1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

THÔNG TIN về CHỦ TRƯƠNG tự PHONG GIÁO sư PHÓ GIÁO sư của TRƯỜNG đại học tôn đức THẮNG TRÊN báo NHÂN dân

34 312 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ KHOA BÁO CHÍ – TRUYỀN THÔNG ------NIÊN LUẬN ĐỀ TÀI: THÔNG TIN VỀ CHỦ TRƯƠNG TỰ PHONG GIÁO SƯ - PHÓ GIÁO SƯ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG TRÊN BÁO NHÂ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUẾ KHOA BÁO CHÍ – TRUYỀN THÔNG

- -NIÊN LUẬN

ĐỀ TÀI:

THÔNG TIN VỀ CHỦ TRƯƠNG TỰ PHONG GIÁO

SƯ - PHÓ GIÁO SƯ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN

ĐỨC THẮNG TRÊN BÁO NHÂN DÂN

Giáo viên hướng dẫn : Đinh Khắc Quỳnh Giang

Sinh viên thực hiên : Vũ Trường Vinh

Huế, tháng 4 năm 2017

Trang 2

Lời Cảm Ơn

Để hoàn thành được niên luận này, tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ của mọi người Chính vì vậy, trước khi đi vào niên luận, đầu tiên tôi muốn gửi lời cảm ơn.

Xin được bày tỏ lòng cảm ơn đến cô, người đã nhiệt tình giúp đỡ để tôi có thể hoàn thanh được niên luận này.

Xin trân trọng cảm ơn các thầy cô, những người đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp tôi trong việc thu thập tài liệu, những thông tin có liên quan và cần thiết đến đề tài.

Cuối cùng tôi muốn gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện niên luận

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Mục đích, ý nghĩa đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1

2.1 Ở Việt Nam 1

2.2 Trên thế giới 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu đề tài 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TIÊU CHUẨN PHONG GIÁO SƯ - PHÓ GIÁO SƯ 5

1.1 Sơ lược về maket báo in và các yếu tố cấu thành 5

1.2 Khái niệm về thông tin 9

1.3 Sơ lược về tiêu chuẩn Giáo sư - Phó Giáo sư 10

1.3.1 Khái niệm về Giáo sư - Phó Giáo sư 10

1.3.2 Tiêu chuẩn Giáo sư, Phó Giáo sư 13

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN TRONG CHỦ TRƯƠNG TỰ PHONG GIÁO SƯ - PHÓ GIÁO SƯ CỦA ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG TRÊN BÁO NHÂN DÂN 16

2.1 Khái quát về báo Nhân dân 16

2.2 Vài nét về ĐH Tôn Đức Thắng 17

2.3 Thực tiễn về chủ trương tự phong Giáo sư – PGS của Đại học Tôn Đức Thắng trên báo Nhân dân 19

3 Ưu điểm và hạn chế của chủ trương tự phong Giáo sư – PGS của Đại học Tôn Đức Thắng trên báo Nhân dân 24

4 Một số kiến nghị và giải pháp 27

KẾT LUẬN 29

TÀI LIỆU THAM KHẢO 31

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Mục đích, ý nghĩa đề tài.

Giáo sư, Phó Giáo sư là các chức danh của nhà giáo đang giảng dạy, đàotạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới

Đó là chức danh khoa học cao nhất của nhà giáo

Xã hội không ngừng vận động, vì thế luôn tồn tại những vấn đề xung quanh

nó Nhưng dù là tích cực hay tiêu cực thì nó vẫn luôn là một phần của cuộc sống.Bất kì một vấn đề nào trong xã hội đều tồn tại hai mặt của nó, và tất nhiên giữa hairanh giới đó luôn có những ý kiến trái chiều nhau Sự việc nào cũng có nguyênnhân của nó, và nếu muốn tìm hiểu đúng về nó chúng ta phải đi sâu vào vấn đề đó

Do đó, việc lựa chọn đề tài “Thông tin về chủ trương tự phong Giáo sư - Phó Giáo

sư của Đại học Tôn Đức Thắng trên báo Nhân dân” sẽ góp phần đi sâu tìm hiểu,phân tích và làm rõ các vấn đề mang tính chung nhất và riêng biệt của sự việc trongnăm 2015, thông qua khảo sát thực tiễn trên báo Nhân dân trong 4 tháng cuôi năm

2015 Qua đó cung cấp thêm thông tin, tư liệu mang tính lý luận kết hợp thực tiễncho việc tìm hiểu, nghiên cứu và làm rõ sâu hơn về đề tài này trong tương lai

Từ năm 1976, ở Việt Nam đã chủ trương đào tạo trên đại học trong cảnước Một số trường, cơ sở đào tạo lớn bắt đầu đào tạo phó Tiến sĩ (nay là Tiếnsĩ) là mốc đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của nền giáo dục đại học ở ViệtNam Để đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực bậc cao Nhà nước Việt Nam chủtrương phong hàm giáo sư, phó giáo sư cho đội ngũ nhà giáo và các nhà khoahọc Điều này có ý nghĩa lớn đối với sự nghiệp đào tạo sau đại học

Trang 5

Tuy nhiên có nhiều ý kiến của các giáo sư cho là chức danh giáo sư cầnđược cải cách theo tiêu chuẩn quốc tế.

Ngày 11 tháng 9 năm 1976, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 162/CP

về việc phong hàm giáo sư, phó giáo sư cho 29 nhà giáo, nhà khoa học tiêu biểu.Sau đợt phong hàm giáo sư đầu tiên, Chính phủ đã tổ chức xét và côngnhận học hàm Giáo sư Phó Giáo sư nhiều đợt vào các năm:

1980, 1984, 1988, 1991 và 1996 Trong các đợt này, gần 4000 nhà giáo vànhà khoa học đã được phong hàm giáo sư, phó giáo sư

Một người sẽ được xét chức danh Giáo sư khi đạt một số tiêu chuẩn về nghiêncứu, hướng dẫn, và giảng dạy Người đó sẽ phải làm hồ sơ nộp lên Hội đồng Chứcdanh giáo sư Nhà nước Sau đó hội đồng sẽ thẩm định hồ sơ, phỏng vấn các ứngviên và quyết định có phong hay không qua hình thức bỏ phiếu kín lấy đa số

2.2 Trên thế giới.

Ở nhiều nước trên thế giới, các luận án TS phải có mặt ít nhất một GS quốc

tế trong hội đồng chấm luận án Nếu người chấm luận án đó không về nước đượcthì cũng phải thẩm định được bằng cách gửi luận văn qua internet để họ thẩmđịnh rồi gởi nội dung thẩm định về Và ít nhất cũng phải có hai giáo sư tham giahội đồng chấm luận án, tuy nhiên thì họ phải là những người không xuất phát từtrường của nghiên cứu sinh để có thể bảo đảm tính khách quan Đồng thời, luận

án đó phải được công bố trước và sau khi trình bày để mọi người cho ý kiến Nhưvậy, hễ có quay cóp thì sẽ phát hiện nhanh chóng Chúng ta cũng cần quốc tế hoáhội đồng tuyển chọn GS Không cần phải ở cấp Bộ, cấp các trường Đại học vẫn

có thể trực tiếp tuyển chọn GS Vấn đề là phải công khai quá trình tuyển chọn Hồ

sơ các ứng viên phải được công bố và việc xếp hạng các ứng viên phải dành cho

cơ sở bao gồm những nhà chuyên môn của lĩnh vực tuyển chọn Hội đồng tuyểnchọn cũng phải có mặt những nhà khoa học được quốc tế công nhận Dĩ nhiên làtiêu chuẩn tuyển chọn phải thật khách quan và minh bạch.Thậm chí các chứcdanh trong trường cũng được bỏ phiếu chứ không phải chỉ định Cứ sau mỗinhiệm kỳ, hội đồng các giáo sư chính thức sẽ bầu hiệu trưởng, phó hiệu trưởng…

Trang 6

Hội đồng gồm đại diện các giáo sư, giảng viên, công nhân viên và sinh viên sẽbầu ra hội đồng quản trị của trường, cơ quan quyền lực cao nhất do hiệu trưởnglàm chủ tịch Tất cả từ dưới lên, bầu cử nghiêm túc, bỏ phiếu kín để chọn ra lãnhđạo một cách rất dân chủ Trong hội đồng quản trị luôn có mặt một thành viênchính phủ tham gia với tư cách một thanh tra, không tham gia quyết định nhưng

có nhiệm vụ nói lên ý kiến của chính phủ về những phán quyết hệ trọng, chẳnghạn về ngân sách hằng năm của trường mà nhà nước bao cấp 90% Ngoài raquyền tự do học thuật tại đại học là phải tuyệt đối tôn trọng Sự bổ nhiệm cácthành viên luôn dựa theo sự chọn lựa của hội đồng chuyên gia quốc tế tham dự.Các GS, PGS có quyền soạn giáo trình riêng cho mình để giảng dạy môn đó BộGiáo dục chỉ ban bố chương trình khung cho từng ngành, áp dụng cho tất cả cáctrường Trường có quyền đề đạt các ngành mới, các môn dạy mới nhưng phải tôntrọng khung thời gian tối thiểu cho phép

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

3.1 Đối tượng nghiên cứu.

Niên luận với đề tài “Thông tin về chủ trương tự phong Giáo sư - Phó Giáo

sư của Đại học Tôn Đức Thắng trên báo Nhân dân” chú trọng đi sâu, tập trung

vào tìm hiểu nghiên cứu đối tượng chính là chủ trương tự phong Giáo sư PhóGiáo sư của Đại học Tôn Đức Thắng trên báo Nhân dân

3.2 Phạm vi nghiên cứu.

Khảo sát thông tin về chủ trương tự phong Giáo sư - Phó Giáo sư của Đại

học Tôn Đức Thắng trên báo Nhân dân” 4 tháng cuối năm 2015.

4 Phương pháp nghiên cứu.

Dựa trên hệ thống thư liệu về báo Nhân dân hàng ngày trong 4 tháng cuối

năm 2015, chúng tôi đã khảo sát và thống kê các số liệu cụ thể về tần suất sửdụng và các dạng thức thể hiện thông tin tự phong Giáo sư, Phó Giáo sư trên tờbáo một cách có hệ thống, từ đó có sự phân tích, đánh giá về thông tin đó trên

báo Nhân dân.

Trang 7

5 Kết cấu đề tài.

Ngoài phần mở đầu và kết luận, niên luận triển khai thành 2 chương:

Chương 1: Khái quát về tiêu chuẩn phong Giáo sư - Phó Giáo sư.

Chương 2:Thực tiễn trong chủ trương tự phong Giáo sư - Phó Giáo sư của

Đại học Tôn Đức Thắng trên báo Nhân dân

Trang 8

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TIÊU CHUẨN PHONG GIÁO SƯ - PHÓ GIÁO SƯ

1.1 Sơ lược về maket báo in và các yếu tố cấu thành.

heo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Maket báo là bản phát thảo cáchsắp đặt, trình bày bài, tin, ảnh trên các trang báo; có định rõ vị trí, số cột, chiềucao; có ghi kiểu chữ dành cho bài, tin và cho các tiêu đề chính và phụ, nếu bài,tin dài không được đăng trọn trong trang thì ghi phần tiếp theo được đăng ởtrang nào

Thạc sĩ Hà Huy Phương trong cuốn: “Tổ chức nội dung và thiết kế, trìnhbày báo in” cho rằng: “ Thiết kế, trình bày báo, tạp chí là việc tổ chức, sắp xếp,

bố trí các yếu tố nội dung( bao gồm tin, bài, tranh, ảnh, thông tin đồ họa, hộp dữliệu, trích dẫn, quảng cáo… ) trên một trang báo, số báo, tạp chí đảm bảo đạtyêu cầu về tính chính trị- thời sự, khoa học- tiện ích, nghệ thuật nhằm thu hútđộc giả tiếp nhận nội dung trang báo, số báo, tạp chí đó qua hình thức

Tóm lại: Thiết kế và trình bàu maket báo in là thao tác xắp sếp các yếu tốnội dung và hình thức trên một trang báo, số báo theo những ý đồ và mục đíchnhất định đề đạt được hiệu quả báo chí cao nhất

Maket báo in được cấu thành từ hai bộ phận nội dung và hình thức củatrang báo, số báo

Các yếu tố nội dung bao gồm: tin, bài, ảnh, minh họa, trích dẫn, hộp dữ liệuthông tin, thông tin đồ họa

- Tin.

Đây là thể loại xung kích, mũi nhọn trên một tờ báo, thường chiếm 40- 50%nội dung số báo, do vậy thường được ưu tiên, sử dụng nhiều, đặc biệt với nhất tờbáo xuất bản nhanh kỳ Cũng chính vì thế mà tin thường được đưa lên những vị tríthu hút thị giác của độc giả Tin thường có số lượng chữ ít, chiếm diện tích nhỏ nên

dễ sắp đặt, di chuyển, chèn lấp chổ trống và tạo ra các mảng khối phụ trợ làm cho

Trang 9

bố cục sinh động Sự kiện trong tin thường là các sự kiện mới, mang tính phổ biến,mang tính khách quan, ngắn gọn, dễ hiểu Tin được phân định trong từng trang báo

đề định hình khu vực thông tin mang lại sự tiện ích khi tra cứu thông tin cho độcgiả Khi tổ chức nội dung, người ta thường phân loại theo thứ tự qan trọng của cáctrang trong một số báo Các trang bên trong của một tờ báo thường dùng tin theochuyên mục, phục vụ chủ đề chính của tờ báo Chú ý đề tin ở những vị trí dề nhìn,đứng được độc lập, không bị bài và ảnh “nuốt” mất Tin thường ngắn gọn, cô đọng,

có sự quy định về số chữ tối đa và tối thiểu Với báo in hiện đại, tin được thể hiệndưới nhiều dạng thức khác nhau như chữ viết, hình ảnh…

để định hình trọng tâm số báo, đây cũng chính là xu hướng trình bày báo chí hiệnđại Tít của bài thường phải ngắn gọn, đặt ở vị trí dễ nhận diện, dễ đọc, đối với bàidài thì thường phải sử dụng nhiều loại tít Một tờ báo cần xác định một đến hai thểloại thế mạnh và duy trì ổn định cách trình bày nhằm tạo bản sắc và phong cáchriêng đề thu hút độc giả Những bài dài thường sử dụng kèm ảnh minh họa, cácdạng thức thông tin phụ trợ hoặc cắt thành các bài ngắn

- Ảnh.

Ảnh là trung tâm thị giác của trang báo, là sự tập hợp đường nét, hình khối,màu sắc, ánh sáng để tạo những mảng khối sinh động, thu hút sự chú ý của độcgiả và có thể khiến người ta đọc báo Ảnh thường có ba cách dùng: ảnh bìa, ảnhgiải thích thông tin và ảnh minh họa Ảnh sử dụng trên báo có nội dung thông

Trang 10

tin diễn tả thời sự, khách quan, chân thực các sự kiện và đạt yêu cầu chất lượng

về kĩ thuật, nghệ thuật Báo chí chọn những bức ảnh có bố cục và chú thích rõràng, tình cảm, ảnh động để sử dụng, phù hợp với nhận thức của đông đảo bạnđọc Ngoài ra, phải đảm bảo yêu cầu về giá trị nội dung thông tin, nghệ thuật vàchất lượng kĩ thuật Mỗi bức ảnh phải có sự hài hòa, cân đối về bố cục, nội dungđộc đáo để thu hút bạn đọc

- Minh họa.

Minh họa là những bức vẽ thâu tóm nội dung tác phẩm báo chí, thể hiện ý

đồ, tư tưởng của người vẽ về một vấn đề nhất định nhằm tác động đến thị giácđộc giả, đem lại sự thây đổi trong ấn tượng tiếp nhận của bạn đọc Minh họa còn

có thể thay thế ảnh trong những trường hợp khó, hoặc không thể sử dụng ảnh

Nó thể hiện được cá tính, phong cách của cá nhân qua nét vẽ, cách vẽ, nội dung,tạo nét riêng cho tờ báo Minh họa cần xuất phát từ những ý tưởng sâu sắc, cótính cách riêng, phù hợp với mục đích, nội dung thông tin và có sự tương đồng

về phong cách giữa các họa sĩ trong tờ báo

- Trích dẫn.

Trích dẫn cũng là yếu tố quan trọng khi thể hiện, trình bày một tờ báo, trangbáo Chi tiết để lựa chọn để trích dẫn thường là chi tiết “đắt”, được chọn lọc kĩlưỡng, có tác dụng tạo điểm nhấn cho bài báo, trang báo,, làm trang báo sinh động,gây ứng tượng, thu hút độc giả Trích dẫn được phân thành hai dạng, dạng thứ nhất

là trích dẫn các chi tiết, số liệu, sự kiện độc lập với các dạng thức thông tin kháctrên mặt báo, dạng thứ hai là dạng trích dẫn các chi tiết tiêu biểu trong bài báo,nhưng trên hết, trích dẫn phải “đắt”, ngắn gọn và không nên quá lạm dụng

- Hộp dữ liệu thông tin.

Hộp dữ liệu thông tin cung cấp những số liệu, con số chọn lọc, tiêu biểu cóliên quan, bổ trợ nội dung cho một bài báo hoặc trang báo hay số báo Nội dungcủa hộp dữ liệu phải phù hợp với chủ đề của trang báo, bài báo Hộp dữ liệu cầnđược trình bày đơn giản, ấn tượng, dùng khung nền màu có kiểu chữ riêng, hìnhthức thống nhất và duy trì ổn định như một chuyên mục cho tất cả các số báo

Trang 11

- Giấy in và khổ báo.

Giấy in báo là một trong những yếu tố quan trọng đề định hình sản phẩmbáo in Khổ báo là thành phần quan trọng góp phần hình thành hình thức, phongcách tờ báo Khổ báo phải cố định để ổn định phong cách trình bày cho tờ báo.Khổ báo gồm hai phần, đó là phần lề và phần đặt chữ in thành các cột Một khổbáo phải phù hợp với dung lượng thông tin mà tờ báo chuyển tải, đáp ứng đượchiệu quả kinh tế trong in ứng và mang lại sự tiện ích cho độc giả Thông thườngcác tòa soạn dùng khổ A3 hoặc A4

- Chữ in báo

Chữ là một yếu tố quan trọng cấu thành tờ báo, là ngôn ngữ biểu hiện đặtthù của loại hình báo in Mỗi tờ báo phải xây dựng một biểu mẫu chuẩn vê trìnhbày chữ để tạo sự đồng bộ trong phong cách và tiết kiệm thười gian trình bày.Chữ in báo gầm hai loại: chữ tít và chữ chính văn Chữ tít là yếu tố quan trọng,thu hút sự chú ý của độc giả Chữ tít bao gồm tít đầu, tít chính, tít phụ, tít xen, títdẫn Chữ tít nên dùng từ 1-2 kiểu chữ và từ 3-4 cỡ chữ, nên in thường và khôngnên lạm dụng chữ in hoa, cũng như không nên dùng quá nhiều màu chữ trên mộttít, đặc biết, tít phải dễ đọc, nổi bật, có sự tách biệt với phần chính văn để tránh

bị nuốt Chữ chính văn là chữ in thể hiện nội dung tin, bài, thường cố định mộtkiểu chữ, cỡ chữ, kiểu chữ đơn giản, dễ đọc, in thường, in thẳng Nó là một yếu

tố định hình phong cách tờ báo

Trang 12

- Màu sắc

Màu sắc tác động đến thị giác rất lớn, giúp tạo nên phong cách tờ báo Tất

cả các yếu tố hình thức khác đều có sự tham gia của màu sắc Màu sắc giúp tạonên sự đồng bộ và là một yếu tố giúp nhận biết tờ báo Màu sắc thường dùngcho các yếu tố hình thức hỗ trợ, riêng chữ vẫn in đen trắng Việc lựa chọn màusắc cần chú ý đến tính chất, đối tượng của tờ báo, sự nhận thức, quan niệm hoặcbản sắc văn hóa của từng vùng miền

Ngoài những yếu tố vừa nêu trên, các yếu tố hình thức trong trình bàymaket báo in còn bao gồm: ảnh, minh họa, thông tin đồ họa, đường ranh giới,khung, nền, biểu tượng tờ báo

1.2 Khái niệm về thông tin.

Trong quá trình phát triển của lịch sử lý luận, cho đến nay đã có rất nhiềukhái niệm về thông tin

Thông tin (tiếng Anh là Information) qua phân tích khái niệm thông tin cóthể hiểu theo hai hướng nghĩa: Thứ nhất là, nói về một hành động cụ thể để tạo

ra một hình thái; thứ hai là, nói về sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm haybiểu tượng Hai hướng nghĩa này cùng tồn tại, một nhằm sự tạo lập cụ thể, mộtnhằm vào sự tạo lập kiến thức và truyền đạt Nó thể hiện sự gắn kết của hai lĩnhvực kỹ thuật và kiến thức

Theo quan điểm của triết học, thông tin là một hiện tượng vốn có của vậtchất, là thuộc tính khách quan của thế giới vật chất Nội dung của thông tinchính là những thuộc tính, tính chất vốn có của sự vật với các sự kiện hiện tượngđược bộc lộ ra, thể hiện thông qua tác động qua lại của sự vật ấy với sự vật khác.Thông tin luôn gắn với quá trình phản ánh Những dấu ấn để lại chính là nhữngthông tin của hệ thống vật chất này đối với hệ thống vật chất khác Phản ánh củavật chất này đối với hệ thống vật chất khác Phản ánh của vật chất là phản ảnhthông tin, không có thông tin chung chung mà thông tin là thông tin về sự vậtnày đối với sự vật khác

Trang 13

Theo Đại từ điển tiếng Việt (NXB Văn hóa - Thông tin, 1996 do NguyễnNhư Ý chủ biên), thông tin là: (1) tin tức được truyền đi cho nhau biết; (2) tintức về các sự kiện diễn ra trong thế giới xung quanh Ví dụ như thông tin về thờitiết, thông tin về Quốc hội, thông tin về biển Đông

Từ điển Bách Khoa (NXB Từ điển Bách Khoa Hà Nội, 2005), thông tinđược định nghĩa là một khái niệm khái quát về các điều hiểu biết, tri thức thuđược qua nghiên cứu, khảo sát hoặc trao đổi giữa các đối tượng với nhau

"Thông tin là một loại hình hoạt động để chuyển đi các nội dung thông báo.Hoạt động thông tin không chỉ có trong xã hội loài người Ngay trong thiênnhiên cũng có những hoạt động thông tin phức tạp, đa dạng của các loài độngvật khác nhau"

Như vậy, có thể hiểu và phân tích thông tin có nghĩa là truyền đi tin tức cóthông điệp ở trong đó Thông tin có thể hiểu theo phân tích nghĩa của từ Thông -nghĩa là có thông điệp, thông báo; còn Tin - nghĩa là tin tức Khi cả 2 từ "thông"ghép với từ "tin" thành thông tin ở đây được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, đóchính là nội dung thông tin; Thứ hai, đó là phương tiện thông báo, báo tin.Trong lĩnh vực báo chí truyền thông thì nghĩa thứ hai phù hợp hơn và mục đích

sử dụng nhiều hơn cả Từ những quan niệm khác nhau trong nhiều cuốn sách,chúng ta đi đến cách hiểu chung nhất như sau: Thông tin là tất cả những kiếnthức, tri thức, hiểu biết hay những tín hiệu, dấu hiệu mang ý nghĩa và giá trị nhấtđịnh đối với đời sống xã hội, được truyền bá, loan báo hoặc trao đổi giữa conngười hay các tổ chức xã hội với nhau

1.3 Sơ lược về tiêu chuẩn Giáo sư - Phó Giáo sư.

1.3.1 Khái niệm về Giáo sư - Phó Giáo sư.

Thuật ngữ "Giáo sư" được sử dụng lần đầu tiên vào cuối thế kỷ 14 có nghĩa

là "người truyền dạy một ngành kiến thức" thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếngPháp cổ "professeur" từ tiếng La Tinh "person who professes to be an expert insome art or science"

Trang 14

Giáo sư hay Professor (viết tắt tiếng Anh là prof.) là một học hàm ở cáctrường đại học, các cơ sở giáo dục, các học viện và trung tâm nghiên cứu ở hầuhết các quốc gia trên thế giới Theo nghĩa đen, Từ Professor (giáo sư) bắt nguồn

từ tiếng Latinh "person who professes" nghĩa là một chuyên gia có kiến thứcchuyên sâu về nghệ thuật hoặc khoa học, hoặc một giảng viên có trình độchuyên môn cao.Ở phần lớn thế giới, từ "giáo sư" không có tiêu chuẩn được sửdụng chính thức để chỉ ra cấp bậc học vấn cao nhất

Các Giáo sư thường tiến hành nghiên cứu ban đầu và giảng dạy các khóahọc ở đại học, sau đại học hoặc các lĩnh vực trong chuyên môn của họ Ở cáctrường đại học có chương trình cấp bằng sau đại học, giáo sư có thể cố vấn vàgiám sát sinh viên tốt nghiệp tiến hành nghiên cứu luận án hoặc luận văn

Ở các nước Âu Mỹ, các giáo sư thường có bằng tiến sĩ hoặc bằng cấp caokhác Một số giáo sư có bằng thạc sĩ hoặc bằng cấp chuyên nghiệp, chẳng hạn nhưBằng M.D, là trình độ cao nhất của họ Giáo sư không phải là một học hàm haymột chức danh khoa học mà là một chức vụ giảng dạy, thường do các trường đạihọc tự chọn lựa và quyết định Ở Việt Nam, trước năm 1975 từ giáo sư được gọi đểchỉ các nhà giáo dạy trong các trường trung học từ lớp 6 đến lớp 12

Ở các nước Đông Âu, Liên bang Nga và SNG, thì giáo sư là một chức vụgiảng dạy (tại một bộ môn nào đó do hội đồng chuyên ngành quyết định) hoặcchức danh khoa học (do hội đồng giáo dục và khoa học liên bang công nhận) tùyvào thời gian, thành tích giảng dạy đại học, sau đại học và công trình khoa họccủa các giảng viên có học vị tiến sĩ hoặc tiến sĩ khoa học

Ở Việt Nam “Giáo sư” là ai?

Giáo sư là tên gọi một chức danh dành cho các cán bộ giảng dạy cao cấp ởcác bộ môn thuộc trường đại học hoặc viện nghiên cứu, được nhà nước phongtặng vì đáp ứng đủ các tiêu chí do luật định trong các hoạt động (lĩnh vực) đàotạo và nghiên cứu khoa học.Phó giáo sư là một chức danh khoa học dành chongười nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học, sau đại học nhưng thấp hơn giáo sư

Trang 15

Tính đến thời điểm hiện tại ở Việt Nam có khoảng 12,000 Giáo sư và phó giáo

sư Riêng năm 2016 có thêm 65 GS và 638 PGS được công nhận

Phương án phù hợp nhất chắc là trở lại như trước năm 1995: Giáo sư là mộtchức danh nghề nghiệp gắn với nghề nhà giáo Việc phong giáo sư do cáctrường đại học quyết định, và giáo sư là giáo sư của một trường đại học cụ thể.Theo quy định của các văn bản nhà nước hiện nay, chức danh giáo sư sẽ doHội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước (HĐ CDGSNN) công nhận và được cơ sởgiáo dục đại học bổ nhiệm Việc trường ĐH Tôn Đức Thắng “tự phong” giáo sưkhông qua khâu công nhận đạt chuẩn của HĐ CDGSNN là vi phạm quy định Cònnếu hiểu theo cách giải thích của lãnh đạo ĐH Tôn Đức Thắng rằng giáo sư củatrường không phải là “giáo sư nhà nước” – thì việc dùng từ “giáo sư” của trường sẽgây nhầm lẫn trong xã hội Thực ra, chỉ khi ĐH Tôn Đức Thắng nói ra thì mớinhiều người biết rằng danh xưng giáo sư trước tên của hiệu trưởng trường này là

“giáo sư trường” chứ không phải là giáo sư như các giáo sư chính danh khác

Tuy nhiên, cũng có thể xem những gì trường ĐH Tôn Đức Thắng đang làm

là phản ứng với các quy định về giáo sư đang có nhiều bất cập Không chỉ bấtcập trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, còn bất cập trong các quy địnhnhiều khi cứng nhắc, mang tính hành chính quan liêu Bất cập về sự không yêntâm của xã hội với nhiều giáo sư chất lượng thấp, bất cập về nhiều giáo sư đượcphong nhưng hầu như không tham gia công tác giáo dục, và khi đó chữ “giáo”trong chức danh giáo sư không còn ý nghĩa gì nữa

Đến năm 2001, giáo sư được gọi là chức danh, và Hội đồng Học hàm đổithành Hội đồng Chức danh Giáo sư Nhà nước (nghị định 20/2001/NĐ-CP ngày17-5-2001) Cũng trong nghị định này, chức danh giáo sư được gắn lại vớingạch nghề nghiệp HĐ CDGSNN công nhận giáo sư, và Bộ hoặc Hội đồngquản trị trường tư bổ nhiệm ngạch giáo sư với các giáo sư đã được công nhận.Năm 2004 cũng chính thức ban hành trở lại ngạch “giáo sư – giảng viên caocấp” và ngạch “phó giáo sư – giảng viên chính” (quyết định số 78/2004/QĐ-BNV ngày 3/11/2004 của Bộ Nội vụ)

Trang 16

Năm 2008, quy định mới (quyết định 174/2008/QĐ-TTg ngày 31-12-2008của Thủ tướng) bắt đầu đề cao vai trò của các trường đại học trong việc bổnhiệm: HĐ CDGSNN công nhận giáo sư, và Bộ Giáo dục và Đào tạo bổ nhiệmgiáo sư dựa trên cơ sở đề nghị của các trường đại học với các giáo sư đã đượccông nhận Đến năm 2012 thì sửa lại (quyết định 20/2012/QĐ-TTg của Thủtướng ngày 27-4-2012) cho phép các trường đại học bổ nhiệm giáo sư trên cơ sởcông nhận của HĐ CDGSNN Trong giai đoạn này chức danh giáo sư vẫn gắnvới ngạch nghề nghiệp Quyết định 20/2012 ghi rõ nhà giáo được bổ nhiệm chứcdanh giáo sư thì được bổ nhiệm vào ngạch giáo sư – giảng viên cao cấp, nhàgiáo được bổ nhiệm chức danh phó giáo sư thì được bổ nhiệm vào ngạch phógiáo sư – giảng viên chính.

Cuối năm 2014, ngạch nghề nghiệp giảng viên lại một lần nữa bị bỏ chữgiáo sư đi Thông tư liên bộ số 36/2014/TTLT-BGDĐT-BNV giữa hai bộ (BộGiáo dục Đào tạo và Bộ Nội vụ) ngày 18/11/2014 quy định lại chức danh nghềnghiệp của giảng viên đại học chỉ gồm giảng viên, giảng viên chính và giảngviên cao cấp, giống như năm 1995

Trong 20 năm qua, giáo sư lúc là học hàm, lúc lại là chức danh nghềnghiệp, và từ cuối năm 2014 đến nay trở thành chức-danh-phi-nghề-nghiệp, khi

mà trong quy định pháp lý vẫn ghi là “chức danh giáo sư”, và trong danh mụcnghề nghiệp thì không còn chữ giáo sư nữa

Loanh quanh một hồi thì lại thấy như đang quay về chốn cũ Phương ánphù hợp nhất chắc là trở lại như trước năm 1995: Giáo sư là một chức danh nghềnghiệp gắn với nghề nhà giáo Việc phong giáo sư do các trường đại học quyếtđịnh, và giáo sư là giáo sư của một trường đại học cụ thể

1.3.2 Tiêu chuẩn Giáo sư, Phó Giáo sư.

Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung một sốđiều về quy định chi tiết việc xét công nhận, hủy bỏ công nhận đạt tiêu chuẩn,

bổ nhiệm, miễn nhiệm chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư

Trang 17

Đáng chú ý, quy định mới bỏ điều kiện: Ứng viên được xét đạt tiêu chuẩnchức danh Giáo sư phải thành thạo 1 trong 5 ngoại ngữ: Anh, Đức, Nga, Pháp,Trung

Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, điều này không có nghĩa là bỏ quy định vềngoại ngữ trong việc xét tiêu chuẩn chức danh Giáo sư, mà là không còn bó buộccác ứng viên phải thông thạo 1 trong 5 ngoại ngữ Anh, Đức, Pháp, Nga, Trung.Như vậy, quy định về điều kiện ngoại ngữ là ứng viên phải sử dụng thànhthạo một ngoại ngữ phục vụ cho công tác chuyên môn và giao tiếp được bằngtiếng Anh

Về các loại công trình khoa học quy đổi (gồm bài báo khoa học đã đượccông bố; sách phục vụ đào tạo đã được xuất bản; chương trình, đề tài nghiên cứukhoa học đã được nghiệm thu ), Thông tư mới bổ sung yêu cầu: Nội dung củacác công trình khoa học quy đổi phải phù hợp với ngành khoa học mà ứng viênđăng kí để được xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư.Thông tư quy định, ứng viên là giảng viên thuộc biên chế của cơ sở giáodục đại học phải có đủ 12 điểm công trình khoa học quy đổi trở lên, trong đó:

Có ít nhất 3 điểm được thực hiện trong ba năm cuối tính đến ngày hết hạn nộp

hồ sơ; có ít nhất 6 điểm tính từ các bài báo khoa học đã được công bố; có ít nhất

3 điểm tính từ việc biên soạn sách phục vụ đào tạo đã được xuất bản, trong đó

có ít nhất 1,5 điểm tính từ biên soạn giáo trình hoặc/và sách chuyên khảo

Ngoài ứng viên thuộc các ngành Giáo dục, Tâm lý, Kinh tế, Luật, Ngônngữ , Thông tư bổ sung ứng viên thuộc các ngành Nghệ thuật, Thể dục Thểthao cũng phải có ít nhất 01 sách chuyên khảo viết một mình và có 01 giáo trìnhvừa là chủ biên vừa tham gia viết

Về thâm niên đào tạo, theo quy định mới, đối với ứng viên là giảng viênthuộc biên chế của cơ sở giáo dục đại học, thâm niên đào tạo là thời gian làmnhiệm vụ giáo dục, giảng dạy từ trình độ đại học trở lên tại các cơ sở giáo dụcđại học Trong từng năm học, ứng viên hoàn thành nhiệm vụ theo quy định vềchế độ làm việc đối với giảng viên thì được tính 1 thâm niên đào tạo

Ngày đăng: 31/07/2017, 12:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w