Đề tài với mục đích đo lường mức độ ảnh hưởng giữa hình ảnh cơ thể ở phụ nữ Ung thư vú UTV và trầm cảm có tính đến các nhân tố về sự đồng cảm của người chồng, cảm nhận giá trị bản thân,
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN HOÀNG BẢO
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 2Tôi xin cam đoan luận văn này là do bản thân tôi tự nghiên cứu và thực hiện dưới
sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Hoàng Bảo
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Nội dung của luận văn này chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình trước đó
TP Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 11 năm 2016
Học viên
Võ Nguyên Khôi
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
TÓM TẮT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.2.1 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Phương pháp nghiên cứu 4
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 4
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 5
1.6 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
2.1 Lý thuyết liên quan 7
2.1.1 Hình ảnh cơ thể ở bệnh nhân ung thư vú 7
2.1.2 Sự đồng cảm của người chồng 14
Trang 4đến trầm cảm 21
2.2 Khảo lượt các tài liệu có liên quan 22
2.3 Khung nghiên cứu 25
2.3.1 Khung nghiên cứu 25
2.3.2 Giả thuyết nghiên cứu 26
2.3.3 Kỳ vọng dấu tác động 27
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Thiết kế nghiên cứu 28
3.1.1 Quy trình nghiên cứu 29
3.1.2 Xây dựng bảng câu hỏi điều tra 31
3.1.3 Phương pháp thu thập dữ liệu 31
3.1.4 Tiêu chuẩn lựa chọn 32
3.1.5 Cỡ mẫu 32
3.1.6 Công cụ phân tích định lượng 33
3.2 Mô hình và các biến số 33
3.3 Đo lường các biến số 35
3.3.1 Thang đo trầm cảm 35
3.3.2 Thang đo hình ảnh cơ thể 37
3.3.3 Thang đo sự đồng cảm của người chồng 38
3.3.4 Thang đo cảm nhận giá trị bản thân 40
3.4 Tóm tắt chương 3 40
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
Trang 54.1.2 Đặc điểm điều trị của đối tượng mẫu khảo sát 43
4.2 Kiểm định thang đo 47
4.3 Phân tích tương quan 49
4.4 Phân tích hồi quy 51
4.4 1 Hồi quy thứ bậc (Hierarchical regression) đánh giá tác động của từng biến quan tâm 51
4.4 2 Mô hình hồi quy điều chỉnh 54
4.4 3 Đánh giá các khuyết tật của mô hình nếu có 55
4.4 4 Kiểm định các giả thuyết 60
4.5 Tóm tắt chương bốn 62
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 65
5.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu 65
5.2 Hàm ý chính sách 67
5.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 70 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6SE Self-Esteem Scale (Cảm nhận giá trị bản thân)
BIS Body Image Scale (Hình ảnh cơ thể)
ODPT Other Dyadic Perspective-Taking (Sự đồng cảm của người chồng) CES-D The Centre for Epidemological Studies- Depression (Thang đo
Trầm cảm) UTV Ung thư vú
WHO World Health Organization (tổ chức y tế thế giới)
SPSS Statistical Package for the Social Sciences
Trang 7Bảng 3.2 Nội dung câu hỏi trong thang đo Triệu chứng trầm cảm 36
Bảng 3.3 Nội dung câu hỏi trong thang đo Hình ảnh cơ thể 38
Bảng 3.4 Nội dung câu hỏi trong thang đo Sự đồng cảm của người chồng 39
Bảng 3.5 Nội dung câu hỏi trong thang đo Tự cảm nhận giá trị bản thân 40
Bảng 4.1 Bảng đặc điểm dân số mẫu 42
Bảng 4.2 Đặc điểm điều trị của đối tượng khảo sát 44
Bảng 4.3 Thống kê mô tả các thang đo 46
Bảng 4.4 Tổng hợp kết quả kiểm định Cronbach Alpha 48
Bảng 4.5 Ma trận tương quan, 50
Bảng 4.6 Kết quả Hồi quy thứ bậc 53
Bảng 4.7 Kết quả kiểm định R2 55
Bảng 4.8 Kết quả phân tích Anova 55
Bảng 4.9 Phân tích đa cộng tuyến 56
Bảng 4.10 Thông số thống kê của từng biến trong mô hình 60
Bảng 4.11 Tổng kết kết quả kiểm định 62
Trang 8Hình 2 1 Phẫu thuật cắt bỏ 1 bên vú 13
Hình 2 2 Hình ảnh sau khi phẩu thuật tái tạo vú 13
Hình 2.3 Khung phân tích 26
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 30
Hình 4.1 Biểu đồ phân bố và phân phối điểm số Triệu chứng trầm cảm 47
Hình 4.2 Đồ thị phân tán phần dư 57
Hình 4.3 Biểu đồ phân phối của phần dư 58
Hình 4.4 Biểu đồ xác suất chuẩn phần dư (Normal Q-Q plot) 59
Hình 4.5 Kết quả mô hình nghiên cứu 64
Trang 9Với xu hướng nghiên cứu tập trung vào chất lượng sống của bệnh nhân trong lĩnh vực y tế ngày nay Đề tài với mục đích đo lường mức độ ảnh hưởng giữa hình ảnh cơ thể ở phụ nữ Ung thư vú (UTV) và trầm cảm có tính đến các nhân tố
về sự đồng cảm của người chồng, cảm nhận giá trị bản thân, mức độ lo lắng tái phát bệnh và các yếu tố đặc điểm cá nhân Đồng thời xem xét tác động của biến điều tiết (sự đồng cảm của người chồng) Từ đó, có thể đưa ra các khuyến nghị cho các đối tượng liên quan
Phương pháp nghiên cứu cắt ngang, 182 mẫu được thu thập tại khoa tái khám của bệnh viện Ung bướu tp Hồ Chí Minh, theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện Tiêu chuẩn lựa chọn cơ bản là các đối tượng phụ nữ lập gia đình bị UTV đã phẫu thuật và hoàn tất điều trị cơ bản ít nhất 6 tháng Sử dụng phân tích định lượng thông qua khảo sát bằng bảng câu hỏi Cấu trúc bảng câu hỏi gồm các thang đo,
đo lường các khái niệm về Hình ảnh cơ thế, Sự đồng cảm của người chồng, Cảm nhận giá trị bản thân, Mức độ lo lắng tái phát bệnh, Triệu chứng Trầm cảm Thực hiện Hồi quy thứ bậc (Hierarchical Multiple Regression) nhằm kiểm soát các biến nhiễu, đo lường tác động của các biến quan tâm và lựa chọn được mô hình phù hợp
Kết quả nghiên cứu, các yếu tố tác động đến trầm cảm có ý nghĩa thống kê (p<0.05) gồm: Hình ảnh cơ thể (+), Sự đồng cảm của người chồng (-) giữ vai trò điều tiết và tác động, Cảm nhận giá trị bản thân (-), Mức độ lo lắng tái phát bệnh (+), mức thu nhập hộ gia đình (-)
Bài nghiên cứu là cơ sở cho các đối tượng: các nhà quản trị hệ thống y tế (Bảo hiểm y tế), cộng đồng xã hội, truyền thông, bác sĩ điều trị và người chồng hiểu hơn về những vấn đề bệnh nhân UTV sống sót sau điều trị gặp phải và có biện pháp hỗ trợ thích hợp
Trang 10CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trầm cảm được xem là một một loại rối loạn khí sắc trầm mà bất cứ ai, ở bất
cứ độ tuổi nào cũng có thể gặp phải Cùng với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học
công nghệ, chúng ta đã chuyển dần sự quan tâm "Con người chết như thế nào" sang mối quan tâm "Con người đang sống như thế nào", trước kia chúng ta chỉ quan tâm
đến bệnh tật liên quan đến thể chất (Physical health) thì ngày ngày khoa học đã chứng minh những rối loạn về tâm thần sẽ biểu hiện thành bệnh lý (Metal health),
chính vì thế tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) đã đánh giá lại định nghĩa sức khỏe:
“Sức khoẻ là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội chứ
không phải chỉ bao gồm trạng thái không bệnh, không tật" Từ năm 2008, WHO
chọn ngày 10/10 là ngày sức khỏe tinh thần thế giới, với mục đích đưa vấn đề này lên hàng ưu tiên toàn cầu, nhắc nhở mọi người phải quan tâm đến sức khỏe tinh thần
Theo số liệu thống kê từ tổ chức y tế thế giới (WHO, 2012), Trầm cảm là một bệnh phổ biến trên toàn thế giới, ước tính có khoảng 350 triệu người mắc phải Bệnh không chỉ làm giảm chất lượng cuộc sống cũng như là hiệu suất lao động ở nơi làm việc, trường học và trong gia đình mà còn có thể dẫn đến tự tử (Ước tính có hơn 800
000 người chết do tự tử mỗi năm) Tự tử là nguyên nhân đứng hàng thứ hai gây tử vong trong độ tuổi từ 15-29 tuổi Trong mười loại bệnh gây thiệt hại nhiều nhất, trầm cảm đứng vị trí thứ tư, dự kiến trong năm 2030 trầm cảm sẽ chiếm vị trí thứ hai sau HIV/AIDS Gánh nặng của trầm cảm và các rối loạn tâm thần khác đang gia tăng trên toàn cầu Một nghị quyết của hội đồng Y tế Thế giới thông qua năm 2013
đã kêu gọi một cách toàn diện để phối hợp và ứng phó với rối loạn tâm thần ở cấp quốc gia
Trang 11Hình ảnh cơ thể là hình ảnh chủ quan về hình thể của cá nhân được hình
thành từ sự tự quan sát và bằng cách ghi nhận các phản hồi của những người xung quanh Nhìn chung, phụ nữ thường có các mối quan tâm về ngoại hình, cân nặng và vóc dáng của mình (Helms, O’Hea, và Corso, 2008) Hình dáng cơ thể, màu sắc và chiều dài tóc, kích cỡ và hình dáng vú, và các đặc điểm trên khuôn mặt và một vài trong số các đặc tính hình thể đóng góp vào nhận thức của người phụ nữ về sức hấp dẫn và nữ tính Những điều đề cập ở trên có thể tác động một cách tích cực hoặc tiêu cực đến trạng thái tinh thần và chất lượng cuộc sống Nhiều phụ nữ tin rằng, nếu có được hình ảnh cơ thể lý tưởng họ sẽ có cuộc sống tốt hơn, nó gắn liền với sự tự tin,
sự thành công trong công việc, các mối quan hệ lãng mạn và hôn nhân Đối với những phụ nữ Bắc Mỹ, vú không chỉ được xem là một phần cơ thể Nó gắn liền với bản sắc nữ giới, tình dục, nữ tính, sức hấp dẫn, nuôi dưỡng và làm mẹ (Levin, 2006; Pikler và Winterowd, 2003) Và vú thường được xem là “biểu tượng cao cấp” của tình dục nữ (Levin, 2006) Do đó, sự mất đi của bộ phận vú có ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh cơ thể và niềm tin bản thân người phụ nữ (Dahl và cộng sự, 2010) Ung thư vú và phương pháp điều trị liên quan ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức của phụ nữ về nữ tính, hình ảnh cơ thể, tình dục và chất lượng cuộc sống nói chung (Hartl và cộng sự, 2003) Chẳng hạn như, điều trị UTV có thể dẫn đến giảm kích thước vú, sẹo, và có thể loại bỏ hoàn toàn 1 hoặc cả 2 vú
Ung thư vú được định nghĩa là sự gia tăng không kiểm soát của tế bào vú bất
thường, những tế bào này có thể xâm nhập và lan sang các bộ phận khác qua mạch máu và hạch bạch huyết Theo tổ chức y tế thế giới (WHO, 2014; National Cancer Intitute, 2016), ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới Trong năm 2012,
đã có 1,67 triệu trường hợp được chuẩn đoán mắc mới trên toàn thế giới Tại Việt Nam, UTV cũng đứng đầu trong các ung thư ở nữ về tỷ lệ mắc, tỷ lệ mắc UTV ước tính khoảng 23/100.000 người Theo số liệu của International Agency for Research
Trang 12on Cancer (2012), Việt Nam có 11.067 phụ nữ mắc mới và 4.671 tử vong May mắn thay, những tiến bộ trong chuẩn đoán sớm và điều trị đã làm giảm tỉ lệ từ vong do ung thư vú, mang lại tỷ lệ sống tối ưu (The American Cancer Society- hiệp hội ung thư Mỹ) Phương pháp điều trị bổ trợ, chẳng hạn như hóa trị và liệu pháp nội tiết, đã giúp cải thiện tỷ lệ sống của phụ nữ bị UTV (Henson, 2002; Kunkel, Chen, và Okunlola, 2002)
Tuy nhiên, liệu pháp hóa trị có thể góp phần cho việc khởi phát sớm thời kỳ mãn kinh, rụng tóc, mệt mỏi và biến đổi nội tiết tố Phẫu thuật có thể gây ra những vết sẹo và làm mất tính toàn vẹn về hình thể, có thể dẫn đến giảm nhận thức về sức hấp dẫn hình thể, nữ tính và diện mạo cơ thể nói chung (Fobair và cộng sự, 2006; Moriera & Canavarro, 2010) Có thể thấy, đi kèm với sự gia tăng tỷ lệ sống sót, người phụ nữ phải chịu mặc cảm về hình thể để lại sau điều trị đến suốt quãng đời còn lại
Hiện nay, xu hướng các nghiên cứu trên thế giới đã tập trung vào vấn đề liên quan đến chất lượng sống của bệnh nhân ung thư vú Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện vẫn còn rất ít nghiên cứu tập trung vào vấn đề này Đặc biệt, hiện vẫn chưa có
nghiên cứu nào chứng minh: “Tác động của thay đổi hình ảnh cơ thể ở phụ nữ ung
thư vú đến trầm cảm và vai trò từ sự đồng cảm của người chồng” Đó chính là lý do
học viên thực hiện đề tài này, từ kết quả thu được có thể đề xuất những khuyến nghị nhất định nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho những đối tượng này đồng thời xem xét đến yếu tố kinh tế trong việc đánh đổi giữa chi phí xã hội bỏ ra (bảo hiểm y tế) để giảm gánh nặng bệnh tật gây ra cho cộng đồng
Trang 131.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Câu hỏi nghiên cứu
Hình ảnh cơ thể ở phụ nữ ung thư vú, cảm nhận giá trị bản thân, sự đồng cảm của người chồng, mức độ lo lắng tái phát bệnh và các yếu tố đặc điểm cá nhân có tác động đến trầm cảm không?
1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu có 2 mục đích chính:
Khám phá và đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến trầm cảm ở bệnh nhân ung thư vú
Từ kết quả phân tích, đề tài đưa ra những khuyến nghị cho các đối tượng sau: hệ thống chăm sóc sức khỏe (Bảo hiểm y tế Việt Nam), xã hội, truyền thông, bác sĩ điều trị và đặc biệt là người chồng của những bệnh nhân UTV
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành qua hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Nghiên cứu định tính nhằm xây dựng và hoàn thiện bảng câu hỏi phỏng vấn
Giai đoạn 2: Nghiên cứu định lượng nhằm thu thập thông tin, phân tích dữ liệu, kiểm định mô hình bằng phương pháp Cronbach Alpha, phân tích tương quan, phân tích hồi quy
1.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Phụ nữ lập gia đình bị ung thư vú đã phẫu thuật và đã chấm dứt điều trị cơ bản (như hóa trị, xạ trị kèm theo) ít nhất 6 tháng, hiện đang
Trang 14được theo dõi và tái khám tại bệnh viện Ung Bướu thành phố Hồ Chí Minh Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện với kích thước N=182
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Hình ảnh cơ thể ở phụ nữ ung thư vú trong mối quan hệ tác động đến trầm cảm và vai trò của sự đồng cảm từ người chồng trong mối quan hệ này
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào sự hiểu biết chung
về tác động của thay đổi hình ảnh cơ thể ở phụ nữ UTV đến trầm cảm và vai trò từ
sự đồng cảm của người chồng
Ý nghĩa thực tiễn: Nếu đạt được mục tiêu nghiên cứu và trả lời được câu hỏi
nghiên cứu, thì kết quả nghiên cứu sẽ giúp các nhà quản lý hệ thống chăm sóc sức khỏe đưa ra các chính sách y tế tốt hơn trong việc cải thiện sức khỏe tinh thần cho bệnh nhân sống sót sau khi bị UTV nhằm nâng cao chất lượng sống và giảm gánh nặng bệnh tật (yếu tố kinh tế trong việc đánh đổi chi phí bỏ ra để làm giảm gánh nặng bệnh tật cho cộng đồng) Kết quả này cũng góp phần giúp cho cộng đồng hiểu hơn về những khó khăn về tâm lý bệnh nhân phải trải qua và chịu đựng, cần có cái nhìn đúng đắn và tích cực đến từ phương diện truyền thông, bác sĩ điều trị cần chú ý hơn vấn đề này để tư vấn cho bệnh nhân cùng lúc với quá trình điều trị bệnh chính Đặc biệt là giúp cho người chồng hiểu hơn và cần trang bị kĩ năng đồng cảm, thấu hiểu để giúp người vợ mình vượt qua được mặc cảm bệnh tật đã gây ra
1.6 Kết cấu của luận văn
Bài nghiên cứu được cấu trúc thành 5 phần:
Phần 1 giới thiệu tổng quan về các vần đề trong bài nghiên cứu gồm: lí do chọn đề tài, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu,
Trang 15phương pháp và dữ liệu nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và bố cục của bài nghiên cứu
Phần 2 trình bày cơ sở lý thuyết gồm tổng quan các tài liệu có liên quan đến hình ảnh cơ thể, ung thư vú, ảnh hưởng của điều trị và hình ảnh cơ thể ở phụ nữ ung thư vú, sự đồng cảm của người chồng, khái niệm và nguyên nhân của trầm cảm, tác động của hình ảnh cơ thể ở phụ nữ ung thư vú đến trầm cảm; đồng thời tóm lược các nghiên cứu thực nghiệm về mối liên hệ giữa các yếu tố liên quan tác động đến trầm cảm
Phần 3 trình bày phương pháp nghiên cứu, gồm có thiết kế nghiên cứu, mô hình và các biến số, cách thức đo lường các biến số và công cụ phân tích định lượng
Chương 4 trình bày phương pháp phân tích và kết quả nghiên cứu, gồm có trình bày về kết quả thống kê mô tả, kiểm định hiệu lực của thang đo, trình bày kết quả phân tích tương quan và cuối cùng trình bày kết quả hồi quy
Chương 5 tóm tắt kết quả của nghiên cứu để đưa ra kết luận, đóng góp, hàm ý của nghiên cứu cũng như hạn chế của nghiên cứu
Trang 16CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Lý thuyết liên quan
2.1.1 Hình ảnh cơ thể ở bệnh nhân ung thư vú
2.1.1.1 Hình ảnh cơ thể
Hình ảnh cơ thể là hình ảnh chủ quan về hình thể của cả nhân được hình thành từ sự tự quan sát và bằng cách ghi nhận các phản hồi của những người xung quanh Theo quan điểm của tâm lý và tâm thần học, hình ảnh cơ thể là sự cảm nhận của mỗi nguời về tính thẩm mỹ hay sự hấp dẫn tình dục ở cơ thể mình Khái niệm hình ảnh cơ thể được sử dụng trong một số lĩnh vực như tâm lý học, phân tâm học, tâm thần học, y học, triết học, nghiên cứu văn hóa và bình quyền phụ nữ Thuật ngữ này cũng thường được sử dụng trên các phương tiện truyền thông và cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất trên các lĩnh vực Sự nhìn nhận về hình ảnh
cơ thể của mỗi người thường là cảm giác bị chi phối bởi nhiều yếu tố liên quan tương tác từ những người xung quanh, những chuẩn mực văn hóa hay sự định hình
từ phương tiện truyền thông
So với nam giới, phụ nữ thường có các mối quan tâm về ngoại hình, cân nặng
và vóc dáng của mình (Helms, O’Hea, và Corso, 2008) Hình dáng cơ thể, màu sắc
và chiều dài tóc, kích cỡ và hình dáng vú, và các đặc điểm trên khuôn mặt và một vài trong số các đặc tính hình thể đóng góp vào nhận thức của người phụ nữ về sức hấp dẫn và nữ tính Những điều đề cập ở trên có thể tác động một cách tích cực hoặc tiêu cực đến trạng thái tinh thần và chất lượng cuộc sống Đối với những phụ nữ Bắc
Mỹ, Vú không chỉ được xem là một phần cơ thể Nó gắn liền với bản sắc nữ giới, tình dục, nữ tính, sức hấp dẫn, nuôi dưỡng và làm mẹ (Levin, 2006; Pikler và Winterowd, 2003) Và vú thường được xem là “biểu tượng cao cấp” của tình dục nữ (Levin, 2006)
Trang 17Hình ảnh cơ thể phụ nữ, qua các thời đại khác nhau cũng có những thay đổi
về tiêu chuẩn Theo Elle MacPherson and Claudia Schiffer, ý niệm về hình thể phụ
nữ lý tưởng là người phụ nữ có vóc dáng thon gọn nhưng bộ ngực căng đầy Theo Bordo (2003) một hình thể đẹp cũng cần sự săn chắc Xét về khía cạnh vóc dáng lý tưởng, được các nhà tâm lý nghiên cứu và nhận định rằng: trãi qua các thập kỉ, xu hướng vóc dáng ngày càng yêu cầu thon gọn hơn Ở những thập niên 1950 hình ảnh
“thân hình đầy đặn” với một ít mỡ ở phần hông và eo để có được sự tỷ lệ thuận với
bộ ngực to tròn của mình (như Marilyn Monroe), cơ thể lý tường càng mỏng hơn qua các năm 1970,1980 và đến nay.Ngày nay, truyền thông xây dựng nên một hình mẫu lý tưởng của người phụ nữ có mái tóc dài, lông mi dài, đôi môi căng mọng, bộ ngực lớn, một vòng eo nhỏ, bộ mông tròn đầy và đôi chân dài Dần dần, những phụ
nữ trẻ càng thể hiện phong cách ăn mặc càng gợi cảm, họ chú ý trong cách ăn mặc nhằm tôn lên, phơi bày hoặc muốn thu hút sự chú ý vào các bộ phận tính dục Chẳng hạn như, phụ nữ có thể mặc một chiếc áo được cắt ngắn để lộ phần eo và mang giày cao gót để tôn đôi chân dài Nắm bắt được tâm lý này đã có hàng loạt các sản phẩm
ra đều nhằm hỗ trợ cho việc xây dựng hình ảnh cơ thể lý tưởng, một ngành công nghiệp làm đẹp, bao gồm việc sử dụng mỹ phẩm trang điểm và các sản phẩm về tóc, thời trang quần áo tập trung làm tôn lên hình dáng cơ thể phụ nữ (như nhãn hiệu đồ lót Victoria’s Secret, áo độn vú, độn mông,…) và các hoạt động nổ lực nhằm vào việc hình thành và duy trì thân hình thon gọn
Mặc dù những chuẩn mực về hình thể có thay đổi theo thời gian thì phụ nữ luôn được khuyến khích để thay đổi hình dáng cơ thể và trọng lượng của mình để phù hợp với xu hướng hiện đại Vì thế, phụ nữ đã trãi qua nổi đau và việc tập luyện
để phù hợp với ý niệm về vẻ đẹp hình thể chẳng hạn như tục bó chân, áo nịt bụng và
vú kèm theo đó là sự chịu đựng cảm giác khó chịu và bất động khi sử dụng Trong thời đại ngày nay, có các hình thức làm đẹp thay thế bằng cách thực hiện chế độ ăn
Trang 18kiên nghiêm ngặt (có thể làm cơ thể suy kiệt và mệt mỏi – hành vi tự hủy hoại) hay phẫu thuật thẩm mỹ (khi đó phụ nữ phải trải qua các tiểu phẩu hoặc phẫu thuật với cảm giác đau đớn và có thể nguy hiểm đến tính mạng) để cố gằng đạt được chuẩn mực hình thể đẹp theo quan niệm hiện thời, tính hấp dẫn, hình dáng cơ thể thon thả
Theo nghiên cứu của Charles and Kerr (1986), hầu hết phụ nữ khó kiểm soát việc chấp nhận hình thể hiện tại của mình Những bộ phận cơ thể mà những phụ nữ này cảm thầy không hài lòng nhất tập trung vào bộ ngực (vú quá nhỏ hay quá lớn, cặp đùi (quá mập hay quá ốm), mông (quá nhão hay quá nhỏ) và bụng (không đủ phẳng) Ngày nay, các chuyên gia dự đoán rằng phụ nữ sẽ giành nhiều thời gian, sức lực và tiền bạc trong việc theo đuổi sự hoàn hảo của cơ thể Nhiều người trong số đó tin rằng, nếu họ có được hình ảnh cơ thể lý tưởng họ sẽ có cuộc sống tốt hơn, nó gắn liền với sự tự tin, sự thành công trong công việc, các mối quan hệ lãng mạn và hôn nhân
2.1.1.2 Ung thư vú
Ung thư vú được định nghĩa là sự gia tăng không kiểm soát của tế bào vú bất thường, những tế bào này có thể xâm nhập và lan sang các bộ phận khác qua mạch máu và hạch bạch huyết Nó có thể xảy ra ở cả hai giới nhưng không phổ biến ở nam giới
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO, 2014), ung thư vú là loại ung thư đứng hàng đầu trên thế giới (xét chung cả hai giới) và là bệnh ung thư phổ biến nhất ở nữ giới Trong năm 2012, đã có 1,67 triệu trường hợp được chuẩn đoán mắc mới trên toàn thế giới Tương tự tại Mỹ, theo viện ung thư quốc gia (National Cancer Intitute, 2016), ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới, ước tính trường hợp mắc mới là 246.660 trường hợp và tử vong là 40.450 trường hợp Tại Việt Nam, UTV cũng đứng đầu trong các ung thư ở nữ về tỷ lệ mắc, tỷ lệ mắc UTV năm 2012 ước
Trang 19tính khoảng 23/100.000 người Theo số liệu của International Agency for Research
on Cancer (2012), Việt Nam có 11.067 phụ nữ mắc mới và 4.671 tử vong
Điều trị ung thư vú
Phác đồ điều trị UTV hiện nay là sự kết hợp chặt chẽ giữa các biện pháp điều trị tại chổ như phẫu thuật, xạ trị và biện pháp điều trị toàn thân như liệu pháp hóa trị, nội tiết Việc điều trị như thế nào phụ thuộc vào giai đoạn tiến triển của bệnh Với mục tiêu, phát hiện sớm và điều trị hết bệnh, ngăn chặn bệnh diễn tiến nặng hơn, làm tăng thời gian sống không bệnh (Nguyễn Bá Đức và cộng sự, 2012)
Phẫu thuật được xem là phương pháp điều trị UTV chính yếu nhất, đặc biệt là phù hợp cho các trường hợp ung thư giai đoạn sớm và trường hợp chưa có di căn Có 3 loại phẫu thuật cơ bản gồm
Phẫu thuật cắt tuyến vú và vét hạch nách Hiện nay, đây là biện pháp phẫu thuật chuẩn đối với UTV ở giai đoạn bệnh còn khu trú Lấy bỏ hạch nách vừa
để điều trị vừa để chẩn đoán giai đoạn bệnh Ưu điểm là biện pháp đáng tin cậy và hiệu quả nhất để xử lý khối U tại chỗ và giải quyết triệt để nguy cơ phát triển các khối U nguyên phát mới Nhược điểm là khuyết hổng ảnh hưởng đến tính thẩm mỹ
Phẫu thật bảo tồn tuyến vú Chỉ định cho UTV giai đoạn sớm, bao gồm cắt một phần tuyến vú và xạ trị Ưu điểm là ít di chứng, thẩm mỹ cao, cải thiện chất lượng cuộc sống và tâm lý bệnh nhân sau điều trị Nhược điểm là tổ chức tuyến vú còn lại có thể bị Ung thư tái phát hoặc phát triển UTV nguyên phát mới
Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ tuyến vú ngay sau cắt bỏ Ưu điểm của kỹ thuật này đem lại cho bệnh nhân ung thư vú chất lượng sống tốt hơn cả về thể chất lẫn tinh thần Tuy nhiên, bệnh nhân phải tốn thêm một khoảng chi phí lớn để
Trang 20chi trả cho vấn đề thẩm mỹ và chưa được bảo hiểm y tế chi trả cho loại hình này ở Việt Nam
2.1.1.3 Ảnh hưởng của việc điều trị đến hình ảnh cơ thể bệnh nhân
Cùng với sự phát triển không ngừng của y học hiện đại những năm gần đây, việc áp dụng nhiều phương pháp điều trị hiện đại cho bệnh nhân UTV đã chứng tỏ được hiệu quả trong điều trị, không những đã giúp gia tăng thời gian sống còn của bệnh nhân mà còn cải thiện được chất lượng cuộc sống của các đối tượng này Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng về tỉ lệ sống còn thì ở những phụ nữ này phải chịu sự thay đổi về hình dáng cơ thể do phẫu thuật cắt bỏ vú, tác dụng phụ của xạ trị và tác dụng ngoại ý của thuốc hóa trị, làm ảnh hưởng rất nhiều đến diện mạo bề ngoài và
sự nữ tính của phụ nữ Cụ thể như:
Mặc dù phẫu thuật là phương pháp điều trị UTV cơ bản nhất nhưng cũng để lại hậu quả nặng nề trên hình thể phụ nữ Chẳng hạn như phẫu thuật bảo tồn vú tuy không phải đoạn nhũ nhưng làm mất cân đối về kích cỡ của hai vú, đoạn nhũ một bên hoặc hai bên đều để lại những sẹo dài trên cơ thể phụ nữ, trong đó đoạn nhũ một bên thường ảnh hưởng về tính thẩm mỹ và tâm lý hơn nên các bệnh nhân lựa chọn giải pháp tái tạo vú sau phẫu thuật nhiều hơn so với các phụ nữ phẫu thuật bảo tồn
vú (theo hiệp hội UTV Canada) Trong các nghiên cứu về động cơ để phẫu thuật lựa chọn tái tạo lại vú, các tác giả đã tổng hợp được các lý do được đa số phụ nữ lựa chọn như sau: để cảm giác còn nữ tính lần nữa, không muốn bị mất tuyến vú, để cảm giác tự tin hơn, để duy trì tính hấp dẫn trong quan hệ tình dục với chồng- bạn tình, không muốn mang vật liệu giả tuyến vú (túi độn vú), để có thể mặc áo ngực thuận tiện hơn, để loại bỏ cảm giác bị ung thư Theo nghiên cứu của các giả Moriera và Canavarro, (2010); Helms và cộng sự, 2008; phẫu thuật có thể gây ra những vết sẹo
và làm mất tính toàn vẹn về hình thể, có thể dẫn đến giảm nhận thức về sức hấp dẫn hình thể, nữ tính và diện mạo cơ thể nói chung
Trang 21Trong quá trình xạ trị, do bức xạ chỉ hướng đến một khu vực xác định trên cơ thể, nên các bác sĩ sẽ dành nhiều thời gian để “đánh dấu bằng mực trên da” trước khi thực hiện lần điều trị đầu tiên Mục đích để bức xạ nhắm trúng vào khu vực cần điều trị mà không có ảnh hưởng đến các mô khác xung quanh Vết đánh dấu thường được xăm lên da của bệnh nhân vĩnh viễn Khu vực sau chiếu xạ có thể mất nhiều tháng hoặc nhiều năm để làn da trở lại màu sắc bình thường nếu vị trí bức xạ xạm hơn nhiều những vùng khác Trong một số trường hợp, sự thay đổi màu sắc có thể vĩnh viễn, hoặc đôi khi da sẽ dày hơn hoặc săn chắc hơn Da nhạy cảm hoặc đau có thể kéo dài nhiều tháng
Bên cạnh những hiệu quả mong đợi trong điều trị bằng các thuốc hóa trị ung thư, các bệnh nhân UTV đều gặp phải các tác dụng không mong muốn từ thuốc Vì bản chất là hóa chất độc các tế bào tăng trưởng nhanh nhắm đến tế bào ung thư, tuy nhiên trong cơ thể người bệnh còn các tế bào, tổ chức có tốc độ tăng trưởng nhanh khác như niêm mạc ống tiêu hóa, hệ lông tóc móng, tế bào sinh dục…thường sẽ có biểu hiện độc tính rõ ràng nhất Một trong các tác dụng phụ không đe dọa đến tính mạng nhưng ảnh hưởng về tâm lý và có thể làm thay đổi chất lượng sống của bệnh nhân đó là hiện tượng rụng tóc, rụng lông mày, lông mi,… xạm da, thay đổi màu sắc móng Ngoài ra, thuốc hóa trị có thể làm khởi phát sớm thời kì mãn kinh, thay đổi nội tiết tố, rối loạn kinh nguyệt, vô kinh, vô sinh
Trang 22(Nguồn từ Springfield Clinic)
Hình 2 1 Phẫu thuật cắt bỏ 1 bên vú
(Nguồn từ Springfield Clinic)
Hình 2 2 Hình ảnh sau khi phẩu thuật tái tạo vú
Trang 232.1.2 Sự đồng cảm của người chồng
Đồng cảm là khả năng có thể cảm nhận, thấu hiểu và phản hồi lại các trạng thái bên trong của người khác Đây có thể là một yếu tố độc đáo giúp cho người vợ mắc bệnh có thể cải thiện được tình hình sức khỏe tinh thần và là yếu tố được đánh giá cao Trước đây, nghiên cứu thường được trích dẫn từ Pistrang và cộng sự (1995), tác giả đã làm một cuộc khảo sát để hiểu hơn mối quan hệ giữa một số loại trợ giúp từ những người chồng, ảnh hưởng đến sự nhận thức và sức khỏe tinh thần
ở phụ nữ lần đầu được chuẩn đoán bệnh ung thư vú trong những năm gần đó Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sự đồng cảm cao từ những người bạn đồng hành trong mối quan hệ vợ chồng được cho là có tác dụng tích cực hơn cho những phụ nữ mắc UTV Ming (2002) sử dụng một khái niệm tương tự “quan điểm dẫn dắt” để đánh giá nhận thức của phụ nữ bị UTV từ những hành động của người chồng Nghiên cứu này đã cho thấy mức độ nhận thức gia tăng của khái niệm “quan điểm dẫn dắt”
từ người chồng của họ có thể làm giảm bớt đau khổ cho những người phụ nữ này Một nghiên cứu khác từ Maly và cộng sự (2005) phát hiện ra rằng những phản ứng của người chồng càng thể hiện sự lắng nghe những mối lo lắng và bận tâm của người vợ thì khả năng càng làm giảm các triệu chứng trầm cảm Phản ứng của việc lắng nghe những mối lo lắng và những quan tâm của phụ nữ được Maly và cộng sự (2005) đo lường tương tự như khái niệm đồng cảm Tóm lại, những phát hiện từ những nghiên cứu ở trên nhấn mạnh đến hành vi đồng cảm của người chồng Sự nhận thức của người vợ từ sự đồng cảm của người chồng làm cho họ cảm thấy hiểu
và tự tin hơn, điều này là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của
họ
Vai trò của đồng cảm về hình ảnh cơ thể đã được ngụ ý trong các nghiên cứu trước đó Phụ nữ thường bận tâm về vẻ bề ngoài của mình và cách thức mình xuất hiện trong mắt những người xung quanh trong cuộc sống Phụ nữ bị UTV bận tâm
Trang 24những phản ứng của người chồng đối với hình ảnh cơ thể sau khi phẫu thuật Dẫn đến, nhận thức về sự đồng cảm càng gia tăng thì càng làm giảm những lo ngại của phụ nữ về việc thay đổi hình ảnh cơ thể ở họ
Theo nghiên cứu của Chang và Holt (1991), trong văn hóa vợ chồng chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng triết học Nho giáo, người chồng thường có quyền lực lớn hơn người vợ trong cấu trúc gia đình truyền thống Phụ nữ thường không đấu tranh cho quyền lợi của mình và thường che dấu cảm xúc của mình Ý kiến của phụ nữ thường bị bỏ qua và không có giá trị ngay cả khi họ cố gắng thể hiện chúng Với quan niệm và niềm tin này, người phụ nữ thường có thói quen chịu đựng bất cứ điều gì để duy trì mối quan hệ hôn nhân của mình Điều này khiến cho việc cảm nhận để đồng cảm từ người chồng gặp trở ngại và làm cho những người phụ nữ dễ
bị tổn thương hơn đến các vấn đề sức khỏe tâm thần
Trong nghiên cứu mới đây của Xiaoli Chen (2009), tác giả tiến hành nghiên cứu các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến triệu chứng trầm cảm của phụ nữ Trung Quốc sống sót sau khi bị UTV Tác giả nhận thấy rằng, ở nhóm phụ nữ có chồng thì
tỉ lệ trầm cảm thấp hơn so với nhóm phụ nữ li dị và độc thân
Tóm lại, nhận thức của phụ nữ về sự đồng cảm từ người chồng có khả năng liên quan đến hình ảnh cơ thể và các triệu chứng trầm cảm của những người này Chất lượng của mối quan hệ vợ chồng tạo nên vùng đệm chống lại các phản ứng tiêu cực đối với tâm trạng của của những phụ nữ bị ung thư
2.1.3 Trầm cảm
2.1.3.1 Khái niệm
Trầm cảm là trạng thái đặc trưng bởi cảm giác buồn bã, mất hứng thú hay sự thoải mãi, cảm giác mơ hồ hay đánh giá bản thân thấp, mất ngủ, ăn không ngon, mệt mỏi và kém tập trung Những người bị trầm cảm có thể phàn nàn nhiều về thể
Trang 25lý nhưng không có các nguyên nhân thể lý rõ ràng Nhìn chung, người trầm cảm
có cách nhìn tiêu cực về bản thân và bi quan về hiện tại cũng như tương lai Họ thấy rằng việc thay đổi tình trạng của mình là nằm ngoài khả năng và vô vọng Tuy không phải tất cả, nhưng ở một số người xuất hiện hành vi và ý tưởng tự sát Những người trầm cảm thường thể hiện những suy nghĩ chậm chạp và lộn xộn, cũng như khó khăn trong việc ghi nhớ thông tin hoặc giải quyết vấn đề
Theo số liệu thống kê từ tổ chức y tế thế giới (WHO, 2012), Trầm cảm là một bệnh phổ biến trên toàn thế giới, ước tính có khoảng 350 triệu người mắc phải Bệnh không chỉ làm giảm chất lượng cuộc sống cũng như là hiệu suất lao động ở nơi làm việc, trường học và trong gia đình mà còn có thể dẫn đến tự tử (Ước tính
có hơn 800 000 người chết do tự tử mỗi năm) Tự tử là nguyên nhân đứng hàng thứ hai gây tử vong trong độ tuổi từ 15-29 tuổi Trong mười loại bệnh gây thiệt hại nhiều nhất, trầm cảm đứng vị trí thứ tư, dự kiến trong năm 2030 trầm cảm sẽ chiếm vị trí thứ hai sau HIV/AIDS Gánh nặng của trầm cảm và các rối loạn tâm thần khác đang gia tăng trên toàn cầu Một nghị quyết của hội đồng Y tế Thế giới thông qua năm 2013 đã kêu gọi một cách toàn diện để phối hợp và ứng phó với rối loạn tâm thần ở cấp quốc gia
Nguyên tắc điều trị trầm cảm là kết hợp nhiều liệu pháp Các phương pháp điều trị và phục hồi chức năng tâm lý xã hội, được chia thành hai nhóm chính: là liệu pháp sinh học và liệu pháp tâm lý
Đối với liệu pháp sinh học, có hai hướng can thiệp là hóa dược tâm thần (sử dụng các thuốc hướng tâm thần để điều hòa các chất dẫn truyền thần kinh) và liệu pháp sốc điện (Sốc điện là đưa một dòng xung điện ngoại lai qua não, dòng điện này cộng hưởng với dòng điện của não làm quá ngưỡng hoạt động của các tế bào thần kinh tạo ra cơn co giật kiểu động kinh và một tình trạng hôn mê ngắn, xóa đi toàn bộ chức năng hoạt động tâm thần được hình thành trong quá trình họ sống
Trang 26cũng như các rối loạn tâm thần được hình thành trong quá trình bị bệnh, sau khi sốc điện các chức năng hoạt động tâm thần bình thường được phục hồi trở lại) Đối với liệu pháp tâm lý, đây là những biện pháp tác động lên tâm lý người bệnh một cách có kế hoạch, có tổ chức nhằm mục đích chữa bệnh Gồm có: các liệu pháp tâm lý cá nhân, liệu pháp tâm lý nhóm, liệu pháp tâm lý gia đình, các liệu pháp tâm lý- xã hội Nếu như liệu pháp sinh học tỏ ra hiệu quả trong việc điều trị các trường hợp cấp tính, cắt cơn bệnh thì chính các liệu pháp tâm lý - xã hội góp phần làm giảm liều thuốc; củng cố, phát huy hiệu quả của các liệu pháp sinh học, trước hết là liệu pháp hóa dược, kéo dài thời gian ổn định, hạn chế tái phát (Bùi Đức Trình và cộng sự, 2010)
2.1.3.2 Nguyên nhân
Ngày nay, giới khoa học thường xem xét trầm cảm là một triệu chứng xuất phát từ đa nguyên nhân Có hai mô hình chính lý giải nguyên nhân của trầm cảm gồm: mô hình sinh học (tập trung vào những quá trình hoá - sinh, đặc biệt là các chất dẫn truyền thần kinh, những chất trung gian của cảm xúc và hành vi Mô hình này cũng nhằm lí giải mối liên quan giữa những tổn thương não và các rối loạn sức khỏe tâm thần), mô hình tâm lý (tập trung vào những quá trình tâm lý bên trong có ảnh hưởng đến cảm xúc và hành vi Sự lí giải đến từ những trường phái nổi tiếng như: phân tâm, nhân văn, hành vi và hành vi nhận thức) Hai yếu tố cần xem xét đến gồm: yếu tố di truyền và yếu tố văn hóa xã hôi
Mô hình sinh học cho rằng, nguyên nhân của trầm cảm là do tác động của các dẫn truyền thần kinh trong não bộ (Stephen, 2008) Các chất dẫn truyền thần kinh
là các chất hoá học được tổng hợp trong tế bào thần kinh, giúp dẫn truyền các thông tin khắp cơ thể Chúng hoặc kích thích hoặc ức chế các hoạt động trong các
tế bào Các chất dẫn truyền thần kinh này phù hợp tùy theo các tế bào thụ thể
Trang 27chuyên biệt, chúng được gắn trên màng của các đuôi gai của tế bào thần kinh Các chất dẫn truyền thần kinh này cần thiết, chúng có một tỷ lệ đúng để chuyển tiếp các tín hiệu qua các khe tiếp hợp Các nghiên cứu gần đây đã bắt đầu cho thấy các
sự khác biệt về lượng của một vài chất dẫn truyền thần kinh có sẵn trong não của người bệnh tâm thần so với người không có biểu hiện bệnh lí tâm thần Các chất dẫn truyền thần kinh chính được xem là có vai trò trong bệnh tâm thần: Norephinephrine, Serotolirne và Dopamin là các chất được chú ý nhiều nhất về khía cạnh nghiên cứu và điều trị các rối loạn tâm thần (Trần Đình Xiềm và cộng
sự, 2011)
Mô hình tâm lý
Không giống với mô hình sinh học, hầu hết các tác giả nghiên cứu cũng như chuyên gia điều trị đều đánh giá cao vai trò của yếu tố tâm lý trong các rối loạn sức khỏe tâm thần và đồng thời họ cũng đưa ra nhiều mô hình tâm lý khác nhau Trị liệu tâm lý đầu tiên đưa vào thực tiễn ngay từ đầu thế kỉ 20 chính là trường phái phân tâm học người tiên phong là Freud và các học trò của ông Liệu pháp này đã nhanh chóng được ưu tiên áp dụng trong thời gian dài và cho đến nay vẫn còn được sử dụng dù đã có nhiều thay đổi qua hơn 100 năm Freud cho rằng trầm cảm là một quá trình tương tự như đau buồn Khi cá nhân quá đau buồn, họ có thể
tự thoái lui như một cơ chế tự vệ chống lại những nỗi buồn quá lớn Những người
mà họ yêu lúc này sẽ là điểm tựa và che chở họ Điều này dẫn đến sự phụ thuộc hoàn toàn vào đối tượng này, họ đồng nhất mình với những người đó và qua đó, họ tin rằng đã giành lại được mối quan hệ đã mất Tiếp theo, qua một quá trình gọi là tiếp nhận, cá nhân hướng những cảm nhận về người họ yêu quý đến chính bản thân Freud cho rằng trầm cảm là kết quả của những mất mát có tính tượng trưng hay tưởng tượng Bằng cách nào đó, sự việc trầm trọng khi nó lấy mất của cá nhân tình yêu hoặc sự đánh giá của những người quan trọng, và lẽ ra phải hướng cảm
Trang 28xúc tiêu cực về người từ chối mình thì cá nhân lại hướng những cảm xúc đó về mình và tiếp nhận chúng Những đối tượng này, trong cuộc sống, sẽ còn phụ thuộc vào tình yêu thương và sự chấp nhận của người khác Đối với những sự kiện gây
ra lo lắng hoặc những trải nghiệm mất mát, họ rất nhạy cảm Nhìn chung, phân tâm học dựa trên cái tôi tâm lý tập trung vào cảm giác vô vọng, hạ thấp lòng tự trọng (cảm nhận về giá trị đối với bản thân) và khuynh hướng nhận thức tiêu cực
Mô hình hành vi nhận thức (Aarone Beck, năm 1978), một dạng phát sinh của liệu pháp hành vi (Wolpe, năm 1982) và là mô hình được ứng dụng rộng rãi nhất trong trường phái này Trên quan điểm từ chối những nguyên tắc phân tâm và cho rằng hành vi chịu sự kiểm soát của các yếu tố bên ngoài, liệu pháp này tập trung vào quá trình tư duy hoặc nhận thức Cho rằng suy nghĩ của chúng ta ảnh hưởng như thế nào đến hành vi và cảm xúc tại một thời điểm cụ thể Allis cho rằng: “phần lớn những cảm xúc và hành vi bất thường đều xuất phát từ những niềm tin phi lý Niềm tin không có cơ sở lý luận khách quan và phù hợp với thực
tế thường dẫn đến những nhận định sai lầm, tiêu cực để sau đó biến thành những cảm xúc trầm cảm như giận hờn, phiền muộn và thất vọng đau đớn” Chẳng hạn như, đứa cô gái không tin rằng cha mẹ yêu thương mình, có thể chống đối cha mẹ, làm cho cha mẹ đối xử với mình nghiêm khắc và khắt khe hơn Điều này đẩy sự việc theo một chiều hướng tiêu cực hơn, nó lại củng cố niềm tin ban đầu của cô bé Theo thời gian, niềm tin này cùng với những biểu hiện liên quan đến nó có thể ảnh hưởng đến các mối quan hệ khác, gây ra những vấn đề kéo dài trong nhiều năm Khi đã trưởng thành, tiếp tục tạo ra đáp ứng mới, những đáp ứng này lại củng cố niềm tin từ thuở bé của cô ta Những điều này ảnh hưởng đến cái mà Beck gọi là
bộ ba nhận thức gồm nhận thức thức tiêu cực về bản thân, diễn giải tiêu cực các
kinh nghiệm bản thân và cách nhìn tiêu cực về tương lai Có một sự tương tác
mạnh mẽ giữa khí sắc (tâm trạng) và nhận thức: nhận thức tiêu cực làm giảm khí
Trang 29sắc và khí sắc trầm làm cho nhận thức tiêu cực trở nên nổi trội hơn Một đối tượng
bị trầm cảm thì cảm nhận thế giới hiện ra đầy những rào cản cho việc thực hiện các mục tiêu, họ nhìn nhận mình bất lực trước những rào cản và từ bỏ bất cứ cơ hội nào về kiểm soát tương lai Các yếu tố như sự không thỏa mãn bản thân, suy nghĩ tiêu cực và tỷ lệ stress cao trong cuộc sống dẫn đến một đợt trầm cảm Nhìn chung, theo quan điểm nhận thức hành vi, trầm cảm xuất hiện khi cá nhân đối mặt với những tác nhân căng thẳng, lối suy nghĩ của cá nhân không thay đổi kịp thời dẫn đến những xung đột giữa lối suy nghĩ và hiện thực Từ đó, tạo ra những cảm xúc khó chịu đau buồn và dẫn đến trầm cảm
Yếu tố văn hoá - xã hội
Nguy cơ trầm cảm tăng cao ở những nhóm đối tượng có sang chấn tâm lý và
xã hội Theo Jenkins và cộng sự, năm 1998, tỷ lệ trầm cảm thường tương đối cao ở người nghèo và những người có nguồn trợ cấp xã hội thấp Có lẽ nguồn tài chính
và xã hội dùng để giải quyết những khó khăn của những người nghèo ít hơn nên đối tượng túng thiếu về mặt kinh tế có xu hướng trải qua nhiều sự kiện tiêu cực trong cuộc sống hơn là những người có thu nhập kinh tế cao Những stress cuộc sống mạnh, như ly hôn hay ly thân, có thể gây ra các đợt trầm cảm Ngược lại, một
hệ thống phúc lợi xã hội tốt có thể bảo vệ cá nhân khỏi căn bệnh này
Ngày nay, mô hình “sinh - tâm - xã hội” thường được xem xét đồng thời
nhằm mục đích tích hợp các yếu tố khác nhau như trên vào một mô hình nguyên nhân tổng thể, khi tìm hiểu nguyên nhân cũng như cơ chế bệnh sinh của trầm cảm Chẳng hạn như việc lý giải tại sao phụ nữ lại thường bị trầm cảm nhiều hơn đàn ông Khi phân tích trên nhiều khía cạnh, giúp ta có được những lập luận thuyết phục hơn Về mặt xã hội, theo Bird và Rieker (1999) giải thích rằng phụ nữ ngày nay phải gánh vác nhiều trách nhiệm hơn nhưng lại có chất lượng cuộc sống thấp hơn nam giới Phụ nữ có xu hướng làm những việc có vị thế thấp; họ bị quá tải bởi
Trang 30đảm nhận công việc ở cơ quan và ở gia đình Cụ thể, không như nam giới, khi phụ
nữ kết thúc việc ở cơ quan, họ lại tiếp tục phải phụ trách thêm công việc nội trợ, và buộc họ làm việc liên tục Những áp lực về mặt văn hoá, phụ nữ cũng dễ phải gánh chịu hơn so với đàn ông, điều này càng làm tăng thêm khả năng bị stress của
họ Theo Holen-Hoeksema (1990), khía cạnh tâm lý học, phụ nữ dễ bị quy lỗi lầm cho bản tính cá nhân của họ hơn đàn ông (họ càng dễ tự buộc tội và đánh giá thấp bản thân) Hơn nữa, khi đàn ông trải qua những tình huống có thể dẫn đến trầm cảm, khả năng quên đi những ý nghĩ tiêu cực của họ tốt hơn Trong khi đó, phụ nữ lại hay bận tâm đến nguyên nhân và hậu quả; chính lối suy nghĩ này gia tăng sự xuất hiện của những ý nghĩ bi quan vốn đã tiềm tàng trong đầu họ
2.1.4 Cơ chế tác động giữa hình ảnh cơ thể ở bệnh nhân ung thư vú đến trầm cảm
Trong nghiên cứu đối với 12 phụ nữ, Lindop và Cannon (2001) nhận thấy rằng sau khi phẫu thuật ngực và điều trị ung thư, nhiều phụ nữ cảm nhận cơ thể và
sự nữ tính là khác nhau Những người phụ nữ cảm thấy như một phần trong cơ thể
đã mất đi Kunkel et al (2002) chỉ ra rằng: từ kết quả của việc chẩn đoán ung thư vú
và điều trị, một số phụ nữ tham gia trải qua cảm giác hình dạng cơ thể bị hủy hoại, thay đổi và mất nữ tính Moreira và đồng sự (2011), nhận thấy rằng hình ảnh cơ thể đóng vai trò quan trọng trong cảm nhận của phụ nữ không chỉ là trong quá trình điều trị; khoảng thời gian mà bệnh nhân trải qua quá trình điều trị ung thư vú có nhiều thay đổi mạnh mẽ về diện mạo; mà về sau này, mối quan tâm về hình thể của những người sống sót từ căn bệnh vẫn tồn tại Bradbury (1997) cho rằng các cá nhân đã trải qua sự thay đổi trong diện mạo sau này trái ngược với lúc mới sinh, hoặc trong thời thơ ấu, trong cuộc sống có thể gặp đau khổ về tâm lý nhiều hơn bởi vì họ cảm thấy đau buồn vì mất đi diện mạo trước đây và cảm giác của bản thân Những cá nhân
Trang 31này cũng phải đối mặt với các phản ứng và sự điều chỉnh từ những người thân yêu của mình
Những thay đổi này có thể dẫn đến trầm cảm và những thách thức về sức khỏe tâm thần khác, trong đó có thể làm ảnh hưởng chất lượng cuộc sống của phụ
nữ (Fobair và Spiegel, 2009; Skrzypulec và cộng sự, 2008)
2.2 Khảo lượt các tài liệu có liên quan
Nhìn chung, cùng với xu hướng quan tâm hơn đến cải thiện và nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân, trong thập kỉ gần đầy đã có những đề tài nghiên cứu thực nghiệm tìm hiểu về mối liên quan giữa những bệnh nhân ung thư vú và trầm cảm Các tác giả xem xét các yếu tố liên quan có khả năng ảnh hưởng đến trầm cảm Trong số các nghiên nghiên cứu tập trung vào đề tài này, yếu tố “hình ảnh cơ thể” được xem xét cụ thể trong hai nghiên cứu sau đây:
Su-Ying Fang và cộng sự (2015), tiến hành nghiên cứu nhằm tìm ra mối quan
hệ tác động giữa hình ảnh cơ thể ở phụ nữ UTV đến trầm cảm Đồng thời kiểm tra tác động điều hòa của sự đồng cảm từ người chồng Thiết kế phương pháp nghiên cứu cắt ngang, tác giả lấy mẫu thuận tiện với số lượng là 151 phụ nữ phía Nam của Đài Loan đã hoàn thành việc phẫu thuật và có thể kèm theo liệu pháp điều trị xạ trị hoặc hóa trị Trong nghiên cứu, tác giả đo lường các khái niệm bằng bảng câu hỏi với các thang đo như hình ảnh cơ thể (BIS), triệu chứng trầm cảm (CES-D), sự đồng cảm của người chồng (ODTH) Sử dụng phân tích tương quan để tìm ra mối quan hệ của các khái niệm này Sử dụng hồi quy thứ bậc (Hierarchical regression) nhằm kiểm soát tác động của biến “lo lắng tái phát lại bệnh” và các biến liên quan đến đặc điểm nhân khẩu học của mẫu Tác giả sử dụng Hồi quy thứ bậc trên ba mô hình (tương ứng với 3 giả thiết: H1- Hình ảnh cơ thể phụ nữ ung thư vú tác động đến trầm cảm, H2- Hình ảnh cơ thể phụ nữ ung thư vú và sự đồng cảm của người chồng tác động đến trầm cảm, H3- Hình ảnh cơ thể phụ nữ ung thư vú, sự đồng cảm của
Trang 32người chồng và tác động điều hòa của biến sự đồng cảm tác động đến trầm cảm) và
đo lường được tác động của các yếu tố
Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối tương quan giữa sự đồng cảm từ người chồng và triệu chứng trầm cảm (p<0.001) Tuy nhiên, không có mối liên quan giữa yếu tố đồng cảm từ nguời chồng đến hình ảnh cơ thể (p>0.05) Tác động điều tiết của sự đồng cảm từ người chồng trên mối liên quan giữa hình ảnh cơ thể và các triệu chứng trầm cảm là có ý nghĩa thống kê (p<0.01) Nghiên cứu nhận định rằng, những người phụ nữ có được sự đồng cảm đến từ người chồng càng nhiều thì càng làm giảm triệu chứng trầm cảm và sự thay đổi hình ảnh cơ thể của phụ nữ sau khi điều trị ung thư vú tác động đến triệu chứng trầm cảm có thể giảm thiểu nếu như họ nhận được nhiều sự đồng cảm từ người chồng
Ưu điểm của nghiên cứu này so với các nghiên cứu trước là phát hiện được vai trò của sự đồng cảm của người chồng trong đánh giá các tác nhân ảnh hưởng đến trầm cảm Ngoài ra, trong mô hình nghiên cứu của mình, tác giả đã đưa vào biến kiểm soát “lo lắng tái phát lại bệnh”, đây là một biến ít được chú ý trong nghiên cứu trước đây nhưng theo ý kiến của các bác sĩ điều trị nhìn nhận là một biến quan trọng
và có tác động lớn đến triệu chứng trầm cảm của bệnh nhân, cần phải đưa vào mô hình và kiểm soát tác động của biến này Tuy nhiên, trong mô hình nghiên cứu chưa
đề cập đến yếu tố “cảm nhận giá trị bản thân”, đây là một yếu tố được chứng minh
có tác động đến các triệu chứng trầm cảm trong một số các nghiên cứu về tâm lý nói chung
A Begovic-Juhant và cộng sự (2012), tiến hành nghiên cứu về tác động của hình ảnh cơ thể ở bệnh nhân UTV lên trầm cảm và chất lượng cuộc sống Mục đích của nghiên cứu là khám phá các yếu tố hình ảnh cơ thể, sự hấp dẫn hình thể và nữ tính của những phụ nữ mắc UTV, đồng thời xem xét sự tác động của những biến này ảnh hưởng đến trầm cảm và chất lượng cuộc sống Kết quả là có trên 56% những
Trang 33phụ nữ tham gia có điểm số cao hơn 16 ở thang đo trầm cảm CES-D (khả năng trầm cảm cao) Đa số những người phụ nữ này cảm thấy kém hấp dẫn và giảm vẻ nữ tính Điểm số thấp về hình ảnh cơ thể, sự hấp dẫn hình thể và nữ tính tương quan dương với trầm cảm và tương quan âm với chất lượng cuộc sống nhìn chung Đây là một trong những nghiên cứu khởi đầu cho việc nhìn nhận và phân tích được vai trò của yếu tố hình ảnh cơ thể một cách cụ thể trong mối tương tác gây nên những dấu hiệu trầm cảm ở phụ nữ ung thư vú sống sót sau khi hoàn tất liệu trình điều trị cơ bản Mặc dù tác giả đã khảo lượt rất nhiều nghiên cứu liên quan trước đây để xây dựng nên mô hình nghiên cứu định lượng tác động đến trầm cảm nhưng trong mô hình vẫn thiếu một số biến quan trọng đóng vai trò tác động lớn, chẳng hạn như yếu tố lo lắng tái phát lại bệnh, sự đồng cảm của người chồng Tuy nhiên, nghiên cứu này vẫn mang đến giá trị quan trọng của nó, đây là tiền đề và nguồn cung cấp những cơ sở lý luận căn bản để phát triển hoàn thiện hơn mô hình nghiên cứu về đề tài này trong tương lại
Một số các nghiên cứu khác tuy không nhấn mạnh là làm rõ vai trò của yếu
tố hình ảnh cơ thể nhưng đã chỉ ra được những yếu tố có mối tương quan ý nghĩa đối với triệu chứng trầm cảm Điều này giúp cho các nghiên cứu ra đời sau này có được
cơ sở để xây dựng mô hình đầy đủ hơn, kiểm soát được tác động của các biến kiểm soát và đo lường đúng mức độ tác động của các yếu tố tác giả cần quan tâm khảo
sát Cụ thể, nghiên cứu của Xiaoli Chen và các cộng sự (2009), tác giả tiến hành
nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ trầm cảm và các yếu tố liên quan ở phụ nữ Trung Quốc bị ung thư vú Đối tượng tham gia là các phụ nữ sống sót sau ung thư vú được điều tra thông qua phỏng vấn trực tiếp tiến hành tại thời điểm tháng thứ 6 và tháng
18 sau chuẩn đoán bệnh, với số lượng n=1400 người Trầm cảm được đo lường thông qua 20 câu hỏi được lấy từ thang đo CES-D tại thời điểm 18 tháng sau chuẩn đoán Nghiên cứu còn chỉ ra rằng: những phụ nữ có thu nhập thấp thường có khả
Trang 34năng bị trầm cảm cao hơn so với những phụ nữ có thu nhập cao (tỷ lệ: 16,6%, so với 6,9% ở trầm cảm thể nhẹ và 17,1% so với 5,5% cho bệnh trầm cảm có biểu hiện lâm sàng nặng, tương ứng) Trầm cảm phổ biến hơn ở những phụ nữ goá chồng (18,9%) hoặc ly hôn (16,4%) so với những phụ nữ đã kết hôn (11,8%) Phân tích đa biến cho thấy, thu nhập thấp, tình trạng hôn nhân là yếu tố dự báo độc lập cho bệnh trầm cảm Tác giả không tìm thấy tỷ lệ trầm cảm khác nhau liên quan đến các nhóm có tình trạng mãn kinh, giai đoạn bệnh, hoặc phương pháp điều trị bệnh ung thư khác nhau Kiến nghị của nghiên cứu là nên tầm soát và phòng ngừa trầm cảm ở những phụ nữ
bị ung thư vú sau điều trị cơ bản
2.3 Khung nghiên cứu
Như đã trình bày ở mục cơ sơ lý thuyết và khảo lược các nghiên cứu, có thể nhận thấy rằng: hình ảnh cơ thể ở người phụ nữ đóng vai trò trong cảm nhận về nữ tính, sức hấp dẫn và tạo nên sự tự tin cho phụ nữ Việc thay đổi hình ảnh cơ thể theo chiều hướng không mong muốn do quá trình điều trị ưng thư vú mang lại có thể gây nên những phản ứng tiêu cực từ những đối tượng này với sự thay đổi đột ngột, ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần Vì vậy, khung nghiên cứu của đề tài tập trung vào yếu tố chủ đạo là ảnh hưởng của hình ảnh cơ thể đến triệu chứng trầm cảm, vai trò của biến điều tiết (sự đồng cảm của người chồng) trong mối tương quan của các yếu
tố như lo lắng tái phát bệnh, cảm nhận giá trị bản thân, các đặc điểm của dân số mẫu (tình trạng việc làm,mức thu nhập, trình độ học vấn,…).Từ đó, kiểm soát tác động của các biến không mong muốn và kiểm định mối quan hệ của các khái niệm cần quan tâm Tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu như sau:
2.3.1 Khung nghiên cứu
Trang 35Hình 2.3 Khung phân tích 2.3.2 Giả thuyết nghiên cứu
Từ khung nghiên cứu đã trình bày ở trên, học viên đề ra 6 giả thuyết nghiên cứu như
Trầm cảm
Đặc điểm dân số mẫu
Cảm nhận giá trị bản thân
Lo lắng tái phát bệnh
H1
H5
H4
Trang 36Giả thuyết H1: Hình ảnh cơ thể tác động đến trầm cảm
Giả thuyết H2: Sự đồng cảm từ người chồng tác động đến trầm cảm
Giả thuyết H3: Sự đồng cảm từ người chồng điều tiết tác động giữa hình ảnh
cơ thể và trầm cảm
Giả thuyết H4: Cảm nhận giá trị bản thân tác động đến trầm cảm
Giả thuyết H5: Mức độ lo lắng tái phát bệnh tác động đến trầm cảm
Giả thuyết H6: Các đặc điểm dân số mẫu (thu nhập, trình độ học vấn, tình
trạng việc làm, tuổi, tôn giáo, thời gian sau phẫu thuật) tác động đến trầm cảm
2.3.3 Kỳ vọng dấu tác động
Trên cơ sở tổng hợp các lý thuyết liên quan và các nghiên cứu của các tác giả thực hiện trước đây Học viên kỳ vọng về dấu tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc trầm cảm như trình bày ở bảng 2.1
Trang 37CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 đã giới thiệu về cơ sở lý thuyết, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết Mục tiêu của chương 3 trình bày về việc thiết kế nghiên cứu với quy trình thực hiện nghiên cứu, việc thiết kế thang đo cho các khái niệm (Hình ảnh cơ thể, Sự đồng cảm của người chồng, Trầm cảm,…), diễn giải về cách đo lường các tham số
và giới thiệu công cụ phân tích dữ liệu
3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu ngày bao gồm hai bước chính là nghiên cứu định tính sơ bộ và nghiên cứu định lượng chính thức Đối tượng nghiên cứu là những phụ nữ bị UTV
đã hoàn tất phát đồ điều trị cần thiết, đang được định kì tái khám và theo dõi
Nghiên cứu định tính với mục tiêu là nhằm khám phá, điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệm nghiên cứu Nghiên cứu định tính
sử dụng phương pháp phỏng vấn lấy ý kiến chuyên gia, thông qua việc thảo luận trực tiệp với 5 chuyên gia là các bác sĩ có nhiều năm kinh nghiệm trong việc điều trị cho các bệnh nhân ung thư vú và hiện đang làm việc tại bệnh viện chuyên khoa tuyến đầu ngành y tế đó là bệnh viện Ung Bướu thành phố Hồ Chí Minh Các chuyên gia được mời phỏng vấn gồm: trưởng khoa và một bác sĩ chuyên khoa nội 4, trưởng khoa xạ 4, một phó khoa và một bác sĩ chuyên khoa ngoại 4 Mục đích của cuộc phỏng vấn nhằm tìm, so sánh và chọn lọn lọc những biến quan sát có ảnh hưởng đến triệu chứng trầm cảm của phụ nữ ung thư vú Trong cuộc phỏng vấn, các chuyên gia sẽ được xem qua nội dung bảng câu hỏi sơ bộ với các thang đo đo lường các biến số được tổng hợp từ các nghiên cứu liên quan, sau đó các chuyên gia sẽ cho
ý kiến và giúp chọn lọc các thang đo nào là quan trọng, cần thiết và phù hợp với điều kiện hiện tại của Việt Nam Bên cạnh đó, các chuyên gia có thể bổ sung thêm các yếu tố tác động còn thiếu và cơ sở lý thuyết chưa đề cập đến
Trang 38Việc thực hiện nghiên cứu định tính này sẽ giúp cho việc nghiên cứu định lượng đơn giản hơn, giúp bỏ qua các yếu tố không phù hợp với phụ nữ bị ung thư
vú, làm tinh gọn lại bản câu hỏi và quan trọng hơn cả là giúp việc điều tra khảo sát được chính xác và dễ dàng thực hiện hơn Kết quả thu được từ nghiên cứu định tính
là những thang đo đã được chọn lọc và phù hợp với hoàn cảnh hiện tại ở Việt Nam
Khảo sát thực nghiệm: Bảng câu hỏi sau khi được điều chỉnh từ phỏng vấn sâu sẽ được tiếp tục thử nghiệm trên thực tế với cỡ mẫu bằng 10 nhằm xem xét những vấn đề mà các đối tượng khảo sát có thể gặp phải để điều chỉnh cho phù hợp nhất Chẳng hạn như sự thiếu kiên nhẫn do bản câu hỏi quá dài, bỏ qua câu hỏi khó hiểu hay nhầm lẫn ý nghĩa muốn hỏi Sau đó, bảng câu hỏi chính thức được hoàn thiện và tiến hành khảo sát chính thức
Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng với 250 bảng câu hỏi được phát ra (thu về 182 phiếu hợp lệ) Nghiên cứu này dùng để kiểm định lại mô hình và các giả thuyết đặt ra
3.1.1 Quy trình nghiên cứu
Trang 39Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
Vấn đề và mục tiêu nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết các nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng
(khảo sát, mã hóa, làm sạch dữ liệu, )
Kiểm định Cronbach’s Alpha Phân tích tương quan
Kết quả hồi quy
Viết báo cáo
Trang 403.1.2 Xây dựng bảng câu hỏi điều tra
Cấu trúc bảng câu hỏi gồm 3 phần cơ bản Phần một gồm 9 câu hỏi đề cập đến những thông tin chung về đặc điểm nhân khẩu học của mẫu khảo sát và đặc điểm điều trị của các đối tượng tham gia, kèm một câu hỏi về mức độ lo lắng tái phát bệnh Phần hai gồm 20 câu hỏi sàng lọc triệu chứng trầm cảm Phần thứ ba gồm các câu hỏi đo lường các khái niệm như cảm nhận gía trị bản thân (5 câu), hình ảnh
cơ thể (10 câu), sự đồng cảm của người chồng (10 câu)
(Chi tiết bảng câu hỏi được trình bày ở phần Phụ lục)
3.1.3 Phương pháp thu thập dữ liệu
Thiết kế nghiên cứu cắt ngang với phương pháp lấy mẫu thuận tiện, gồm những phụ nữ bị UTV đã hoàn tất phẫu thuật và các điều trị cần thiết khác như hóa trị, xạ trị ít nhất 6 tháng Đối tượng được khảo sát tại khoa tái khám ngoại trụ (khu B) ở bệnh viện Ung Bướu thành phố Hồ Chí Minh
Quy trình cụ thể: bệnh nhân chấm dứt phát đồ điều trị ung thư vú (cơ bản đã loại bỏ tế bào ung thư) sẽ định kì tái khám để phòng ngừa nguy cơ bị tái phát, thời gian tái khám phụ thuộc chỉ định của bác sĩ Những đối tượng nghiên cứu này sẽ tập trung tại khu B, ngoại trú, trước phòng nhũ bộ; thời gian bệnh nhân lấy số thứ tự bắt đầu từ lúc 4h30 sáng và thời gian bắt đầu khám bệnh lúc 7h30 Trong khoảng thời gian chờ này, học viên phối hợp với điều điều dưỡng tiến hành phát phiếu khảo sát Bệnh nhân sau khi hoàn tất phiếu sẽ nộp lại cho điều dưỡng khi được gọi vào phòng khám bệnh hoặc học viên trực tiếp thu Điều dưỡng sẽ tập hợp lại phiếu vào cuối buổi để gửi lại Số lượng bệnh nhân tái khám UTV trung bình một ngày khoảng 200 người Thời gian lấy mẫu bắt đầu ngày 5 tháng 9 năm 2016 và kết thúc vào ngày 21 tháng 9 năm 2016