1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của minh bạch thông tin tài chính đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán việt nam

143 196 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề cũng như một số khía cạnh của vấn đề này vẫn còn có khả năng khai thác và mở rộng nên tác giả quyết định chọn đề tài “Ảnh hưởng của minh bạch TTT

Trang 1

PHẠM THỊ THU HUYỀN

ẢNH HƯỞNG CỦA MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH ĐẾN HÀNH VI RA QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG

KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh - Năm 2016

Trang 2

PHẠM THỊ THU HUYỀN

ẢNH HƯỞNG CỦA MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH ĐẾN HÀNH VI RA QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG

KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN THỊ KIM CÚC

TP Hồ Chí Minh - Năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Ảnh hưởng của minh bạch thông tin tài chính đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam” là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Kim Cúc

Các số liệu được nêu trong luận văn được trích dẫn nguồn gốc rõ ràng và được thu thập từ thực tế đáng tin cậy, được xử lý trung thực và khách quan

Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

TP.Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 10 năm 2016

Tác giả

Phạm Thị Thu Huyền

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7

1.1 Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài liên quan 7

1.1.1 Nội dung các nghiên cứu trước 7

1.1.2 Đánh giá chung về những nghiên cứu đã thực hiện ở nước ngoài 10

1.2 Các nghiên cứu công bố ở trong nước liên quan 12

1.2.1 Nội dung các nghiên cứu trước có liên quan 12

1.2.2 Đánh giá chung về những nghiên cứu đã thực hiện ở trong nước 16

1.3 Khe hổng trong nghiên cứu 17

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MINH BẠCH TTTC VÀ HÀNH VI RA QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN 19

2.1 Một số vấn đề chung về minh bạch TTTC và hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân 19

2.1.1 Minh bạch TTTC 19

2.1.1.1 Một số khái niệm 19

2.1.1.2 Quy định hiện hành về CBTT trên TTCK Việt Nam hiện nay 23

2.1.2 Hành vi ra quyết định của nhà đầu tư 24

2.2 Các lý thuyết nền liên quan đến tính minh bạch TTTC và hành vi ra quyết định của nhà đầu tư 25

2.2.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng 25

2.2.2 Lý thuyết người đại diện 27

Trang 5

2.2.3 Lý thuyết tiết kiệm chi phí thông tin 29

2.2.4 Lý thuyết hành động hợp lý 30

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

3.1 Quy trình nghiên cứu 32

3.1.1 Thiết kế nghiên cứu 32

3.1.2 Khung nghiên cứu của luận văn 34

3.1.3 Quy trình thực hiện 34

3.2 Mô hình nghiên cứu 36

3.3 Giả thuyết nghiên cứu 40

3.4 Phương pháp thu thập mẫu 42

3.5 Thiết kế thang đo và xây dựng bảng câu hỏi 43

3.5.1 Thiết kế thang đo 43

3.6 Phương pháp phân tích dữ liệu 52

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 55

4.1 Thống kê nghiên cứu 55

4.2 Đánh giá thang đo 56

4.2.1 Kiểm định Cronbach’s Alpha đối với các thang đo 57

4.2.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 59

4.2.2.1 Phân tích nhân tố khám phá cho biến độc lập 60

4.2.2.2 Phân tích nhân tố khám phá cho biến phụ thuộc (hành vi nhà đầu tư) 63

4.3 Hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 65

4.4 Kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu 67

4.4.1 Phân tích tương quan 67

4.4.2 Phân tích hồi quy 68

4.4.3 Kiểm định giả thuyết nghiên cứu 71

4.5 Kiểm định sự khác biệt hành vi nhà đầu tư theo các đặc điểm cá nhân 75

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81

5.1 Ý nghĩa và kết luận 81

Trang 6

5.2 Kiến nghị 82 5.2.1 Đối với CTNY 82 5.2.2 Đối với nhà đầu tư cá nhân 84 5.2.3 Đối với Ủy Ban chứng khoán nhà nước và Sở giao dịch chứng khoán 84 5.3 Đóng góp nghiên cứu 86 5.4 Hạn chế nghiên cứu và định hướng nghiên cứu tương lai 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

HNX Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

HOSE Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ

TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán

TTTC Thông tin tài chính

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 3.1 Thang đo hành vi nhà đầu tư cá nhân 45

Bảng 3.2 Thang đo minh bạch cấu trúc quyền sở hữu vốn 46

Bảng 3.3 Thang đo minh bạch TTTC 49

Bảng 3.4 Minh bạch cấu trúc, hoạt động của HĐQT và BGĐ 51

Bảng 4.1.Thống kê mẫu quan sát 56

Bảng 4.2 Kết quả kiểm định các thang đo bằng Cronbach’s Alpha 58

Bảng 4.3 Kiểm định KMO và Bartlett (1) 60

Bảng 4.4 Kiểm định mức độ giải thích của các biến quan sát đối với các nhân tố đại diện (1) 61

Bảng 4.5 Ma trận xoay nhân tố 62

Bảng 4.6 Kiểm định KMO và Bartlett (2) 64

Bảng 4.7 Kiểm định mức độ giải thích của các biến quan sát đối với các nhân tố đại diện (2) 65

Bảng 4.8.Tóm tắt kết quả kiểm định thang đo lần 2 65

Bảng 4.9 Ma trận tương quan Pearson 67

Bảng 4.10 Đánh giá độ phù hợp của mô hình 69

Bảng 4.11 Kiểm định độ phù hợp của mô hình (Anova) 70

Bảng 4.12 Kiểm định đa cộng tuyến mô hình 70

Bảng 4.13 Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu theo các biến quan sát 72

Bảng 4.14 Phân tích T-test những nhóm nhà đầu tư có giới tính khác nhau 76

Bảng 4.15 Phân tích ANOVA hành vi của nhà đầu tư có độ tuổi khác nhau 77

Bảng 4.16 Phân tích ANOVA hành vi của nhà đầu tư khác nhau về trình độ học vấn 78

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Trang

Hình 3.1 Khung nghiên cứu của luận văn 34

Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 37

Hình 3.3 Thuyết hành động hợp lý 38

Hình 4.1 Mô hình nghiên cứu điều chỉnh từ kết quả EFA 66

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Báo cáo tài chính (BCTC) được xem là một trong những cầu nối giữa doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài, thông tin trên BCTC là những thông tin tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và nợ phải trả cũng như tình hình tài chính và kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Do đó các thông tin trên BCTC nếu xét trên phạm vi hẹp sẽ có nghĩa tương đồng với thông tin tài chính (TTTC) hay nói cách khác minh bạch thông tin mà nhà đầu tư quan tâm chính là minh bạch thông tin tài chính Hiện nay TTTC của các công ty niêm yết (CTNY) trên thị trường chứng khoán (TTCK) ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với nhà đầu tư vì nó là cơ sở để nhà đầu tư đưa ra quyết định Chất lượng thông tin được trình bày trên BCTC là yếu tố quyết định cho thị trường tài chính hiệu quả Tuy nhiên hiện tại việc trình bày và CBTT tài chính như thế nào để thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng thì vẫn là một khoảng cách khá lớn giữa mong đợi và thực tế

Tuy nhiên với việc xuất hiện tình trạng chênh lệch số liệu lợi nhuận của các CTNY trước và sau kiểm toán đã trở thành câu chuyện “thường ngày ở huyện” điển hình trong thời gian gần đây như: Tổng công ty cổ phần (CTCP) Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVX) có kết quả lợi nhuận sau thuế hợp nhất 2014 đã kiểm toán sụt giảm tới gần 70 tỷ đồng, từ 80,08 tỷ đồng xuống còn 10,31 tỷ đồng Hay CTCP Ntaco (ATA) lỗ 14,4 tỷ đồng thay vì lãi 187 triệu đồng như ban đầu Tập đoàn Xăng dầu (Petrolimex, sàn OTC) báo lỗ sau thuế hợp nhất hơn 9 tỷ đồng thay vì lãi 4,8 tỷ đồng như công bố trước đó… Việc điều chỉnh lợi nhuận dù theo chiều hướng

từ lỗ sang lãi hay ngược cũng sẽ khiến nhà đầu tư thiệt hại Nhà đầu tư trót bán ra giá thấp khi công ty báo lỗ ban đầu sẽ phải nuối tiếc khi cổ phiếu tăng giá do doanh nghiệp báo lãi sau kiểm toán, còn nếu họ trót “ôm” cổ phiếu khi doanh nghiệp báo lãi hoặc lãi lớn trong BCTC tự lập sẽ chịu thiệt hại nặng khi lợi nhuận sau kiểm toán sụt giảm mạnh hoặc lỗ Tất cả những vụ bê bối về tài chính phía trên trong thời gian gần đây đang dấy lên một hồi chuông cảnh tỉnh về lòng tin của nhà đầu tư

Trang 11

đối với sự minh bạch TTTC trên BCTC hiện nay

Tại Việt Nam hiện nay vấn đề về sự minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK đã giành được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu như Nguyễn Đình Hùng (2010), Lê Thị Mỹ Hạnh (2015) Chủ yếu những nghiên cứu này tập trung nghiên cứu những nhân tố tác động đến minh bạch thông tin tài chính hay xây dựng

hệ thống kiểm soát sự minh bạch TTTC Tuy nhiên nếu xét về góc độ tác động của

sự minh bạch TTTC ảnh hưởng đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK mà cụ thể là hành vi đầu tư của nhà đầu tư cá nhân đối với chứng khoán vốn hay cổ phiếu trên TTCK thì vẫn còn rất hạn chế

Hành vi của nhà đầu tư có thể xem xét ở 2 cấp độ là hành vi của nhà đầu tư

cá nhân và hành vi của nhà đầu tư tổ chức Có rất nhiều điểm khác biệt có thể kể đến khi nói đến 2 loại hành vi đầu tư này, nó phụ thuộc rất nhiều vào chủ thể đầu

tư Trong số các khác biệt đó có thể kể đến như: tiềm lực tài chính, chiến lược đầu

tư, xu hướng đầu tư, thông tin căn cứ đầu tư… Tuy nhiên nếu xét đến khía cạnh nguồn thông tin để làm căn cứ đầu tư thì nhà đầu tư tổ chức thông thường sẽ có lợi thế hơn Bởi vì nhà đầu tư cá nhân thường thiếu thông tin chính xác khi đưa ra quyết định đầu tư Họ thường căn cứ vào các “tin đồn” hay “xu thế bầy đàn”… để đầu tư hơn là xem xét và căn cứ vào các TTTC trên BCTC bởi vì họ thường gặp phải các hạn chế trong việc đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do thiếu hiểu biết hay kinh nghiệm do họ không có bộ phận kiểm tra, rà soát BCTC (bộ phận kế toán, bộ phận kiểm soát, bộ phận thẩm định giá…) do đó sai sót trong việc định giá giá trị cổ phiếu là không thể tránh khỏi từ đó dẫn đến sai lầm trong việc ra quyết định đầu tư Do đó khi xem xét đến nhu cầu về minh bạch TTTC đối với hành vi ra quyết định của nhà đầu tư trên TTCK thì nhà đầu tư cá nhân bị ảnh hưởng nhiều hơn hay nói cụ thể là nhà đầu tư cá nhân sẽ cần đến sự minh bạch TTTC hơn là nhà đầu tư tổ chức Nhận thấy được sự cần thiết của vấn

đề này nên khi xem xét đến hành vi của nhà đầu tư trên TTCK ở đây luận văn chỉ giới hạn ở hành vi của nhà đầu tư cá nhân

Riêng về chứng khoán trên TTCK hiện nay, chúng ta có thể thấy có 2 loại

Trang 12

phổ biến trên thị trường đó là chứng khoán vốn và chứng khoán nợ Trong đó chứng khoán vốn hay còn gọi là chứng khoán cổ phần mà chúng ta có thấy trên thị trường là các cổ phiếu phổ thông của các công ty, tương tự như vậy chứng khoán

nợ trên thị trường hiện nay là trái phiếu nhà nước, trái phiếu công ty… Sự giống nhau của cả 2 loại chứng khoán này là khi chuyển nhượng, cầm cố đều được hưởng chênh lệnh giá đều được nhận lãi tuy nhiên nếu là trái phiếu thì phần lãi nhận được

là lãi trên mệnh giá trái phiếu còn cổ phiếu thì lãi ở đây chính là cổ tức tùy theo chính sách của từng công ty Có rất nhiều điểm khác biệt giữa 2 loại chứng khoán trên, tuy nhiên khác biệt lớn nhất là rủi ro thanh toán Trong đó chứng khoán nợ là loại chứng khoán có rủi ro thấp hơn đặc biệt là trái phiếu chính phủ được xem là loại chứng khoán không có rủi ro thanh toán và cũng là loại chứng khoán có tính thanh khoản cao Do đó tùy thuộc vào mức độ yêu thích rủi ro mà nhà đầu tư có thể đưa ra quyết định lựa chọn loại chứng khoán cho phù hợp Tuy nhiên khi xét đến minh bạch TTTC đối với hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK thì chứng khoán vốn hay cổ phiếu là cần thiết hơn chứng khoán nợ Do đó trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này thì thuật ngữ chứng khoán được xem xét ở đây là chứng khoán vốn hay cụ thể là cổ phiếu

Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề cũng như một số khía cạnh của vấn đề này vẫn còn có khả năng khai thác và mở rộng nên tác giả quyết định chọn

đề tài “Ảnh hưởng của minh bạch TTTC đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư

cá nhân trên TTCK Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu Sau khi nghiên cứu đề tài này, tác giả kỳ vọng sẽ tìm thêm được bằng chứng củng cố việc nhận thức của nhà đầu tư về tính minh bạch TTTC có ảnh hưởng đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân, từ đó đề xuất biện pháp góp phần minh bạch hóa TTTC giúp nâng cao niềm tin của nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung

Xác định được các nhân tố ảnh hưởng của minh bạch TTTC đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK Việt Nam

Trang 13

Mục tiêu cụ thể

Thứ nhất, nhận diện và xác định mức độ ảnh hưởng các nhân tố của minh

bạch TTTC đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK Việt Nam

Thứ hai, đưa ra các giải pháp, đề xuất kiến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu

3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài tập trung giải quyết các câu hỏi nghiên cứu sau:

Câu hỏi 1: Các nhân tố nào thuộc về minh bạch TTTC ảnh hưởng đến hành

vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK Việt Nam và mức độ ảnh hưởng của chúng như thế nào?

Câu hỏi 2: Giải pháp nào để nâng cao tính minh bạch TTTC trên TTCK Việt

Nam?

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hành vi ra quyết định của nhà đầu tư

cá nhân trên TTCK Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi 3 nhân tố: minh bạch cấu trúc quyền sở hữu vốn; CBTT tài chính; minh bạch cấu trúc, hoạt động của Hội đồng quản trị (HĐQT), Ban giám đốc (BGĐ)

Trang 14

được thực hiện từ tháng 8/2016 đến tháng 10/2016

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng

+ Kiểm định T-test, ANOVA để kiểm định sự khác biệt của hành vi nhà đầu

tư cá nhân theo đặc điểm nhân khẩu học: giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn Phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính để xem xét mức độ ảnh hưởng của biến nhận thức nhà đầu tư cá nhân về minh bạch TTTC đến hành vi ra quyết định của nhà đầu

tư cá nhân trên TTCK Việt Nam

6 Những đóng góp của luận văn

Trên cơ sở kết quả thực hiện, luận văn sẽ tìm ra được luận cứ khoa học về tác động giữa minh bạch TTTC đối với hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK Từ đó tác giả sẽ đưa ra các giải pháp nâng cao tính minh bạch TTTC để góp phần gia tăng niềm tin của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK Việt Nam

7 Điểm mới của luận văn

Kế thừa nghiên cứu của tác giả Torabi R và Aali A (2014), luận văn sẽ tiếp cận ở góc độ ảnh hưởng của minh bạch TTTC đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK Việt Nam Minh bạch thông tin trong đề tài được tác giả đề cập tới ba vấn đề cụ thể là minh bạch cấu trúc quyền sở hữu vốn; CBTT tài chính; minh bạch cấu trúc, hoạt động của HĐQT, BGĐ

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, luận văn được kết cấu gồm 5 chương, cụ thể như sau:

Trang 15

Chương 1: Giới thiệu tổng quan vấn đề nghiên cứu

Trình bày tóm tắt các nghiên cứu công bố ở trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Từ đó đưa ra nhận xét và xác định khe hổng nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về minh bạch TTTC và hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân

Trình bày các khái niệm, lý thuyết có liên quan đến minh bạch TTTC và hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân để làm cơ sở xây dựng mô hình

nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Nêu lên trình tự các bước và phương pháp thực hiện nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của sự minh bạch TTTC đối với hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK Việt Nam

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Tóm tắt nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị

Trang 16

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Minh bạch TTTC là vấn đề đã được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu với nhiều công trình nghiên cứu thuộc nhiều cấp độ ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam Để có một cái nhìn toàn cảnh về những nghiên cứu có liên quan, luận văn lựa chọn và giới thiệu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến vấn đề này, qua đó sẽ rút ra khe hổng nghiên cứu

1.1 Các nghiên cứu công bố ở nước ngoài liên quan

1.1.1 Nội dung các nghiên cứu trước

Nếu xét về nội dung các nghiên cứu liên quan đến việc tìm các nhân tố tạo

ra sự minh bạch thông tin của các CTNY thì chủ yếu các nghiên cứu trên thế giới trước đây nghiên cứu dựa trên 2 nhóm nhân tố là minh bạch TTTC và minh bạch thông tin quản trị Điển hình một số nghiên cứu cụ thể như:

Nghiên cứu của Robert Bushman và cộng sự (2001) để trả lời cho câu hỏi: Liệu rằng có sự khác nhau hay không giữa chế độ pháp luật cũng như đặc điểm nền kinh tế chính trị của từng quốc gia đối với sự minh bạch của TTTC Nhóm tác giả

đã tiến hành khảo sát các CTNY trên 41 đến 46 quốc gia Trong đó tính minh bạch của TTTC được nhóm tác giả đo lường thông qua 5 nhóm nhân tố là: (1) Mức độ công bố TTTC, (2) Mức độ công bố thông tin (CBTT) quản trị công ty (QTCT), (3) Các nguyên tắc kế toán, (4) Thời gian công bố BCTC, (5) Chất lượng kiểm toán các BCTC được công bố Kết quả kiểm định hồi quy đa biến cho thấy cơ chế pháp

lý ảnh hưởng trực tiếp đến minh bạch trong QTCT còn minh bạch TTTC phần lớn liên quan đến chính sách kế toán và quy mô doanh nghiệp Nghiên cứu của nhóm tác giả đã thành công trong việc tìm ra được các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin và các thước đo để đo lường tính minh bạch thông tin tuy nhiên nhóm tác giả chưa chỉ ra được mức độ tác động giữa các nhân tố đến tính minh bạch thông tin

Cũng với hướng nghiên cứu như trên, nghiên cứu của nhóm tác giả Cheung

và cộng sự (2005) đã xem xét tính minh bạch của các CTNY trên cả 2 thị trường là Thái Land và Hồng Kông theo 2 nhóm trong đó nhóm nhân tố tài chính bao gồm 5

Trang 17

biến: quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, kết quả tài chính, tài sản đảm bảo và hiệu quả sử dụng tài sản Nhóm nhân tố về QTCT bao gồm 3 biến: mức độ tập trung quyền sở hữu, cơ cấu của HĐQT và quy mô của HĐQT Mẫu khảo sát bao gổm

413 CTNY trong đó 265 CTNY trên TTCK Thái Land và 148 CTNY trên TTCK Hồng Kông Kết quả nghiên cứu cho thấy tại Thái Land mức độ công bố và tính minh bạch thông tin nhiều hơn so với các công ty ở Hồng Kông Riêng các nhân tố: quy mô công ty, hiệu quả sử dụng tài sản, giá trị tài sản đảm bảo và khả năng sinh lợi dài hạn của doanh nghiệp thuộc nhóm nhân tố tài chính thì lại ảnh hưởng đến tính minh bạch và mức độ công khai thông tin của các CTNY ở Hồng Kông, nhưng lại không ảnh hưởng đến các công ty ở Thái Land Ngược lại nhân tố quy mô và cơ cấu HĐQT lại ảnh hưởng đến mức độ CBTT ở Thái Land nhưng lại không ảnh hưởng đến mức độ CBTT ở Hồng Kông Đối với biến “tỷ lệ các giám đốc điều hành không phải là thành viên của HĐQT” thì giống nhau ở cả 2 thị trường Thái Land và Hồng Kông đó là nếu tỷ lệ của biến này càng lớn thì tính minh bạch và mức độ CBTT của các CTNY sẽ càng cao Nghiên cứu của nhóm tác giả đã thành công khi so sánh được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố về minh bạch TTTC giữa

2 TTCK Thái Land và Hồng Kông cũng như chỉ ra được mức độ ảnh hưởng của từng nhóm nhân tố đến tính minh bạch TTTC, hạn chế của nghiên cứu là chưa tìm được nguyên nhân để lý giải cho các kết quả từ nghiên cứu thực nghiệm

Ngoài ra nếu xét đến khía cạnh nghiên cứu về ảnh hưởng của minh bạch thông tin ảnh hưởng đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư thì đi theo trình tự thời gian có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu trên thế giới mà chúng ta có thể thấy như:

Theo Carolyn Streuly (1994) với mục đích tìm kiếm mối quan hệ giữa thông tin trên BCTC với quyết định của nhà đầu tư Tác giả đã tiến hành khảo sát trên mẫu ngẫu nhiên của 1.300 các chuyên gia phân tích tài chính ở Mỹ Kết quả cho thấy 53% số người được hỏi đồng ý các thông tin được công bố trong báo cáo hàng năm là đủ cơ sở để họ đưa ra các quyết định đầu tư Ngoài ra nghiên cứu còn chỉ ra được tính hữu dụng của BCTC thông qua việc đánh giá nội dung và tính rõ ràng

Trang 18

dựa trên thuyết minh BCTC làm cơ sở để nhà đầu tư đưa ra quyết định cũng như cung cấp các thông tin khác cho các đối tượng có liên quan như: ngân hàng, chủ nợ…

Năm 2006, Hsiu JF trong nghiên cứu “Effect of financial information transparency on investor behavior in Taiwan stock market, ProQuest Database” , tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa minh bạch thông tin và hành vi nhà đầu tư đồng thời xem xét lý thuyết QTCT, hiệu quả hoạt động, hành vi thương mại nhà đầu tư, quyết định của nhà đầu tư để từ đó đưa ra giải pháp góp phần gia tăng niềm tin nhà đầu tư trên TTCK Đài Loan Mô hình nghiên cứu của tác giả đề xuất bao gồm ba biến độc lập là: minh bạch cấu trúc quyền sở hữu vốn; CBTT tài chính; minh bạch cấu trúc hoạt động HĐQT, BGĐ tác động đến một biến phục thuộc là hành vi nhà đầu tư Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, dùng công cụ khảo sát bảng 20 câu hỏi, với thang đo Likert 9 điểm để đo lường nhận thức của nhà đầu tư về các yếu tố minh bạch TTTC và hành vi nhà đầu tư trên TTCK Đài Loan Thông qua các kỹ thuật phân tích dữ liệu như thống kê mô tả, độ tin cậy Cronbach’s Anpha, hệ số tương quan, ANOVA, hồi quy đa biến trên mẫu

305 nhà đầu tư trên TTCK Đài Loan, kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy: cả ba biến thuộc về minh bạch TTTC bao gồm: minh bạch cấu trúc quyền sở hữu vốn; CBTT tài chính; minh bạch cấu trúc hoạt động HĐQT, BGĐ có tương quan tích cực đối với hành vi nhà đầu tư, trong đó biến cấu trúc hoạt động HĐQT có ảnh hưởng mạnh nhất Ngoài ra tác giả cũng cho rằng nếu công ty muốn thiết lập một mối quan hệ dài hạn với nhà đầu tư thì công ty nên cung cấp nhiều thông tin liên quan tới cấu trúc HĐQT, quy trình tiến hành họp hội đồng cho các nhà đầu tư biết Bên cạnh đó khi tiến hành kiểm định các đặc điểm về nhân khẩu học đối với nhận thức của nhà đầu tư về các yếu tố minh bạch TTTC, tác giả cho thấy có sự khác biệt theo giới tính, thu nhập, trong khi đó không có sự khác biệt giữa độ tuổi đối với hành vi nhà đầu tư Cụ thể, nhà đầu tư nữ có quan tâm nhiều về minh bạch TTTC hơn so với nhà đầu tư nam, đặc biệt là cấu trúc hoạt động HĐQT và CBTT

Trang 19

tài chính Đồng thời, hành vi của nhà đầu tư trên TTCK Đài Loan không có sự khác biệt theo số năm kinh nghiệm

Năm 2014, Torabi R và Aali A trong nghiên cứu “Effect of financial information transparency on investor behavior in Tehran stock exchange” Bằng cách sử dụng bảng câu hỏi khảo sát bao gồm 2 phần Phần 1 bao gồm 14 câu hỏi, thang đo Likert 7 cấp độ để điều tra về tính minh bạch của TTTC và hành vi của nhà đầu tư trên sàn giao dịch chứng khoán (SGDCK) Tehran Phần 2 bao gồm các câu hỏi liên quan đến vấn đề nhân khẩu học của nhà đầu tư như: giới tính, tuổi tác, giáo dục Mô hình nghiên cứu mà tác giả đề xuất bắt nguồn từ mô hình nghiên cứu của Hsiu JF (2006), trong mô hình tác giả đề xuất bao gồm ba biến độc lập là: minh bạch cấu trúc quyền sở hữu vốn; CBTT tài chính; minh bạch cấu trúc hoạt động HĐQT, BGĐ tác động đến một biến phục thuộc là hành vi nhà đầu tư Các câu hỏi được sử dụng trong nghiên cứu của tác giả tương tự các câu hỏi được sử dụng trong nghiên cứu của Hsiu JF (2006) thời gian nghiên cứu từ 01/01/2013 đến 21/05/2014 Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả cũng đưa ra được bằng chứng cho thấy có mối liên quan ở cả ba khía cạnh của tính minh bạch là: công bố TTTC; cơ cấu sở hữu vốn; cơ cấu HĐQT đến hành vi của nhà đầu tư trên TTCK Tehran, trong đó mối quan hệ giữa CBTT tài chính và hành vi nhà đầu tư có sự tương quan cao nhất Nhận thức của các nhà đầu tư trong những khía cạnh của tính minh bạch phụ thuộc trên các biến nhân khẩu học là khác nhau Bên cạnh đó nhóm tác giả cũng đưa ra các kiến nghị hữu ích cho chủ đầu tư để điều chỉnh hành vi của mình theo các điều kiện TTCK

1.1.2 Đánh giá chung về những nghiên cứu đã thực hiện ở nước ngoài

Bằng cách kế thừa và phát huy các nghiên cứu trước, càng về sau các nghiên cứu trên thế giới ngày càng hoàn thiện hơn cả về mặt nội dung lẫn ý nghĩa, thông qua các bằng chứng thực nghiệm, các kết luận đưa ra ngày càng có giá trị Nhìn chung, các nghiên cứu ở nước ngoài có những đặc điểm như sau:

(1) Đi cùng với thời gian nghiên cứu thì phạm vi của nghiên cứu cũng thay đổi không chỉ bó hẹp ở một quốc gia cụ thể như Mỹ (Carolyn Streuly, 1994) mà

Trang 20

thay vào đó nó được mở rộng ra nhiều quốc gia như nghiên cứu Robert Bushman (2001) hay xuyên quốc gia như nghiên cứu của Cheung (2005) thực hiện tại Hồng Kông và Thái Land

(2) Đa số các nghiên cứu đi trước là những nghiên cứu khởi xướng nhằm đưa ra một số nhân tố để đánh giá mức độ minh bạch và ảnh hưởng của các nhân tố

đó đến hành vi của nhà đầu tư, tạo tiền đề cho những nghiên cứu tiếp theo Các nghiên cứu ban đầu chủ chủ yếu xem xét mức độ ảnh hưởng một cách chung chung như nghiên cứu của Carolyn Streuly (1994) chỉ cho thấy được các thông tin công

bố trong báo cáo hàng năm là có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư, chưa có

sự phân nhóm các nhân tố Càng về sau, các nghiên cứu tiếp theo đã xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin cũng như hành vi của nhà đầu tư một cách hệ thống và toàn diện hơn Cụ thể như nghiên cứu về tính minh bạch của thông tin cả nghiên cứu của Robert Bushman (2001) và nghiên cứu Cheung và cộng sự (2005) đều chỉ ra được 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin là: nhóm nhân tố tài chính và nhóm nhân tố QTCT Hay trong nghiên cứu

về nhận thức nhà đầu tư về minh bạch thông tin ảnh hưởng đến hành vi nhà đầu tư

cả nghiên cứu của Hsiu JF (2006) và Torabi R và Aali A (2014) đều chỉ ra được 3 khía cạnh của tính minh bạch bao gồm: cấu trúc quyền sở hữu vốn; CBTT tài chính; cấu trúc hoạt động HĐQT, BGĐ đều có tương quan tích cực đối với hành vi nhà đầu tư

(3) Phương pháp nghiên cứu chủ yếu sử dụng trong các nghiên cứu đã thực hiện là phương pháp nghiên cứu định lượng và kế thừa những kết quả nghiên cứu trước, với cỡ mẫu ngày càng mở rộng như nghiên của Hsiu JF (2006), Cheung và cộng sự (2005), Torabi R và Aali A (2014)

(4) Mặc dù các nghiên cứu sử dụng cùng một mô hình nghiên cứu như nghiên cứu của Hsiu JF (2006) và nghiên cứu của Torabi R và Aali A (2014) kết quả nghiên cứu cũng sẽ hoàn toàn không giống nhau Cụ thể cả 2 nghiên cứu này đều cho ra kết quả là các khía cạnh của tính minh bạch thông tin bao gồm: cấu trúc quyền sở hữu vốn; CBTT tài chính; cấu trúc hoạt động HĐQT, BGĐ đều có tương

Trang 21

quan tích cực đối với hành vi nhà đầu tư Tuy nhiên theo nghiên cứu của Hsiu JF (2006) khi tiến hành nghiên cứu tại Taiwan thì biến cấu trúc hoạt động HĐQT có ảnh hưởng mạnh nhất đến hành vi của nhà đầu tư trong khi nghiên cứu của Torabi

R và Aali A (2014) tiến hành tại Tehran lại cho thấy minh bạch TTTC mới là biến

có sự tương quan cao nhất đến hành vi của nhà đầu tư Như vậy cần thận trọng khi vận dụng các nghiên cứu vào các môi trường khác Sự khác nhau ở một số kết quả nghiên cứu có thể là do những nguyên nhân như: sự khác biệt ở việc lựa chọn mẫu nghiên cứu khi thực nghiệm (nghiên cứu ở những quốc gia khác nhau có thể có một

số khác biệt về văn hóa, kinh tế, chính trị, tập quán dẫn đến những kết quả khác nhau), sự khác biệt ở cỡ mẫu nghiên cứu khi thực nghiệm (các nghiên cứu sau thường có cỡ mẫu rộng và đa dạng hơn các nghiên cứu trước nên kết quả có thể toàn diện hơn)…

1.2 Các nghiên cứu công bố ở trong nước liên quan

1.2.1 Nội dung các nghiên cứu trước có liên quan

Các công trình nghiên cứu trước ở Việt Nam, phần lớn tập trung ở khía cạnh

là nghiên cứu để xác định cũng như tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạchTTTC Nói đến hướng nghiêm cứu này đầu tiên không thể không kể là nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Minh Tâm (2009) Kết quả nghiên cứu của tác giả đã tìm ra được 4 nguyên nhân làm cho TTTC của Việt Nam chưa thực sự minh bạch

đó là: (i) tính minh bạch trong BCTC chưa được xem trọng, (ii) các quy định chung của Chuẩn mực kế toán quốc tế trong việc lập và trình bày BCTC chưa được thực hiện đầy đủ; (iii) chưa quy định rõ ràng về trách nhiệm cũng như mức xử phạt của từng đối tượng như: CTNY, các nhà đầu tư, các công ty kiểm toán đối với tính trung thực hợp lý, tính công khai và tính minh bạch của các TTTC được công bố; (iv) Chất lượng BCTC của ngân hàng thương mại Việt Nam được kiểm toán độc lập chưa cao Bên cạnh việc xác định được 4 nhân tố ảnh hưởng đến sự minh bạch TTTC trên thị trường, tác giả còn đưa ra một số giải pháp nhằm gia tăng tính minh bạch TTTC như: cải tiến công tác kế toán – kiểm toán tại các ngân hàng thương

Trang 22

mại qua đó nâng cao chất lượng kế toán – kiểm toán tại ngân hàng nhằm nâng cao chất lượng TTTC trên TTCK, gia tăng tính minh bạch TTTC trên TTCK

Tiếp theo là nghiên cứu của Nguyễn Đình Hùng (2010) Thông qua việc sử dụng phương pháp nghiên cứu suy luận kết hợp với thống kê mô tả, đối tượng khảo sát là các CTNY trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM, các TTTC công bố được lấy từ các báo cáo cho năm tài chính 2007 và 2008, tác giả đã xác định được sáu (06) thành phần của hệ thống kiểm soát tác động đến sự minh bạch TTTC của các CTNY bao gồm: hệ thống chuẩn mực kế toán, quy định liên quan đến công bố BCTC, kiểm soát nội bộ, BGĐ, ban kiểm soát, kiểm toán độc lập Thành công của tác giả là tìm ra cũng như thống kê được các nhân tố tác động đến sự minh bạch TTTC công bố của các CTNY Tuy nhiên mức độ tác động cũng như mối quan hệ giữa các nhân tố đến sự minh bạch TTTC như thế nào thì tác giả chưa làm rõ, một trong những nguyên nhân gây nên hạn chế này là phương pháp mà tác giả sử dụng Tác giả chủ yếu phương pháp định tính để thống kê mô tả nên chưa có những bằng chứng cụ thể để chứng minh cho các kết luận

Năm 2015, Lê Thị Mỹ Hạnh trong luận án tiến sĩ “Minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam” với việc sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng thông qua khảo sát các nhà đầu tư cổ phiếu của 178 CTNY (ban đầu là 292) trên sàn HOSE từ năm 2011-2012 Kết quả nghiên cứu tác giả cho thấy với hai cách tiếp cận bằng các đặc điểm phản ánh sự minh bạch và đánh giá của nhà đầu tư thì tính minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam thời gian qua chưa cao, mức độ minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam chỉ ở mức trung bình khá Kết quả kiểm định mô hình hồi quy cho thấy các nhân tố phản ánh đặc điểm tài chính và QTCT như: đòn bẩy tài chính, lợi nhuận, công ty kiểm toán và cơ cấu HĐQT ảnh hưởng đến mức độ minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam Tuy nhiên nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch trong luận án tác giả chủ yếu xem xét ở đặc điểm tài chính và đặc điểm quản trị Ngoài ra nếu xét ở góc độ tổng thể luận án chủ yếu sử

Trang 23

dụng mẫu nghiên cứu lấy từ các CNTY trên SGDCK TP.HCM làm đại diện cho TTCK Việt Nam nên vẫn chưa toàn diện

Ngoài ra khi xem xét về khía cạnh nghiên cứu về hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK do ảnh hưởng của minh bạch TTTC chúng ta có thể

kể đến một số nghiên cứu tiêu biểu như nghiên cứu của Nguyễn Văn Dần (2012) Với mong muốn khám phá được mối quan hệ giữa sự minh bạch TTTC và hành vi nhà đầu tư trên TTCK Tác giả đã tiến hành kiểm tra nhận thức của nhà đầu tư trên sàn HOSE đối với các thành phần của biến số minh bạch TTTC, nhân khẩu nhà đầu

tư và kinh nghiệm nhà đầu tư Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được phương pháp cũng như cách thức để tiến hành nghiên cứu nhưng chưa giải quyết được mối quan

hệ cũng như mức độ tác động của từng nhân tố đối với nhận thức nhà đầu tư

Hay nghiên cứu của Vi Thị Bích Vân (2014) trong luận văn thạc sĩ “Hành

vi của nhà đầu tư đối với thông tin kế toán trên BCTC” Mô hình nghiên cứu trong luận văn được tác giả đề xuất bằng cách kết hợp giữa mô hình thấu kính Brunswik

và mô hình hành vi tích hợp (Francis et al., 2004; Montano và Kasprzyk, 2008) Thông qua 209 bảng khảo sát nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân trên SDGCK TP.HCM,

sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng dùng phần mềm SPSS 22 Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết cho thấy 4 biến độc lập tác động đến hành vi sử dụng BCTC của nhà đầu tư bao gồm: thái độ, môi trường xã hội, năng lực nhận thức, môi trường thông tin Trong đó biến thái độ có tác động mạnh nhất đối với hành vi

sử dụng BCTC của nhà đầu tư Ba biến độc lập bao gồm: thái độ, môi trường xã hội và năng lực nhận thức có quan hệ đồng biến với hành vi sử dụng BCTC, trong khi biến môi trường thông tin có quan hệ nghịch biến với hành vi sử dụng BCTC của nhà đầu tư Bên cạnh đó tác giả cũng đề xuất những biện pháp hữu hiệu nhằm điều chỉnh hành vi của nhà đầu tư theo hướng tích cực, đồng thời cải thiện chất lượng thông tin công bố trên TTCK

Gần đây nhất năm 2015, Nguyễn Thị Linh Thu trong luận văn thạc sĩ “Ảnh hưởng của minh bạch TTTC trên BCTC đến hành vi nhà đầu tư cá nhân trên TTCK TP.HCM” Thông qua phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng

Trang 24

dùng bảng câu hỏi khảo sát với 250 mẫu nghiên cứu, kết quả phân tích hồi quy cho thấy, hành vi của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK chịu sự ảnh hưởng của ba nhóm nhân tố: Minh bạch cấu trúc quyền sở hữu vốn; CBTT tài chính; minh bạch cấu trúc hoạt động của HĐQT và BGĐ Trong đó nhân tố minh bạch cấu trúc, hoạt động của HĐQT và BGĐ có ảnh hường mạnh nhất Tuy nhiên khi tiến hành kiểm định T-Test và phân tích ANOVA tác giả cho thấy hành vi của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK không có sự khác biệt theo giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn Mô hình nghiên cứu khi tiến hành chạy hồi quy tuyến tính kiểm định hệ số Durbin – Watson cho thấy hệ số Durbin - Watson nhỏ hơn 1 do đó mô hình xảy ra hiện tượng tự tương quan trong vùng dữ liệu, nguyên nhân được tác giả cho rằng do số lượng mẫu nghiên cứu còn hạn chế và phạm vi nghiên cứu chỉ thu hẹp tại TTCK TP.HCM Các hạn chế còn tồn tại của nghiên cứu cũng như nghiên cứu chưa kiểm định được sự khác biệt của hành vi nhà đầu tư hay khi kết quả mô hình nghiên cứu xảy ra hiện tượng tự tương quan trong vùng dữ liệu (hệ số Durbin - Watson nhỏ hơn 1) có thể làm ảnh hưởng đến độ tin cậy của kết quả nghiên cứu dẫn đến các kiến nghị cũng như giải pháp kèm theo là chưa chính xác hoặc chưa phù hợp dẫn đến chưa gia tăng được niềm tin của nhà đầu tư, chưa thu hút được vốn đầu tư phục

vụ sản xuất kinh doanh…

Năm 2016, Đặng Thị Thúy Hằng trong luận án tiến sĩ “Ảnh hưởng của thông tin kế toán công bố đến quyết định của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam” Bằng nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng, sử dụng bảng câu hỏi khảo sát 527 nhà đầu tư sau đó sử dụng các công cụ hỗ trợ từ phần mền QSR NVivo 10 và SPSS 22 thông qua các kỹ thuật như: phỏng vấn sâu, kỹ thuật phân tích thống kê như: Cronbach’s Alpha, EFA, kiểm định tham số (ANOVA, F-test, T-test), kiểm định phi tham số (Friedman, Mann Whitney, Wilcoxon) Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy bên cạnh các nhân tố đã được tìm thấy trong các nghiên cứu trước đây tác giả còn khám phá ra các thông tin công bố cụ thể (các thang đo mới) có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư như: kinh nghiệm bản thân (nhân tố thuộc về đặc điểm nhà đầu tư), thông tin nội bộ (nguồn thông tin

Trang 25

không chính thống), trang mạng có uy tín (nguồn thông tin báo chí), dòng tiền, tính thanh khoản của chứng khoán (các thông tin trên TTCK), chính sách vĩ mô, sức khỏe nội tại của chính doanh nghiệp (qua phân tích báo cáo doanh nghiệp công bố, thăm doanh nghiệp hoặc tự đánh giá), tỷ lệ chia cổ tức, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp niêm yết, đội lái Kết quả nghiên cứu định lượng cho thấy 11 nhóm thông tin kế toán (đo lường bởi 82 thông tin kế toán cụ thể) có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư trên TTCK Việt Nam

1.2.2 Đánh giá chung về những nghiên cứu đã thực hiện ở trong nước

(1) Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam, phần lớn tập trung nghiên cứu ở khía cạnh các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch TTTC như (Nguyễn Đình Hùng, 2010), (Lê Thị Mỹ Hạnh, 2015) Tuy khía cạnh các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin được nhiều tác giả quan tâm nhưng số lượng các nhân tố được xem xét vẫn còn hạn chế chủ yếu là nhóm nhân tố tài chính và nhóm nhân tố quản trị Nhóm nhân tố tài chính gồm: hiệu quả hoạt động, khả năng thanh toán, đòn bẫy tài chính (Lê Thị Mỹ Hạnh, 2015) Nhóm nhân tố quản trị như: cơ cấu HĐQT (Lê Thị

Mỹ Hạnh, 2015)

Ngoài ra nếu xét về khía cạnh nghiên cứu hành vi ra quyết định của nhà đầu

tư cá nhân do ảnh hưởng của minh bạch TTTC vẫn còn rất hạn chế, các nghiên cứu ban đầu chỉ dừng lại ở việc đưa ra cách thức nghiên cứu mà chưa đưa ra các bằng chứng cụ thể (Nguyễn Văn Dần, 2012) hay nghiên cứu chủ yếu tập trung vào yếu

tố hành vi con người (Vi Thị Bích Vân, 2014), hoặc tập trung vào việc khám phá

để đưa ra các nhân tố mới ảnh hưởng đến hành vi của nhà đầu tư như (Đặng Thị Thúy Hằng, 2016) mà chưa tập trung xem xét đến góc độ minh bạch thông tin trên BCTC ảnh hưởng đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân Riêng nghiên cứu của Nguyễn Thị Linh Thu (2015) tác giả có đưa ra được các nhân tố ảnh hưởng của minh bạch TTTC đến hành vi của nhà đầu tư cá nhân tuy nhiên phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn trên TTCK TP.HCM, số lượng mẫu nghiên cứu còn hạn chế dẫn đến hiện tượng tự tương quan trong vùng dữ liệu cũng như chưa xem xét được tác

Trang 26

động của các biến nhân khẩu học: giới tính, độ tuổi và trình độ học vấn đến hành vi của nhà đầu tư

(2) Xét về phương pháp nghiên cứu, ban đầu các nghiên cứu ở Việt Nam sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để xem xét mức độ minh bạch thông tin của doanh nghiệp, mức độ xem xét chỉ dừng lại ở nhận định chủ quan (Nguyễn Thị Minh Tâm, 2009), (Nguyễn Đình Hùng, 2010) Sau này, các nghiên cứu đã kết hợp thêm phương pháp nghiên cứu định lượng, giúp cho việc nghiên cứu minh bạch thông tin có nhiều bằng chứng thuyết phục hơn Cụ thể tác giả Lê Thị Mỹ Hạnh (2015) sau khi phân tích định lượng kiểm định mô hình hồi quy chỉ ra rằng: đòn bẫy tài chính, lợi nhuận, công ty kiểm toán và cơ cấu HĐQT có ảnh hưởng đến

mức độ minh bạch TTTC của CTNY trên TTCK Việt Nam

1.3 Khe hổng trong nghiên cứu

Qua việc tổng quát hóa các kết quả nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin tuy nhiên minh bạch TTTC chủ yếu xoay quanh 2 nhóm nhân tố là: Nhóm nhân tố tài chính và nhóm nhân tố quản trị Riêng đối với nghiên cứu về góc độ nhận thức nhà đầu tư về minh bạch thông tin ảnh hưởng đến hành vi nhà đầu tư thì trên thế giới đã

có nhiều nghiên cứu (Hsiu JF, 2006), (Torabi R và Aali A, 2014), các nghiên cứu này không chỉ đưa ra được cơ sở lý luận mà còn có bằng chứng thực nghiệm cụ thể chứng minh tính minh bạch của TTTC có ảnh hưởng đến hành vi của nhà đầu tư Trong khi đó, tại thị trường Việt Nam việc nghiên cứu nhận thức nhà đầu tư về tính minh bạch thông tin ảnh hưởng đến hành vi nhà đầu tư vẫn còn hạn chế, phạm vi nghiên cứu còn hẹp, dữ liệu nghiên cứu chưa thực sự được hoàn thiện vẫn xảy ra hiện tượng tự tương quan dữ liệu, chưa thấy được ảnh hưởng của biến nhân khẩu học đến hành vi nhà đầu tư như nghiên cứu của Nguyễn Thị Linh Thu (2015) nên các giải pháp nhằm nâng cao tính minh bạch TTTC nhằm gia tăng hành vi nhà đầu

tư vẫn còn hạn chế Do vậy, nhận thấy đây là khe hỗng để tác giả tiếp tục nghiên cứu nhằm cũng cố thêm bằng chứng bổ sung vào chủ đề nghiên cứu minh bạch TTTC tại TTCK Việt Nam

Trang 27

Kết luận chương 1

Trong chương này, luận văn đã trình bày tổng quan về các nghiên cứu trước liên quan đến minh bạch TTTC, ảnh hưởng của minh bạch TTTC đến hành vi của nhà đầu tư

Luận văn đã phân tích và tổng kết những ưu điểm và hạn chế của các kết quả nghiên cứu trước ở nước ngoài và Việt Nam về minh bạch TTTC, ảnh hưởng của minh bạch TTTC đến hành vi của nhà đầu tư Từ đó, luận văn đã kế thừa những kết quả nghiên cứu trước, cân nhắc xem xét vận dụng trong điều kiện của Việt Nam với nền kinh tế đang phát triển có đặc điểm và văn hóa khác biệt với các nước để hiệu chỉnh, xây dựng mô hình và cách thức nghiên cứu phù hợp, đồng thời luận văn cũng xác định khe hỗng nghiên cứu để tiếp tục thực hiện đề tài

Trang 28

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MINH BẠCH TTTC VÀ HÀNH VI

RA QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN

Chương 1, nghiên cứu đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Trong chương này nghiên cứu sẽ trình bày một số khái niệm để làm nền tảng cho nghiên cứu bao gồm các khái niệm như: BCTC, TTTC; các quy định về CBTT trên TTCK Việt Nam và quan trọng nhất là các lý thuyết liên quan đến minh bạch TTTC và hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân nhằm phục vụ cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu và đặt ra các giả thuyết nghiên cứu trong chương tiếp theo

2.1 Một số vấn đề chung về minh bạch TTTC và hành vi ra quyết định của nhà đầu tư

cá nhân

2.1.1 Minh bạch TTTC

2.1.1.1 Một số khái niệm

❖ BCTC

BCTC là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu

và nợ phải trả cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Đặc biệt đối với các nhà đầu tư thì BCTC giúp họ nhận biết khả năng về tài chính, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, mức độ rủi ro để họ cân nhắc, lựa chọn và đưa ra quyết định phù hợp

Ngày nay với sự phát triển của nền kinh tế, đánh dấu sự tăng trưởng vượt bậc của các doanh nghiệp trong nước thì sự ra đời của các mô hình tập đoàn kinh tế nơi đó có đơn vị cấp trên và các đơn vị trực thuộc, mô hình tổng công ty nơi có công ty mẹ và nhiều công ty con thì BCTC riêng không còn có khả năng cung cấp đầy đủ hết thông tin cần thiết nữa mà lúc này nhà đầu tư phải căn cứ vào BCTC hợp nhất Bởi vì BCTC riêng chỉ cung cấp cho nhà đầu tư những thông tin tốt về công ty mẹ, không có bất kỳ thông tin gì về các công ty con do đó cuối năm khi BCTC hợp nhất được công bố, nhiều nhà đầu tư có thể bị sốc bởi những thông tin xấu do các công ty con làm ăn thua lỗ đã ảnh hưởng đến phần lợi nhuận của cổ đông công ty Do đó BCTC hợp nhất là một sự lựa chọn sáng suốt cho những nhà

Trang 29

đầu tư khi có nhu cầu thông tin để đưa ra các quyết định đầu tư vào các tập đoàn kinh tế hay tổng công ty… bởi lẽ BCTC hợp nhất là một báo cáo mà ở đó nó tổng hợp và trình bày một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu ở thời điểm kết thúc năm tài chính, tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh năm tài chính của tập đoàn như một doanh nghiệp độc lập không tính đến ranh giới pháp lý của các pháp nhân riêng biệt là công ty mẹ hay công ty con trong tập đoàn Xuất phát từ thực tế đó, Bộ tài chính đã ban hành thông tư 09/2010/TT-BTC ngày 15 tháng 01 năm 2010 bắt buộc các CTNY phải công khai BCTC hợp nhất quý Như vậy khi xem xét đến tầm quan trọng của tính minh bạch TTTC dùng làm căn cứ để nhà đầu tư cá nhân ra quyết định đầu tư thì cả BCTC riêng và BCTC hợp nhất đều quan trọng không kém do đó trong phạm vi nghiên cứu của luận văn thì BCTC ở đây là thuật ngữ chung cho cả BCTC riêng và BCTC hợp nhất

❖ TTTC

Tùy theo khía cạnh nghiên cứu khác nhau mà khái niệm thông tin được hiểu theo những hướng khác nhau Cụ thể khi xem xét dưới góc độ kinh tế, nhóm tác giả Trần Minh Tuấn và Bùi Thị Thanh (2014) định nghĩa TTTC là “toàn bộ các thông tin phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong giai đoạn phát triển nhất định, thông qua các BCTC, bảng kê chi tiết tài sản, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, chiến lược phát triển của doanh nghiệp trong tương lai”

Đứng ở góc độ của kế toán thì TTTC là thông tin được trình bày trên BCTC,

nó là kết quả của cả một quá trình thu thập, xử lý và trình bày các nghiệp vụ kế toán Thông tin tài chính được trình bày dưới nhiều hình thức ví dụ như bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh BCTC…

Như vậy có thể nói TTTC là toàn bộ những thông tin liên quan đến dòng tiền, kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định hay trong một thời kỳ xác định, nó được thể hiện thông qua các mẫu biểu hay bảng biểu được quy định sẵn TTTC có thể là thông tin trong quá khứ hoặc

Trang 30

thông tin mang tính dự báo, thông thường được biểu hiện bằng đơn vị tiền tệ TTTC thường được thể hiện trên các BCTC của doanh nghiệp (Nivra, 2008) Đây cũng chính là quan điểm của tác giả khi xem xét về TTTC trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này

 Minh bạch TTTC

Tùy thuộc vào từng ngữ cảnh thực tế hoặc tuỳ thuộc vào góc nhìn mà có nhiều khái niệm khác nhau về minh bạch cũng như minh bạch TTTC Để hiểu minh bạch TTTC là gì, luận văn sẽ tiến hành làm rõ khái niệm minh bạch và minh bạch TTTC

Đầu tiên là khái niệm minh bạch, nếu dựa vào định nghĩa của từ điển Oxford, “Minh Bạch” nghĩa là cho phép ánh sáng đi xuyên qua để những sự vật hoặc sự việc phía sau có thể được nhận dạng một cách toàn diện Vì vậy, nhiều người thường liên tưởng khái niệm “Minh Bạch” với sự trong suốt của nước hay thủy tinh Tuy nhiên, đặt vào bối cảnh quản trị doanh nghiệp, “Minh Bạch” được hiểu là sự tự do, sự chia sẻ thẳng thắn, cởi mở, rõ ràng trong triết lý của tổ chức và các quy trình hoạt động

Ngoài ra nếu xét trên khía cạnh chất lượng của thông tin thì theo Anonymous (1999) cho rằng tính minh bạch của thông tin kinh tế, xã hội và chính trị thể hiện ở 3 tiêu chuẩn đó là: tính kịp thời, đáng tin cậy và khả năng tiếp cận của thông tin Theo nhóm tác giả thì thông tin càng càng kịp thời, càng tin cậy, càng dễ tiếp cận thì thông tin đó càng minh bạch Tính minh bạch của thông tin được thể hiện thông qua trách nhiệm giải trình từ phía các đối tượng cung cấp thông tin

Đối với khái niệm về minh bạch TTTC đa số các nghiên cứu đều hướng đến

2 nội dung chính là chất lượng của thông tin và khả năng tiếp cận đối với thông tin

đó Cụ thể như sau:

Theo Robert Bushman và cộng sự (2001), minh bạch TTTC được xem xét ở tính sẵn sàng cung cấp thông tin hay nói cách khác là khả năng đáp ứng của thông tin đối với nhu cầu của các đối tượng có liên quan như nhà đầu tư và cổ đông bên ngoài Mức độ minh bạch TTTC theo nhóm tác giả được đo lường thông qua 3

Trang 31

nhóm sau:

(1) Khả năng đáp ứng các quy định đối với BCTC của công ty như: các nguyên tắc, tính kịp thời của BCTC, chất lượng của kiểm toán, mức độ công khai của các thông tin về QTCT như: mức thù lao của các thành viên HĐQT và BGĐ, số lượng cổ phần mà các cổ đông lớn đang nắm giữ…

(2) Khả năng đáp ứng được các thông tin đặc thù riêng của doanh nghiệp; (3) Khả năng tiếp cận thông tin đối với các đối tượng liên quan

Ngoài ra nếu dựa vào nội dung về chất lượng của thông tin theo quan điểm của đối tượng sử dụng thông tin thì nghiên cứu của nhóm tác giả Blanchet (2002)

và Prickett (2002) trích trong Kulzick (2004) cho rằng minh bạch thông tin là khi các thông tin được cung cấp đáp ứng được 7 tiêu chí bao gồm: tính chính xác, nhất quán, thích hợp, đầy đủ, rõ ràng, kịp thời và thuận tiện

OECD (2015), liên quan đến vấn đề CBTT và tính minh bạch cho rằng: Đối với khuôn khổ của QTCT thì việc CBTT phải đảm bảo được tính kịp thời và chính xác CBTT phải được thực hiện trên tất cả các vấn đề trọng yếu liên quan đến công

ty bao gồm: Tình hình tài chính, hiệu quả hoạt động, sở hữu và QTCT

Bên cạnh đó nếu xét theo quan điểm của nghề nghiệp kế toán viên công chứng thì Bert J Zarb, (2006) cho rằng để TTTC đạt được tính hữu ích và kịp thời, thì TTTC được công bố phải đảm bảo được đáng tin cậy, khả năng so sánh cũng như tính nhất quán và minh bạch Theo đó để thông tin trên BCTC đạt được sự minh bạch thì các thông tin này phải được lập và trình bày theo các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP)

Như vậy nếu xét trên phạm nghiên cứu của luận văn thì minh bạch TTTC được hiểu là minh bạch các thông tin trên BCTC Tính minh bạch ở đây được xem xét ở 2 khía cạnh là chất lượng của thông tin như: được lập và trình bày theo đúng pháp lý quy định, thông tin cung cấp đáp ứng được 7 tiêu chí bao gồm: tính chính xác, nhất quán, thích hợp, đầy đủ, rõ ràng, kịp thời và thuận tiện Ngoài ra minh bạch TTTC còn thể hiện qua mức độ sẵn có của thông tin hay khả năng tiếp cận thông tin đối với nhà đầu tư cá nhân trên TTCK Đây cũng chính là quan điểm của

Trang 32

tác giả khi xem xét về minh bạch TTTC trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này Tuy nhiên do tình hình nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay chưa có một tiêu chuẩn chính thức nào để đo lường tính minh bạch của TTTC do đó trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tác giả sẽ sử dụng bộ chỉ số T&D năm 2002 của Standard

& Poor đồng thời căn cứ vào điều kiện pháp lý tại Việt Nam để xem xét và điều chỉnh các nội dung thang đo cho phù hợp với mô hình nghiên cứu

2.1.1.2 Quy định hiện hành về CBTT trên TTCK Việt Nam hiện nay

Hiện nay, việc CBTT trên TTCK chịu sự chi phối bởi nhiều văn bản pháp quy, trong có cao nhất phải kể đến Luật chứng khoán kế đó là các thông tư hướng dẫn chi tiết Cụ thể các văn bản pháp quy hiện hành đề cập đến việc CBTT trên TTCK như sau:

sở để giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn với các văn bản pháp quy khác có liên quan nhằm hoàn thiện cơ chế hoạt động của TTCK đồng thời thúc đẩy TTCK phát triển ổn định, hiệu quả

Luật Chứng khoán năm 2006 có hiệu lực từ năm 2007 đã đóng vai trò là hành lang pháp lý đảm bảo cho TTCK hoạt động một cách hiệu quả nhất, phát huy được tầm quan trọng của TTCK đối với nền kinh tế Tuy nhiên, TTCK Việt Nam đang trong quá trình hình thành và phát triển, có nhiều yếu tố mới phát sinh, pháp luật không thể bao quát hết và bộc lộ những vướng mắc, bất cập phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp Để khắc phục những hạn chế trên, ngày 24/11/2010, Quốc Hội

đã biểu quyết thông qua Luật số 62/2010/QH12 nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng Khoán số 70/2006/QH11 Luật sửa đổi này tập trung sửa đổi, bổ sung 20 điều và bãi bỏ 1 điều trong 136 điều của Luật chứng khoán trước đó Tính

Trang 33

tới thời điểm hiện tại thì văn bản pháp luật này đang giữ giá trị pháp lý cao nhất, khắc phục được một số hạn chế trong khuôn khổ pháp luật chứng khoán trước đó

Thông tư hướng dẫn

Thông tư số 09/2010/TT-BTC do Bộ Tài Chính ban hành ngày 15/01/2010 nhằm hướng dẫn việc CBTT trên TTCK Thông tư này được ban hành nhằm hướng dẫn chi tiết cụ thể cho Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29 tháng 06 năm

2006 của Quốc hội Thông tư quy định rõ đối tượng CBTT bao gồm: Công ty đại chúng, tổ chức phát hành thực hiện chào bán trái phiếu ra công chúng, tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán, Sở giao dịch chứng khoán và người có liên quan Thông tư quy định

rõ thời gian CBTT, nội dung CBTT, các yêu cầu khi CBTT cho từng đối tượng CBTT cụ thể

Thông tư số 52/2012/TT-BTC do Bộ Tài Chính ban hành ngày 5/04/2012 nhằm hướng dẫn việc CBTT trên TTCK, chính thức có hiệu lực ngày 1/6/2012 thay thế cho thông tư 09/2010/TT-BTC về hướng dẫn CBTT trên TTCK So với thông tư số 09/2010/TT-BTC, thông tư 52/2012/TT-BTC có một số điểm siết chặt hơn về quy định thời hạn CBTT, đối tượng CBTT, kiểm toán, nghĩa vụ báo cáo thông tin đối với cổ đông lớn và cổ đông nội bộ

Thông tư 155/2015/TT-BTC được ban hành ngày 6/10/2015 có hiệu lực kể

từ ngày 1/1/2016 thay thế cho thông tư 52/2012/TT-BTC Theo đó, thông tư 155/2015/TT-BTC có một số điểm mới bổ sung về thuật ngữ, người thực hiện CBTT, nguyên tắc CBTT, CBTT đại chúng, CBTT bất thường

Như vậy với sự ra đời của thông tư 155/2015/TT-BTC được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao hơn nữa trách nhiệm CBTT của các thành viên thị trường và nhà đầu

tư, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động CBTT trên TTCK, đồng thời nâng cao tính công khai minh bạch của TTCK Việt Nam trong thời gian sắp

tới

2.1.2 Hành vi ra quyết định của nhà đầu tư

Theo khoản 10, điều 6, Luật Chứng khoán 2006: “Nhà đầu tư là tổ chức, cá

Trang 34

nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư trên TTCK” Nhà đầu tư trên TTCK có thể phân loại thành nhà đầu tư cá nhân và các tổ chức đầu tư Tuy nhiên trong phạm vi của luận văn, nhà đầu tư được hiểu là các nhà đầu tư cá nhân tham gia trên TTCK Khi tham gia trên TTCK, nhà đầu tư quan tâm chủ yếu vào ba mục tiêu chính là cổ tức, an toàn vốn và gia tăng vốn đầu tư

Hành vi ra quyết định của nhà đầu tư trên TTCK được hiểu “chuỗi hành động của nhà đầu tư trước các kích thích của môi trường bên ngoài có liên quan

đến TTCK và các yếu tố bên trong thuộc về nhà đầu tư” Nguyễn Đức Hiển (2012)

Trong phạm vi luận văn, khi đề cập tới hành vi ra quyết định của nhà đầu tư được hiểu bao gồm các hoạt động mua, bán và nắm giữ cổ phiếu Hành vi của nhà đầu tư trên TTCK được giải thích bởi lý thuyết hành động hợp lý do Ajzen và Fishbein đưa ra từ năm 1975 (nội dung của lý thuyết được trình bày cụ thể trong phần sau: Các lý thuyết nền liên quan đến tính minh bạch TTTC và hành vi ra quyết định của nhà đầu tư) Theo đó hành vi ra quyết định của nhà đầu tư bắt nguồn

từ ý định thực hiện hành vi đó hay nói cách khác chính là quyết định thực hiện hành vi trong tiềm thức (trong ý nghĩ của nhà đầu tư) Cụ thể, hành vi của nhà đầu

tư trên TTCK chịu sự chi phối bởi hai nhân tố là thái độ và tiêu chuẩn chủ quan của nhà đầu tư

2.2 Các lý thuyết nền liên quan đến tính minh bạch TTTC và hành vi ra quyết định của nhà đầu tư

2.2.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng

Người đầu tiên giới thiệu về lý thuyết bất cân xứng thông tin là G.A Akerlot (1970) Trong bài viết có tiêu đề “Thị trường những quả chanh”, ông đã chứng minh rằng thông tin bất cân xứng có thể gây ra lựa chọn đối nghịch trên thị trường

Ví dụ điển hình là thị trường ô-tô cũ, Akerlot đã dùng từ “Vỏ chanh” (Lemons) để chỉ những chiếc xe cũ có chất lượng kém Trong nghiên cứu thị trường ô tô cũ, Akerlot cho rằng người bán biết nhiều thông tin về chất lượng sản phẩm hơn những người mua Người bán biết rõ chất lượng xe của mình và luôn muốn bán với giá cao như xe có chất lượng tốt Người mua mua phải những chiếc xe chất lượng thấp

Trang 35

với giá cao Hệ quả là những người mua sau có xu hướng trả giá thấp cho những chiếc xe cũ trong thị trường này và những người bán có xe cũ chất lượng tốt sẽ không bán được giá cao và sẽ rút khỏi thị trường Cuối cùng thị trường sẽ chỉ còn lại những chiếc xe có chất lượng kém Điều này xảy ra là do rủi ro lựa chọn đối nghịch hệ quả của bất cân xứng thông tin

Ngoài ra theo quan điểm của Kyle (1985) thì thông tin bất cân xứng trên TTCK xảy ra khi một hoặc nhiều nhà đầu tư trên TTCK sở hữu được thông tin riêng hoặc có được nhiều thông tin hơn về một công ty so với các nhà đầu tư còn lại hay nói cách khác hiện tượng thông tin bất cân xứng trên thị trường xuất hiện khi người mua và người bán có các thông tin khác nhau, trong đó một trong hai bên trong mối quan hệ này sẽ có nhiều thông tin hơn bên còn lại

Cụ thể trên TTCK hiện tượng bất cân xứng thông tin xảy ra khi một hoặc nhiều nhà đầu tư sở hữu thông tin riêng lẻ hoặc có nhiều thông tin đại chúng hơn về một công ty Hay khi nhà quản lý doanh nghiệp có nhiều thông tin hơn so với nhà đầu tư Một số biểu hiện về bất cân xứng thông tin trên TTCK mà chúng ta có thể thấy trên thực tế như: tung tin đồn thất thiệt về doanh nghiệp, rò rỉ thông tin nội gián, tạo cung cầu ảo trên thị trường, cung cấp thông tin sai sự thật khiến cho thông tin mà nhà đầu tư nhận được là không giống nhau (ví dụ thông tin không đầy

đủ, không kịp thời, không xác thực ) điều đó tạo ra rủi ro cho phía nhà đầu tư nắm giữ ít thông tin hơn

Bất cân xứng thông tin tác động đến nhà đầu tư: bất cân xứng thông tin khiến cho giá cổ phiếu không phản ánh đúng giá trị thực của nó Nên những nhà đầu tư có nhiều thông tin (cổ đông chiến lược, cổ đông lớn ) sẽ thu lợi nhiều hơn

so với những nhà đầu tư có ít thông tin (cổ đông thiểu số) Việc rò rỉ thông tin khi đấu giá cổ phiếu là một ví dụ điển hình Khi đấu giá cổ phiếu lần đầu Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) phải công bố các thông tin liên quan đến cuộc đấu giá đó (tổng số nhà đầu tư tham gia, tổng số cổ phiếu đặt mua) nhưng không công bố cụ thể thông tin có ảnh hưởng lớn đến giá cổ phiếu (số lượng nhà đầu tư tổ chức, nhà đầu tư nước ngoài, số lượng cổ phiếu họ đặt mua) Đối với những thông

Trang 36

tin này mặc dù không được TTGDCK công bố nhưng lại bị rò rỉ, tiết lộ cho một nhóm riêng lẻ Và nhóm này đã tính toán đưa ra được mức giá hợp lý để bỏ thầu, hưởng lợi ích nhiều hơn so với nhóm nhà đầu tư còn lại

Bất cân xứng thông tin tác động đến doanh nghiệp: Bất cân xứng thông tin xảy ra giữa nhà quản lý doanh nghiệp với nhà đầu tư Vì mong muốn tạo dựng hình ảnh đẹp, các CTNY đã cố tình che giấu những thông tin quan trọng về tình hình hoạt động công ty, hay công bố không kịp thời, công bố sai thông tin, hay tung tin đồn làm ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư, đặc biệt là đối với nhà đầu tư ít kinh nghiệm Tình trạng chênh lệch số liệu lợi nhuận của doanh nghiệp niêm yết trước

và sau kiểm toán hiện nay là một minh chứng cụ thể Chính những điều đó đã đánh mất đi niềm tin của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp Khi nhà đầu tư thay đổi sản phẩm đầu tư, kênh đầu tư… sẽ dẫn đến tình trạng doanh nghiệp thiếu vốn để hoạt động, bắt buộc doanh nghiệp phải đi vay ngân hàng làm tăng chi phí lãi vay…

Tương tự việc thông tin bất cân xứng tác động đến nhà đầu tư, các CTNY – các thành phần chính trên TTCK chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến TTCK không thể hoạt động lâu dài và ổn định được

Theo Spence (1973) có thể hạn chế tình trạng thông tin bất cân xứng trên TTCK thông qua phương pháp cơ chế phát tín hiệu (signaling) Theo đó bên có nhiều thông tin có thể phát tín hiệu một cách trung thực và tin cậy đến những bên ít thông tin

Tóm lại, Lý thuyết thông tin bất cân xứng được sử dụng để lý giải về việc phát tín hiệu ra thị trường hay tăng cường CBTT tốt để giúp nhà đầu tư phân biệt chứng khoán tốt và xấu của các CTNY Lý thuyết thông tin bất cân xứng góp phần giải thích cho những ảnh hưởng của nhận thức nhà đầu tư về ba yếu tố (minh bạch thông tin cấu trúc quyền sở hữu vốn; minh bạch công bố TTTC và minh bạch cấu trúc hoạt động HĐQT, BGĐ) đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK trong các giả thuyết ở chương 3

2.2.2 Lý thuyết người đại diện

Trang 37

Lý thuyết người đại diện ra đời vào đầu những năm 1970 khi các nhà kinh tế nghiên cứu việc phân chia rủi ro giữa người ủy quyền và người đại diện do họ có mục tiêu và sự phân công lao động khác nhau Người uỷ quyền (chủ sở hữu) giao phó công việc cho người đại diện thông qua một hợp đồng Những vấn đề mà Lý thuyết người đại diện nghiên cứu chỉ xuất hiện khi lợi ích của người ủy quyền và người đại diện khác nhau đặc biệt là khi giữa họ có tồn tại hiện tượng thông tin không hoàn hảo hay thông tin bất cân xứng điều đó dẫn đến hành vi cơ hội cho người đại diện

Lý thuyết này cho rằng cả hai bên trong mối quan hệ này đều luôn muốn tối

đa hóa lợi ích của mình nên người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích của người chủ, cổ đông Sự xung đột này xảy ra khi xuất hiện sự bất cân xứng thông tin giữa người chủ và người đại diện Nhằm hạn chế sự xung đột lợi ích này cần sử dụng một số cơ chế kiểm soát thích hợp như: thiết lập cơ chế đãi ngộ thỏa đáng cho nhà quản lý, xây dựng cơ chế kiểm soát ngăn chặn những hành vi bất thường của họ Việc thiết lập những cơ chế như thế sẽ nảy sinh ra những chi phí đại diện cụ thể như: chi phí giám sát, chi phí ràng buộc và chi phí khác

Trên TTCK, các CTNY có sự tách bạch riêng biệt giữa quyền sở hữu và quản lý Xu hướng hiện nay là các chủ sở hữu sẽ thuê một giám đốc làm đại diện cho họ để điều hành hoạt động công ty Theo lý thuyết này thì cả hai bên trong mối quan hệ này đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình Đối với người chủ sở hữu, họ luôn mong muốn nhà quản lý điều hành hoạt động công ty nhằm gia tăng lợi ích, tối đa hoá giá trị tài sản của công ty, gia tăng cổ tức cho họ thì ngược lại những nhà quản lý, họ cũng có những lợi ích, những tham vọng cá nhân riêng nên họ có thể trực tiếp quyết định hay ngụy tạo ra các lý do khiến cho các chủ sở hữu không thực hiện đầu tư vào những dự án có tỷ suất sinh lợi cao vì tâm lý e ngại rủi ro, hoặc quyết định đầu tư vào những dự án không đem lại lợi nhuận tối ưu cho công ty nhưng lại đem lại lợi nhuận cho riêng họ Nhằm hạn chế hành vi trục lợi đó, chủ sở hữu sẽ phải gia tăng hoạt động giám sát dẫn đến việc gia tăng chi phí đại diện Cụ thể như chi phí: Cung cấp báo cáo định kỳ, tăng kiểm tra, giám sát…

Trang 38

Lý thuyết người đại diện thường được sử dụng để giải thích việc minh bạch thông tin hay gia tăng việc thuyết minh tự nguyện của người điều hành công ty Hành vi của người đại diện (nhà quản lý) trong vấn đề gia tăng mức độ CBTT hay minh bạch thông tin khi xem xét và cân nhắc giữa lợi ích và chi phí cho việc CBTT Khi hợp đồng giữa chủ sở hữu và nhà quản lý đạt hiệu quả, lợi ích của nhà quản lý được đảm bảo, họ sẽ hành động hoàn toàn vì lợi ích của chủ sở hữu, tăng cường sự minh bạch thông tin phục vụ cho lợi ích của chủ sở hữu Ngoài ra lý thuyết người đại diện còn góp phần giải thích cho ảnh hưởng của nhân tố CBTT tài chính và nhân tố cấu trúc hoạt động HĐQT, BGĐ đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK Việt Nam trong các giả thuyết ở chương 3

2.2.3 Lý thuyết tiết kiệm chi phí thông tin

Ngày nay với sự phát triển của khoa học công nghệ đi đôi với việc mở rộng quy mô công ty, đầu tư dây chuyền sản xuất thì nhu cầu về việc thu hút vốn đầu

tư được xem là một trong những giải pháp mang tính sống còn của doanh nghiệp

Do đó việc tăng cường tìm kiếm các nguồn lực kinh tế từ bên ngoài là điều khó tránh khỏi đối với mỗi doanh nghiệp Tuy nhiên để có thể thu hút vốn từ các đối tượng bên ngoài, thì các doanh nghiệp cần phải gia tăng việc CBTT, thông tin càng minh bạch thì càng thu hút được sự quan tâm từ nhà đầu tư, càng tạo được niềm tin đối với nhà đầu tư Việc gia tăng cung cấp thông tin, minh bạch TTTC đồng nghĩa với việc phải chi ra một khoản chi phí không hề nhỏ nhằm hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán từ khâu thu thập, xử cũng như trình bày và CBTT Do đó doanh nghiệp cần xem xét và cân nhắc mối quan hệ giữa lợi ích thu về và chi phí bỏ ra cho quá trình CBTT nhằm đảm bảo cho lợi ích của doanh nghiệp

Hành vi của nhà đầu tư trên TTCK được giải thích bởi lý thuyết tiết kiệm chi phí thông tin Cụ thể các CTNY tại Việt Nam luôn cân nhắc giữa chi phí và lợi ích trong việc CBTT Bởi vì việc lập và trình bày BCTC để cung cấp thông tin minh bạch chắc chắn sẽ dẫn đến tăng thêm chi phí cho công việc kế toán tại các doanh nghiệp Thêm vào đó việc xây dựng và thiết kế hệ thống ghi nhận, kiểm soát, quản

lý nguồn thông tin để phục vụ cho việc lập và trình bày BCTC cũng góp phần làm

Trang 39

tăng chi phí cho doanh nghiệp Như vậy, minh bạch TTTC đến đâu và minh bạch như thế nào là một câu hỏi lớn đối với CTNY Sự phù hợp giữa lợi ích - chi phí là việc mà các CTNY phải cân đối khi tăng cường sự minh bạch TTTC

Lý thuyết tiết kiệm chi phí thông tin được sử dụng để giải thích về việc cân bằng lợi ích và chi phí khi tăng cường sự minh bạch của các CTNY Lý thuyết tiết kiệm chi phí thông tin góp phần gián tiếp trong việc giải thích ảnh hưởng của nhân

tố CBTT tài chính và minh bạch cấu trúc, hoạt động HĐQT, BGĐ đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK Việt Nam trong các giả thuyết ở chương 3

2.2.4 Lý thuyết hành động hợp lý

Lý thuyết hành động hợp lý được Ajzen và Fishbein đưa ra từ năm 1975 cho rằng yếu tố quyết định hành vi con người là ý định thực hiện hành vi đó Ý định thực hiện hành vi được quyết định bởi hai nhân tố: thái độ của một người về hành

vi (thái độ) và tiêu chuẩn chủ quan liên quan đến hành vi (tiêu chuẩn chủ quan) Thái độ của cá nhân được đo lường bằng niềm tin và sự đánh giá đối với kết quả hành vi đó Còn tiêu chuẩn chủ quan là nhận thức của những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng cá nhân đó nên thực hiện hay không thực hiện hành vi đó

Tác giả Hsiu JF (2006) đã dùng lý thuyết hành động hợp lý để dự đoán những ý định hành vi con người Lý thuyết này kết hợp các hệ thống thuộc sinh lý, tâm lý và hành vi với vai trò lý thuyết Mô hình lý thuyết hành động hợp lý giải thích việc con người tổ chức những hành vi của mình bởi những ý định (những quyết định ban đầu trong suy nghĩ) và chuyển đổi ý định đó thành hành động Khi con người nhận được thông tin có liên quan tới những ý định của mình thì họ sẽ thay đổi quyết định đó và sẽ phản ánh trong những hành động của họ

Ủng hộ với kết quả này, Uddin và Gillent (2002) tiếp tục bổ sung thêm bằng chứng Nhóm tác giả cho rằng những quy định QTCT, hiệu quả hoạt động, cơ cấu lương sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến ý định và hành động nhà đầu tư Thái độ của công

ty và nhà đầu tư được kỳ vọng có tương quan mạnh mẽ với nhau Thái độ công ty

Trang 40

tích cực sẽ thúc đẩy tác động trực tiếp tới thái độ nhà đầu tư cũng như ảnh hưởng đến hành vi của họ trên TTCK Ngược lại, thái độ công ty tiêu cực sẽ làm nhà đầu

tư thận trọng xem xét lại chứng khoán của công ty đó trong danh mục đầu tư của mình

Hành vi của nhà đầu tư trên TTCK được giải thích bởi lý thuyết hành động hợp lý Cụ thể, hành vi của nhà đầu tư trên TTCK chịu sự chi phối bởi hai nhân tố

là thái độ và tiêu chuẩn chủ quan của nhà đầu tư Trong đó, yếu tố thái độ thể hiện qua nhận thức của nhà đầu tư về tính minh bạch TTTC, như tình hình cấu trúc quyền sở hữu vốn; thông tin tình hình kinh doanh; cấu trúc, hoạt động của HĐQT, BGĐ Tiêu chuẩn chủ quan bao gồm nhận định của các chuyên gia tư vấn, nhà môi giới chứng khoán, người thân, bạn bè Chẳng hạn, khi nhà đầu tư nhận thức mức

độ minh bạch TTTC của công ty mình quan tâm là tốt (thể hiện qua các chỉ số tài chính trên BCTC, khả năng sinh lời, chính sách trả cổ tức bằng tiền mặt cao, ổn định ) cũng như theo các nhận định của các chuyên gia tư vấn, môi giới chứng khoán, người thân, bạn bè cho rằng họ nên đầu tư Các nhà đầu tư kỳ vọng công

ty mình quan tâm có khả năng sinh lời và tăng trưởng trong tương lai thì họ sẽ có ý định hành vi đầu tư vào công ty đó cao hơn

Lý thuyết hành động hợp lý góp phần giải thích nhận thức nhà đầu tư về minh bạch TTTC đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên TTCK Việt Nam

Kết luận chương 2

Chương 2 đã trình bày khái niệm minh bạch thông tin, khái niệm hành vi nhà đầu tư cá nhân, các văn bản pháp quy liên quan đến quy định CBTT trên TTCK, và các lý thuyết liên quan đến minh bạch TTTC, hành vi ra quyết định của nhà đầu tư Từ những lý thuyết nền này, luận văn tiến hành xây dựng khung phân tích nghiên cứu ở chương tiếp theo

Ngày đăng: 31/07/2017, 14:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất - Ảnh hưởng của minh bạch thông tin tài chính đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 3.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất (Trang 46)
Hình 3.3. Thuyết hành động hợp lý - Ảnh hưởng của minh bạch thông tin tài chính đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Hình 3.3. Thuyết hành động hợp lý (Trang 47)
Bảng 3.1. Thang đo hành vi nhà đầu tư cá nhân - Ảnh hưởng của minh bạch thông tin tài chính đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 3.1. Thang đo hành vi nhà đầu tư cá nhân (Trang 54)
Bảng 3.3. Thang đo CBTT tài chính - Ảnh hưởng của minh bạch thông tin tài chính đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 3.3. Thang đo CBTT tài chính (Trang 58)
Bảng câu hỏi được xây dựng dựa trên hai giai đoạn: - Ảnh hưởng của minh bạch thông tin tài chính đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng c âu hỏi được xây dựng dựa trên hai giai đoạn: (Trang 60)
Bảng 4.1. Thống kê mẫu quan sát - Ảnh hưởng của minh bạch thông tin tài chính đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.1. Thống kê mẫu quan sát (Trang 65)
Bảng 4.4. Kiểm định mức độ giải thích của các biến quan sát đối với các nhân tố đại - Ảnh hưởng của minh bạch thông tin tài chính đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.4. Kiểm định mức độ giải thích của các biến quan sát đối với các nhân tố đại (Trang 70)
Bảng 4.5. Ma trận xoay nhân tố - Ảnh hưởng của minh bạch thông tin tài chính đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.5. Ma trận xoay nhân tố (Trang 71)
Bảng 4.8. Tóm tắt kết quả kiểm định thang đo lần 2 - Ảnh hưởng của minh bạch thông tin tài chính đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.8. Tóm tắt kết quả kiểm định thang đo lần 2 (Trang 74)
Bảng 4.7. Kiểm định mức độ giải thích của các biến quan sát đối với các - Ảnh hưởng của minh bạch thông tin tài chính đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.7. Kiểm định mức độ giải thích của các biến quan sát đối với các (Trang 74)
Bảng 4.9. Ma trận tương quan Pearson - Ảnh hưởng của minh bạch thông tin tài chính đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.9. Ma trận tương quan Pearson (Trang 76)
Bảng 4.12. Kiểm định đa cộng tuyến mô hình - Ảnh hưởng của minh bạch thông tin tài chính đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.12. Kiểm định đa cộng tuyến mô hình (Trang 79)
Bảng 4.11. Kiểm định độ phù hợp của mô hình (Anova) - Ảnh hưởng của minh bạch thông tin tài chính đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.11. Kiểm định độ phù hợp của mô hình (Anova) (Trang 79)
Bảng 4.13: Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu theo các biến quan sát - Ảnh hưởng của minh bạch thông tin tài chính đến hành vi ra quyết định của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán việt nam
Bảng 4.13 Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu theo các biến quan sát (Trang 81)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w