1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao nhận thức đạo đức cho sing viên khối ngành sử phạm trường đại học tây bắc thông qua cuôc vận độngđẩy mạng học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách hồ c

76 298 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 872,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ: Thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cá

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

-

VŨ THỊ HỒNG NHUNG

NÂNG CAO NHẬN THỨC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN KHỐI NGÀNH SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC THÔNG QUA CUỘC VẬN ĐỘNG “ĐẨY MẠNH HỌC TẬP

VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC,

PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, tháng 5 năm 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

-

VŨ THỊ HỒNG NHUNG

NÂNG CAO NHẬN THỨC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN KHỐI NGÀNH SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC THÔNG QUA CUỘC VẬN ĐỘNG “ĐẨY MẠNH HỌC TẬP

VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC,

PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH”

CHUYÊN NGÀNH: XH2b

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giảng viên hướng dẫn: ThS Giang Quỳnh Hương

Sơn La, tháng 5 năm 2017

Trang 3

“Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”

làm khóa luận tốt nghiệp

Để hoàn thành đề tài này, em xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với các thầy cô giáo trong khoa Lý luận chính trị và nhà trường đã tạo điều kiện giúp đỡ

em trong quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn cô giáo ThS Giang Quỳnh Hương, người đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ đạo, theo sát và đóng góp những ý kiến quý báu cho khóa luận của em hoàn thành đúng tiến độ và mục tiêu

Trong quá trình điều tra còn nhiều khó khăn và năng lực còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự ủng hộ, chỉ bảo

và đóng góp ý kiến của Hội đồng Khoa học nhà trường, các thầy cô giáo và các bạn sinh viên cho khóa luận tốt nghiệp của em được hoàn thiện

Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, ngày 08 tháng 05 năm 2017

Sinh viên thực hiện

Vũ Thị Hồng Nhung

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu vấn đề 3

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 4

3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích nghiên cứu 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Đóng góp của khóa luận 5

Chương 1 : QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÊ ĐẠO ĐỨC 6

1.1 Quan niệm của chủ nghĩa Mác về đạo đức 6

1.1.1 Quan niệm của các nhà triết học trước Mác về đạo đức 6

1.1.2 Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về đạo đức 7

1.1.2.1 Khái niệm đạo đức 7

1.1.2.2 Cấu trúc của đạo đức 10

1.1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức 13

1.1.3.1 Hồ Chí Minh, lãnh tụ có nhiều cống hiến về tư tưởng đạo đức cách mạng 13

1.1.3.2 Bản chất, đặc điểm tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh 14

1.2 Nội dung cuộc vận động và học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh 15

1.2.1 Nhận thức chung về cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” 15

1.2.2 Những nội dung chủ yếu của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh 18

Kết luận chương 1 39

Trang 5

Chương 2 : THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP TRAU DỒI ĐẠO ĐỨC THÔNG QUA VIỆC NÂNG CAO NHẬN THỨC CHO SINH VIÊN KHỐI NGÀNH SƯ PHẠM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC VỀ CUỘC VẬN ĐỘNG: “ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO

ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH” 40

2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của sinh viên 40

2.1.1 Yếu tố khách quan 40

2.1.2 Yếu tố chủ quan 42

2.2 Kết quả nhận thức của sinh viên khối ngành sư phạm Đại học Tây Bắc đối với cuộc vận động và những hạn chế, tồn tại 43

2.2.1 Kết quả nhận thức 43

2.2.2 Những hạn chế và tồn tại 49

2.3 Những kiến nghị và đề xuất nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên khối ngành sư phạm trường đại học Tây Bắc với cuộc vận động, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh 51

2.3.1 Đối với nhà trường 51

2.3.2 Đối với Đoàn thanh niên 55

2.3.3 Đối với các tổ chức đoàn thể khác 57

2.3.4 Đối với bản thân sinh viên 58

KẾT LUẬN 61 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay đang là vấn đề bức xúc trong dư luận xã hội Nó làm cho nhân dân lo lắng, bất bình, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, đến việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ: Thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là các cơ quan công quyền, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lí đất đai, quản lý doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài chính, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng Đó là một nguy cơ lớn, liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ

Trong khi đặt phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, Đảng ta đã khẳng định vai trò quyết định của nhân tố con người, vai trò nền tảng tinh thần và động lực phát triển của văn hóa, đạo đức Giáo dục đạo đức là một trong những biện pháp đảm bảo sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, sự ổn định

xã hội, tạo điều kiện cho sự phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững của đất nước theo mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Văn hóa, đạo đức là động lực phát triển của xã hội Công cuộc đổi mới đất nước đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao, cần phải phát huy mạnh mẽ nội lực, giải phóng mọi tiềm năng cho sự phát triển Phát huy mạnh mẽ những chuẩn mực đạo đức mới như năng động, sáng tạo, quyết tâm vượt khó làm giàu,…, là động lực tinh thần to lớn để đẩy mạnh công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay

Trang 7

Kinh tế thị trường càng phát triển, càng đặt ra yêu cầu cao về đạo đức xã hội nói chung, đạo đức trong sản xuất, kinh doanh nói riêng Xã hội muốn giàu mạnh, văn minh, phát triển bền vững, mỗi cá nhân muốn thành đạt, phải biết cạnh tranh và hợp tác, năng động, sáng tạo, lao động có kỉ luật, có kĩ thuật, có năng suất, có chất lượng, hiệu quả cao, đồng thời phải tôn trọng chữ “tín”, có lương tâm nghề nghiệp Đó cũng chính là những yêu cầu và giá trị đạo đức phải xây dựng trong kinh tế thị trường

Trong bất kì giai đoạn cách mạng nào, đặc biệt trong tình trạng suy thoái

về tư tưởng, đạo đức, lối sống nghiêm trọng như hiện nay, cán bộ, đảng viên của Đảng muốn phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu, lãnh đạo được quần chúng, nhất thiết phải học tập, tu dưỡng, rèn luyện để trở thành tấm gương sáng về đạo đức Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền Mỗi đảng viên, cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân” [11, 252 – 253]

Học tập, tu dưỡng đạo đức thường xuyên là cơ sở để hoàn thiện mỗi cá nhân, vì đạo đức của mỗi người không phải tự nhiên xuất hiện, mà do mỗi người

tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn và tiếp thu sự giáo dục, quản lý của tổ chức, tập thể, cộng đồng, gia đình và xã hội Vì vậy, để giữ gìn và phát huy những giá trị cao đẹp, đòi hỏi mỗi người phải thường xuyên học tập, tu dưỡng, rèn luyện, tự hoàn thiện chính bản thân mình Mọi sự buông thả, thiếu tự giác học tập, rèn luyện, tu dưỡng, xa rời sự quản lý, giáo dục của tập thể, cộng đồng, đoàn thể và gia đình là con đường dẫn tới hư hỏng, tự đánh mất chính bản thân mình

Hiện nay, đất nước đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, thì việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức cách mạng của Chủ Tịch Hồ Chí Minh trở nên hết sức quan trọng Bởi vì tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh luôn

là bộ phận quan trọng của nền tảng tinh thần xã hội, là động lực, nguồn sức mạnh to lớn để nhân dân ta phát huy nội lực, vượt qua thử thách, khó khăn để

Trang 8

tiến lên Đặc biệt, học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người là một biện pháp quan trọng để mọi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng sửa chữa, khắc phục tình trạng suy thoái “có tính nghiêm trọng” về đạo đức, lối sống, giữ vững niềm tin của nhân dân về sự lãnh đạo của Đảng

Vì vậy quan tâm đến việc thực hiện nâng cao nhận thức đạo đức cho sinh viên ngành sư phạm trường Đại học Tây Bắc theo tấm gương và đạo đức Hồ

Chí Minh em quyết định lựa chọn đề tài “Nâng cao nhận thức đạo đức cho sinh viên khối ngành sư phạm trường đại học Tây Bắc thông qua cuộc vận

động “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí

Minh” làm khóa luận tốt nghiệp nhằm góp phần đẩy mạnh nâng cao đạo đức

cho sinh viên khối ngành sư phạm trường Đại học Tây Bắc theo tấm gương đạo đức Bác Hồ

2 Tình hình nghiên cứu vấn đề

Vai trò, vị thế, tầm quan trọng của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là vấn đề đã và đang được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, chú trọng Đáp ứng yêu cầu thực tiễn, có không ít các công trình nghiên cứu của các tổ chức hoặc cá nhân đã góp phần luận giải nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra trong nghiên cứu:

- Các đề tài khoa học về tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và việc nâng cao đạo đức cho sinh viên thông qua việc học tập và làm theo tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh:

- Đề tài “Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách

sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” tác giả Trần Sỹ Phán,( Luận án

tiến sĩ Triết học, 1999, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)

- Đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh với công tác chăm lo, bồi dưỡng đạo đức

thế hệ trẻ” tác giả Nguyễn Ngọc Hiếu (2013, đại học Kiến trúc thành phố Hồ

Chí Minh)

- Giáo dục đạo đức cho sinh viên trường đại học Tây Bắc thông qua cuộc

vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tác giả ThS

Trang 9

Đinh Thế Thanh Tú (giảng viên khoa Lí luận chính trị - trường đại học Tây Bắc

- Tạp chí giáo dục và xã hội - số đặc biệt tháng 5/2016)

Những tài liệu trên của các tác giả là nguồn tư liệu quý giúp tôi tiếp thu tham khảo, làm định hướng cho khóa luận tốt nghiệp của mình

Ở Thành Phố Sơn La, việc nghiên cứu nâng cao đạo đức, lối sống cho sinh viên ngành sư phạm tại trường Đại học Tây Bắc hiện nay vẫn chưa có công trình

nghiên cứu chuyên sâu nào Vì vậy, đề tài Nâng cao đạo đức cho sinh viên khối ngành sư phạm trường đại học Tây Bắc thông qua cuộc vận động

“Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”

trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những công trình nghiên cứu trước đây tôi mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này với lòng mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn đã và đang đặt ra

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đạo đức của sinh viên khối ngành sư phạm trường Đại học Tây Bắc về

cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Sinh viên khối ngành sư phạm trường Đại học Tây Bắc

4 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ nhận thức của sinh viên khối ngành sư phạm trường đại học Tây

Bắc đối với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí

Minh” Qua đó, đưa ra một số ý kiến, đề xuất nhằm nâng cao nhận thức của sinh

viên khối ngành sư phạm trường đại học Tây Bắc đối với cuộc vận động này

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu và đánh giá thực trạng đạo đức của sinh viên khối ngành sư

phạm trường đại học Tây Bắc thông qua cuộc việc học tập và làm theo tư

tưởng,đạo đức,phong cách Hồ Chí Minh

- Đề xuất các phương hướng nhằm phát triển nâng cao đạo đức cho sinh viên khối ngành sư phạm trường đại học Tây Bắc thông qua cuộc vận động

“Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”

Trang 10

6 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, người nghiên cứu dựa trên phương pháp luận Chủ Nghĩa Mác – Lênin: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời thời vận dụng một số phương pháp cụ thể sau:

- Phương pháp phân tích các tài liệu

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp thống kê so sánh

- Phương pháp điều tra xã hội học

7 Đóng góp của khóa luận

Làm rõ được thực trạng đạo đức của sinh viên khối ngành sư phạm trường đại học Tây Bắc theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh Từ đó

đề ra các phương hướng và một số kiến nghị nhằm nâng cao đạo đức cho sinh viên khối ngành sư phạm trường đại học Tây Bắc thông qua cuộc vận động

“Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”

Trang 11

Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VÊ ĐẠO ĐỨC 1.1 Quan niệm của chủ nghĩa Mác về đạo đức

1.1.1 Quan niệm của các nhà triết học trước Mác về đạo đức

Trước Mác, Ăngghen, những nhà triết học (kể cả duy tâm và duy vật) đều rơi vào quan niệm duy tâm khi xem xét vấn đề xã hội và đạo đức Họ không thấy được tính quy định của nhân tố kinh tế đối với sự vận động của xã hội nói chung và đạo đức nói riêng Do vậy, đạo đức với tính cách là một lĩnh vực hoạt động đặc thù của con người, của xã hội được nhìn nhận một cách tách rời cơ sở kinh tế - xã hội sinh ra và quy định nó Các nhà triết học, đạo đức trước Mác đã tìm nguồn gốc, bản chất của đạo đức hoặc ở ngay chính bản tính của con người, hoặc ở một bản thể siêu nhiên bên ngoài con người, bên ngoài xã hội Nét chung của các lý thuyết này là không coi đạo đức phản ánh cơ sở xã hội, hiện thực

khách quan

Các nhà triết học - thần học coi con người và xã hội chẳng qua chỉ là những hình thái biểu hiện cụ thể khác nhau của một đấng siêu nhiên nào đó Những chuẩn mực đạo đức là những do thần thánh tạo ra để răn dạy con người Mọi biểu hiện đạo đức của con người do vậy đều là sự thể hiện cái thiện tối cao

từ đấng siêu nhiên và tiêu chuẩn tối cao để thẩm định thiện - ác chính là sự phán xét của đấng siêu nhiên đó

Những nhà duy tâm khách quan tiêu biểu như Platon, sau là Hêghen tuy không mượn tới thần linh, nhưng lại nhờ tới “ý niệm” hoặc “ý niệm tuyệt đối lý giải nguồn gốc và bản chất đạo đức suy cho cùng, cũng tương tự như vậy Những nhà duy tâm chủ quan nhìn nhận đạo đức như là những năng lực “tiên thiên” của lý trí con người Ý chí đạo đức hay là “thiện ý” theo cách gọi của Cantơ, là một năng lực có tính nhất thành bất biến, có trước kinh nghiệm, nghĩa

là có trước và độc lập với những hoạt động với những hoạt động mang tính xã hội của con người

Trang 12

Những nhà duy vật trước Mác, mà tiêu biểu là L Phôi bách đã nhìn thấy đạo đức trong quan hệ con người, người với người Nhưng với ông, con người chỉ là một thực thể trừu tượng, bất biến, nghĩa là con người ở bên ngoài lịch sử, đứng trên giai cấp, dân tộc và thời đại

Những người theo quan điểm Đác Uyn xã hội đã tầm thường hóa chủ nghĩa duy vật bằng cách cho rằng những phẩm chất đạo đức của con người là đồng nhất với những bản năng bầy đàn của động vật Đối với họ, đạo đức về thực chất cũng chỉ là những năng lực được đem lại từ bên ngoài con người, từ xã hội

1.1.2 Quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về đạo đức

1.1.2.1 Khái niệm đạo đức

Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức học đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại Danh từ “đạo đức” bắt nguồn từ tiếng La tinh là mos (moris) - lề thói, (moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa) Còn “luân lí” thường xem như đồng nghĩa với “đạo đức” thì gốc ở chữ Hy Lạp là Êthicos nghĩa là lề thói, tập tục Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi ta nói đến đạo đức, tức là nói đến những lề thói tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm, moral là đạo đức, còn Ethicos là đạo đức học Ở phương đông, các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại bắt nguồn từ cách hiểu về đạo và đức của họ Đạo là một trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học trung Quốc cổ đại Đạo có nghĩa là con đường, đường đi, về sau khái niệm đạo được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên Đạo còn có nghĩa là con đường sống của con người trong xã hội Khái niệm đạo đức đầu tiên xuất hiện trong kinh văn đời nhà Chu và từ đó trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý Như vậy có thể nói đạo đức của người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo

Trang 13

Ngày nay, đạo đức được định nghĩa như sau: Đạo đức là một hình thái ý

thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội

Theo Mác và Ăngghen, trước khi sáng lập các thứ lý luận và nguyên tắc bao gồm cả triết học và luân lí học, con người đã hoạt động, tức là đã sản xuất ra các tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống Ý thức xã hội của con người là phản ánh tồn tại xã hội của con người Các hình thái ý thức xã hội khác nhau tuỳ theo phương thức phản ánh tồn tại xã hội và tác động riêng biệt đối với đời sống xã hội Đạo đức cũng vậy, nó là hình thái ý thức xã hội phản ánh một lĩnh vực riêng biệt trong tồn tại xã hội của con người Và cũng như các quan điểm triết học, chính trị, nghệ thuật, tôn giáo, đạo đức cũng mang tính chất của kiến trúc thượng tầng Chế độ kinh tế xã hội là nguồn gốc của quan điểm này thay đổi theo cơ sở

đã đẻ ra nó Bất kỳ trong thời đại lịch sử nào, người ta cũng đều được đánh giá như vậy Các khái niệm: thiện ác, khuôn khép và qui tắc hành vi của con người thay đổi từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác Và trong xã hội có giai cấp thì bao giờ cũng biểu hiện lợi ích của một giai cấp nhất định Những khuôn khép (chuẩn mực) và qui tắc đạo đức là yêu cầu của xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi mỗi cá nhân Nó bao gồm hành vi của cá nhân đối với xã hội (đối với tổ quốc, nhà nước, giai cấp mình và giai cấp đối địch…) và đối với người khác Những chuẩn mực và quy tắc đạo đức nhất định được công luận của xã hội, hay một giai cấp, dân tộc thừa nhận

Ví dụ: Thích ứng với chế độ phong kiến, dựa trên cơ sở bóc lột những người nông nô bị cột chặt vào ruộng đất là đạo đức chế độ nông nô Thích ứng với chế

độ tư bản, dựa trên cơ sở bóc lột người công nhân làm thuê là đạo đức tư sản Chế độ xã hội chủ nghĩa tạo ra một nền đạo đức biểu hiện mối quan hệ hợp tác trên tình đồng chí và quan hệ tương trợ xã hội chủ nghĩa của những người lao động đã được giải phóng khỏi ách bóc lột Như vậy, sự phát sinh và phát triển

Trang 14

của đạo đức, xét đến cùng là một quá trình do sự phát triển của phương thức sản xuất quyết định

Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người Loài người đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi con người: phong tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức…Đối với đạo đức, sự đánh giá hành

vi con người theo khuôn khép chuẩn mực và qui tắc đạo đức biểu hiện thành những khái niệm về thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa Bất kỳ trong thời đại lịch sử nào, người ta cũng đều được đánh giá như vậy Các khái niệm thiện ác, khuôn khép và qui tắc hành vi của con người thay đổi từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác Và trong xã hội có giai cấp thì bao giờ cũng biểu hiện lợi ích của một giai cấp nhất định Những khuôn khép (chuẩn mực) và qui tắc đạo đức là yêu cầu của xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi mỗi cá nhân Nó bao gồm hành vi của cá nhân đối với xã hội (đối với tổ quốc, nhà nước, giai cấp mình và giai cấp đối địch…)

và đối với người khác Những chuẩn mực và quy tắc đạo đức nhất định được công luận của xã hội, hay một giai cấp, dân tộc thừa nhận Ở đây quan niệm của

cá nhân về nghĩa vụ của mình đối với xã hội và đối với người khác (khuôn khép hành vi) là tiền đề của hành vi đạo đức của cá nhân Đã là một thành viên của xã hội, con người phải chịu sự giáo dục nhất định về ý thức đạo đức, một sự đánh giá đối với hành vi của mình và trong hoàn cảnh nào đó còn chịu sự khiển trách của lương tâm…Cá nhân phải chuyển hóa những đòi hỏi của xã hội và những biểu hiện của chúng thành nhu cầu, mục đích và hứng thú trong hoạt động của mình Biểu hiện của sự chuyển hóa này là hành vi cá nhân tuân thủ những ngăn cấm, những khuyến khích, những chuẩn mực phù hợp với những đòi hỏi của xã hội…Do vậy sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện, và xét về bản chất, đạo đức là sự lựa chọn của con người

Đạo đức là một hệ thống các giá trị Giá trị là đối tượng của giá trị học (giá trị học phân loại các hiện tượng giá trị theo quan niệm đã được xây dựng nên một cách truyền thống về các lĩnh vực của đời sống xã hội, các giá trị vật chất và tinh thần, các giá trị sản xuất, tiêu dùng, các giá trị xã hội – chính trị,

Trang 15

nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo) Đạo đức là một hiện tượng xã hội, mang tính chuẩn mực: mệnh lệnh, đánh giá rõ rệt Các hiện tượng đạo đức thường biểu hiện dưới hình thức khẳng định, hoặc là phủ định một hình thức chính đáng, hoặc không chính đáng nào đó Nghĩa là nó bài tỏ sự tán thành hay phản đối trước thái độ hoặc hành vi ứng xử của các cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng trong một xã hội nhất định Vì vậy, đạo đức là một nội dung hợp lệ thống trị xã hội Sự hình thành phát triển và hoàn thiện hệ thống trị đạo đức không tách rời sự phát triển và hoàn thiện của ý thức đạo đức và sự điều chỉnh đạo đức Nếu hệ thống giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển, tiến bộ, thì hệ thống ấy có tính tích cực, mang tính nhân đạo Ngược lại, thì hệ thống ấy mang tính tiêu cực, phản động, phản nhân đạo

1.1.2.2 Cấu trúc của đạo đức

Đạo đức vận hành như là một hệ thống tương đối độc lập của xã hội Cơ chế vận hành của nó được hình thành trên cơ sở liên hệ và tác động lẫn nhau của những yếu tố hợp thành đạo đức Khi phân tích cấu trúc của đạo đức người ta xem xét nó dưới nhiều góc độ Mỗi góc độ cho phép chúng ta nhìn ra một lớp cấu trúc xác định Chẳng hạn: xét đạo đức theo mối quan hệ giữa ý thức và hoạt động thì hệ thống đạo đức hợp thành từ hai yếu tố ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức Nếu xét nó trong mối quan hệ giữa người và người thì người ta nhìn ra quan hệ đạo đức Nếu xét theo quan điểm về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái phổ biến cái đặc thù với cái đơn chất thì đạo đức được tạo nên từ đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân

Đạo đức là sự thống nhất biện chứng giữa ý thức về hệ thống những nguyên tắc, chuẩn mực, hành vi phù hợp với những quan hệ đạo đức đều có những ranh giới của hành vi và những quan hệ đạo đức đang tồn tại Mặt khác,

nó còn bao trùm cả những cảm xúc, những tình cảm đạo đức con người Trong quan hệ giữa người và người về mặt đạo đức đều có những ranh giới của hành vi

và giá trị đạo đức Đó là ranh giới giữa cái thiện và cái ác, giữa chủ nghĩa cá nhân ích kỷ và tinh thần tập thể Về mặt giá trị của hành vi đạo đức cũng có ranh giới: lao động là hành vi thiện Ăn bám bóc lột là vô nhân đạo Ngay cả trong

Trang 16

một hành vi thiện mức độ giá trị của nó không phải lúc nào cũng ngang nhau,

mà có những thang bậc nhất định (cao cả, tốt, được) Ý thức đạo đức là sự thể hiện thái độ nhận thức của con người trước hành vi của mình trong sự đối chiếu với hệ thống chuẩn mực hành vi và những qui tắc đạo đức xã hội đặt ra; nó giúp con người tự giác điều chỉnh hành vi và hoàn thành một cách tự giác, tự nguyện những nghĩa vụ đạo đức Trong ý thức đạo đức còn bao hàm cảm xúc, tình cảm đạo đức của con người Tóm lại, ý thức đạo đức (về mặt cấu trúc) gồm tri thức đạo đức, tình cảm đạo đức và ý chí đạo đức Thực tiễn đạo đức là hoạt động của con người do ảnh hưởng của niềm tin, ý thức đạo đức, là quá trình hiện thực hoá ý thức đạo đức trong cuộc sống Ý thức và thực tiễn đạo đức luôn có quan hệ biện chứng với nhau, bổ sung cho nhau tạo nên bản chất đạo đức con người, của một giai cấp, của một chế độ xã hội và của một thời đại lịch sử Ý thức đạo đức phải được thể hiện bằng hành động thì mới đem lại những lợi ích xã hội và ngăn ngừa cái ác Nếu không có thực tiễn đạo đức thì ý thức đạo đức không đạt tới giá trị, sẽ rơi vào trừu tượng theo kiểu các giáo lý của tôn giáo.Thực tiễn đạo đức được biểu hiện như sự tương trợ, giúp đỡ, cử chỉ nghĩa hiệp, hành động nghĩa vụ…Thực tiễn đạo đức là hệ thống các hành vi đạo đức của con người được nảy sinh trên cơ sở của ý thức đạo đức

Quan hệ đạo đức là hệ thống những quan hệ xác định giữa con người và con người, giữa cá nhân và xã hội về mặt đạo đức Quan hệ đạo đức là một dạng quan hệ xã hội, là yếu tố tạo nên tín hiệu thực của bản chất xã hội của con người Các quan hệ đạo đức không chỉ hình thành nên giữa các cá nhân, mà còn giữa cá nhân với xã hội, với những mặt riêng biệt của xã hội (chẳng hạn: với lao động, với văn hoá tinh thần) trong chừng mực những mặt này liên quan đến các lợi ích chứa đựng trong các mối quan hệ này Quan hệ đạo đức được hình thành

và phát triển như những qui luật tất yếu của xã hội, nó xác định những nhu cầu khách quan của xã hội, nó “tiềm ẩn” trong các quan hệ xã hội Quan hệ đạo đức tồn tại một cách khách quan và luôn luôn biến đổi qua các thời đại lịch sử và chính nó là một trong nhữg cơ sở để hình thành nên ý thức đạo đức

Trang 17

Ở góc độ xã hội : đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt được

phản ánh dưới dạng những nguyên tắc , yêu cầu, chuẩn mực điều chỉnh (hoă ̣c chi phối) hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên với xã hội, giữa con người với nhau và với chính bản thân mình Đạo đức xã hội

là sự phản ánh tồn tại xã hội của cộng đồng người xác định, và là phương thức điều chỉnh hành vi của các cá nhân thuộc cộng đồng nhằm hình thành; phát triển hoàn thiện tồn tại xã hội ấy Đạo đức xã hội được hình thành trên cơ sở cộng đồng về lợi ích và hoạt động của cá nhân thuộc cộng đồng Nó tồn tại như là một

hệ thống kinh nghiệm xã hội mang tính phổ biến của đời sống đạo đức của cộng đồng Đạo đức cá nhân là đạo đức của những cá nhân riêng lẻ của cộng đồng, phản ảnh và khẳng định tồn tại xã hội của các cá nhân ấy như là thể hiện riêng lẻ của tồn tại xã hội của cộng đồng về lợi ích và hoạt động của các cá nhân

Ở góc độ cá nhân: đạo đức chính là những phẩm chất , nhân cách của con

người, phản ánh ý thức , tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của

họ trong các mối quan hê ̣ giữa con người với tự nhiên , với xã hội, giữa bản thân

họ với người khác và trong đời sống xã hội , đòi hỏi tất yếu mỗi người phải ý thức được ý nghĩa, mục đích hoạt động của mình trong quá khứ, hiện tại và tương lai Những hoạt động đó bao giờ cũng có sự chi phối của những quan hệ giữa các cá nhân, cá nhân và xã hội Những mối quan hệ đó qui định giới hạn nhất định nhằm đảm bảo lợi ích của cộng đồng và xã hội Những qui định này tự giác tạo thành động lực cho phát triển xã hội Đó là các qui tắc, chuẩn mực hoàn toàn tự giác trong hành động của mỗi cá nhân trong tất cả các quan hệ xã hội Nói cách khác, đó chính là đạo đức của con người trong xã hội Trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của mình, các cá nhân thu nhận đạo đức xã hội như là hệ thống kinh nghiệm xã hội, những lí tưởng, chuẩn mực, tư tưởng, đánh giá đạo đức đã được hình thành nên trong lịch sử cộng đồng, biến kinh nghiệm xã hội thành kinh nghiệm bản thân… Trước mắt cá nhân đạo đức xã hội tồn tại một cách khách quan mà trong cuộc sống của mình, cá nhân tất yếu phải nhận thức, tiếp thu và thực hiện

Trang 18

Đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân là sự thống nhất biện chứng giữa cái chung và cái riêng, giữa cái phổ biến, cái đặc thù và cái đơn nhất Đạo đức cá nhân là sự biểu hiện độc đáo của đạo đức xã hội, nhưng không bao hàm hết thảy mọi nội dung, đặc điểm của đạo đức xã hội Mỗi cá nhân tiếp thu lĩnh hội đạo đức xã hội khác nhau và ảnh hưởng đến đạo đức xã hội cũng khác nhau Đạo đức xã hội không thể là số cộng của đạo đức cá nhân mà nó tổng hợp những nhu cầu phổ biến được đúc kết thành những tinh hoa của đạo đức cá nhân Nó trở thành cái chung của một giai cấp, một cộng đồng xã hội, một thời đại nhất định,

nó được duy trì và cũng cố bằng những phong tục, tập quán, truyền thống, những di sản văn hóa vật chất và tinh thần, được biến đổi phát triển thông qua hoạt động sản xuất tinh thần và giao tiếp xã hội Quan hệ đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân là quan hệ giữa những chuẩn mực chung mang tính phát triển đặc thù trong từng xã hội với những phẩm chất hành vi những yêu cầu cụ thể hàng ngày, quan hệ giữa lý tưởng xã hội và hiện thực của cá nhân, giữa trí tuệ, tri thức

xã hội với tình cảm, ý chí và năng lực hoạt động đạo đức cụ thể của cá nhân

Tóm lại cấu trúc của đạo đức bao gồm các yếu tố: ý thức và thực tiễn đạo đức, quan hệ đạo đức và đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân Mỗi yếu tố không tồn tại độc lập, mà liên hệ tác động nhau, tạo nên sự vận động, phát triển và chuyển hóa bên trong của hệ thống đạo đức

1.1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức

1.1.3.1 Hồ Chí Minh, lãnh tụ có nhiều cống hiến về tư tưởng đạo đức cách mạng

Hồ Chí Minh bắt đầu sự nghiệp cứu nước bằng cách giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng cho mọi người Đồng thời, Người còn là hiện thân của đạo đức cách mạng, nêu gương sáng cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, có một đạo đức học Hồ Chí Minh Đó là một bộ phận lớn của triết lý Hồ Chí Minh Theo Giáo sư Trần Văn Giàu, trong tất cả các lãnh tụ cách mạng thế giới ở thế kỷ XX, Cụ Hồ là người nhấn mạnh nhiều nhất đến đạo đức Theo Hồ Chí Minh, người cách mạng chỉ giác ngộ chính trị chưa đủ, còn phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, đạo đức dân tộc Có

Trang 19

nhà lãnh tụ nói: tổ chức tăng sức mạnh 10 lần; Cụ Hồ dạy: đạo đức tăng sức mạnh gấp bội

Ở Hồ Chí Minh có sự thống nhất hoà quyện giữa chính trị, đạo đức, văn

hoá, nhân văn: một nền chính trị rất đạo đức, rất văn hoá và đạo đức, văn hoá lại rất chính trị Tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết là tư tưởng chính trị, định hướng chính trị nhưng dễ dàng tìm thấy một đạo đức trong sáng, một chủ nghĩa nhân văn hoàn thiện, một nền văn hoá của tương lai Vấn đề này nằm trong vấn đề kia, gắn bó với nhau, nâng lên, gộp lại thành chất “người” hay trình độ “người” như cách nói của Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp Tư tưởng đạo đức “nước lấy dân làm gốc” lại nhằm phục vụ cho sự nghiệp chính trị vì nước, vì dân Hoặc

“trung với nước, hiếu với dân” là một tư tưởng chính trị đồng thời cũng là một phẩm chất cơ bản của tư tưởng đạo đức Sự thống nhất trong tư tưởng đạo đức

Hồ Chí Minh còn là sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động, nói đi đôi với làm; giữa đức và tài; giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường

Vấn đề đạo đức được Hồ Chí Minh xem xét một cách toàn diện đối với

mọi giai cấp và tầng lớp nhân dân lao động, đặc biệt là cán bộ, đảng viên Người yêu cầu rèn luyện đạo đức trong các môi trường gia đình, công sở, xã hội Tấm gương và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có giá trị to lớn, lâu dài trong phạm vi dân tộc và quốc tế Người đề cập đạo đức trong nhiều mối quan hệ khác nhau, nhưng chủ yếu là các mối quan hệ với mình, với người và với việc

1.1.3.2 Bản chất, đặc điểm tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

Đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức mới, đạo đức cách mạng, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong sáng, suốt đời tận trung với nước, tận hiếu với dân, suốt đời tranh đấu cho Đảng, cho cách mạng Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh luôn đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích của cá nhân mình Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là sự kết hợp đạo đức truyền thống của dân tộc với tinh hoa đạo đức của nhân loại, giữa phương Đông với phương Tây, được hình thành và phát triển từ yêu cầu của sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam

Trang 20

Hồ Chí Minh đánh giá cao đạo đức truyền thống dân tộc, đó là những đức tính sống có tình có nghĩa, có thủy có chung, có nhân có đức, có trước có sau,

biết trung, biết hiếu Hồ Chí Minh nhấn mạnh những yếu tố tích cực của đạo đức

Nho giáo như: dân là gốc của nước; dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh Người nhắc đến những mệnh đề “nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm, tứ hải giai huynh đệ” và đề cao thuyết “đại đồng” của Nho giáo Người cho rằng, “đạo đức của Khổng tử là hoàn hảo”; “người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử, và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin” Theo Người, Khổng giáo là một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử Khổng tử có ưu điểm là tu dưỡng đạo đức cá nhân Vì vậy, tuy Khổng tử là phong kiến, song những điều hay

trong đó thì ta nên học lấy Mặt khác, Người chỉ ra nhiều tiêu cực như Khổng

giáo căn bản là sự bình yên trong xã hội, không bao giờ thay đổi Học thuyết đạo đức Nho giáo nhằm phụng sự quyền lợi cho giai cấp phong kiến, đi ngược lại lẽ tiến hoá của lịch sử và lợi ích của nhân dân Rõ ràng là giữa Hồ Chí Minh và đạo đức Nho giáo có nhiều khác biệt Nhận thức đúng đắn vấn đề này để thấy rằng, Người nhấn mạnh tác dụng to lớn của đạo đức cách mạng, tiếp thu, trân trọng mặt tích cực, phê phán mặt tiêu cực của đạo đức Nho giáo

Ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin thực sự đem đến cho Hồ Chí Minh một cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức Người nâng cao đạo đức truyền thống của dân tộc, chắt lọc tinh hoa đạo đức phương Đông, phương Tây để xây dựng một nền đạo đức mới Việt Nam, tạo ra sức mạnh tinh thần to lớn, kết hợp với sức mạnh vật chất đưa dân tộc Việt Nam đi tới những thắng lợi

Trang 21

của Đảng và nhân dân ta; là tấm gương sáng để mọi người Việt Nam học tập và noi theo Nhằm làm cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta thấm nhuần và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa X) đã có chỉ thị số 06-CT/TW về tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”

Đạo đức mới, đạo đức cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xướng và cùng với Đảng dày công xây dựng, bồi đắp là đạo đức mang bản chất của giai cấp công nhân, kết hợp với những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa đạo đức của nhân loại Hồ Chí Minh coi đạo đức là nền tảng của người cách mạng, cũng giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông, của suối Người vẫn thường nói, đối với con người, sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa; người cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng Vì vậy, chăm lo xây dựng cái gốc, cái nguồn, cái nền tảng của người cách mạng là đạo đức cách mạng phải trở thành công việc thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia đình và mỗi người trong xã hội ta

Trong thời gian qua, đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, công chức,… suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống Điều đó đã làm giảm sút lòng tin của nhân dân ta, là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta Vì vậy, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 06-CT/TW tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có ý nghĩa hết sức đặc biệt

Chính vì vậy, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Đảng ta phát động nhân dịp kỷ niệm 77 năm thành lập Đảng (03/2/2007) có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Đây là cuộc vận động lớn được phát động không phải chỉ trong Đảng mà còn trong cả hệ thống chính trị và trong toàn xã hội Cuộc vận động kéo dài trong 4 năm cho đến Đại hội XI của Đảng, nhằm tạo ra một sự chuyển biến thực sự trong đạo đức của Đảng viên, cán bộ, công chức và các tầng lớp nhân dân Cuộc vận động đề cập đến cả hai mặt học

Trang 22

và làm, chủ yếu là mặt làm, mặt thực hành đạo đức Phải lấy việc chuyển biến đạo đức trong hệ thống chính trị làm và toàn xã hội làm, phải thực hiện cho được một sự chuyển biến căn bản trong việc phòng và chống tham nhũng, lãng phí, làm khâu đột phá trong việc triển khai cuộc vận động

Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là học tập và làm theo những phẩm chất đạo đức cao đẹp được thể hiện trong suốt cuộc đời Hồ Chí Minh đã hiến dâng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bắt nguồn từ truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam đã được hình thành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước; là sự vận dụng và phát triển sang tạo tư tưởng đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin Đó là sự tiếp thu có chọn lọc và phát triển những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại, cả phương Đông và phương Tây, mà Người đã tiếp thu được trong quá trình hoạt động cách mạng đầy gian lao, thử thách và vô cùng phong phú vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người

Những phẩm chất đạo đức Hồ Chí Minh được thể hiện qua những bài nói, bài viết và đặc biệt là qua những hoạt động thực tiễn của Người Bản thân Người thực hiện trước nhất và nhiều nhất những tư tưởng đạo đức ấy, nhiều hơn cả những điều Người đã viết, đã nói về đạo đức Bất cứ người Việt Nam nào, đã học nhiều hay học ít, cũng có thể hiểu và cảm nhận được những phẩm chất ấy vì những điều Bác Hồ nói và làm về đạo đức không có gì cao siêu, khó hiểu mà rất đơn giản và gần gũi với mọi người

Gắn tính tự giác học tập, rèn luyện của mỗi cá nhân với sự đôn đốc, kiểm tra, giám sát của tổ chức Đảng và nhân dân Nội dung cuộc vận động gồm: tổ chức nghiên cứu, học tập và làm theo tư tưởng đạo đức trong các tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, Di chúc và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; tập trung vào các phẩm chất “cần, kiệm, liêm, chính, chí công

vô tư”, ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức trách nhiệm, ý thức phục vụ nhân dân; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, quan liêu, tham nhũng, lãng phí Mỗi người tự

Trang 23

liên hệ, tự phê bình, kiểm điểm cá nhân; tổ chức để quần chúng ở nơi công tác

và nơi cư trú góp ý cho cán bộ, đảng viên

1.2.2 Những nội dung chủ yếu của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Những nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh

Theo Nghị quyết Đại hội IX, hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh gồm các nội dung chủ yếu sau: tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; tư tưởng về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; tư tưởng về quyền làm chủ của nhân dân,

xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; tư tưởng về quốc phòng

toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; tư tưởng về phát triển kinh tế

và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân;

tư tưởng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; tư tưởng

về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; tư tưởng về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân

Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét qua những nội dung chủ yếu sau:

dân tộc

Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho

hành động của cách mạng Việt Nam; là sản phẩm của dân tộc và thời đại, trường tồn, bất diệt, là tài sản vô giá của dân tộc ta Tư tưởng của Người không chỉ tiếp thu, kế thừa những giá trị, tinh hoa văn hóa của loài người, trong đó chủ yếu là chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn giải đáp nhiều vấn đề của thời đại, của sự nghiệp cách mạng Việt Nam và thế giới Trong suốt chặng đường hơn một nửa thế kỷ,

tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành ngọn cờ dẫn dắt cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác

Trang 24

Trong bối cảnh của thế giới ngày nay, tư tưởng Hồ Chí Minh giúp chúng

ta nhận thức đúng những vấn đề lớn có liên quan đến việc bảo vệ nền độc lập dân tộc, phát triển xã hội và bảo đảm quyền con người; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội vì lợi ích con người Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng vững chắc để Đảng ta vạch ra đường lối cách mạng đúng đắn, là sợi chỉ đỏ dẫn đường cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ đối với mỗi thời kỳ cách mạng

Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt

Nam Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh là ở chỗ trung thành với những nguyên

lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng những nguyên lý đó vào điều kiện cụ thể của nước ta, đề xuất những vấn đề mới do thực tiễn đặt ra và giải quyết một cách linh hoạt, khoa học, hiệu quả, theo nguyên tắc "lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính chất sáng tạo; lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động"

Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh ở chỗ đã được kiểm nghiệm trong thực tiễn Ngày nay, tư tưởng đó, bao gồm một hệ thống những quan điểm lý luận, tư tưởng về chiến lược, sách lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cách mạng

xã hội chủ nghĩa ở nước ta, về sự cải biến cách mạng đối với thế giới, về đạo đức, phong cách, phương pháp Hồ Chí Minh, về việc hiện thực hóa các tư tưởng ấy trong đời sống xã hội vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp đấu tranh giải phóng trong thời đại cách mạng vô sản, vừa phản ánh mối quan hệ khăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải phóng giai cấp và giải phóng con người Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi sống với chúng ta, vì đã thấm sâu vào quần chúng nhân dân, được kiểm nghiệm qua thực tiễn cách mạng, ngày càng tỏa sáng, chiếm lĩnh trái tim, khối óc của hàng triệu, hàng triệu con người

khái quát: "Mỗi thời đại xã hội đều cần có những con người vĩ đại"

Ngay trong thập niên 1920, với quá trình hình thành về cơ bản tư tưởng

của mình, Hồ Chí Minh đã có những cống hiến xuất sắc về lý luận cách mạng

Trang 25

giải phóng dân tộc thuộc địa dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin Đó là:

giành độc lập dân tộc để tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Người đã có những nhận thức sâu sắc và độc đáo về mối quan hệ chặt chẽ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng

vô sản Đồng thời, Người chỉ rõ tầm quan trọng đặc biệt của độc lập dân tộc

trong tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội, về tính tự thân vận động của công cuộc

đấu tranh giải phóng của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc, về mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc và về khả năng cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa nổ ra và thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc

Từ nghiên cứu lý luận, áp dụng vào những điều kiện cụ thể, Hồ Chí Minh

đã hình thành một hệ thống các luận điểm chính xác và đúng đắn về vấn đề dân

tộc và cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa, góp phần làm phong phú thêm

kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin Việc xác định đúng đắn những vấn

đề cơ bản của cách mạng Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có cả các vấn đề về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội, về hòa bình, hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc có giá trị to lớn về mặt lý luận và đang trở thành hiện thực trong giải quyết nhiều vấn đề quốc tế ngày nay

Thứ hai, tìm ra các giải pháp đấu tranh giải phóng loài người Đóng góp

lớn nhất của Hồ Chí Minh đối với thời đại là từ việc xác định con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc mình, đã chỉ ra một con đường cách mạng, một hướng đi và tiếp theo đó là phương pháp "đại đoàn kết", "đại hòa hợp" để thức tỉnh hàng trăm triệu người bị áp bức trong các nước thuộc địa và phụ thuộc Giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với thế giới còn thể hiện ở chỗ,

ngay từ rất sớm, Người đã nhận thức đúng sự biến chuyển của thời đại, đặt cách

mạng giải phóng dân tộc thuộc địa vào phạm trù cách mạng vô sản và hoạt động không mệt mỏi cho phong trào cách mạng thế giới Người kiên quyết bảo vệ và phát triển quan điểm của V.I Lênin về khả năng to lớn và vai trò chiến lược của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa đối với cách mạng vô sản; khẳng định bài học chung của các dân tộc Người nhấn mạnh, trong thời đại đế quốc chủ

Trang 26

nghĩa, ở một nước thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi trước hết là nông dân và đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân yêu nước trong mặt trận thống nhất, với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới, trước hết là của phe xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, nhân dân nước đó nhất định thắng lợi

Những tư tưởng trên đây của Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ mãi mãi là chân

lý sáng ngời, góp phần vào sự kiến tạo và phát triển của nhân loại

tiêu cao cả Tư tưởng và cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú của Người đã

là một tấm gương sáng cổ vũ các dân tộc trên thế giới tham gia cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình và tiến bộ xã hội Năm 1987, Khóa họp Đại hội đồng UNESCO về kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công nhận Người là anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất

Những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức

* Đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng của người cách mạng

Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng,

từ rất sớm và xuyên suốt cuộc đời cách mạng của mình Cuốn sách Đường cách

mệnh năm 1927 không phải là một chuyên luận về vấn đề đạo đức cách mạng,

nhưng ở trang đầu cuốn sách Người đã nêu lên hai mươi ba điều về tư cách một người cách mạng, giải quyết ba mối quan hệ: Với mình, với người, với việc Những thập kỷ bốn mươi, năm mươi, sáu mươi, Người đều có những bài viết

ngắn gọn, súc tích về đạo đức cách mạng Trong Di chúc, Người nhấn mạnh:

“Đảng ta là một Đảng cầm quyền Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy

tớ thật trung thành của nhân dân Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”

Người coi đạo đức như gốc của cây, như nguồn của sông, cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không

Trang 27

có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc gì? Vai trò nền tảng của đạo đức cách mạng được Hồ Chí Minh khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới, là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng

nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa Người cách mạng

phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách

mạng vẻ vang” [15,612] Đạo đức trở thành nhân tố quyết định sự thành bại của mọi công việc, phẩm chất mỗi con người: “Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt

là do cán bộ có thấm nhuận đạo đức cách mạng, hay là không”, “Tuy năng lực

và công việc mỗi người có khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ, nhưng ai giữ được đạo đức cách mạng đều là người cao thượng” Người từng khẳng định: “Chúng ta đem tinh thần mà chiến thắng vật chất” Chỉ nhìn về vật chất, chỉ nhìn ở hiện tượng, chỉ lấy con mắt hẹp hòi mà xem, thì không giải thích được thắng lợi của ta đối với kẻ thù lớn mạnh Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta theo chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng ta không những nhìn vào hiện tại mà lại nhìn vào tương lai, chúng ta tin chắc vào tinh thần và lực lượng của quần chúng, của dân tộc

Cho nên chúng ta quả quyết trả lời những người lừng chừng và bi quan kia rằng:

“Nay tuy châu chấu đấu voi, Nhưng mai voi sẽ bị lòi ruột ra”

Đạo đức còn “có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp đổi xã hội cũ thành một xã hội mới và xây dựng mỹ tục thuần phong” “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước…, khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn,

“lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”…, không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo không hủ hoá”

Trang 28

* Những phẩm chất đạo đức cơ bản

Nghiên cứu di sản tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, ta thấy Người có những lời dạy với những phẩm chất đạo đức cụ thể cho từng đối tượng Người nêu cái đúng, cái tốt, cái hay, đồng thời cũng chỉ ra cái sai, cái xấu, cái dở để giáo dục đạo đức cho các tầng lớp nhân dân Qua đó, Hồ Chí Minh đã nêu bật những phẩm chất đạo đức cơ bản nhất của con người Việt Nam trong thời đại mới Đây cũng là những phẩm chất của nền đạo đức mới, đạo đức cách mạng Việt Nam

- Trung với nước, hiếu với dân

Đây là phẩm chất đạo đức bao trùm quan trọng nhất và chi phối các phẩm chất khác Trung, hiếu là những khái niệm đạo đức trong xã hội phong kiến phương Đông Trên cơ sở kế thừa, phát triển chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam, khắc phục, vượt qua những hạn chế của truyền thống đó, Hồ Chí

Minh khẳng định trung với nước, hiếu với dân là một trong những phẩm chất

của đạo đức cách mạng Việt Nam Hồ Chí Minh không gạt bỏ từ ngữ “trung, hiếu” đã ăn sâu, bám rễ trong con người Việt Nam với một ý nghĩa trách nhiệm, bổn phận của người dân, người con Với khái niệm cũ, Người đưa vào đây

một nội dung mới, cách mạng, phản ánh đạo đức ngày nay cao rộng hơn,

không phải trung với vua và chỉ có hiếu với cha mẹ, mà “trung với nước, hiếu với dân” Đây là cuộc cách mạng trong quan niệm đạo đức Người gạt bỏ điều cốt lõi nhất trong đạo đức Nho giáo là lòng trung thành tuyệt đối với chế độ phong kiến và ông vua phong kiến Cái mà Nho giáo tôn thờ nhất chính là cái

mà cách mạng lên án và đánh đổ Hồ Chí Minh không thể chấp nhận lòng trung thành tuyệt đối của nhân dân bị áp bức với kẻ áp bức mình, “Trung với nước” thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, xã hội; thể hiện trách nhiệm với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, với con đường đi lên của đất nước Nước

ở đây là nước của dân và dân là chủ nhân của nước Từ chỗ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” chuyển thành “trung với nước, hiếu với dân” là một sự đảo lộn trong quan niệm đạo đức truyền thống Hồ Chí Minh đã viết: “Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời Đạo đức mới như người hai

Trang 29

chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời”[13, 320 – 321] Nhân dân từ chỗ là kẻ nghèo hèn, phải được chăn dắt, sai khiến trở thành lực lượng làm nên lịch sử, sáng tạo ra lịch sử Trước, quan là phụ mẫu của dân, thì nay - Đảng, cán

bộ, đảng viên là “đầy tớ trung thành của nhân dân” Theo Hồ Chí Minh, trung với nước, hiếu với dân là phải suốt đời đấu tranh cho cách mạng, ra sức làm việc, giữ vững kỷ luật, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng Hồ Chí Minh dạy rằng, hiếu với dân thì phải hoà mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng, làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, đoàn kết quần chúng chặt chẽ xung quanh Đảng, tổ chức tuyên truyền và động viên quần chúng hăng hái thực hiện chính sách và nghị quyết của Đảng; phải lấy dân làm gốc, phải thực hiện dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân Đảng, Nhà nước hoạt động phải gần dân, thân dân, lấy trí tuệ ở dân, học hỏi dân, phải biết làm học trò dân mới làm được thầy học của dân Chỉ có thực hiện được như thế thì người cách mạng mới được dân tin yêu, cách mạng mới đi đến thành công

- Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

Phẩm chất này gắn bó chặt chẽ với phẩm chất “trung với nước, hiếu với dân” Việc thực hiện phẩm chất này, đặt ra đối với tất cả mọi người, đòi hỏi mỗi người phải lấy bản thân mình làm đối tượng điều chỉnh Nó diễn ra hàng ngày, hàng giờ, trong công tác, sinh hoạt Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là những khái niệm đạo đức phương Đông, đạo đức truyền thống Việt Nam, được

Hồ Chí Minh tiếp thu chọn lọc, đưa vào những yêu cầu và nội dung mới Người khẳng định: “Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính, nhưng không bao giờ làm mà lại bắt nhân dân phải tuân theo để phụng sự quyền lợi cho chúng Ngày nay ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước, cho dân” Tháng 6-1949, với bút danh Lê

Quyết Thắng, Hồ Chí Minh viết tác phẩm Cần, kiệm, liêm, chính Sau đó, Người

thường xuyên đề cập tới các phạm trù đạo đức này Hồ Chí Minh không chỉ giải thích nghĩa của cần, kiệm, liêm, chính mà Người còn nêu lên mối quan hệ giữa bốn phẩm chất đó: “Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính Nhưng một cây cần

Trang 30

có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn” [12, 643] So sánh với bốn mùa của trời, bốn phương của đất, Người cho rằng: “Thiếu một mùa thì không thành trời Thiếu một phương thì không thành đất, thiếu một đức, thì không thành người” Cần, kiệm, liêm, chính đối với cán bộ đảng viên lại càng cần thiết, bởi vì: “Cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút” [12, 641] Theo Hồ Chí Minh, càng có chức, có quyền càng cần phải cần kiệm, liêm, chính Người viết: “Những người trong các công

sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân” [12, 104] Theo Hồ Chí Minh, cần, kiệm, liêm, chính là thước đo văn minh, tiến bộ của một dân tộc Người viết: “Một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ” [14, 291]

Cần, kiệm, liêm, chính, vì vậy là “nền tảng của đời sống mới, của thi đua

ái quốc”; là cái cần để “làm việc, làm người, làm cán bộ, phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại” Đồng chí Phạm Văn Đồng cho rằng

“cần, kiệm, liêm, chính là đặc điểm của xã hội hưng thịnh Những điều trái lại là đặc điểm của xã hội suy vong” Chí công, vô tư là không nghĩ đến mình trước, hưởng thụ đi sau, là “lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào” Điều

mà Phạm Trọng Yêm đời Tống đã nói: Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc đã được Hồ Chí Minh đưa thành nội dung phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân Hồ Chí Minh đòi hỏi, thực hành chí công vô tư là phải “kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng” Bởi vì, chủ nghĩa cá nhân là trái với chủ nghĩa tập thể, trái với đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh chỉ ra “chủ nghĩa cá nhân là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt, nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc Nó là một thứ vi trùng rất độc, đẻ ra hàng trăm thứ bệnh: tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa, tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành, tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, quan liêu mệnh lệnh, v.v ” Tóm lại, chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng tiểu tư

Trang 31

sản còn ẩn nấp trong mình mỗi người chúng ta Nó chờ dịp - hoặc dịp thất bại, hoặc dịp thắng lợi - để ngóc đầu đậy Nó là một kẻ địch, bạn đồng minh của các

kẻ địch khác

Vì vậy, đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh chống mọi kẻ địch “Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội Cho nên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân”

[14, 291]

Tuy nhiên, cần có nhận thức về sự thống nhất giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, cần phân biệt giữa chủ nghĩa cá nhân và lợi ích cá nhân Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết Họ không lo

“mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”, chỉ “lo mình béo mặc thiên hạ gầy” Như thế là phải “tiêu diệt”, “quét sạch”, “trừ bỏ” Theo Hồ Chí Minh, “đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân” “Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu Hồ Chí Minh khẳng định: “Chỉ ở trong chế

độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình” [14, 291]

Chủ nghĩa cá nhân còn là mối nguy hại cho một Đảng, cho cả dân tộc: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” [15, 557-558] Người giải thích cho cán bộ làm sách “Người tốt việc tốt”: “Các chú có biết rằng dân tộc ta vĩ đại, Đảng ta vĩ đại, ta được anh em bầu bạn khắp năm châu yêu mến và ca ngợi là vì cái gì không? Vì cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta do Đảng ta lãnh đạo là chí công vô tư, mình vì mọi người Từ nay về sau, nhân dân ta và Đảng ta phải giữ gìn và phát huy mãi mãi đạo đức trong sáng ấy” [15,557]

- Yêu thương con người

Trang 32

Xuất phát từ nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là từ thực tiễn cách mạng, từ cuộc sống của các dân tộc bị áp bức và giai cấp cần lao, Hồ Chí Minh cho rằng, trên đời này có hàng muôn triệu người, hàng trăm nghìn công việc nhưng có thể chia thành hai hạng người: người Thiện và người Ác, và hai thứ việc: việc Chính và việc Tà Có lúc Người khái quát hai hạng người đó là hạng người đi áp bức bóc lột và hạng người bị áp bức bóc lột Hồ Chí Minh chỉ rõ: làm việc chính là người thiện, làm việc tà là người ác Cần phải thực hành chữ Bác ái Khi trả lời các nhà báo, Người nói: Tôi yêu nhất điều thiện và ghét nhất điều ác

Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người rất toàn diện và độc đáo Con người không phải thần thánh, có tốt có xấu ở trong lòng Dù văn minh hay dã man, tốt hay xấu, đều có tình Chúng ta cần làm cho trong mỗi con người phần tốt nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần đi

Tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh không chung chung trừu tượng kiểu tôn giáo, mà trước hết dành cho những người mất nước, người cùng khổ Hồ Chí Minh yêu thương con người với một tình cảm sâu sắc, vừa bao la, vừa gần gũi, bao trùm cả cộng đồng đến từng số phận con người Người thức tỉnh, tái tạo lương tâm, vạch hướng đi, đánh thức những gì tốt đẹp nhất trong mỗi con người, tạo điều kiện cho con người đứng dậy, vươn lên hoàn thành nhiệm vụ Hồ Chí Minh yêu thương những con người đang sống trên trái đất này Đó là tình yêu thương gắn liền với hành động cụ thể để mang lại cơm ăn, nước uống, trả lại nhân phẩm cho con người

Tình yêu thương con người ở Hồ Chí Minh vượt ra ngoài phạm vi dân tộc, mang tính nhân loại, vừa bốn biển năm châu, vừa bốn phương vô sản Đó chính là một nội dung cơ bản của tinh thần quốc tế trong sáng thủy chung

Hồ Chí Minh là bậc đại nhân, thể hiện tinh thần phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân Đó cũng chính là phẩm chất đạo đức cách mạng “giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không chuyển lay, uy vũ không khuất phục”

mà người cộng sản quyết tâm thực hiện để phục vụ quần chúng nhân dân

Trang 33

* Những nguyên tắc cơ bản xây dựng đạo đức mới

Nói đến tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, phải chú ý tới con đường và phương pháp hình thành đạo đức mới Đặc điểm và quy luật hình thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho thấy rõ một số nguyên tắc xây dựng đạo đức mới cơ bản sau đây:

- Tu dưỡng đạo đức bền bỉ suốt đời thông qua thực tiễn cách mạng

Theo Hồ Chí Minh, “đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống

Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện cành trong Có gì sung sướng vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng loài người [14,293] Vì vậy, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải “gian nan rèn luyện mới thành công” “Hiền dữ đâu phải là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên” “Kiên trì và nhẫn nại Không nao núng tinh thần”

Tu dưỡng đạo đức cách mạng phải trên tinh thần tự giác, tự nguyện, dựa vào lương tâm của mỗi người và dư luận của quần chúng Người cách mạng phải ý thức được đạo đức cách mạng là nhằm giải phóng con người và là đạo đức của những con người được giải phóng Đã hoạt động cách mạng thì khó tránh khỏi sai lầm và khuyết điểm Vấn đề là phải cố gắng sửa chữa sai lầm và khuyết điểm Tu dưỡng đạo đức mới phải gắn với thực tiễn, bền bỉ mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh Như vậy mới phân biệt được việc tu dưỡng đạo đức của người cộng sản với cách tu dưỡng của các nhà nho Người viết: “Tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lu bù Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ” [14, 491] Vì vậy, gột rửa chủ nghĩa cá nhân

“ví như rửa mặt thì phải rửa hàng ngày”

- Nêu gương đạo đức, lời nói đi đôi với việc làm

Đây không chỉ là một nguyên tắc rèn luyện đạo đức, mà còn là ranh giới

phân biệt giữa đạo đức cách mạng và không phải đạo đức cách mạng Nói nhưng

không làm là đặc trưng đạo đức của giai cấp bóc lột Lời nói phải đi đôi với việc

Trang 34

làm và thực hành đạo làm gương là đạo đức của người cách mạng nói chung, nằm trong vốn văn hoá phương Đông nói riêng Hồ Chí Minh viết: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”[10, 263] Người nhấn mạnh: Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng

sản” mà ta được họ yêu mến Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách,

đạo đức Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước Hô hào dân tiết kiệm, mình phải tiết kiệm trước đã Người dạy “Đảng

viên đi trước”, để cho “làng nước theo sau”

Đạo làm gương phải được quán triệt trong tất cả mọi đối tượng, mọi lĩnh vực: từ Đảng, Nhà nước, các đoàn thể đến nhà trường, gia đình, xã hội

Đạo làm gương, lời nói đi đôi với việc làm của Hồ Chí Minh thực sự có một sức thu hút mãnh liệt, khiến cho cả dân tộc, nhiều thế hệ, các giai tầng xã hội đều tin tưởng đi theo tiếng gọi của Người

Trong Đảng và mỗi con người, vì những lý do khác nhau, không phải

“người người đều tốt, việc việc đều hay” Vả lại, để tiến lên chủ nghĩa xã hội, cuộc đấu tranh phải lâu dài và gian khổ Cần có người cách mạng là vì còn có kẻ chống lại cách mạng

Có nhiều kẻ địch, nhưng Hồ Chí Minh nhấn mạnh ba loại: chủ nghĩa tư bản

và bọn đế quốc là kẻ địch rất nguy hiểm Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là

kẻ địch to, nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ Loại địch thứ ba là chủ nghĩa cá nhân

Từ đó Người kết luận: “Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh

nào, cũng phải quyết tâm đấu tranh, chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, quyết không chịu khuất phục, không chịu cúi đầu” [14, 283] Đối với từng người, Hồ Chí Minh yêu cầu “trước hết phải đánh thắng lòng tà là

kẻ thù trong mình” Với việc, với người thì nhất thiết phải phê phán, đấu tranh, loại bỏ những hiện tượng phi đạo đức, tàn dư đạo đức cũ Hàng trăm thứ bệnh

do chủ nghĩa cá nhân đẻ ra thì phải tiêu diệt, vì đó là cản trở lớn trên con đường

Trang 35

xây dựng chủ nghĩa xã hội Nhưng phải thấy rằng, chống là nhằm xây, đi liền với xây và lấy xây làm chính Lấy gương người tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới

Ngày nay, tình hình mọi mặt so với thời Hồ Chí Minh còn sống đã có nhiều thay đổi Nhưng nhiều cái xấu, cái ác, cái sai, cái vô đạo đức mà Người đã

nêu lên từ những năm 1925 - 1927, trong Đường cách mệnh, đặc biệt từ năm

1945 trở đi, đến nay dưới nhiều biểu hiện khác nhau, vẫn tiếp tục tồn tại Do đó, quan điểm Hồ Chí Minh về xây dựng đạo đức mới đấu tranh với những hiện tượng phi đạo đức vẫn có ý nghĩa thời sự

Những nội dung chủ yếu của phong cách Hồ Chí Minh

Từ Đại hội V (1981) trở về trước, Đảng ta thường dùng khái niệm “tác phong” để nói về “tác phong Hồ Chủ tịch” Hai chữ “tác phong” có hàm nghĩa hơi hẹp, mới chỉ nói lên được một mặt là “phong cách làm việc, phong cách công tác”, tuy ai cũng hiểu rằng ngoài công tác, phong cách của mỗi người còn được biểu hiện ra ở nhiều lĩnh vực hoạt động khác nữa Từ Đại hội VI (1986), hai chữ

“tác phong” được thay bằng khái niệm “phong cách” trong cụm từ “tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” để có thể nói về những đặc trưng đa dạng, phong phú khác trong hoạt động của Người

Nói phong cách Hồ Chí Minh là nói đến những đặc trưng giá trị, mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh, gắn liền với nhân cách trí tuệ lỗi lạc, đạo đức trong sáng của Hồ Chí Minh, với tư cách là một vĩ nhân, một nhà văn hóa kiệt xuất

Đó là một phong cách vừa dân tộc vừa hiện đại, vừa khoa học vừa cách mạng, vừa cao cả vừa thiết thực

Phong cách Hồ Chí Minh được thể hiện trong mọi lĩnh vực sống và hoạt động của Người, tạo thành một chỉnh thể nhất quán, có giá trị khoa học, đạo đức và thẩm mỹ, bao gồm một số nội dung chính là: phong cách tư duy, phong cách làm việc, phong cách lãnh đạo, phong cách diễn đạt, phong cách ứng xử và phong cách sinh hoạt

Trang 36

* Về phong cách tư duy

Xuất phát từ lòng yêu nước và mục đích tìm đường cứu nước, trong quá

trình hoạt động của mình Hồ Chí Minh đã hình thành trong mình một phong

cách tư duy khoa học, cách mạng và hiện đại Không tiếp thu một cách thụ động,

không dừng lại ở sự vật, hiện tượng bề ngoài, Nguyễn Ái Quốc có thói quen đi sâu phân tích, so sánh, chắt lọc, lựa chọn, tổng hợp, rút ra những phán đoán, đi tới những kết luận mới, đề ra những luận điểm mới, kế thừa, vừa phát triển sáng tạo để tiếp tục vượt lên phía trước Nhờ đó, Nguyễn Ái Quốc đã bắt kịp nhịp sống và sự phát triển của thời đại, đã hình thành được một tư duy đúng đắn, khoa học và cách mạng, để có thể lựa chọn đúng đường đi cho dân tộc và dự kiến được những bước phát triển mới của lịch sử

duy không giáo điều, rập khuôn, không vay mượn nguyên xi của người khác, hết sức tránh lối cũ, đường mòn, tự mình tìm tòi, suy nghĩ, truy đến tận cùng bản chất của sự vật, hiện tượng để tìm ra chân lý, phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tiễn

nhất của phong cách tư duy này ở Hồ Chí Minh là luôn biết xuất phát từ cái chung, cái nhân loại, từ những chân lý phổ biến, những lẽ phải không ai chối cãi

được để nhận thức và lý giải những vấn đề của thực tiễn Để đàm phán, thuyết

phục đối phương đi tới đồng thuận, Người thường lập luận trên cơ sở nguyên tắc

về tính đồng nhất của nguyên lý Người viết: Quyền độc lập, tự do ở nước nào

cũng vậy, đều do xương máu của những nghĩa sĩ và đoàn kết của toàn quốc dân

mà xây dựng nên

Trong tác phẩm lối “Sửa đổi lối làm việc” Hồ Chí Minh phê phán nặng lề

lối làm việc đủng đỉnh, chậm chạp, tự do, tùy tiện, đại khái, sự vụ, theo đường mòn, điệu sáo, lười suy nghĩ, ngại đổi mới, thích phô trương, hoành tráng về hình thức, nhưng nghèo nàn, sơ sài về nội dung của nền sản xuất nhỏ… Người nêu

Trang 37

gương cho chúng ta về phong cách công tác mới: lấy lợi ích và hiệu quả thiết thực làm chuẩn mực cao nhất để đánh giá tác phong cán bộ và chất lượng công việc Phong cách làm việc Hồ Chí Minh thể hiện trong những điểm chính sau:

cũng phải điều tra, nghiên cứu, thu thập thông tin, số liệu, để nắm chắc thực chất tình hình, “Đảng có hiểu rõ tình hình, thì đặt chính sách mới đúng”

gì cũng phải có chương trình, kế hoạch, từ lớn đến nhỏ, từ dài hạn, trung hạn đến ngắn hạn, từ tháng, tuần đến ngày, giờ nào việc nấy Vì làm việc có kế hoạch, dù bận trăm công, nghìn việc của Đảng và Nhà nước, Người lúc nào cũng ung dung, tự tại, vẫn có thời giờ học tập, đọc sách, xem văn nghệ, đi xuống địa phương, đi thăm danh lam, thắng cảnh… Người dạy, trong việc đặt kế hoạch

“không nên tham lam, phải thiết thực, vừa sức, từ thấp đến cao”, “chớ làm kế hoạch đẹp mắt, to tát, kể hàng triệu, nhưng không thực hiện được”

mình bao nhiêu thì cũng quý thời gian của người khác bấy nhiêu Người thường không để ai phải đợi mình, chủ động đến trước nếu có thể Năm 1953, tại Việt Bắc, Người vượt qua mưa gió để đến thăm lớp chỉnh huấn của anh chị em trí thức theo lịch hẹn Người chủ động đến thăm đoàn cán bộ Hà Nội dịp tết năm

1956, khi đoàn đang chuẩn bị lên Phủ Chủ tịch chúc tết Bác thì gặp mưa, lúng túng chưa xử lý được

mòn Đó là một phong cách không cố chấp, bảo thủ, luôn đổi mới Người nói:

“Tư tưởng bảo thủ như là sợi dây cột chân, cột tay người ta… Muốn tiến bộ thì phải có tinh thần mạnh dạn, dám nghĩ, dám làm” Cuộc đời Người là một tấm gương tuyệt vời về đổi mới, có sức động viên, khích lệ, gởi mở sự đổi mới, sáng tạo cho mỗi chúng ta

đạo, cá nhân phụ trách Phong cách dân chủ Hồ Chí Minh được biểu hiện từ việc

Trang 38

lớn cho đến việc nhỏ Từ soạn thảo “Tuyên ngôn độc lập” đến viết một bài

báo,…Người đều tham khảo ý kiến của Bộ Chính trị, hay những người xung quanh Người tuân thủ chặt chẽ quy trình ra quyết định Mọi vấn đề kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, khoa học-kỹ thuật,…Người đều dựa vào đội ngũ trí thức, chuyên gia trong bộ máy của Đảng và Nhà nước, yêu cầu chuẩn bị kỹ, trao đổi rộng, sao cho mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước phải được cân nhắc, lựa chọn thận trọng, để sau khi ban hành, ít phải thay đổi, bổ sung

của nhân dân, của những người “không quan trọng” Người yêu cầu và luôn thực hiện người lãnh đạo phải tôn trọng nguyên tắc dân chủ, từ dân chủ trong Đảng đến dân chủ trong các cơ quan đại biểu của dân, thực hiện đường lối quần chúng Người năng đi xuống cơ sở, để lắng nghe ý kiến của cấp dưới và của quần chúng, chứ không phải để huấn thị cấp dưới Theo Người, phải biết động

viên, khuyến khích “khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến”, tức là phải làm cho cấp dưới không sợ nói sự thật và cấp trên không sợ nghe sự thật

sau khi nghị quyết đã được ban hành, phải tổ chức tốt để nghị quyết đi vào cuộc

sống; điều đó gắn liền với công việc kiểm tra, kiểm soát Muốn tốt, “phải đi tận nơi, xem tận chỗ” Sở dĩ sự thật còn bị bưng bít vì sự kiểm tra, kiểm soát của

các ngành, các cấp, không nghiêm túc, chưa chặt chẽ, tệ quan liêu còn “nồng” Trong thực tiễn, Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về tác phong kiểm tra sâu sát Theo tài liệu thống kê của Bảo tàng Hồ Chí Minh, chỉ tính trong vòng

10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc (1955-1965), không quản tuổi cao, công việc bề bộn, Người đã thực hiện hơn 700 lượt đi thăm các địa phương, công trường, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị bộ đội,…từ miền núi đến hải đảo, để thăm hỏi chiến sĩ và đồng bào, để xem xét tình hình, kiểm tra công việc Tính ra mỗi năm, có hơn 60 lượt Người đi xuống cơ sở, mỗi tháng có khoảng 6 lần lãnh

tụ gặp gỡ quần chúng

Ngày đăng: 31/07/2017, 22:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w