LỜI NÓI ĐẦU Viện Dầu Khí Việt Nam là tổ chức khoa học công nghệ dầu khí hàng đầu của cả nước, hoạt động trong tất cả mọi lĩnh vực công nghiệp dầu khí từ khâu đầu đến khâu sau, với 8 Trung tâm nghiên cứu, dịch vụ chuyên ngành: Nghiên cứu tìm kiếm Thăm dò và Khai thác Dầu khí; Phân tích Thí nghiệm; Ứng dụng và chuyển giao Công nghệ; Nghiên cứu Phát triển Chế biến Dầu khí; Nghiên cứu Phát triển an toàn Môi trường Dầu khí; Nghiên cứu Kinh tế Quản lí Dầu khí; Lưu trữ dầu khí; Đào tạo và Thông tin Dầu khí. Viện là đơn vị NCKH tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ về quy mô, tính tổng hợp đứng đầu khu vực Đông Nam Á, với các hoạt động bao trùm hầu hết các lĩnh vực trong chuỗi hoạt động dầu khí từ tìm kiếm , thăm dò, khai thác, vận chuyển, tàng trữ, chế biến, lọc hóa dầu, phân phối các sản phẩm dầu khí. Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của Viện gồm nghiên cứu và tư vấn khoa học công nghệ; dịch vụ, ứng dụng chuyển giao công nghệ, hợp tác quốc tế; đào tạo, thông tin. Trong những năm gần đây, Viện đạt được nhiều thành tựu trên cả ba công tác NCKH, dịch vụ và ứng dụng chuyển giao công nghệ, đào tạo và thông tin. Hàng năm Viện triển khai khoảng 200 đề tài, nhiệm vụ NCKH các cấp( Nhà nước, Bộ Ngành, các đơn vị trong Tập đoàn, nhà thầu nước ngoài) bao trùm toàn bộ hoạt động Dầu khí. Số lượng hợp đồng NCKH và chất lượng các kết quả nghiên cứu ngày càng tăng. Doanh thu NCKH từ 50 tỷ ( năm 2007) lên 212 tỷ ( năm 2013), đến năm 2015 đạt doanh thu 200 tỷ đồng, đạt nhịp độ tăng trưởng trung bình 2030% năm. Dịch vụ, ứng dụng chuyển giao công nghệ, hợp tác quốc tế đạt nhiều thành tựu. Doanh thu dịch vụ KHCN từ 30 tỷ ( năm 2007) lên 210 tỷ ( năm 2013), đến năm 2015 đạt 150200 tỷ với nhịp độ tăng trưởng bình quân 1520% năm. Viện cung cấp đến 97% nhu cầu phân tích mẫu thông thường cho các nhà thầu Dầu khí đang hoạt động ở Việt Nam, chất lượng được đánh giá cao, thường xuyên tăng cường khả năng tự thực hiện các chỉ tiêu phân tích mới ( bình quân từ 56 chỉ tiêu năm). Hàng năm Viện đã triển khai từ 23 dự án hợp tác quốc tế, nghiên cứu chung để giải quyết các vấn đề thách thức khó khăn của ngành Dầu khí Việt Nam gặp phải, trong đó có một số nhà bản quyền công nghệ: Mỹ ( Oklamahoma, UOP, Grace Davison), Nhật ( JOGMEC, JGC CC, Tdemitsu), Đức , Đan mạch... Về đào tạo thông tin. Viện đã triển khai đào tạo 2 khóa với 9 nghiên cứu sinh ngành Kỹ thuật dầu khí, một số chương trình đào tạo chuyên sâu, nâng cao về các lĩnh vực chuyên môn dầu khí được triển khai thường xuyên, với hàng nghìn lượt học viên mỗi năm, bước đầu đã trở thành thương hiệu của Viện, được các đơn vị trong ngành tin tưởng. Các thành tích đã nêu trên được Đảng, Nhà nước ghi nhận bằng những danh hiệu cao quý: Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba; Danh hiệu Anh hùng Lao động ( năm 2012) và Huân chương Độc lập Hạng ba (năm 2013) Là sinh viên khoa quản trị kinh doanh, được sự giới thiệu của nhà trường và sự đồng ý của ban lãnh đạo Viện Dầu khí Việt Nam, em đã tiếp cận và tìm hiểu tình hình sản xuất, công tác quản lý cũng như các nghiệp vụ củaViện. Từ đó, em có cơ hội vận dụng những kiến thức lý thuyết học được vào thực tế, hoàn thành các đồ án môn học kì sau, là cơ sở cho em làm khóa luận năm cuối và giúp em có thêm được nhiều kinh nghiệm thực tiễn, là hành trang tốt nhất khi em đi làm. Đối tượng nghiên cứu của bài báo cáo là quá trình hình thành phát triển và các nghiệp vụ cơ bản của Viện trong các năm gần đây . Để hoàn thành tốt bài báo cáo em đã chọn phương pháp quan sát, tiếp cận, tìm hiểu, thống kê kết hợp với phân tích, xử lý số liệu có được. Sau thời gian thực tập ngắn nhưng nó giúp em nhận thức được nhiều vấn đề quan trọng, là hành trang quý báu, là kinh nghiệm giúp em nắm vững kiến thức hơn. Em xin chân thành cảm ơn nhà trường, ban lãnh đạo Viện và giáo viên hướng dẫn GS.TS Nguyễn Đức Thành đã giúp chúng em hoàn thành tốt bài báo cáo này. Tuy nhiên, do kiến thức còn hạn chế nên bài báo cáo còn nhiều thiếu sót. Kính mong sự đóng góp ý kiến của giáo viên hướng dẫn GS.TS Nguyễn Đức Thành và ban quản lý Viện Dầu khí Việt Nam để bài làm của chúng em được hoàn thiện hơn. Nội dung bài Báo cáo thực tập gồm hai phần chính sau: Chương 1:.Khái quát tình hình chung và các điều kiện sản xuất kinh doanh chủ yếu củaViện Dầu khí Việt Nam. Chương 2: Hoàn thiện quy chế trả lương của Trung tâm Kinh tế và Quản lý dầu khí tại Viện dầu khí Việt Nam.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Viện Dầu Khí Việt Nam là tổ chức khoa học công nghệ dầu khí hàng đầu của
cả nước, hoạt động trong tất cả mọi lĩnh vực công nghiệp dầu khí từ khâu đầu đếnkhâu sau, với 8 Trung tâm nghiên cứu, dịch vụ chuyên ngành: Nghiên cứu tìm kiếmThăm dò và Khai thác Dầu khí; Phân tích Thí nghiệm; Ứng dụng và chuyển giaoCông nghệ; Nghiên cứu & Phát triển Chế biến Dầu khí; Nghiên cứu & Phát triển antoàn & Môi trường Dầu khí; Nghiên cứu Kinh tế & Quản lí Dầu khí; Lưu trữ dầukhí; Đào tạo và Thông tin Dầu khí
Viện là đơn vị NCKH tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ về quy mô, tính tổnghợp đứng đầu khu vực Đông Nam Á, với các hoạt động bao trùm hầu hết các lĩnhvực trong chuỗi hoạt động dầu khí từ tìm kiếm , thăm dò, khai thác, vận chuyển,tàng trữ, chế biến, lọc hóa dầu, phân phối các sản phẩm dầu khí
Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của Viện gồm nghiên cứu và tư vấn khoahọc công nghệ; dịch vụ, ứng dụng chuyển giao công nghệ, hợp tác quốc tế; đào tạo,thông tin
Trong những năm gần đây, Viện đạt được nhiều thành tựu trên cả ba côngtác NCKH, dịch vụ và ứng dụng chuyển giao công nghệ, đào tạo và thông tin Hàngnăm Viện triển khai khoảng 200 đề tài, nhiệm vụ NCKH các cấp( Nhà nước, BộNgành, các đơn vị trong Tập đoàn, nhà thầu nước ngoài) bao trùm toàn bộ hoạtđộng Dầu khí Số lượng hợp đồng NCKH và chất lượng các kết quả nghiên cứungày càng tăng Doanh thu NCKH từ 50 tỷ ( năm 2007) lên 212 tỷ ( năm 2013), đếnnăm 2015 đạt doanh thu 200 tỷ đồng, đạt nhịp độ tăng trưởng trung bình 20-30%/năm Dịch vụ, ứng dụng chuyển giao công nghệ, hợp tác quốc tế đạt nhiều thànhtựu Doanh thu dịch vụ KHCN từ 30 tỷ ( năm 2007) lên 210 tỷ ( năm 2013), đếnnăm 2015 đạt 150-200 tỷ với nhịp độ tăng trưởng bình quân 15-20%/ năm Việncung cấp đến 97% nhu cầu phân tích mẫu thông thường cho các nhà thầu Dầu khíđang hoạt động ở Việt Nam, chất lượng được đánh giá cao, thường xuyên tăngcường khả năng tự thực hiện các chỉ tiêu phân tích mới ( bình quân từ 5-6 chỉ tiêu/năm) Hàng năm Viện đã triển khai từ 2-3 dự án hợp tác quốc tế, nghiên cứu chung
để giải quyết các vấn đề thách thức khó khăn của ngành Dầu khí Việt Nam gặpphải, trong đó có một số nhà bản quyền công nghệ: Mỹ ( Oklamahoma, UOP, GraceDavison), Nhật ( JOGMEC, JGC C&C, Tdemitsu), Đức , Đan mạch Về đào tạothông tin Viện đã triển khai đào tạo 2 khóa với 9 nghiên cứu sinh ngành Kỹ thuậtdầu khí, một số chương trình đào tạo chuyên sâu, nâng cao về các lĩnh vực chuyên
môn dầu khí được triển khai thường xuyên, với hàng nghìn lượt học viên mỗi năm,
bước đầu đã trở thành thương hiệu của Viện, được các đơn vị trong ngành tin tưởng
Trang 2Các thành tích đã nêu trên được Đảng, Nhà nước ghi nhận bằng những danh hiệucao quý: Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba; Danh hiệu Anh hùng Laođộng ( năm 2012) và Huân chương Độc lập Hạng ba (năm 2013)
Là sinh viên khoa quản trị kinh doanh, được sự giới thiệu của nhà trường và
sự đồng ý của ban lãnh đạo Viện Dầu khí Việt Nam, em đã tiếp cận và tìm hiểu tìnhhình sản xuất, công tác quản lý cũng như các nghiệp vụ củaViện Từ đó, em có cơhội vận dụng những kiến thức lý thuyết học được vào thực tế, hoàn thành các đồ ánmôn học kì sau, là cơ sở cho em làm khóa luận năm cuối và giúp em có thêm đượcnhiều kinh nghiệm thực tiễn, là hành trang tốt nhất khi em đi làm
Đối tượng nghiên cứu của bài báo cáo là quá trình hình thành phát triển vàcác nghiệp vụ cơ bản của Viện trong các năm gần đây Để hoàn thành tốt bài báocáo em đã chọn phương pháp quan sát, tiếp cận, tìm hiểu, thống kê kết hợp với phântích, xử lý số liệu có được
Sau thời gian thực tập ngắn nhưng nó giúp em nhận thức được nhiều vấn đềquan trọng, là hành trang quý báu, là kinh nghiệm giúp em nắm vững kiến thức hơn
Em xin chân thành cảm ơn nhà trường, ban lãnh đạo Viện và giáo viên hướng dẫn
GS.TS Nguyễn Đức Thành đã giúp chúng em hoàn thành tốt bài báo cáo này.
Tuy nhiên, do kiến thức còn hạn chế nên bài báo cáo còn nhiều thiếu sót
Kính mong sự đóng góp ý kiến của giáo viên hướng dẫn GS.TS Nguyễn Đức
Thành và ban quản lý Viện Dầu khí Việt Nam để bài làm của chúng em được hoàn
thiện hơn
Nội dung bài Báo cáo thực tập gồm hai phần chính sau:
Chương 1:.Khái quát tình hình chung và các điều kiện sản xuất kinh doanh chủ yếu củaViện Dầu khí Việt Nam.
Chương 2: Hoàn thiện quy chế trả lương của Trung tâm Kinh tế và Quản lý dầu khí tại Viện dầu khí Việt Nam
Trang 3CHƯƠNG 1:
TÌNH HÌNH CHUNG VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN
KINH DOANH CHỦ YẾU CỦA VIỆN DẦU KHÍ
VIỆT NAM
Trang 41.1 Tình hình chung của Viện Dầu khí
1.1.1.Sự hình thành và phát triển của Viện Dầu khí Việt Nam
Viện Dầu khí Việt Nam ( Viện) , đơn vị nghiên cứu khoa học đầu ngành vềDầu khí, thành viên của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Tập đoàn), đượcthành lập ngày 22/5/1978, theo quyết định 655/DK-QĐTC của Tổng cục Dầu khí,sau này là Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
Tiền thân của Viện Dầu khí Việt Nam là Đoàn Nghiên cứu chuyên đề địachất dầu khí 36B thuộc Liên đoàn địa chất 36 Khi thành lập, trụ sở Viện đóng trênđịa bàn tỉnh Hưng Yên, là nơi diễn ra các hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu khí ởViệt Nam giai đoạn 1961-1980
Viện có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, có con dấu riêng, được
mở tài khoản tại Kho bạc và các ngân hàng, được tổ chức và hoạt động theo Luậtdoanh nghiệp, Luật Khoa học và công nghệ theo giấy Đăng ký Doanh số
0100150295 cấp lần gần đây nhất vào ngày 5/2/2010
Trang 5- Tên tổ chức: VIỆN DẦU KHÍ VIỆT NAM
- Tên giao dịch: VIET NAM PETROLEUM INSTITUTE
- Trụ sở chính: Trung Kính, Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
- Chức năng chính của Viện: NCKH và Dịch vụ NCKH
Viện phát triển qua hai giai đoạn: Giai đoạn 1978-2007 và giai đoạn 2007 đến naya) Giai đoạn 1978-2007:
Viện tiếp nhận 11 phòng thí nghiệm (1980) và sau đó tiếp tục nâng cấp cácphòng thí nghiệm này từ viện trợ của Pháp (1997-1999), làm tiền đề cho hệ thốngphòng thí nghiệm hiện đại của Viện ngày nay Viện đã liên doanh với một công ty
Mỹ thành lập Trung tâm xử lí số liệu Petrovietnam Golden (1996), tiền thân củacông ty TNHH Fairfield Việt Nam ngày nay Viện mở rộng hợp tác quan hệ quốc tếvới các Viện nghiên cứu dầu khí tại Liên Xô cũ, Pháp, Đan Mạch, các công ty nhưGeochem, Simon- Robertson, Corelab, cac tổ chức quốc tế như ủy ban Điều phốicác chương trình nghiên cứu địa chất Đông Nam Á ( CCOP)
Về mặt tổ chức, Viện thành lập phân viện dầu khí phía Nam ( 1983), sau đổithành Phân viện lọc hóa dầu trực thuộc Tổng cục Dầu khí (1987), thành lập Trungtâm xử lí số liệu dầu khí ( 1984), sau đổi thành Trung tâm Xử lí, Phân tích và Tổnghợp số liệu dầu khí (1987), tiền thân của chi nhánh Viện dầu khí tại Tp Hồ ChíMinh sau này Năm 1988, Viện chuyển hầu hết các bộ phận nghiên cứu về YênHòa, Từ Liêm, Hà Nội, bước sang giai đoạn phát triển mới
Về công tác nghiên cứu, Viện tổ chức thực hiện nhiều đề tài quan trọngthuộc các chương trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước: Chương trình 22-01-Đặt cơ sở cho phương hướng công tác tìm kiếm và đánh giá tài nguyên dầu khí trênlãnh thổ Việt Nam (1981-1985); Chương trình 22A (1986-1990); Chương trình KT-
01 (1991-1995); Chương trình KC-09 (2001-2005) và gần 300 đề tài nghiên cứu,thực hiện nhiều tư vấn thiết thực theo đơn đặt hàng của Tổng công ty Dầu khí ViệtNam
Song song với công tác nghiên cứu khoa học, các hoạt động dịch vụ kỹ thuật,như phân tích mẫu, tổ chức các hội thảo khoa học chuyên ngành, khóa đào tạochuyên môn, khảo sát thực địa, nghiên cứu kĩ thuật, tư vấn các dự án đầu tư cho hầuhết các nhà thầu dầu khí có mặt tại Việt Nam như BHP, PEDCO, Enterprise, FINA,Total, Shell, Petronas, Petrocanada được triển khai mạnh mẽ tạo niềm tin với cácđối tác nước ngoài
Trang 6b) Giai đoạn từ 2007 đến nay
Ngày 29/1/2007, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam có quyết định số399/QĐ- DKVN thành lập lại Viện Dầu khí Việt Nam trên cơ sở hợp nhất PVPro,CPSE và Viện dầu khí Năm 2009, Tập đoàn có quyết định chuyển Trung tâm Lưutrữ dầu khí (PAC) về thuộc Viện dầu khí Việt Nam Các trung tâm Nghiên cứu Tìmkiếm Thăm dò và Khai thác Dầu khí ( EPC), 2007; Trung tâm ứng dụng và chuyểngiao công nghệ (CTAT), 2007; Trung tâm nghiên cứu Kinh tế và Quản lí dầu khí(EMC), 2007; Trung tâm phân tích thí nghiệm ( VPI-Labs), 2007; Trung tâm đàotạo và thông tin dầu khí (CPTI), 2014 Đến nay, Viện đã có 8 trung tâm chuyênnghành hoạt động hiệu quả, nghiên cứu, tư vấn và cung cấp dịch vụ bao trùm hầuhết mọi lĩnh vực của công nghiệp dầu khí Việt Nam, kể cả những lĩnh vực mới pháttriển gần đây như công nghiệp điện
Viện thực hiện một số công trình nghiên cứu lớn, quy mô cấp Nhà nước Đốivới Tập đoàn, Viện đã thực hiện hàng trăm đề tài nghiên cứu mỗi năm, thực hiệnnhiều tư vấn có giá trị về cấu trúc địa chất
Dịch vụ kĩ thuật cho các công ty dầu khí đang hoạt động ở Việt Nam đượcđẩy mạnh, đa dạng hóa, nâng cao chất lượng, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh trong Tập đoàn Từ năm 2012, được phép của Bộ Giáo dục và Đào tạo,Viện bắt đầu triển khai đào tạo Tiến sỹ chuyên nghành Kỹ thuật Dầu khí
Hiện nay, Viện dầu khí Việt Nam là tổ chức khoa học công nghệ dầu khíhàng đầu cả nước, hoạt động trong tất cả mọi lĩnh vực công nghiệp dầu khí từ khâutìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí; Phân tích thí nghiệm; Ứng dụng và chuyểngiao công nghệ; Nghiên cứu và phát triển chế biến dầu khí; Nghiên cứu & Phát triển
an toàn & Môi trường dầu khí; Nghiên cứu Kinh tế và Quản lí dầu khí; Lưu trữ dầukhí; Đào tạo và thông tin dầu khí
1.1.2 Chức năng của Viện dầu khí Việt Nam
- Điều tra cơ bản, nghiên cứu KHCN trong các lĩnh vực: Tìm kiếm thăm dò,khai thác , vận chuyển, tàng trữ, phân phối , chế biến, an toàn môi trường, kinh tế vàquản lí dầu khí
- Tư vấn , thẩm định KHCN dự án dầu khí và một số các lĩnh vực liên quan
- Thực hiện các dịch vụ KHCN, thiết kế, giám định, phân tích mẫu, xử lí sốliệu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ
- Triển khai công tác tổ chức Hội nghị, Hội thảo, Triển lãm, Bảo tàng, quảngcáo về ngành dầu khí
Trang 7- Thông tin khoa học dưới mọi hình thức phát hành tạp chí và các ấn phẩmdầu khí, xây dựng cơ sở dữ liệu trong và ngoài ngành nhằm phục vụ nghiên cứu vàsản xuất kinh doanh của Tập đoàn
- Đào tạo nâng cao, đào tạo trên đại học cho cán bộ trong và ngoài ngành dầukhí
- Sản xuất, kinh doanh hàng hóa, xuất nhập khẩu công nghệ và sản phẩmthuộc lĩnh vực hoạt động của Viện
- Lưu trữ các tài liệu khoa học kỹ thuật dầu khí cho Tập đoàn và các tổ chức,
cá nhân khác hoạt động trong lĩnh vực dầu khí ở Việt Nam
1.1.3 Nhiệm vụ của Viện dầu khí Việt Nam
Viện Dầu khí Việt Nam có nhiệm vụ đảm bảo giải quyết tất cả các vấn đề nghiêncứu khoa học và và triển khai công nghệ dầu khí trong 5 lĩnh vực hoạt động sảnxuất chính của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam; tư vấn có đầy đủ luận cứkhoa học và là tham mưu cho cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoànDầu khí Quốc gia Việt Nam và các đối tác khác; đào tạo cung cấp chuyên gia vàđóng góp vào phát triển nhân lực chất lượng cao cho Tập đoàn dầu khí Quốc giaViệt Nam; mang lại lợi ích lâu dài cao nhất cho người lao động, Tập đoàn, đất nước
và các đối tác thông qua sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên dầu khí
1.2 Điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế- nhân văn của khu vực Hà Nội
1.2.1 Điều kiện địa lí tự nhiên
a) Vị trí:
Hà Nội là Thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Hà nộinằm ở đồng bằng Bắc Bộ , tiếp giáp với các tỉnh : Thái Nguyên, Vĩnh Phúc ở phíaBắc; phía nam giáp Hà Nam và Hòa Bình; phía đông giáp các tỉnh Bắc Giang, BắcNinh và Hưng Yên; phía tây giáp tỉnh Hòa Bình và Phú Thọ
Hà nội nằm ở phía hữu ngạn sông Đà và hai bên sông Hồng, vị trí và địa thếthuận lợi cho một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học và đầu mối giaothông quan trọng của Việt Nam
Trang 8- 1 thị xã: Sơn Tây
- 17 huyện: Đông Anh, Sóc Sơn, Thanh Trì, Gia Lâm (Hà Nôi cũ), Ba Vì,Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, ThạchThất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa ( Hà Tây cũ) và Mê Linh (từ Vĩnh Phúc)Dân tộc: Việt (Kinh), Hoa, Mường, Tày, Dao
a) Địa hình
Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, với
độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển Nhờ phù sa bồi đắp, baphần tư diện tích tự nhiên của Hà Nội là đồng bằng, nằm ở hữu ngạn sông Đà, haibên sông Hồng và chi lưu các con sông khác, phần lớn diện tích đồi núi thuộc vềcác huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức, với các đỉnh núi cáo như Ba Vì( 1.281 m), Gia Dê ( 707m), Chân Chim ( 462m), Thanh Lanh (427m) Khu vựcnội thành có một số gò đồi thấp như gò Đống Đa, núi Nùng
b) Khí hậu
Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu cận nhiệt đới
ẩm , mùa hè nóng mưa nhiều và mùa đông lạnh ít mưa về đầu mùa và có mưa phùn
về nửa cuối mùa Nằm về phía Bắc của vành đai nhiệt đới, thành phố quanh nămtiếp nhận lượng bức xạ mặt trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao Và do tác động củabiển, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn, trung bình 114 ngày mưa một năm.Một đặc điểm rõ nét của khí hậu Hà Nội là sự thay đổi và khác biệt của 2 mùanóng , lạnh Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt
độ trung bình 28,10C Từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau là mùa đông với nhiệt độtrung bình 18,60C Trong khoảng thời gian này số ngày nắng của thành phố xuốngrất thấp, bầu trời thường xuyên bị che phủ bởi mây và sương, tháng 2 trung bìnhmỗi ngày chỉ có 1,8 giờ mặt trời chiếu sáng Cùng với 2 thời kì chuyển tiếp vàotháng 4 ( mùa xuân) và tháng 10 ( mùa thu), thành phố có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu,đông
c) Mạng lưới sông suối
Sông Hồng là con sông chính của thành phố, bắt đầu chảy vào Hà Nội ở huyện Ba
Vì và ra khỏi thành phố ở khu vực huyện Phú Xuyên tiếp giáp Hưng Yên Đoạnsông Hồng chảy qua Hà Nội dài 163 km, chiếm khoảng 1/3 chiều dài của con sôngnày trên đất Việt Nam Hà Nội còn có sông Đà là ranh giới giữa Hà Nội với PhúThọ, hợp lưu với sông Hồng ở phía Bắc thành phố tại huyện Ba Vì Ngoài ra trênđịa phận Hà Nội còn có nhiều sông khác như sông Đáy, sông Đuống, sông Cầu,
Trang 9sông Cà Lồ Các sông nhỏ chảy trong khu vực nội thành như sông Tô Lịch, sôngKim Ngưu là những đường tiêu thoát nước thải của Hà Nội Hà Nội cũng là mộtthành phố đặc biệt nhiều đầm hồ, dấu vết còn lại của các con sông cổ Trong khuvực nội thành, hồ Tây có diện tích lớn nhất khoảng 500ha, đóng vai trò quan trọngtrong khung cảnh đô thị, ngày nay được bao quanh bởi nhiều khách sạn, biệt thự.
Hồ Gươm nằm ở trung tâm lịch sử của thành phố, khu vực sầm uất nhất, luôn giữmột vị trí đặc biệt đối với Hà Nội Trong khu vực nội ô có thể kể tới những hồ nổitiếng khác như Trúc Bạch, Thiền Quang, Thủ Lệ Ngoài ra còn còn nhiều đàm hồlớn nằm trên địa phận Hà Nội như Kim Liên, Liên Đàm, Ngải Sơn- Đông Mỗ, SuốiHai, Mèo Gù, Xuân Thanh, Tuy Lai, Quan Sơn
1.2.2 Điều kiện kinh tế
Năm 2007, GDP trên đầu người của Hà Nội lên đến 31,8 triệu đồng, trongkhi con số của cả nước là 13,4 triệu đồng Hà Nôi là một trong những địa phươngnhận được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nhiều nhất, với 1.681,2 triệu USD và 209
dự án Thành phố cũng là địa điểm của 1.600 văn phòng đại diện nước ngoài, 14khu công nghiệp cùng 1,6 vạn cơ sở sản xuất công nghiệp Nhưng đi đôi với sự pháttriển kinh tế, những khu công nghiệp này đang khiến Hà Nội phải đối mặt với vấn
đề ô nhiễm môi trường Bên cạnh những công ty nhà nước, các doanh nghiệp tưnhân cũng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Hà Nội Năm 2003, với gần300.000 lao động, các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 77% giá trị sản xuất côngnghiệp của thành phố Ngoài ra, 15.500 hộ sản xuất công nghiệp cũng thu hút gần500.000 lao động Tổng cộng các doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp 22% tổng đầu
tư xã hội, hơn 20% GDP, 22% ngân sách thành phố và 10% kim ngạch xuất khẩucủa Hà Nội
Sau khi mở rộng đại giới hành chính, với hơn 6 triệu dân, Hà Nội có 3,2 triệungười đang trong độ tuổi lao động Mặc dù vậy, thành phố vẫn thiếu lao động cótrình độ chuyên môn cao Nhiều sinh viên tốt nghiệp vẫn phải đào tạo lại, cơ cấu vàchất lượng nguồn lao động chưa dịch chuyển theo yêu cầu cơ cấu ngành kinh tế
Hà Nội còn phải đối mặt với nhiều vấn đề khó khăn khác Năng lực cạnh tranh củanhiều sản phẩm dịch vụ cũng như sức hấp dẫn môi trường đầu tư của thành phố cònthấp Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn chậm, đặc biệt cơ cấu nội ngành côngnghiệp, dịch vụ và các sản phẩm chủ lực mũi nhọn Chất lượng quy hoạch phát triểncác nghành kinh tế ở Hà Nội không cao và thành phố cũng chưa huy động tốt tiềmnăng kinh tế trong dân cư
1.2.3 Điều kiện lao động- dân số
Trang 10Theo số liệu 1/4/1999 cư dân Hà Nội và Hà Tây (cũ) chủ yếu là người dântộc Việt (Kinh) chiếm tỉ lệ 99,1%; các dân tộc khác ( Dao, Mường, Tày) chiếm0,9% Năm 2006 cũng trên địa bàn Hà Nội và Hà Tây (cũ) cư dân đô thị chiếm tỉ lệ41,1% và cư dân nông thôn là 58,1%; tỉ lệ nữ chiếm 50,7% và nam là 49,3% Mật
độ dân cư bình quân hiện nay trên toàn thành phố là 1875 người/ km2, cư dân sảnxuất nông nghiệp khoảng 2,5 triệu người Năm 2009, người Kinh chiếm 98,73%dân số, người Mường 0,76% và người Tày chiếm 0,23% Năm 2009 dân số thànhthị là 2.632.087 chiếm 41,1% và 3.816.750 cư dân nông thôn chiếm 58,1%
1.3 Đặc điểm của KHCN dầu khí Việt Nam trong tình hình mới
Thoát khỏi từ một nền kinh tế lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nhucầu xây dựng lại và phát triển đất nước với tốc độ cao một cách toàn diện phải cómột ngành năng lượng tương xứng, trong đó dầu khí chiếm một vai trò quan trọng.Trong bối cảnh lịch sử, khi xét về đặc điểm KHCN dầu khí dầu khí trong sự nghiệpbảo vệ an ninh quốc gia và phát triển kinh tế- xã hội, chúng ta có thể đề cập đến cáckhía cạnh sau:
- Nhiệm vụ KHCN dầu khí rất to lớn, nặng nề, bao gồm tập hợp nghiên cứucác dữ liệu để xác định tiềm năng dầu khí làm cơ sở cho việc lập kế hoạch phát triểnkinh tế, đảm bảo an ninh năng lượng đồng thời để giải quyết các tranh chấp lãnhhải và vùng đặc quyền kinh tế ở Biển Đông cũng như nhanh chóng tiếp thu côngnghệ dầu khí hiện đại để quản lí các hoạt động dầu khí của công ty nước ngoài ởViệt Nam, tham gia hợp tác, tiến tới tự lực một phần trong công cuộc xây dựngngành công nghiệp dầu khí Việt Nam đồng bộ, hoàn chỉnh
- KHCN dầu khí Việt Nam được tạo dựng trong một thời gian rất ngắn, xuấtphát từ con số không cả về người với trang thiết bị, nguồn tài chính, phần lớn thờigian lại bị bao vây, cấm vận nhưng lại phải tiếp cận ngay với công nghệ hiện đại vàphát triển trong môi trường mà cơ sở pháp lí cũng như điều kiện xã hội chưa hoànthiện để thích nghi với môi trường quốc tế tương đối xa lạ với mô hình kinh tế xãhội ở Việt Nam
Hai đặc điểm trên tạo sự lúng túng, để lại những dấu ấn của sự tự phát vìthiếu một chiến lược dầu khí toàn diện, nhất quán cũng như một lộ trình phát triểnKHCN dầu khí ngay từ đầu và đây cũng là nguyên nhân của sự phát triển thiếu cânđối, không đồng bộ trong KHCN dầu khí cho đến thời điểm hiện tại Tuy có nhiềunhược và khuyết điểm nhưng KHCN dầu khí Việt Nam trong gần nửa thế kỉ qua đãphát triển một cách vượt bậc, minh chứng bằng sự trưởng thành của một đội ngũ
Trang 11đủ để đảm nhận phần lớn trọng trách trong các liên doanh hoặc các công ty đối tácnước ngoài hoạt động tại Việt Nam cũng như các công ty chuyên ngành thành viêncủa Petrovietnam, công nghệ được sử dụng đã góp phần phát hiện một trữ lượngxác minh đáng kể và đạt sản lượng khai thác hàng năm đứng hàng thứ tư trong khuvực Đông Nam Á Đóng góp của ngành dầu khí trong giai đoạn trước đây cho đấtnước, nhất là trong các giai đoạn khủng hoảng kinh tế xã hội trong các thập niêncuối của thế kỉ trước cũng như hiện nay là không thể chối cãi
Sự nghiệp phát triển của dầu khí ở Việt Nam hiện nay đang diễn ra trong một bốicảnh khác trước Tuy chúng ta còn có những khó khăn nhất định và tác động tiêucực của tình trạng suy thoái kinh tế thế giới đã được tăng cường nhờ sự ổn địnhchính trị, nền kinh tế đang phát triển, và quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng Bảnthân ngành dầu khí Việt Nam cũng đã có một cơ sở vật chất, tài chính, nhân lực,kinh nghiệm mạnh hơn trước Tiềm năng dầu khí trong nước chưa phải đã đi vàogiai đoạn cạn kiệt và hoạt động dầu khí ở nước ngoài cũng đã được khởi động tuyquy mô và triển vọng còn nhỏ, với sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước,Petrovietnam đã có đủ những yếu tố tối thiểu cần thiết để đầu tư cho phát triển khoahọc công nghệ, đáp ứng các yêu cầu để hoàn thành và hoàn thành vượt mức cácmục tiêu chiến lược của toàn nghành giai đoạn 2010- 2020
1.4 Quá trình thực hiện hoạt động- quá trình nghiên cứu khoa học của Viện
Số lượng đề tài nghiên cứu của Viện được thành lập dựa trên các Kế hoạch 5năm của Viện và chỉ tiêu các đề tài/ nhiệm vụ NCKH các cấp Nhà nước, Bộ vàNgành Với mục tiêu đẩy mạnh xây dựng, triển khai các chương trình nghiên cứuKHCN dài hạn 5-10 năm, nâng cao tỉ lệ các đề tài nghiên cứu từ nguồn kinh phí củacác đơn vị SXKD, nâng cao chất lượng và tính thực tiễn của đề tài/ nhiệm vụNCKH các Cấp, Bộ và Ngành
1.4.1 Quá trình lập kế hoạch
Hình 1-1: Quá trình lập kế hoạch 1.4.1.1 Quá trình lập kế hoạch xét duyệt đề cương cấp I- cấp cơ sở
Lập kế hoạch xét duyệt đề cương cấp I- cấp cơ sở
Lập kế hoạch xét duyệt đề cương cấp II- cấp Tập đoàn/Bộ/Nhà nước
Trang 12Trách nhiệm Các bước thực hiện
Hội đồng xét duyệt cấp cơ sở
Chủ biện Ban KHCL Viện
Hình 1-2: Lưu đồ quá trình thực hiện kế hoạch xét duyệt đề cương cấp I
đề tài NCKH năm cấp cơ sở
Đăng ký danh mục Tổng hợp danh mục
Thông qua trình Tập
đoàn
Xem xét
Quyết định phê duyệt
Quyết định giao cho các đơn vị
Soạn thảo đề cương chi tiết
Xem xét đề cương- Tổ chức họp HĐ XD cấp I
Bảo vệ đề cương cấp cơ sở
Xét duyệt, góp ý
A
Trang 131.4.1.2 Quá trình lập kế hoạch đề cương cấp II- cấp Tập đoàn/ Bộ/ Nhà nước
Thực hiện dự thaỏ hợp đồng
Rà soát HĐ
Ký kết HĐ
B
Trang 141.4.1.3.Quá trình triển khai thực hiện ĐT/NV
Phê duyệt, ra quyết định thực hiện HĐ
Thực hiện HĐ NCKH
Báo cáo tiến độ định kì gửi Viện, Tập
đoàn/Bộ/Nhà nước
C
Trang 151.4.1.4 Quá trình thực hiện nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học
Trình bày kết quả nghiên cứu
Hỏi, góp ý Nghiệm thu cấp I
Nghiệm thu cấp I
Rà soát, chỉnh sửa, bổ sung báo cáo theo kết luật của biên
bản nghiệm thu Gửi kết quả lên HĐ XDNT cấp II
Trang 16* Nhận xét: Quá trình nghiên cứu khoa học của Viện kĩ lưỡng với hai lần xét duyệt
đề cương cấp I và cấp II, rồi mới thực hiện nghiệm thu đề tài.Quy trình này đúngtrình tự trước sau, đảm bảo đề tài hoàn hảo mới được nghiệm thu và cuối cùng được
xử lý Chất lượng các đề tài được nâng cao bởi qua 2 lần xét duyệt phát hiện sai sótcần sửa chữa, đến khâu nghiệm thu các đề tài đều có chất lượng cao Quá trìnhnghiên cứu khoa hoc của Viện lại tồn tại bất lợi là quá nhiều bước thực hiện nên tốnnhiều thời gian và chi phí cho các lần xét duyệt và nghiệm thu Kết quả của quátrình nghiên cứu khoa học là các đề tài khoa học hiệu quả của các đề tài thì phải đợithời gian dài thực hiệ và kiểm nghiệm, nên kết quả của đề tài sau nghiệm thu làchưa thực sự chính xác và hiệu quả
1.4.2 Thống kê các trang thiết bị chủ yếu dùng cho quá trình nghiên cứu
Bảng 2-1:Bảng thống kê các trang thiết bị dùng cho NCKH
Trang 171.5 Tình hình tổ chức quản lí và lao động của Viện dầu khí Việt Nam
1.5.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lí của Viện dầu khí Việt Nam
tt
1.5.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các Ban và đơn vị trực thuộc
a) Khối gián tiếp ( gồm 5 ban và 1 tòa soạn)
- Ban Kế hoạch Tài chính (KHTC): là đơn vị giữ vai trò tham mưu, đề xuấttrong quản lí và điều hành công tác kế hoạch, tài chính, kế toán của toàn Viện; tổchức triển khai và quản lí các hoạt động tài chính và công tác kế toán trong toànViện theo Luật kế toán và các quy định tài chính kế toán liên quan của Viện, Tậpđoàn và của Nhà nước
- Ban Khoa học chiến lược (KHCL): là đơn vị giữ vai trò tham mưu cho lãnhđạo Viện về công tác quản lí, định hướng phát triển nghiên cứu khoa học (NCKH),dịch vụ khoa học công nghệ (KHCN) có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triểncủa Tập đoàn, Viện; đầu mối theo dõi, triển khai thực hiện, hợp tác về NCKH vàứng dụng KHCN của Viện với các đơn vị trong nước và quốc tế, tư vấn cho lãnhđạo Viện về các nội dung, hình thức hợp tác
- Ban tổ chức nhân sự ( TCNS):là đơn vị giữ vai trò tham mưu và giúp cholãnh đạo Viện về công tác tổ chức bộ máy và quản lí cán bộ, công tác nhân sự, côngtác lao dộng tiền lương, công tác đào tạo và chiến lược phát triển nguồn nhân lực,
BAN LÃNH ĐẠO
HỘI ĐỒNG ĐÀO TẠO
BAN
TỔ CHỨC NHÂN SỰ
VĂN PHÒN G
BAN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TÒA SOẠN TẠP CHÍ DẦU KHÍ
TT NC PHAT TRIỂN
AN TOÀN
VÀ MÔI TRƯỜN
G DK
TT PHÂN TÍCH THÍ NGHIỆ M
TT ỨNG DỤNG
VÀ CHUYỂ
N GIAO CÔNG NGHỆ
TT NC KINH
TẾ VÀ QUẢN
LÍ DẦU KHÍ
TT LƯU TRỮ DẦU KHÍ
Trang 18công tác thi đua khen thưởng và kỉ luật, bảo vệ chính trị nội bộ, công tác Đảng,đoàn thể của Viện.
- Văn phòng ( VP): là đơn vị giữ vai trò tham mưu cho lãnh đạo Viện và tổchức thực hiện các công việc liên quan đến công tác hành chính, quản trị, tổ chức
sự kiện, khánh tiết, văn thư- lưu trữ, ISO, quản lí và khai thác tòa nhà VPI, y tế, antoàn vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ và quân sự địa phương, và các công táchậu cần khác của Viện
- Ban công nghệ thông tin ( CNTT): là đơn vị giữ vai trò tham mưu cho lãnhđạo Viện trong công tác nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo công nghệ thông tin, môphỏng số; quản lí, khái thác sử dụng các phần mềm, thiết bị liên quan đến côngnghệ thông tin của Viện
- Tòa soạn Tạp chí Dầu khí (TCDK):là đơn vị thực hiện xuất bản ấn phẩmTạp chí dầu khí; thực hiện việc tuyên trền quảng bá hình ảnh của Viện qua việc viếttin, bài về các sự kiện của Viện; tham gia hiệu đính, biên soạn các tin, bài, tài liệutiếng Anh cho Viện
b) Khối trực tiếp ( gồm 8 trung tâm chuyên ngành)
- Trung tâm NC tìm kiếm thăm dò và khai thác Dầu khí (EPC):
EPC là trung tâm nghiên cứu, chuyên thực hiện các dịch vụ tư vấn khoa học,phát triển công nghệ trong lĩnh vực cốt lõi của ngành dầu khí là tìm kiếm thăm dò
và khai thác dầu khí
- Trung tâm ứng dụng và chuyển giao công nghệ (CTAT): Trung tâm Ứng dụng
và chuyển giao công nghệ hiện nay là đơn vị tư vấn tin cậy trong lĩnh vực NCKH, ứngdụng và phát triển công nghệ, đặc biệt là công nghệ vật liệu, ăn mòn, hóa ứng dụng vàcông nghệ khí điện, phục vụ cho ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam
- Trung tâm phân tích thí nghiệm: Trung tâm phân tích thí nghiệm hiện nay
là đơn vị hàng đầu về phân tích mẫu cổ sinh, địa tầng, thạch học, trầm tích, địa hóa,mẫu lõi, PVT phục vụ công tác nghiên cứu tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí
- Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Quản lí dầu khí (EMC): Với mục tiêu trởthành đơn vị tư vấn hàng đầu về kinh tế và quản lí trong lĩnh vực dầu khí tại ViệtNam, EMC đã thực hiện thành công nhiều nhiệm vụ của Nhà nước , Tập đoàn dầukhí Việt Nam và các công ty dầu khí trong và ngoài nước trong lĩnh vực Kinh tế vàquản lí dầu khí
- Trung tâm Đào tạo và Thông tin dầu khí (CPTI): CPTI là đơn vị tổ chứcthực hiện đào tạo sau đại học, đào tạo chuyên sâu thường xuyên dưới thương hiệu
Trang 19VPI, truyền thông ( hội trợ, triển lãm, bảo tàng) chuyên ngành dầu khí.
- Trung tâm lưu trữ dầu khí ( PAC): Trung tâm lưu trữ dầu khí thực hiệnchức năng, nhiệm vụ thu thập, lưu trữ, phục chế, nhân bản, xuất, nhập khẩu Thựchiện quản lí Nhà nước về lưu trữ trong hoạt động dầu khí của Tập đoàn ở trongnước và ngoài nước
- Trung tâm NC Phát triển và Chế biến dầu khí ( PVPro): Trung tâm NCphát triển và chế biến dầu khí là trung tâm nghiên cứu, thực hiện các dịch vụ tư vấn,phân tích giám sát, dịch vụ đào tạo trong lĩnh vực phân phối, chế biến và kinhdoanh dầu khí
- Trung tâm NC Phát triển an toàn và Môi trường dầu khí ( CPSE): là đơn vị
hàng đầu ở Việt Nam chuyên nghiên cứu và cung cấp dịch vụ khoa học kĩ thuậttrong lĩnh vực an toàn, sức khỏe và bảo vệ môi trường cho các ngành công nghiệp,đặc biệt là hoạt động dầu khí
1.5.3.Chế độ làm việc của Viện
Thời gian lao động của Viện: hàng tuần từ thứ hai đến hết thứ sáu, hàng ngày
từ 8 h ( sáng từ 8h- 12h, chiều từ 13h- 17h)
1.5.4 Tình hình sử dụng lao động của Viện
Kết cấu lao động của Viện theo giới tính : 60% là lao động nam, 40% là laođộng nữ Với đặc thù là nghiên cứu khoa học về dầu khí, một trong những nghềnghiệp nặng nhọc và độc hại, đòi hỏi người lao động phải có sức khỏe tôt Nên sốlao động của Viện chủ yếu là lao động nam là hợp lí Kết cấu lao động cuả Việntheo trình độ: 6,2% trình độ là Tiến sĩ, 30% là trình độ Thạc sĩ, 55% là trình độ Đạihọc, 8,8% là lao động có trình độ khác Lao động Viện có trình độ cao, phần lớn laođộng là tri thức ( chiếm trên 91%) Doanh thu của Viện chủ yếu từ việc nghiên cứucác đề tài khoa học nên nhiều lao động trình độ cao thì nguồn thu từ các đề tài cànglớn Vì hoạt động chủ yếu của Viện là nghiên cứu nên lực lượng lao động đòi hỏi lànhững người có trình độ cao, vì vậy lượng lao động này đông đảo Các lao độngphụ trợ cho việc nghiên cứu chiếm số lượng thấp ( 8,8%), đảm bảo hiệu quả việcgiảm biên chế khối phụ trợ, tăng hiệu quả khối phụ trợ Số lượng lao động có trình
độ cao của Viện cao, tiền lương cho mỗi lao động này đều ở mức cao, vì vậy hàngnăm Viện phải chi một khối lượng tiền lương rất lớn để chi trả cho công nhân viên.Điều này đòi hỏi Ban lãnh đạo của Viện phải điều hành tốt hoạt động nghiên cứukhoa học, tạo nguồn thu vừa có thể tăng lợi nhuận vừa đảm bảo chi trả tiền lươngcho cán bộ nhân viên
Trang 20Thu nhập của người lao động của Viện năm 2014 là 20,2 triệuđồng/người/tháng, năm 2015 là 22,7 triệu đồng/người/tháng Thu nhập của laođộng trong Viện ở mức rất cao so với thu nhập bình quân của lao động trong cảnước vì phần lớn số lao động trong Viện có trình độ từ Đại học trở lên, lương laođộng này nhất thiết phải được hưởng mức lao động tương xứng với giá trị mà họ tạo
ra Nhưng so với mức thu nhập bình quân của Tập đoàn dầu khí Việt Nam, mức thunhập bình quân của Viện thấp hơn vì thế Viện có kế hoạch tăng thu nhập cho ngườilao động theo từng năm, phấn đấu bằng mức thu nhập bình quân của Tập đoàn
1.6 Phương hướng hoạt động của Viện trong thời gian tới
Trong giai đoạn sắp tới, để thực hiện thành công chiến lược phát triển củaTập đoàn, của Viện, mô hình Học viện Học viện Dầu khí Việt Nam sẽ được hoànthiện trên 2 cơ sở 2 khối chức năng chính: Nghiên cứu- Đào tạo- Ứng dụng KHCN
Ba khối có được điểm, chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng trong quá trình hoạtđộng có sự hợp tác và tác động qua lại lẫn nhau, sự hòa quyện tác động qua lại của
3 khối luôn tạo ra động lực thúc đẩy Học Viện phát triển
+ Khối NCKH: thực hiện các nghiên cứu khoa học cơ bản và giải quyếtnhững vấn đề KHCN phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của Tập đoàn,cũng như nghiên cứu khoa học có tính ứng dụng, làm cơ sở cho việc áp dụng vàchuyển giao công nghệ, tư vấn trong SXKD của nghành Dầu khí Khối NCKH cótính ứng dụng thực tế, làm cơ sở cho việc áp dụng và chuyển giao công nghệ, tư vấntrong SXKD của nghành dầu khí Khối NCKH là nơi cung cấp đội ngũ giảng dạychất lượng cao và các phòng phân tích thí nghiệm hiện đại hỗ trợ cho khối đào tạo,thực hiện nhiệm vụ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho Tập đoàn
+ Khối đào tạo: thực hiện bồi dưỡng, đào tạo cung cấp nguồn lực chất lượngcao phục vụ trực tiếp cho nhu cầu SXKD của Tập đoànthực hiện các chương trìnhđào tạo tập trung, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, đào tạo chuyên sâu đặc biệt cho độingũ cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ của Tập đoàn, đội ngũ cán bộ NCKH, giảng dạytrong Học Viên
+Khối ứng dụng KHCN: ứng dụng và triển khai những thành tựu của khốiNCKH, thực hiện các dịch vụ KHCN Sản xuất thử nghiệm, ứng dụng các giải phápcông nghệ hữu ích, chuyển giao vào sản xuất Chứng minh bằng thực tiễn cácnghiệm thực tế cho các nhà khoa học, cán bộ giảng dạy và sinh viên, học Viên; hỗtrợ hướng dẫn thực hành có kỹ năng thực tiễn cao cùng cơ sở vật chất hiện đại phục
vụ cho khối đào tạo
Để triển khai thành công và phát huy được thế mạnh của mô hình này, đòi hỏi xâydựng hệ thống quy chế tương ứng trong việc sử dụng hợp lí các nguồn lực của HọcViên, đảm bảo sự gắn kết hữu cơ giữa ba khối NCKH, đào tạo và ứng dụng
Trang 21Kết luận chương 1
Hơn 30 năm qua, Viện đã song hành cùng đất nước, cùng ngành Dầu khí Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn của thời kỳ sau chiến tranh, hăng say nghiên cứu, tích cực đổi mới, chủ động hội nhập quốc tế một cách sâu rộng, để ngày hôm nay thực
sự trở thành một tổ chức khoa học - công nghệ hàng đầu của công nghiệp dầu khí Việt Nam, với một số lĩnh vực ngang tầm khu vực, có khả năng triển khai nghiên cứu phát triển và cung cấp dịch vụ khoa học - kỹ thuật một cách có hiệu quả cho toàn bộ chuỗi hoạt động dầu khí với 8 trung tâm chuyên ngành: Tìm kiếm, Thăm dò
và Khai thác; Phân tích Thí nghiệm; Ứng dụng và Chuyển giao Công nghệ; Chế biến; An toàn, Môi trường; Kinh tế, Quản lý; Đào tạo & Thông tin Dầu khí; và Lưu trữ Dầu khí
Giai đoạn sắp tới là giai đoạn Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam phấn đấu nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng tốc phát triển các lĩnh vực cốt lõi với hàng loạt giảipháp về khoa học - công nghệ, con người và quản lý Giữ vai trò là đơn vị đi đầu thực hiện đồng bộ các giải pháp đột phá về khoa học - công nghệ, Viện Dầu khí Việt Nam sẽ đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu và phát triển; ứng dụng, đổi mới
và chuyển giao công nghệ; đẩy mạnh hợp tác quốc tế; tăng cường liên kết khoa đào tạo-sản xuất, tạo nên bước chuyển biến mạnh mẽ trong chất lượng nghiên cứu, trở thành nền tảng, động lực cho sự phát triển bền vững của ngành Với những nhiện vụ và mục tiêu được giao, Viện hiện đang có những thuận lợi và khó khăn sau:
- Đội ngũ nhân viên trẻ hóa,năng động,trình độ ngày một nâng cao
- Nhu cầu nghiên cứu thi trường dầu khí của các chủ đầu tư tại thị trường Việt
Nam ngày càng tăng.
- Trang thiết bị công nghệ khoa học ứng dụng hiện đại tiên tiến.
Khó khăn:
- Với mục tiêu phát triển đột phá trong năm 2016, tốc độ tăng trưởng của PVCrất nhanh, trong khi đó nguồn nhân lực hiện tại chưa đáp ứng kịp tốc độ phát triển
Trang 22- Nhiều dự án bị dừng hoặc giãn tiến độ, đặc biệt là việc giải ngân vốn đầu tưrất khó khăn Một số dự án đầu tư chưa triển khai được do vướng thủ tục đầu tư.
- Một số đơn vị gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong công tác điều hành như
kế hoạch ban đầu đã xác định
- Công tác quản lý, điều hành nghiên cứu tại các dự án lớn của Viễn cũng gặpnhững khó khăn nhất định do nhiều nguyên nhân khác nhau : có sự thay đổi,điềuchỉnh lại công tác nghiên cứu,các yếu tố khách quan như thời tiết,yếu tố về kháchhàng…
- các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nước ngày càng tăng
- Giá cả thị trường dầu biến động, chính sách thắt chặt tín dụng của ngân hàngtạo không ít áp lực trong việc đảm bảo duy trì hoạt động sản xuất và đầu tư
Đối mặt với những khó khăn trên, bằng những nỗ lực phấn đấu, không ngừnghoàn thiện mình Viện đã khẳng định được vị trí của mình trên thị trường, đóng góp
to lớn vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Với những thành tích
đã đạt được công ty xứng đãng là đơn vị hàng đầu trong ngày xây lắp công nghiệp
và dân dụng của đất nước
Trang 242.1 Sự cần thiết của đề tài
2.1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Tiền lương, tiền thưởng là một động lực kích thích con người làm việc hăngsay nhưng đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân gây trì trệ, bất mãn Tất
cả tùy thuộc vào trình độ và năng lực của cấp quản trị Nó luôn là một vấn đề nhứcnhối của hầu hết các Công ty ở Việt Nam, là đề tài tạo ra những làn sóng tranh cãitrong các cuộc họp quốc hội Việt Nam
Đối với mỗi doanh nghiệp thì tiền lương, tiền thưởng chiếm một phần đáng
kể trong chi phí sản xuất và đối với mỗi quốc gia thì tiền lương, tiền thưởng là cụthể hóa của quá trình phân phối của cải vật chất do chính con người lao động trong
xã hội tạo ra Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường hiện nay khi mà sức lao độngtrở thành hàng hóa thì tiền lương và tiền thưởng là yếu tố quyết định rất lớn đến kếtquả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra nó còn là một trongnhững công cụ để Nhà nước phân phối sắp xếp ổn định lao động trong phạm vi toàn
xã hội
Thực hiện nội dung Nghị định 115/2005/NĐ ngày 05/09/2005 của Chính phủTập đoàn Dầu khí Việt Nam ban hành quyết định số 35/QĐ-DKVN về chuyển đổiViện dầu khí Việt Nam sang hình thức hoạt động “ Tổ chức khoa học công nghệ tựtrang trải kinh phí” từ ngày 01/01/2008 Với cơ chế đó Viện dầu khí Việt Nam đượcphép nghiên cứu và tư vấn khoa học công nghệ; dịch vụ ứng dụng chuyển giao côngnghệ; hợp tác quốc tế; đào tạo thông tin Theo cơ chế này, nguồn kinh phí chi trảcủa Viện thay đổi Để Viện dầu khí phát triển cần có chính sách quản lí, tổ chứcmới , hiệu quả, chặt chẽ Một trong những điều kiện để Viện phát triển và khẳngđịnh vị thế, đó là yếu tố con người- lực lượng nghiên cứu KHCN, với chính sáchnhân viên phù hợp, điều kiện làm việc tốt, cơ hội phát triển và chế độ đãi ngộ hấpdẫn
Do đó, nghiên cứu đề tài “ Hoàn thiện quy chế trả lương của Trung tâm Kinh
tế và Quản lý Dầu khí tại Viện dầu khí Việt Nam” là vấn đề cấp thiết nhằm giúpnhà quản trị vận dụng cơ sở lí luận vào thực tiễn để hoạch định quản lí trong quátrình phát triển của Viện dầu khí Việt Nam, bảo đảm nguồn lương đủ khuyến khích
và thu hút các chuyên gia có kinh nghiệm làm việc tại Viện
Trang 252.1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng: Nhóm tác giả nghiên cứu các vấn đề lý luận về quy chế trảlương của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Quản lý Dầu khí thuộc Viện Dầu khíViệt Nam từ đó rút ra ưu, nhược điểm và đề xuất một số giải pháp
+ Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian: Nhóm tác giả nghiên cứu quy chế trả lương và những tài liệuliên quan đến việc trả lương của Trung tâm kinh tế và Quản lý Dầu khí thuộc ViệnDầu khí Việt Nam năm 2015- 2016
Về nội dung: Nhóm tác giả tập trung nghiên cứu về quy chế trả lương củaViện Dầu khí Việt Nam
2.1.4 Phương pháp nghiên cứu
+ Sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp từ các số liệu thu thập được
+ Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp từ thực tế của đơn vị
+ Phương pháp luận: dựa vào các quan điểm của chủ nghĩa duy vật biệnchứng để nghiên cứu các vấn đề lý luận cũng như các vấn đề về quy chế trả lươngcủa Viện
2.2 Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của đề tài
2.2.1 Cơ sở lý thuyết
2.2.1.1.Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của tiền lương
* Khái niệm tiền lương :
- Tiền lương được hiểu là số lượng tiền tệ mà người sử dụng lao động trả chongười lao động khi người lao động hoàn thành công việc theo chức năng, nhiệm vụ
do pháp luật quy định, hoặc do hai bên đãthoả thuận trong hợp đồng lao động -Tiền lương của người laođộng do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động
và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc Mức lươngcủa người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quyđịnh
* Đặc điểm của tiền lương:
- Tiền lương là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh, là vốn ứngtrước và đây là một khoản chi phí trong giá thành sản phẩm
- Đối với các nhà quản lý thì tiền lương là một trong những công cụ để quản lýdoanh nghiệp Thông qua việc trả lương cho người lao động, người sử dụng laođộng có thể tiến hành kiểm tra, theo dõi, giám sát người lao động làm việc theo kếhoạch tổ chức của mình để đảm bảo tiền lương bỏ ra phải đem lại kết quả và hiệuquả cao Như vậy người sử dụng sức lao động quản lý một cách chặt chẽ về sốlượng và chất lượng lao động của mình để trả công xứng đáng
Trang 26* Ý nghĩa tiền lương :
-Đối với doanh nghiệp:Tiền lương giữ một vai trò quan trọng trong hoạt độngsản xuất kinh doanh Tiền lương là một yếu tố của chi phí sản xuất Còn đối vớingười cung ứng sức lao động, tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu
-Đối với người lao động: Tiền lương có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảođời sống của người lao động Tiền lương là phần thu nhập chủ yếu của người laođộng, do đó nó có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo cuộc sống của bản thânngười lao động và gia đình họ
-Đối với xã hội: Tiền lương có ảnh hưởng quan trọng đến các nhóm xã hội vàcác tổ chức khác nhau trong xã hội Tiền lương cao hơn giúp cho người lao động cósức mua cao hơn và điều đó làm tăng sự thịnh vượng của cộng đồng nhưng mặtkhác có thể dẫn tới tăng giá cả và làm mức sống của những người có thu nhập thấpkhông đuổi kịp mức tăng giá cả Giá cả tăng cao lại có thể làm giảm cầu về sảnphẩm và dịch vụ dẫn tới giảm công việc làm
2.2.1.2 Khái niệm Quy chế trả lương
-Quy chế trả lương là tất cả những chế độ quy định về việc trả công lao động
trong một công ty, một doanh nghiệp, một tổ chức
-Quy chế trả lương trong doanh nghiệp do chính doanh nghiệp đó tự tổ chức vàchỉ có hiệu lực trong phạm vi quản lý của mình
-Quy chế trả lương được cấu tạo theo các chương, mục, các điều khoản
-Quy chế trả lương được xây dưng trên cơ sở những quy định của nhà nước
2.2.1.3 Cấu trúc và nội dung của quy chế trả lương
+ Chống phân phối bình quân, hệ số giãn cách giữa người có tiền lương caonhất và thấp nhất do doanh nghiệp lựa chọn, nhưng tối đa không quá 2 lần so với hệ
số mức lương cao nhất áp dụng trong doanh nghiệp theo quy định tại Nghị định26/NĐ-CP ngày 23/5/1993 của Chính phủ và thấp nhất bằng hệ số mức lương quyđịnh tại Nghị định 26/CP nói trên
Trang 27+ Quỹ tiền lương được phân phối trực tiếp cho người lao động làm việctrong doanh nghiệp, không sử dụng vào mục đích khác.
+ Tiền lương và thu nhập hàng tháng của người lao động được ghi vào Sổlương của doanh nghiệp tại Thông tư số 15/LĐTBXH-TT ngày 10/4/1997 cảu BộLao động – Thương biinh và xã hội
+ Lãnh đạo doanh nghiệp phối hợp với tổ chức công đoàn cùng cấp để xâydựng quy chế trả lương Quy chế trả lương được phổ biến công khai đến từng ngườilao động trong doanh nghiệp và đăng ký với cơ quan có thẩm quyền giao đơn giátiền lương
2) Nguồn hình thành quỹ lương
Căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, doanh nghiệpxác định nguồn quỹ lương tương ứng để trả lương cho người lao động , nguồn baogồm:
+ Qũy tiền lương theo đơn giá tiền lương được giao
+ Quỹ tiền lương bổ sung theo chế độ quy định của Nhà nước
+ Quỹ tiền lương từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ khác ngoàiđơn giá tiền lương được giao
+ Quỹ tiền lương dự phòng từ năm trước chuyển sang
Nguồn tiền lương nêu trên được gọi là tổng quỹ lương
3) Sử dụng tổng quỹ tiền lương
Để đảm bảo tổng quỹ tiền lương không vượt chi so với quỹ tiền lương được hưởng,dồn chi quỹ tiền lương vào các tháng cuối năm hoặc để dự phòng quỹ tiền lươngquá lớn cho năm sau, có thể quy định phân chia tổng quỹ tiền lương chó các quỹsau:
+ Quỹ tiền lương trả trực tiếp cho người lao động theo lương khoán, lươngsản phẩm, lương thời gian (ít nhất 76% tổng quỹ tiền lương)
+ Quỹ khen thưởng từ quỹ lương đối với người lao động có năng suất, chấtlượng cao có thành tích trong công tác ( tối đa không quá 10% tổng quỹ tiền lương)
+ Quỹ khuyến khích người lao động có trình độ chuyên môn, kĩ thuật cao,tay nghề giỏi ( tối đa không vượt quá 2% tổng quỹ tiền lương)
+ Quỹ dự phòng cho năm sau ( tối đa không quá 12% tổng quỹ tiền lương)
4) Tổ chức xây dựng quy chế trả lương
Trang 28Để đảm bảo nguyên tắc công khai dân chủ trong việc thực hiện quy chế trảlương, doanh nghiệp phải tổ chức xây dựng quy chế trả lương như sau:
Thành lập Hội đồng xây dựng quy chế trả lương cho doanh nghiệp do Giámđốc làm chủ tịch Thành viên Hội đồng gồm: bộ phận lao động, tiền lương là Ủyviên thường trực, đại diện tổ chức công đoàn cùng cấp; đại diện Đảng ủy ; đại diệncác phòng và một số chuyên gia giỏi trong lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ Sốthành viên cụ thể do Giám đốc quyết định
Hội đồng có nhiệm vụ dự thảo quy chế và tổ chức lấy ý kiến rộng rãi trongdoanh nghiệp, sau đó hoàn thành quy chế
Giám đốc tổ chức lấy ý kiến tại Đại hội công nhân viến chức, hoặc đại diệncác bộ phận trong doanh nghiệp, sau đó quyết định công bố chính thức
5) Vai trò của quy chế trả lương
Đối với Nhà nước
Chính sách tiền lương là một bộ phận quan trọng trong hệ thông chính sáchkinh tế xã hội của đất nước Chính sách này liên quan trực tiếp đến lợi ích đông đảongười lao động trong xã hội và được Nhà nước quản lí Việc ban hành các quy chếtrả lương cho người lao động trong các loại hình doanh nghiệp nói chung và trongdoanh nghiệp Nhà nước nói riêng nhằm thực hiện chủ trương quản lí thống nhất vềtiền lương của Nhà nước ban hành
Việc ban hành các quy định về tiền lương nói chung và quy chế trả lương nóiriêng sẽ thực hiện được vai trò quản lí của Nhà nước về tiền lương, giúp doanhnghiệp thực hiện tốt các nguyên tắc cơ bản của tổ chức trả lương, không bị lúngtúng trong việc phân phối tiền lương
Nhà nước đưa ra những quyết định về việc hình thành quy chế tiền lương, sửdụng và phân phối quỹ tiền lương, việc ghi sổ lương một cách rõ ràng sẽ là cơ sởcho việc kiểm tra, thanh tra thực hiện chính sách tiền lương và thực hiện nghĩa vụvới Nhà nước theo quy định của Nhà nước để góp phần tăng thêm hiệu quả quản lí
Trong các công ty nhà nước xây dựng và thực hiện tốt quy chế trả lương tức
là không xảy ra tình trạng quỹ lương vượt chi so với quỹ lương được hưởng thì Nhànước không phải trích ngân sách để bù vào và tránh thất thoát cho Nhà nước
Đối với doanh nghiệp
Quy chế trả lương, trả thưởng là công cụ quản lí lao động, quản lí kinh tế.Đối với doanh nghiệp thì quy chế trả lương, trả thưởng cho người lao động có một ý