước ta cũng tương tự, dân số tăngnhanh, diện tích nông nghiệp tăng chậm
Với lý do đó tuy năng suất và tổng sản lượng lương thực tăng nhanhnhưng lương thực bình quân trên đầu người vẫn chỉ ở mức 300kg quythóc/năm Vì vậy để giải quyết lương thực cho những năm tới ở nước ta có 2con đường chủ yếu:
- Mở rộng diện tích canh tác
- Thâm canh (nâng cao năng suất và nâng cao hệ số sử dụng đất)
Trang 18Cả 2 con đường này đòi hỏi cung cấp cho nông nghiệp một lượng chấtdinh dưỡng khá lớn.
Quản lý dinh dưỡng cây trồng trong sản xuất nông nghiệp là một khâuquan trọng trong xây dựng hệ thông nông nghiệp bền vững
Quản lý dinh dưỡng cho một đối tượng cây trồng nào đó là các hoạtđộng của nông dân trong việc bón phân cho cây trồng Ở Việt Nam, người tathường nói bón phân theo 4 đúng: Đúng lúc, đúng cách, đúng liều lượng vàđúng loại phân Mục đích của việc quản lý dinh dưỡng là cung cấp dinhdưỡng cho cây trồng để đạt năng suất tối ưu nhất, nhằm giảm thiểu ô nhiễm ởmức thấp nhất (do chảy tràn xuống sông, suối, ao, hồ và thấm sâu xuống gây
ô nhiễm nguồn nước ngầm) mà vẫn cải thiện và duy trì được độ phì của đất
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tình hình luân canh cây trồng trên thế giới
Từ thế kỷ thứ VIII đến Thế kỷ thứ XVIII, trong suốt 1000 năm chế độluân canh phổ biến trong nông nghiệp Châu Âu là chế độ luân canh 3 khu vàluân chuyển trong 3 năm, với hệ thống cây trồng là ngũ cốc - bỏ hoá Năngsuất ngũ cốc trong suốt thời kỳ này chỉ đạt 5-6 tạ/ha và đến thế kỷ 18 năngsuất cũng chỉ mới có 7- 8 tạ/ha
Sau khi tìm ra Châu Mỹ, một số loại cây trồng từ Châu Mỹ nhập vàoChâu Âu như khoai tây, ngô cùng với việc phát triển một số cây họ đậu (cỏ
3 lá), đã tạo điều kiện cho việc hình thành hệ thống luân canh cây trồng mới,
đó là chế độ luân canh 4 khu và 4 năm Chế độ luân canh này đánh dấu mộtbước ngoặt lịch sử trong quá trình phát triển nông nghiệp của Châu Âu
Châu Á là khu vực chủ trồng lúa chủ yếu của thế giới, đất trồng lúa củaChâu Á chỉ có một phần được tưới, trên loại đất này thường được trồng 2 vụlúa trong năm và trên đất lúa nhờ nước trời thường được trồng 1 vụ lúa trongmùa mưa [6]
Cũng ở Ấn Độ các nhà khoa học đã đề cập đến cơ cấu luân canh câytrồng hợp lý phụ thuộc vào điều kiện canh tác, các chính sách và giá cả nông
Trang 19sản hàng hoá Do đó, hàng loạt các công thức luân canh cho các vùng, tiểuvùng sinh thái được khảo nghiệm, triển khai trên diện rộng đã cho năng suấtcao
Ở Thái Lan, trong điều kiện thiếu nước, từ hệ thống canh tác hai vụ lúahiệu quả thấp vì chi phí nước tưới quá lớn, công thức sản xuất độc canh lúaảnh hưởng xấu đến kết cấu đất nên đã được thay bằng mô hình đậu tươngXuân - Lúa Mùa làm cho hiệu quả kinh tế tăng lên gấp đôi, độ phì đất tăng lênrõ rệt
Ở Philippin là nước nhiệt đới, với tổng số nhiệt độ 9800oC, không cótháng nào dưới 20oC, từ trước đến nay nhân dân vẫn có tập quán làm 2 vụ cây
xứ nóng ở đất có nước tưới, nay nhờ có giống cây trồng ngắn ngày đã xácđịnh có thể trồng 3 - 4 vụ/năm Đưa cây trồng cạn vào hệ thống luân canhnhư: Lúa - Lúa - Đậu tương hoặc Lúa - Khoai tây - Đậu tương - Ngô đường,đều cho kết quả tốt [12]
Theo Morris R.A (1984) khi nghiên cứu đất đai với hệ thống cây trồng,Ông đã đề nghị: Nhóm một là đất nhẹ, thoát nước và giữ nước kém nhìnchung không phù hợp với canh tác lúa nước Nhóm hai là nhóm đất nhẹ trungbình, thoát nước tốt, có trường hợp ngập trong mùa mưa nên công thức luâncanh nên là Lúa cạn - Lúa nước - Đậu xanh hoặc lạc để tăng khả năng cải tạođất Nhóm ba đất nhẹ trung bình, thoát nước trung bình đến tốt, bị ngập sớmnên trồng Lúa - Đậu xanh thì tốt hơn [12]
Lúa mạch, lúa mì, đại mạch và tỏi là những cây trồng nhiều trong vụĐông ở Triều Tiên, lúa mạch đen là cây quan trọng cho chăn nuôi bò sữa, nêncác công thức luân canh được lựa chọn là: Lúa - Đại mạch; Lúa - Lúa mạchđen; Lúa - Tỏi (Tea Soon Kwal, 1986) [24]
Từ những mối liên hệ giữa cây trồng với môi trường và quản lý nôngnghiệp, Bill Mollison (1994) [13] đã đề ra phương pháp nghiên cứu hệ thống,công thức luân canh cây trồng mới với hệ canh tác đơn giản để thay thế hệthống canh tác cũ, nhằm khắc phục tình trạng mất cân bằng sinh học, có tiềm
Trang 20lực về mặt kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu của con người màkhông bóc lột đất đai, ô nhiễm môi trường Nông nghiệp bền vững, sử dụngnhững đặc điểm của cảnh quan và cấu trúc, sử dụng diện tích một cách ít nhất.
Một số nước ở khu vực Đông nam Á đã có nhiều công trình nghiên cứu
về hệ thống nông nghiệp, luân canh cây trồng, kết quả nghiên cứu đã gópphần nâng cao năng suất, sản lượng và giá trị sản xuất của cây trồng
Bangladet đã xây dựng hệ thống canh tác kết hợp một biến dạng của hệcanh tác nhiều loài khác nhau trên cùng một lô đất Lợi ích của việc trồng kếthợp là làm tăng hiệu quả của sử dụng đất, nước, ánh sáng, dinh dưỡng đất,phân bón tạo điều kiện sinh thái tốt cho cây trồng sinh trưởng, phát triển vàhạn chế bị sâu bệnh phá hại Ở đây còn áp dụng phương pháp “cây trồng đồnghành” trong việc trồng xen để giảm sâu bệnh, như trồng hành xen với bắp cải,mùi của cây hành toả ra đã làm hạn chế côn trùng xuất hiện gây hại bắp cải(Shimpei Murakami, 1992) [14]
Theo Nguyễn Xuân Mai (1998) [15], thì ở Thái Lan đã có nhiều tiến bộ
kỹ thuật góp phần phát triển hệ thống cây trồng Trồng kết hợp giữa câylương thực và cây họ đậu trên đất dốc giúp cho năng suất cây trồng tăng 2 lần.Những công thức luân canh trên hệ thống canh tác 3 vụ đất lúa được trồng ởPhayou gồm:
- Hành - Lúa - Đậu tương;
- Đậu xanh - Lúa - Đậu tương;
- Đậu xanh - Lúa - Lúa mì;
- Ngô đông - Lúa - Lúa mì;
- Đậu xanh - Lúa - Khoai tây
Hệ thống canh tác 2 vụ trên đất lúa nên dùng công thức: Đậu xanh Lúa; ngô Đông - Lúa
Trang 21-1.2.2 Tình hình luân canh cây trồng ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ những năm 1960 nhiều nhà khoa học đã có nhữngnghiên cứu về xây dựng hệ thống luân canh cây trồng hợp lý, trên cơ sở đưacác giống cây trồng ngắn ngày, có tiềm năng năng suất cao vào sản xuất
Trong hệ thống luân canh trên đất bạc màu ở miền Bắc Việt Nam, cây
vụ đông có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất, nhờ vụ đông mà đất trồngđược che phủ trong suốt thời kỳ khí hậu khô hạn (trong điều kiện khô hạn, đấtmàu bị thoái hoá nhanh nhất, đồng thời các chất hữu cơ phân huỷ mạnh) Cây
vụ đông đã làm tăng độ ẩm của đất từ 30 - 50% so với không trồng cây vụđông Đất bạc màu có trồng cây vụ đông đều làm tăng năng suất cây trồng vụsau một cách rõ rệt (Bùi Huy Đáp, 1977) [16]
Mỗi một khu vực có điều kiện sinh thái, đất đai, khí hậu khác nhau, dovậy các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học ở mỗi khu vực cho cáckết quả khác nhau, cơ cấu cây trồng, hệ thống nông nghiệp được xây dựng ởmỗi vùng một khác
Vụ Đông ở miền Bắc Việt Nam là vụ thích hợp với cây trồng cạn trongmùa khô Theo Đào Thế Tuấn (1984) [8] vụ Đông thích hợp với các loại câytrồng ngắn ngày có nguồn gốc ôn đới như khoai tây, hành tây, bắp cải, su hào,súp lơ… và một số cây trồng khác như thuốc lá, khoai lang, ngô, đậu tương…
Nguyễn Duy Tính (1984) [17] cho rằng, hầu hết các diện tích canh tác
có nước tưới được sử dụng để trồng lúa, màu, cây công nghiệp ngắn ngàyđược sử dụng theo công thức luân canh phổ biến sau:
- Một vụ lúa/năm (một vụ lúa mùa bỏ hoá một vụ chiêm)
- Hai vụ lúa/năm (Lúa chiêm - Lúa Mùa)
- Ba vụ/năm (lúa Xuân - Lúa Mùa - vụ Đông)
Gần đây xuất hiện một số công thức luân canh 4 vụ/năm: Lúa Xuân Lúa Hè thu - Lúa Mùa - vụ Đông và công thức: Lúa - Cá - Cây ăn quả…Tuynhiên hai công thức này chiếm tỷ lệ diện tích chưa nhiều
Trang 22-Theo Lý Nhạc (1987) [5] thì cho rằng ở nước ta có 3 loại hình luâncanh tăng vụ:
- Luân canh giữa cây trồng cạn với nhau
- Luân canh giữa cây trồng cạn với cây trồng nước
- Luân canh giữa các cây trồng nước với nhau
Loại hình luân canh cây trồng cạn với cây trồng nước sẽ được mở rộng
vì nó có tác dụng cải tạo đất tốt Các loại hình luân canh cây trồng nước hoặccạn với nhau nếu có điều kiện nên đổi thành loại hình luân canh cạn nước để
áp dụng công thức 2 lúa - 1 màu
Ở chân đất quanh năm không ngập nước, thành phần cơ giới nhẹ dễthoát nước thường luân canh cây họ đậu (đậu tương, lạc, đậu cô ve, đậuxanh ) (Phùng Đăng Chinh, Lý Nhạc, 1987) [5]
Đặc biệt trong những năm gần đây, để góp phần thực hiện các mục tiêu
về sản xuất nông nghiệp của Đảng và Nhà nước, cùng với việc chọn tạo, dunhập, khu vực hoá nhiều giống cây trồng vừa có năng suất cao vừa có khảnăng chống chụi tốt với điều kiiện ngoại cảnh bất lợi vừa ngắn ngày nhiều cơquan khoa học, nhiều Nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu và có nhiều kếtquả quan trọng đóng góp cho sự phát triển của hệ thống luân canh cây trồngnhư: Lê Song Dự (1990) [18] nghiên cứu đưa cây đậu tương vào hệ thống câytrồng ở Miền Bắc Việt Nam, đã có kết luận: đậu tương hè có năng suất khácao, ổn định có thể mở rộng ở vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ, trong hệthông lúa Xuân- Đậu tương Hè - Lúa Mùa
Theo Lý Nhạc (2005) [10], luân canh ở nước ta tuy có được khá nhiềumặt mạnh nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số điểm yếu
Mặt mạnh:
- Tăng hệ số sử dụng ruộng đất: tăng vòng quay sử dụng đất trong mộtnăm
Trang 23- Loại hình luân canh phong phú gồm có luân canh cây trồng cạn vớinhau, luân canh cây trồng cạn với cây trồng nước, luân canh cây trồng nướcvới nhau.
- Trong luân canh cây họ đậu ăn hạt với cây phân xanh bồi dưỡng đất
có số lượng nhiều, chất lượng tốt Ngoài cây họ đậu ăn quả như đỗ tương, đậuxanh, đậu đen, đậu cô ve còn có đậu tương, cây điền thanh…
- Chu kỳ luân canh ngắn trên đất bãi: ngô xen đậu gối đay xanh, rồingập lụt (dọc sông Hồng)
- Lạc thu hoạch xong thì gieo vừng rồi ngập lụt (dọc sông Thu Bồn),tận dụng đất tốt
- Sản xuất chuyên môn hóa một loại cây trồng, đồng thời kết hợp sảnxuất thêm một số cây khác ở những vùng chuyên canh cây lưu niên
- Chế độ luân canh đã đạt hiệu quả kinh tế khá
- Đã có loại hình luân phiên giữa lúa và cá Đó là luân phiên cây - conMặt hạn chế: Còn khá nhiều và là những vấn đề cơ bản
- Chưa khai thác đầy đủ những thuận lợi, đồng thời chưa hạn chế mặttiêu cực của khí hậu nhiệt đới
- Chưa quán triệt ba đặc điểm của sản xuất nông nghiệp trong luân canh
đó là tính chất khu vực rất nghiêm ngặt, tính chất thời vụ rất khẩn trương, tínhchất liên tục
- Chưa kết hợp chặt chẽ giữa ba khâu của sản xuất nông nghiệp sinhthái gồm có sản xuất thực vật, sản xuất động vật và bồi dưỡng đất
- Việc kết hợp đồng thời giữa sử dụng đất và bồi dưỡng đất chưa tiếnhành mạnh mẽ
- Chỉ có luân canh về thời gian, chưa có luân canh về không gian
- Diện tích độc canh lúa còn quá nhiều
Trang 24CHƯƠNG 2 : ĐỒI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các hệ thống luân canh cây trồng hiện tại của xã Đồng Phúc
- Hiểu biết của người dân xã Đồng Phúc về vai trò của luân canh trongquản lý dinh dưỡng đất
- Các yếu tố tự nhiên (đất, nước, khí hậu, các yếu tố sinh vật…), cácyếu tố về kinh tế – xã hội (các cơ chế, chính sách, thị trường, giá cả, dịch vụ,điều kiện cơ sở hạ tầng và nông hộ…) của vùng nghiên cứu
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Người dân và hệ thống luân canh cây trồng tại
xã Đồng Phúc, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 01/2016 đến tháng 06/2016
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu hiện trạng và cấu trúc sản xuất rau màu tại xã
+ Điều kiện sản xuất
+ Cơ cấu các loại cây trồng
+ Các công thức luân canh cây trồng
- Nghiên cứu hiểu biết của người dân về vai trò của luân canh trongquản lý dinh dưỡng đất
- Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố chính chi phối việc áp dụng luâncanh cây trồng tại địa phương
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường áp dụng luân canh tại địaphương
2.4 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Dữ liệu
Dữ liệu phục vụ nghiên cứu đến từ hai nguồn Dữ liệu thứ cấp được thuthập từ xã với các chỉ tiêu về kinh tế, xã hội và sản xuất Dữ liệu sơ cấp đượcthu thập thông qua phỏng vấn nông hộ
Trang 252.4.2 Phương pháp
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập số liệu, tài liệu bản đồ, biểu đồ tại cơ quan có liên quan, thưviện, mạng internet…
Thu thập các tài liệu, số liệu về diện tích đất nông nghiệp hay các tàiliệu, số liệu liên quan tại UBND xã, phòng NN&PTNN và phòng TNMThuyện
Thu thập các số liệu về năng suất, sản lượng, các khuyến cáo về sốlượng phân bón, thuốc BVTV
Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp
Chọn mẫu hộ phỏng vấn xã Đồng Phúc gồm có 11 thôn nhưng do ởmỗi thôn các hộ dân sống gần nhau thường có tập quán và kinh nghiệm canhtác giống nhau nên phương pháp chọn mẫu được quyết định dưới dạng ngẫunhiên theo thôn Do số hộ dân ở môi thôn không đồng đều nên số lượng phiếuphỏng vấn tại mỗi làng được cho như bảng sau:
Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
Số liệu sau khi được điều tra và phân tích thống kê mô tả bằng phầnmềm Excel những hiện trạng sản xuất rau màu tại địa phương, những hiểubiết của người dân về vai trò của luân canh trong quản lý dinh dưỡng đất
Trang 26CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của xã Đồng Phúc
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Xã Đồng Phúc là xã miền núi nằm về phía Đông Nam của huyện YênDũng, cách trung tâm huyện (thị trấn Neo) khoảng 8km
- Phía Bắc giáp xã Đức Giang
- Phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Bắc Ninh, phía Đông Nam giáp tỉnhHải Dương
- Phía Đông giáp với xã Đồng Việt
- Phía Tây giáp xã Tư Mại
Địa hình địa mạo
Địa hình của xã tương đối phức tạp, độ cao thấp không đồng đều, cócác quả đồi xen kẽ với đồng lúa, địa hình nghiêng dần từ Tây Bắc xuốngĐông Nam Do có đặc điểm địa hình phức tạp nên việc bố trí sản xuất của xãgặp nhiều khó khăn, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp
Khí hậu
- Nhiệt độ: NHiệt độ trung bình năm vào khoảng 23,1oC, nhiệt độ thángcao nhất là 28,8 oC (tháng 7), nhiệt độ tháng thấp nhất là 15,6oC (tháng 1);nhiệt độ thấp, đôi khi có sương muối đã gây khó khăn cho khâu làm mạ vàgieo cấy vụ chiêm xuân của xã Biên độ dao động nhiệt giữa các tháng caonhất và thấp nhất là 13,2OC
- Lượng mưa: Lương mưa trung bình hàng năm vào khoảng 1.600 mm,chủ yếu tập trung vào các tháng 6, 7, 8, 9, trong đó tháng 8 có lượng mưa caonhất (307 mm); do mưa nhiều, lượng mưalớn, tập trung nên đã gây ra tìnhtrạng ngập úng, làm ảnh hưởng xấu đến trồng trọt của xã Tháng có lượngmưa thấp nhất là tháng 12 (16,7 mm)
Trang 27- Số giờ nắng: Số giờ nắng trung bình hàng năm là 82%, độ ẩm khôngkhí cao nhất là 92%, thấp nhất là 70%.
- Chế độ gió: Gió thổi theo 2 mùa rõ rệt, gió đông bắc về mùa lạnh vàgió đông nam về mùa nóng Các tháng 4, 5, 6 thỉnh thoảng xuất hiện gió tâynam khô nóng, song ít gây ảnh hưởng tới sản xuất
Thủy văn
Xã tiếp giáp với 2 con sông về phía Nam là sông Cầu và sông Thương,chính vì vậy nên xã có nguồn cung cấp nước dồi dào cho sản xuất và sinhhoạt của nhân dân Ngoài ra trên địa bàn xã còn có một hệ thống hồ, ao, thùngđào tập trung thành một dải dọc theo các con đê cũng là nguồn nước phục vụtưới tiêu cho đồng ruộng và phục vụ cho sinh hoạt của nhân dân
Đồng phúc gần như là một vùng rồn nước của huyện Mùa mưa nước từkhắp nơi chảy rồn về đây làm cho việc tiêu úng của xã gặp nhiều khó khăn
3.1.2 Tài nguyên thiên nhiên
Trang 28Tài nguyên nước
Nước là nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếucủa sự sống, môi trường và quyết định sự tồn tài và phát triển bền vững củađất nước
Tài nguyên nước chủ yếu bao gồm:
- Nước mặt: được cung cấp chủ yếu bới nước sông Thương, sông Cầu
và các ao, hồ, đầm, cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp là chính Về sinhhoạt, 100% ngườ dân thường dung nước giếng khơi, giếng khoan và nướcmưa
- Nước ngầm: nước ngầm của xã chủ yếu được khai thác sử dụng quahình thức giếng khoan, lượng nước dao động theo mùa, thường ở độ sâu từ5m – 10m
Tài nguyên nhân văn
Nhân dân trong xã 100% là người Kinh, có truyền thống lao động cần
cù, có tinh thần yêu thường đùm bọc lẫn nhau, đoàn kết trong mọi hoạt độngđời sống xã hội Đó là truyền thống quý báu của địa phương Các lễ hội được
tổ chức hàng năm đây là điều kiện để người dân giao lưu trao đổi văn hóa
Cảnh quan môi trường
Đồng phúc là xã miền núi cua huyện Yên Dũng với nền sản xuất nôngnghiệp là chính, không có sự phát triển của công nghiệp, nên môi trường cảnhquan của xã không bị ảnh hưởng của các hoạt động công nghiệp Tuy nhiên làmột xã ven sông, môi trường của xã lại bị ảnh hưởng từ rác thải trôi theo dòngsông vào mùa mưa lũ
Suy thoái môi trường đất: Môi trường đất phần nào bị ảnh hưởng (chaicứng và ô nhiễm) bởi sự lạm dụng phân bón hóa học cũng như thuốc bảo vệthực vật mà người dân đã sử dụng trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp
Cảnh quan cũng đang có sự thay đổi mạnh mẽ theo xu hướng côngnghiệp hóa hiện đại hóa
Trang 293.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội xã Đồng Phúc
Tăng trưởng – chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội trong những năm quacho thấy: nền kinh tế của xã luôn có sự chuyển biến, cơ cấu kinh tế chuyểndịch tích cực, sản xuất nông nghiệp và các dịch vụ ngành nghề tiếp tục đượcphát triển, sản xuất nông nghiệp được mùa, năng suất sản lượng đều tăng Tuynhiên, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông thôn còn chậm, cơ cấu trongnông nghiệp chưa chuyển mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa Phát triểnngành nghề chưa mạnh dẫn tới thu nhập của người dân chưa cao
Thực trạng phát triển các ngành kinh tê:
Khu kinh tế nông nghiệp
Về trồng trọt:
Mặc dù trong những năm qua điều kiện thời tiết không thuận lợi choviệc sản xuất nông nghiệp, đầu năm thường có rét đậm và rét hại kéo dài, tìnhhình mưa nắng thất thường Nhưng vượt qua được những khó khăn đó nhândân xã Đồng Phúc vẫn đảm bảo cho cây lúa đủ nước sinh trưởng; đồng thờilàm tốt công tác khuyến nông, thông báo phòng trừ sâu bệnh diệt chuột kịpthời
Trang 30ha Nhân dân đã chủ động đầu tư xây dựng ao nuôi và chăn nuôi theo hướngcông nghiệp, đưa các loại giống cá có năng suất, chất lượng và giá cả cao vàochăn nuôi như cá Chép, Chắm đen, Chắm cỏ, Rô phi, năng suất ước đạt 69tạ/ha.
Thu nhập từ nuôi trồng thủy sản ước đạt: 9 tỷ đồng
Tuy nhiên diện tích nuôi trồng thủy sản có giá trị kinh tế cao còn ít
Bảng 3.1: Tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp qua 1 số năm của
xã Đồng Phúc
Trang 31Chỉ tiêu ĐVT Năm
2013 2014 2015
1 Trồng trọt
Diện tích gieo trồng Ha 373,35 395,00 390,00 Năng suất Tấn/ha 4,5 4,70 4,80 Diện tích trồng màu Ha 32,45 35,00 40,00 Diện tích cây ngô Mẫu 20,75 20,00 20,00 Tổng sản lượng LT quy thóc Tấn 6.097,90 6.453,60 6.618,00 Bình quân lương thực đầu người Kg/người/năm 783,50 800,00 822,00
2 Chăn nuôi
Lợn Con 4.800 4.080 5.500 Trâu Con 520 361 197
Bò Con 670 936 1.177 Gia cầm Con 29.226 43.000
(Nguồn: Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển KH-XH của xã Đồng Phúc năm 2015)
Khu vực kinh tế công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ
Đồng Phúc là một xã xa thị, xa lộ Các ngành nghề công nghiệp – tiểuthủ công nghiệp gần như chưa có gì Mạng lưới dịch vụ chỉ mới đáp ứng đượcnhững nhu cầu thiết yếu của nhân dân trong xã như cung ứng vật tư nôngnghiệp, vật liệu xây dựng, vận chuyển hàng hóa, thu mua hàng nông sản, chếbiến lương thực thực phẩm và một số lĩnh vực khác Với lợi thế về tiềm năngđất đai, chủ yếu đất bãi ven sông Cầu, sông Thương phát triển nghề sảnxuất gạch áp dụng công nghệ đun đốt xử lý khí thải ít gây ô nhiễm đến môitrường, mang lại giá trị kinh tế cao, giải quyết tạo việc làm cho lao độngđịa phương
Trên địa bàn xã hiện có 01 nhà máy gạch Thắng Lợi và 09 cặp lò đunđốt gạch áp dụng công nghệ xử lý khí thải đã thu hút 450 lao động vào làmviệc với mức thu nhập từ 4.000.000đ đến 5.000.000đ/người/tháng
Ngoài ra một số hộ dân đã đầu tư sản xuất gạch không nung, hạn chếgây ô nhiễm đến môi trường
Các ngành nghề dịch vụ như: Cơ khí, sửa chữa, nghề mộc, nề, cung ứngvật tư nông nghiệp, kinh doanh vận tải phục vụ sản xuất và nhu cầu của nhândân phát triển tốt