1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phong cách làm cha mẹ ở những gia đình có trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý

90 332 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào được thực hiện để tìm hiểu về phong cách làm cha mẹ ở những gia đình có trẻ bị rối loạn tăng động giảm chú ý.. Một khi phong cách làm cha mẹ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN HOÀNG TRÚC PHƯƠNG

PHONG CÁCH LÀM CHA MẸ Ở NHỮNG GIA ĐÌNH CÓ TRẺ CÓ RỐI LOẠN TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÚ Ý

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN

Mã số: Thí điểm

HÀ NỘI – 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN HOÀNG TRÚC PHƯƠNG

PHONG CÁCH LÀM CHA MẸ Ở NHỮNG GIA ĐÌNH CÓ TRẺ CÓ RỐI LOẠN TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÚ Ý

Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN

Mã số: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Cán bộ hướng dẫn:

PGS.TS Đặng Hoàng Minh PGS.TS Bahr Weiss

HÀNỘI – 2017

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo, các cán bộ quản lý thuộc Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã quan tâm, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin gửi sự kính trọng và lời biết ơn sâu sắc đến người hướng dẫn khoa học PGS.TS.Đặng Hoàng Minh và PGS TS Barh Weiss về những giúp đỡ, định hướng quan trọng, đặc biệt là về tinh thần nghiêm túc trong nghiên cứu khoa học

để tôi có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ này

Xin gửi lời biết ơn sâu sắc tới gia đình những người tham gia nghiên cứu đã dành thời gian tham gia trả lời phiếu hỏi và nhiệt tình đóng góp, chia sẻ với chúng tôi những thắc mắc để chúng tôi hoàn thiện hơn trong nghiên cứu của mình

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp vì đã luôn hỗ trợ, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Trang 4

ICD – 10 International Statistical Classification of Diseases -

Phân loại quốc tế về bệnh tật (Tái bản lần thứ 10) PAQ – R Parental Authority – Revised

(Uy quyền Cha mẹ - Phiên bản cải biên)

THCS Trung học cơ sở

THPT Trung học phổ thông

SBQ Student Behavior Questionaire

(Bảng liệt kê Hành vi cho Học sinh)

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thống kê mô tả hai nhóm nghiên cứu 33

Bảng 2.2 Bảng phân tích Cronback Alpha thang PAQ – R 45

Bảng 3.1 Điểm phong cách cha mẹ giữa hai nhóm 48

Bảng 3.2 Điểm phong cách cha mẹ với khu vực 52

Bảng 3.3 Điểm phong cách cha mẹ với trình độ học vấn 52

Bảng 3.4 Điểm phong cách cha mẹ với nghề 53

Bảng 3.5 Điểm phong cách cha mẹ với thu nhập 53

Bảng 3.6 Điểm phong cách cha mẹ với tình trạng công việc 53

Bảng 3.7 Điểm phong cách cha mẹ với cấu trúc gia đình 54

Bảng 3.8 Điểm phong cách cha mẹ với tình trạng hôn nhân 54

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Bảng 2.1 Thống kê mô tả hai nhóm nghiên cứu 33

Bảng 2.2 Bảng phân tích Cronback Alpha thang PAQ – R 45

Bảng 3.1 Điểm phong cách cha mẹ giữa hai nhóm 48

Bảng 3.2 Điểm phong cách cha mẹ với khu vực 52

Bảng 3.3 Điểm phong cách cha mẹ với trình độ học vấn 52

Bảng 3.4 Điểm phong cách cha mẹ với nghề 53

Bảng 3.5 Điểm phong cách cha mẹ với thu nhập 53

Bảng 3.6 Điểm phong cách cha mẹ với tình trạng công việc 53

Bảng 3.7 Điểm phong cách cha mẹ với cấu trúc gia đình 54

Bảng 3.8 Điểm phong cách cha mẹ với tình trạng hôn nhân 54

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CÁM ƠN i

DANH MỤC BẢNG iii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv

MỤC LỤC v

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Câu hỏi nghiên cứu 4

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

4.1 Nghiên cứu lý luận 4

4.1 Nghiên cứu thực tiễn 4

5 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 5

5.1 Đối tượng nghiên cứu 5

5.2 Khách thể nghiên cứu 5

6 Giả thuyết nghiên cứu 5

7 Giới hạn đề tài 5

7.1 Giới hạn nội dung 5

7.2 Giới hạn địa bàn và khách thể nghiên cứu 5

8 Phương pháp nghiên cứu 5

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 5

8.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 6

8.4 Phương pháp toán thống kê 6

9 Đóng góp mới của đề tài 6

9.1 Đóng góp về mặt lý luận 6

9.2 Đóng góp về mặt thực tiễn 6

10 Đạo đức nghiên cứu 7

11 Cấu trúc luận văn 7

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHONG CÁCH LÀM CHA MẸ Ở NHỮNG GIA ĐÌNH CÓ TRẺ CÓ RỐI LOẠN TĂNG ĐỘNG GIẢM CHÚ Ý 8

Trang 8

1.1 Rối loạn tăng động giảm chú ý 8

1.1.1 Lịch sử 8

1.1.1.1 Lịch sử giai đoạn đầu của rối loạn tăng động giảm chú ý 8

1.1.1.2 Quá trình phát triển tiếp theo của những khám phá về rối loạn tăng động giảm chú ý 9

1.1.2 Định nghĩa rối loạn tăng động giảm chú ý 10

1.1.2.1 Định nghĩa rối loạn tăng động giảm chú ý theo lịch sử hệ thống DSM 10 1.1.2.2 Định nghĩa rối loạn tăng động giảm chú ý theo hệ thống phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD – 10) 11

1.1.3 Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán rối loạn tăng động giảm chú ý 11

1.1.3.1 Theo sổ tay thống kê và chẩn đoán các rối loạn tâm thần rút gọn – IV 12 1.1.3.2 Theo ICD – 10 14

1.1.4 Dịch tễ học và nguyên nhân 16

1.1.4.1 Dịch tễ 16

1.1.4.2 Nguyên nhân 17

1.1.5 Các phương thức điều trị rối loạn tăng động giảm chú ý 19

1.1.5.1 Điều trị bằng hóa dược 20

1.1.5.2 Điều trị bằng các liệu pháp tâm lý xã hội 21

1.1 Phong cách làm cha mẹ 23

1.1.6 Định nghĩa 23

1.1.7 Phân loại các kiểu phong cách làm cha mẹ 24

1.1.8 Tính cách của trẻ và phong cách làm cha mẹ 25

1.2 Phong cách làm cha mẹ trong những gia đình có trẻ được chẩn đoán rối loạn tăng động giảm chú ý 27

1.1.9 Các nghiên cứu ở phương Tây 27

1.1.10 Các nghiên cứu ở châu Á và Việt Nam 29

1.1.10.1 Các nghiên cứu ở châu Á 29

1.1.10.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 30

Tiểu kết chương 1 31

CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 32

Trang 9

2.1 Đặc điểm khách thể nghiên cứu 32

2.1.1 Mục đích lựa chọn và phân loại khách thể 32

2.1.2 Đặc điểm nhóm trẻ được mời tham gia nghiên cứu từ khoa Tâm lý Tâm thần Trẻ em, bệnh viện Tâm thần thành phố Hồ Chí Minh 32

2.1.3 Đặc điểm nhóm trẻ ở hai trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Long An 32

2.2 Thống kê mô tả dữ liệu 33

2.3 Tổ chức thu thập số liệu 41

2.1.4 Giai đoạn một 41

2.1.5 Giai đoạn hai 42

2.4 Các loại thang đo được sử dụng trong nghiên cứu 42

2.1.6 Thang đo sàng lọc các vấn đề sức khỏe tâm thần của trẻ 42

2.1.7 Thang đo phong cách làm cha mẹ 43

2.5 Chiến lược phân tích số liệu 43

2.1.8 Phân tích mô tả 44

2.1.9 Kiểm định thang đo bằng phân tích Cronbach Alpha: độ ti cậy của thang đo PAQ – R 44

2.1.10 Kiểm định t-test 46

Tiểu kết chương 2 46

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48

3.1 So sánh phong cách làm cha mẹ của hai nhóm trẻ 48

Bảng 3.1 Điểm phong cách cha mẹ giữa hai nhóm 48

3.2 So sánh phong cách làm cha mẹ của hai nhóm trẻ trong mối liên hệ với các yếu tố nhân khẩu 48

Tiểu kết chương 3 56

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 58

4.1 Kết luận 58

4.2 Khuyến nghị 59

2.1.11 Đối với các cơ sở chăm sóc và điều trị 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

PHỤ LỤC 68

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Rối loạn tăng động giảm chú ý (tiếng Anh: Attention Deficit – Hyperactivity Disorder, được viết tắt là ADHD) là một rối loạn tâm thần phổ biến Theo DSM-5 (Cẩm nang chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần của Mỹ, 2012) thì ADHD được xếp vào phân loại rối loạn thần kinh phát triển và có tỉ lệ lưu hành trong hầu hết các nền văn hóa là 5% ở trẻ em và 2,5% ở người lớn [33] Rối loạn này được đặc trưng bởi sự giảm duy trì chú ý và tăng mức độ xung động ở trẻ em hoặc trẻ vị thành niên so với trẻ cùng lứa tuổi và mức độ phát triển Đây là một rối loạn mạn tính kéo dài từ tuổi thơ cho đến tuổi trưởng thành

Phần lớn các đặc tính thường được nhắc đến nhất của trẻ ADHD là tăng động, thiếu hụt sự chú ý (thời gian tập trung chú ý ngắn, dễ bị xao nhãng, không hoàn thành nhiệm vụ, quên đồ dùng quan trọng, v.v ), suy giảm vận động trị giác, thiếu ổn định về mặt cảm xúc, xung động (thiếu suy nghĩ trước khi hành động, hoạt động không có tổ chức), thiếu sót trong trí nhớ và suy nghĩ, thiếu sót trong nghe và nói, rối loạn học tập, có dấu hiệu thân kinh nhẹ và bất thường trong điện não Khoảng 75% trẻ ADHD có biểu hiện rối loạn hành vi như là gây hấn và thách thức [1] Với các hành vi gây hấn và thách thức, trẻ ADHD thường gặp khó khăn trong các giao tiếp xã hội (với bạn đồng trang lứa, với giáo viên và cả với các thành viên trong gia đình) Với triệu chứng tăng động, trẻ ADHD lại gặp khó khăn trong những nhiệm vụ đòi hỏi sự tập trung, ảnh hưởng đến khả năng học tập của trẻ [1, tr 156]

Các vấn đề của trẻ ADHD có biểu hiện dai dẳng kéo dài đến độ tuổi vị thành niên đến trưởng thành Các nhà khoa học đã thống kê rằng trong số 50% các trường hợp, một số triệu chứng có thể thuyên giảm khi trẻ bước vào tuổi vị thành niên hoặc giai đoạn sớm của tuổi trưởng thành Tăng động là triệu chứng đầu tiên thuyên giảm và xao nhãng là triệu chứng cuối cùng Khoảng 50% còn lại thì triệu chứng có thể tồn tại dai dẳng trong suốt thời kỳ tuổi trưởng thành Điều này ảnh hưởng đến trình độ học vấn, khả năng làm việc và các mối quan hệ của người lớn

có ADHD [1]

Trang 11

Trong một nghiên cứu về Ảnh hưởng của ADHD lên cuộc sống cá nhân, gia đình, cộng đồng và cuộc sống tuổi trưởng thành của tiến sĩ Harpin, thuộc Trung tâm Trẻ em Ryegate, Vương Quốc Anh (2005) đã chỉ ra tác động của ADHD đến cuộc sống cá nhân và các thành viên gia đình gồm có các khó khăn trong học tập, thiếu hụt các kỹ năng xã hội, căng thẳng trong các mối quan hệ xã hội và tương tác cha mẹ - con cái Bên cạnh đó, ADHD còn liên quan đến gia tăng chi phí chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân và các thành viên gia đình của họ

Trong một khảo sát thực tế về rối loạn tăng động giảm chú ý của Kewlay (1999) [23], ông đã chỉ ra những thay đổi của các vấn đề của trẻ ADHD và gia đình theo ba mốc phát triển (trẻ nhỏ, trẻ vị thành niên và giai đoạn từ vị thành niên đến tuổi trưởng thành) Giai đoạn trẻ nhỏ (7 tuổi), vấn đề trẻ gặp là lòng tự trọng thấp Bước sang tuổi vị thành niên (11 tuổi), vấn đề trẻ gặp là hành vi phá vỡ, trì hoãn học tập và thiếu hụt các kỹ năng xã hội Giai đoạn từ vị thành niên đến tuổi trưởng thành (từ 13 trở lên), các vấn đề xuất hiện với danh sách dài hơn là hành vi thách thức, rối loạn chống đối xã hội, bỏ học, rối loạn cư xử, nghiện chất, thiếu động lực và các khó khăn học tập phức tạp

Như vậy, rối loạn tăng động có những tác động rất lớn và phức tạp không chỉ trên bản thân trẻ bị rối loạn này mà còn trên các thành viên gia đình Chính vì vậy

mà rối loạn tăng động giảm chú ý đang được quan tâm để tìm hiểu nguyên nhân cũng như những cách thức can thiệp hiệu quả cho rối loạn này

Ngày nay, nguyên nhân của rối loạn tăng động giảm chú ý có vẻ ngày càng được khẳng định nhiều hơn thông qua các chứng cứ khoa học có liên quan đến gen

và di truyền Bên cạnh đó, các yếu tố tâm lý cũng đóng một vai trò nhất định trong rối loạn này, chẳng hạn như vai trò của các bậc phụ huynh trong hỗ trợ điều trị các triệu chứng của rối loạn tăng động ở trẻ Trong đó, tương tác cha mẹ - con cái và phong cách làm cha mẹ của phụ huynh có ảnh hưởng đến kết quả điều trị cho trẻ

em có rối loạn tăng động giảm chú ý

Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý và cha mẹ của chúng ngày càng được các nhà khoa học quan tâm khám phá Những cách thức nuôi dạy trẻ sai lầm có thể gây ra những phản ứng tiêu cực Bởi vì trẻ

Trang 12

rối loạn tăng động giảm chú ý thường có những vấn đề hành vi, chú ý và học tập nên cha mẹ của trẻ thường tương tác với chúng một cách khắt khe [38] Tương tác giữa cha mẹ và con cái thường bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bao gồm các vấn đề kinh tế gia đình, các vấn đề sức khỏe tâm thần của cha mẹ [9] và phong cách làm cha mẹ Kết quả điều trị kém có thể được tiên lượng ở những trẻ được đối xử bởi những cha mẹ có phong cách làm cha mẹ không hiệu quả [16] Những nghiên cứu trước đây cho thấy rằng sự vô trách nhiệm với trẻ và kỹ năng làm cha mẹ kém có

thể làm nặng thêm các triệu chứng ADHD [22]

Gần đây trên thế giới, phương pháp điều trị hiệu quả nhất cho rối loạn tăng động giảm chú ý là trị liệu đa phương thức bao gồm kết hợp điều trị với methylphenidate và liệu pháp gia đình, hoặc là huấn luyện hành vi và dạy những kỹ năng ứng phó cho giáo viên và các chương trình giáo dục ở trường học [1, tr 168 - 169] Trong một nghiên cứu tổng hợp, kết quả cho thấy rằng liệu pháp hành vi cha

mẹ (behavioral parenting therapy) là một can thiệp hiệu quả trong việc cải thiện hành

vi trẻ em, hành vi cha mẹ, và nhận thức của cha mẹ về những trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý [20] Tập huấn phụ huynh cũng có thể giúp cải thiện khả năng của họ trong việc giải quyết những vấn đề của trẻ em và trẻ vị thành niên [31] Từ những điều trên, ta có thể thấy rằng phong cách làm cha mẹ có một vai trò quan trọng trong việc cải thiện thành tích cho trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý

Hiện nay, ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào được thực hiện để tìm hiểu về phong cách làm cha mẹ ở những gia đình có trẻ bị rối loạn tăng động giảm chú ý Hiện tại, chỉ có một vài bài viết tổng hợp thông tin bàn về mối quan hệ giữa trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý và cha mẹ trong gia đình Do đó, đề tài này nghiên cứu nhằm tìm hiểu sự khác biệt trong phong cách cha mẹ giữa hai nhóm phụ huynh có trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý và phụ huynh có trẻ với sức khỏe tâm thần bình thường Một khi phong cách làm cha mẹ của phụ huynh nhóm trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý được xác định, chúng ta có thể giúp điều chỉnh những kiểu làm cha mẹ sai lầm và do đó, góp phần cải thiện triệu chứng Từ đó, có thể có những

dự báo và phương hướng phù hợp cho những can thiệp về mặt lâm sàng cho trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý cùng với gia đình

Trang 13

Với những lý do trên đây, việc nghiên cứu đề tài “Phong cách làm cha mẹ ở những gia đình có trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý” là việc cần thiết, không những có ý nghĩa về mặt lý thuyết mà còn có ý nghĩa thiết thực trong hỗ trợ điều trị lâm sàng cho trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý

2 Câu hỏi nghiên cứu

Phụ huynh của trẻ được chẩn đoán có rối loạn tăng động giảm chú ý có phong cách làm cha mẹ độc đoán và/hoặc có phong cách làm cha mẹ dễ dãi hơn so với phong cách làm cha mẹ của phụ huynh có con bình thường hay không?

Những yếu tố nhân khẩu nào có ảnh hưởng đến phong cách làm cha mẹ của phụ huynh?

Tìm hiểu sự khác biệt trong phong cách làm cha mẹ của hai nhóm phụ huynh này trong mối liên hệ với các yếu tố nhân khẩu như khu vực sinh sống, trình độ học vấn, mức thu nhập, loại công việc và tình trạng công việc của cha mẹ, tình trạng hôn nhân của cha mẹ, cấu trúc gia đình, v.v…

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu lý luận

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về rối loạn tăng động giảm chú ý

Hệ thống hóa các khái niệm, định nghĩa về phong cách làm cha mẹ

4.1 Nghiên cứu thực tiễn

Xác định các kiểu phong cách làm cha mẹ và sự khác biệt trong phong cách làm cha mẹ của phụ huynh có con được chẩn đoán có rối loạn tăng động giảm chú

ý và phụ huynh có con bình thường

Dự báo và kiến nghị các phương pháp giáo dục con cái, tương tác giữa cha

mẹ và trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý

Trang 14

5 Đối tượng, khách thể nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Phong cách làm cha mẹ của phụ huynh có con được chẩn đoán có rối loạn tăng động giảm chú ý

5.2 Khách thể nghiên cứu

50 trẻ em từ 6 tuổi đến 8 tuổi được chẩn đoán có rối loạn tăng động giảm chú

ý và 50 cha hoặc mẹ của những em này

50 học sinh tiểu học từ 6 tuổi đến 8 tuổi và 50 cha hoặc mẹ của những em này

6 Giả thuyết nghiên cứu

Phụ huynh của trẻ được chẩn đoán có rối loạn tăng động giảm chú ý có phong cách làm cha mẹ độc đoán hơn so với phong cách làm cha mẹ của phụ huynh có con bình thường

Phụ huynh của trẻ được chẩn đoán có rối loạn tăng động giảm chú ý có phong cách làm cha mẹ dễ dãi hơn so với phong cách làm cha mẹ của phụ huynh

có con bình thường

7 Giới hạn đề tài

7.1 Giới hạn nội dung

Phong cách làm cha mẹ của phụ huynh của trẻ được chẩn đoán có rối loạn tăng động giảm chú ý và phụ huynh của những trẻ em bình thường

So sánh sự khác biệt trong phong cách làm cha mẹ của hai nhóm phụ huynh này Phong cách cha mẹ qua sự tự báo cáo của cha mẹ

7.2 Giới hạn địa bàn và khách thể nghiên cứu

50 trẻ từ 6 đến 8 tuổi được chẩn đoán mắc rối loạn tăng động giảm chú ý và

50 cha hoặc mẹ (được lấy từ Khoa khám Tâm lý Tâm thần trẻ em, bệnh viện Tâm thần thành phố Hồ Chí Minh)

50 trẻ từ 6 đến 8 tuổi không có vấn đề sức khỏe tâm thần và 50 cha hoặc mẹ (được lấy từ trường Tiểu học Nguyễn Văn Phú và trường tiểu học Bình Hữu, tỉnh Long An

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Trang 15

Phương pháp này sẽ hệ thống lại cơ sở lý thuyết, đồng thời tìm hiểu các nghiên cứu đã có về phong cách làm cha mẹ của phụ huynh, tìm hiểu phong cách cha mẹ của những phụ huynh có con được chẩn đoán có rối loạn tăng động giảm chú ý ở nước ta Từ đó, đề xuất cho hướng nghiên cứu thực nghiệm tiếp theo

8.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Thang PAQ – R (Bộ câu hỏi về phong cách làm cha mẹ do cha mẹ báo cáo) SBQ (Bảng Liệt Kê Hành Vi Cho Học Sinh do học sinh báo cáo)

8.4 Phương pháp toán thống kê

Dùng để xử lý số liệu khoa học và khách quan Các thông tin về số liệu sẽ được định lượng cụ thể và mã hóa bằng phần mềm SPSS20

9 Đóng góp mới của đề tài

Từ những thông tin này, cùng với các kết quả của những nghiên cứu trong lĩnh vực này trên toàn thế giới, xác định các phương pháp phù hợp trong tham vấn

và hỗ trợ về tâm lý xã hội, đặc biệt là trong tương tác giữa người chăm sóc và trẻ

có rối loạn tăng động giảm chú ý, bên cạnh phương pháp điều trị bằng thuốc trong bối cảnh hiện nay

Trang 16

Kết quả nghiên cứu có thể được dùng để làm tài liệu tham khảo

10 Đạo đức nghiên cứu

Đề cương nghiên cứu được phê duyệt và thông qua Hội đồng đạo đức nghiên

cứu của trường Đại học Giáo dục trước khi triển khai

Khách thể nghiên cứu được thông báo đầy đủ và về mục đích, nội dung, nguy

cơ nếu có của nghiên cứu và có quyền từ chối tham gia nghiên cứu

Bảo mật các thông tin do khách thể cung cấp và cam kết chỉ được sử dụng

cho mục đích của nghiên cứu

Các số liệu được trình bày trung thực Không trình bày nghiên cứu, số liệu của người khác như của chính mình, dù cho có trích dẫn

11 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận nhận của phong cách làm cha mẹ trong gia đình có trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý

Chương 2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Phân tích kết quả nghiên cứu

Trang 17

1.1.1.1 Lịch sử giai đoạn đầu của rối loạn tăng động giảm chú ý

ADHD đã trải qua nhiều giai đoạn trong sự phát triển về định nghĩa cũng như tên gọi Có thể tóm tắt một số cột mốc và tác giả tiêu biểu cho quá trình phát triển này

- Alexander Crichton: Ví dụ đầu tiên về một rối loạn mà dường như tương tự

với ADHD đã được đưa ra bởi một bác sĩ người Scotland, Alexander Crichton vào năm 1798 Trong ấn phẩm Điều tra về bản chất và nguồn gốc của sự xáo trộn tâm thần, ông đề cập đến khái niệm "mất khả năng chú ý với mức độ kiên trì cần thiết đến một đối tượng bất kỳ" Theo Crichton, kém chú ý, nếu không phải bẩm sinh thì cũng có thể bị gây ra bởi rối loạn thần kinh Quan niệm này sau đó đã được phát hiện trong các khái niệm về tổn thương não tối thiểu hoặc rối loạn chức năng Công trình của ông đưa ra sau khi bác sĩ người Đức Melchior Adam Weikard, người đã xuất bản một sách giáo trình y khoa năm 1775, trong đó có một chương gọi là rối loạn sự chú ý

- Heinrich Hoffmann: Năm 1844, bác sĩ người Đức Heinrich Hoffmann tạo

ra những câu chuyện minh họa về trẻ em bao gồm "Phil đứng ngồi không yên" (Fidgety Phil) Các mô tả này rất ăn khớp với loại hiếu động của ADHD

- Sir George Frederic Still: Các diễn thuyết của Sir George Frederic Still vào

năm 1902 được xem xét bởi nhiều tác giả nổi tiếng, chẳng hạn như Barkley và Conners, là điểm khởi đầu mang tính khoa học về lịch sử của ADHD Still mô tả

20 trường hợp trẻ em với "khiếm khuyết trong kiểm soát về mặt đạo đức như một biểu hiện bệnh mà không có sự bất thường về trí tuệ tổng thể và không có bệnh lý thực thể"

Trang 18

- Alfred Frank Tredgold: Tredgold năm 1908 đã thảo luận một mối tương

quan giữa tổn thương não sớm, ví dụ, do dị tật bẩm sinh hoặc thiếu oxy chu sinh,

và các vấn đề hành vi hoặc các khó khăn học tập sau đó Tại thời điểm đó, dịch bệnh viêm não đang lan rộng trên khắp thế giới; ảnh hưởng còn lại của viêm não

có nhiều điểm tương đồng với một số triệu chứng ADHD Khái niệm về "rối loạn hành vi sau viêm não" (Post Encephalitic Behavior Disorder) đã được giới thiệu sau đó Ngoài ra, Tredgold là người đầu tiên thảo luận về tầm quan trọng của việc sửa đổi môi trường như là một phần của quản lý cho rối loạn này

- Franz Kramer và Hans Pollnow: Năm 1932, hai bác sĩ người Đức Franz

Kramer và Hans Pollnow báo cáo về một bệnh tăng động ở trẻ nhỏ với "triệu chứng đặc trưng nhất là vận động không ngơi nghỉ” Các trẻ em được mô tả là không thể ngồi yên dù chỉ một giây, thích trèo lên cao Họ cũng mô tả một số tính năng khác của ADHD

- Charles Bradley: Năm 1937, Charles Bradley từ tiểu bang Rhode Island

báo cáo tác dụng tích cực của thuốc kích thích ở trẻ em bị rối loạn hành vi khác nhau Đây là mô tả đầu tiên về hiệu quả của điều trị kích thích trên ADHD, ông đã

sử dụng amphetamine racemic

- Leandro Panizzon: Methylphenidate được tổng hợp lần đầu tiên vào năm

1944 do Leandro Panizzon và biệt dược là "Ritalin" năm 1954 bắt nguồn từ họ người vợ của Panizzon, nghĩa là Marguerite hoặc "Rita"

1.1.1.2 Quá trình phát triển tiếp theo của những khám phá về rối loạn tăng động

giảm chú ý

Tổn thương não tối thiểu và Rối loạn chức năng não tối thiểu (Minimal Brain Damage and Minimal Brain Dysfunction)

Khái niệm về tổn thương não tối thiểu được phổ biến đặc biệt là giữa năm

1930 và 1940 Nhiều tác giả kết luận rằng chứng tăng động ở trẻ em có thể là do não bộ bị tổn thương Các khái niệm mới về "tổn thương não tối thiểu" được dựa trên một số sự xem xét Đầu tiên, Tredgold đã tuyên bố rằng các hình thức nhẹ của tổn thương não ở trẻ nhỏ, mặc dù không nhận ra được vào thời điểm nào, có thể dẫn đến di chứng về hành vi, những di chứng này sẽ xuất hiện lần đầu ở tuổi đi

Trang 19

học Thứ hai, các biến thể về mức độ, vị trí của tổn thương não bộ hay thể loại tổn thương cũng được thảo luận Thứ ba, các khái niệm về "một sự liên tục của tổn thương não khác nhau, từ những bất thường nghiêm trọng, chẳng hạn như bại não

và suy giảm về mặt tâm thần, cho đến “tổn thương tối thiểu" được giới thiệu bởi Knobloch và Pasamanick năm 1959

Mặc dù thực tế giả thuyết này nói rằng một tổn thương não tối thiểu có thể dẫn đến rối loạn hành vi đã được thành lập và phổ biến rộng rãi nhưng có nhiều thách thức về khái niệm này Đặc biệt trong năm 1960, một số nhà nghiên cứu phát hiện trẻ có xung động tăng động mà không có các yếu tố chấn thương nguyên nhân cổ điển hoặc nhiễm trùng trong tiền sử Họ đề xuất một sự rối loạn chức năng, chứ không phải tổn thương não bộ, là nguyên nhân đặc trưng của hội chứng Trong năm 1963, Nhóm Nghiên cứu Quốc tế Oxford về Thần kinh học trẻ em (Bax và MacKeith 1963) đã tổ chức một hội nghị và cho rằng tổn thương não không nên được suy đoán từ các dấu hiệu hành vi có vấn đề một cách đơn lẻ Họ chủ trương một sự thay đổi trong thuật ngữ bằng cách thay thế thuật ngữ "tổn thương não tối thiểu" với "rối loạn chức năng não bộ tối thiểu"

1.1.2 Định nghĩa rối loạn tăng động giảm chú ý

1.1.2.1 Định nghĩa rối loạn tăng động giảm chú ý theo lịch sử hệ thống DSM

DSM II – 1968: Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần ấn bản

lần thứ 2 đã đề cập đến “Phản ứng tăng động của thời thơ ấu” (Hyperkinetic Reaction of Childhood) và định nghĩa nó trong hai câu “Rối loạn được đặc trưng bởi sự hoạt động, bồn chồn không yên, sự xao nhãng quá mức và khoảng chú ý

ngắn, đặc biệt là ở trẻ em; hành vi giảm dần vào giai đoạn vị thành niên”

DSM III – 1980: Đến ấn bản lần thứ III đề cập đến rối loạn kém chú ý

(Attention Deficit Disorder) có hay không có sự tăng động Năm 1987 DSM-III-R: khái niệm của hai thể phụ được loại bỏ và được đặt lên lại “rối loạn tăng động kém chú ý” Những triệu chứng về kém chú ý, tăng động xung động được kết hợp lại

thành một danh sách triệu chứng riêng lẻ với một điểm số riêng lẻ

DSM IV – 1994: ADHD được chia nhỏ thành 3 thể phụ, loại trội về kém chú

ý, loại trội về xung động-tăng động, và loại kết hợp cả hai

Trang 20

DSM 5 – 2013: Tương đồng với DSM-IV về tiêu chuẩn chẩn đoán, chia

ADHD thành hai lĩnh vực chính là tăng động và kém chú ý, và 3 thể phụ Tuy nhiên có thay đổi một số đặc điểm [18] ADHD là một rối loạn thần kinh phát triển được định nghĩa bởi những mức độ bất thường của sự không chú ý, vô tổ chức, và/ hoặc xung động-hoạt động quá mức Sự không chú ý và vô tổ chức bao gồm việc không có khả năng duy trì ở lại trong nhiệm vụ, dường như không lắng nghe, làm mất chất liệu với mức độ không phù hợp với tuổi hay mức phát triển Xung động-hoạt động quá mức bao gồm hoạt động quá mức, bồn chồn, không khả năng ngồi tại chỗ, xâm hại hoạt động của người khác, không có khả năng chờ đợi - những triệu chứng quá mức so với tuổi hoặc mức độ phát triển Trong giai đoạn thơ ấu, ADHD thường chồng lấp với các rối loạn khác, những rối loạn mà được xem là “rối loạn hướng nội” (externalizing disorder), như rối loạn chống đối và rối loạn cư xử ADHD thường dai dẳng đến tuổi trưởng thành với những bất thường

trong chức năng xã hội, học tập và nghề nghiệp [52, tr 32]

1.1.2.2 Định nghĩa rối loạn tăng động giảm chú ý theo hệ thống phân loại bệnh

quốc tế lần thứ 10 (ICD – 10)

Nhóm rối loạn này có đặc trưng là: Khởi bệnh sớm; sự kết hợp của một hành

vi hoạt động quá mức, kém kiểm tra với thiếu chú ý rõ rệt và thiếu kiên trì trong công việc; và những đặc điểm hành vi trên lan tỏa trong một số lớn hoàn cảnh và

kéo dài với thời gian [9, tr 256]

Như vậy, có rất nhiều định nghĩa về rối loạn này trong lịch sử phát triển của

nó Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi sử dụng định nghĩa theo hệ thống phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD – 10) vì mẫu nghiên cứu được lấy từ bệnh viện và việc chẩn đoán sang lọc cũng được các bác sỹ thực hiện theo tiêu chí của ICD – 10

1.1.3 Các nguyên tắc chỉ đạo chẩn đoán rối loạn tăng động giảm chú ý

Rối loạn tăng động, giảm chú ý được đặc trưng bởi sự giảm duy trì chú ý và tăng mức độ xung động ở trẻ em hoặc trẻ vị thành niên so với trẻ cùng lứa tuôi và mức độ phát triển Trước đây, tăng động được tin là triệu chứng sâu xa của rối loạn này, quan điểm chung hiện nay là tăng động thường là triệu chứng thứ phát

Trang 21

do khả năng kiểm soát xung động kém Sự xung động và tăng động cùng là một phần trong tiêu chuẩn chẩn đoán Hiện nay chẩn đoán rối loạn tăng động giảm chú

ý dựa trên sự đồng thuận của các chuyên gia, họ cho rằng ba phân nhóm – giảm chú ý, tăng động/xung động và loại phối hợp – đều cùng là biểu hiện của rối loạn tăng động giảm chú ý

Để đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán, một số triệu chứng phải xuất hiện trước 7 tuổi mặc dù ADHD không được chẩn đoán ở rất nhiều trẻ em cho đến khi trẻ lớn hơn 7 tuổi khi mà hành vi của trẻ gây ra rắc rối ở trường và ở các nơi khác

Để khẳng định chẩn đoán cho rối loạn tăng động giảm chú ý, sự rối loạn tập trung

và tăng động/xung động được phải được nhận thấy ít nhất ở hai môi trường và ảnh hưởng đến sự phát triển chức năng xã hội phù hợp của trẻ ADHD không được chẩn đoán khi triệu chứng xảy ra ở trẻ em, trẻ vị thành niên hoặc người trưởng thành mắc rối loạn phát triển lan tỏa, tâm thần phân liệt hoặc các rối loạn tâm thần khác [1, tr 150]

1.1.3.1 Theo sổ tay thống kê và chẩn đoán các rối loạn tâm thần rút gọn – IV

A Có sự hiện diện của (1) hoặc (2)

(1) Sáu trong những triệu chứng không chú ý sau đây (hoặc nhiều hơn đã kéo dài trong ít nhất sáu tháng) ở một mức độ mất thích nghi và không tương ứng với

sự phát triển của trẻ:

Mất chú ý:

Thường không thể tập trung chú ý vào những chi tiết hoặc mắc những lỗi lầm do lơ đễnh trong những bài làm ở trường, trong công việc hoặc trong những hoạt động khác

Thường khó khăn duy trì sự chú ý vào công việc hoặc trong các trò chơi Thường có vẻ không lắng nghe khi người ta nói chuyện với đương sự

Thường không tuân thủ những mệnh lệnh và không hoàn thành bài làm ở trường, công việc ở nhà hoặc những đòi hỏi về nghề nghiệp (điều này không phải

do hành vi chống đối, cũng không phải do mất khả năng hiểu biết các mệnh lệnh) Thường gặp khó khăn về tổ chức những công việc hoặc những sinh hoạt của bản thân

Trang 22

Thường tránh né, ghét, hoặc làm một cách miễn cưỡng những công việc cần phải nỗ lực về tinh thần (như làm bài ở trường hoặc ở nhà)

Thường đánh mất những đồ dung cần thiết đối với công việc hoặc sinh hoạt của bản thân (ví dụ: đồ chơi, tập bài làm, bút chì, sách vở hoặc đồ dùng)

Thường dễ bị đãng trí bởi các kích thích bên ngoài

Thường hay bị quên trong đời sống hàng ngày

(2) Có sáu triệu chứng gia tăng hoạt động – xung động sau đây (hoặc nhiều hơn) đã kéo dài ít nhất sáu tháng ở mức độ mất thích nghi và không tương ứng với mức độ phát triển của trẻ:

Gia tăng hoạt động:

Thường động đạy tay chân hoặc vặn vẹo trên ghế ngồi

Thường đứng dậy trong lớp học hoặc trong những tình huống khác mà đúng

ra cần phải ngồi yên

Thường chạy nhảy hoặc leo trèo mọi nơi trong những tình huống không phù hợp (ở thiếu niên hoặc người lớn, triệu chứng này có thể giới hạn trong một cảm giác bứt rứt chủ quan)

Thường gặp khó khăn chỉ khi phải giữ yên tĩnh trong các trò chơi hoặc các hoạt động giải trí

Thường “lăng xăng” hoặc hoạt động liên tục

Thường nói quá nhiều

Tính xung động

Thường trả lời ngay khi câu hỏi chưa được nói ra hết

Thường cảm thấy khó mà chờ đợi đến phiên mình

Thường ngắt lời người khác hoặc xen ngang vào việc của người khác (ví dụ: ngắt ngang câu chuyện hoặc trò chơi)

B Một số triệu chứng gia tăng hoạt động – xung động hoặc mất chú ý gây trở ngại về chức năng đã hiện diện trước 7 tuổi

C Có một mức độ nào đó về trở ngại chức năng liên quan đến những triệu chứng trong hai loại môi trường khác nhau hoặc nhiều hơn (ví dụ: ở trường hoặc tại công sở và ở nhà)

Trang 23

D Phải có bằng chứng rõ ràng về một sự biến đổi về lâm sàng trong hoạt động xã hội, học tập hoặc nghề ghiệp

E Những triệu chứng không phải chỉ có xảy ra trong Rối loạn phát triển lan tỏa, Tâm thần phân liệt hoặc trong Rối loạn tâm thần khác (ví dụ: rối loạn khí sắc, rối loạn lo âu, rối loạn phân ly hoặc rối loạn nhân cách)

Mã hóa theo loại

F90.0 [314.01] Giảm chú ý/ tăng động loại hỗn hợp: nếu cùng một lúc các

tiêu chuẩn A1 và A2 được hội đủ trong sáu tháng cuối

F90.0 [314.00] Giảm chú ý/ tăng động loại mất chú ý chiếm ư thế: nếu tiêu

chuẩn A1 hội đủ mà không hội đủ tiêu chuẩn A2 trong sáu tháng cuối

F90.0 [314.01] Giảm chú ý/ tăng động loại tăng động – xung động chiếm ưu thế: nếu tiêu chuẩn A2 hội đủ mà không hội đủ tiêu chuẩn A1, trong sáu tháng

cuối

Ghi chú mã hóa: đối với những đương sự (đặc biệt là những thiếu niên và người lớn) mà các triệu chứng hiện tại không còn hội đủ toàn bộ những tiêu chuẩn chẩn đoán thì ghi rõ: “phục hồi một phần” [4, tr 45-47]

1.1.3.2 Theo ICD – 10

Các đặc trưng chủ yếu là tật chứng về sự chú ý và tăng hoạt động: cả hai tiêu chuẩn này đều cần thiết trong chẩn đoán và phải được thấy rõ ràng trong nhiều hoàn cảnh (thí dụ ở nhà, ở lớp, ở trong bệnh viện)

Tật chứng về sự chú ý biểu hiện bằng sự đình chỉ trước thời hạn các nhiệm

vụ đang làm và bỏ giở các hoạt động trong khi chưa hoàn thành Các trẻ em thường chuyển từ một hoạt động này sang một hoạt động khác, hình như chúng thôi không chú ý đến một công việc bởi vì chúng bị hấp dẫn bởi công việc khác (trong khi đó thì những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm thường không cho thấy một sự bất thường về sự đãng trí giác quan hay tri giác) Thiếu kiên trì và thiếu chú ý chỉ có thể đưa vào chẩn đoán nếu chúng quá đáng so với lứa tuổi và thương trí Tăng hoạt động bao gồm sự hoạt động quá mức, đặc biệt trong những hoàn cảnh đòi hỏi một sự yên tĩnh nào đó Tùy theo hoàn cảnh, nó biểu hiện ở trẻ

em chạy và nhảy liên tục hoặc đứng dậy khỏi chỗ trong khi người ta yêu cầu ngồi

Trang 24

yên, nói quá mức và làm ồn ào, hoặc cựa quậy không ngừng trong khi ngồi Tiêu chuẩn để đánh giá là mức hoạt động quá cao trong khuôn khổ người ta chờ đợi ở một đứa bé trong một hoàn cảnh nhất định và so với một đứa bé cùng lứa tuổi cùng mức độ trí tuệ Đặc điểm hành vi này biểu hiện rõ ràng hơn trong những hoàn cảnh có tổ chức và có cấu trúc đòi hỏi một sự kiểm tra bản thân ở mức cao Các triệu chứng kết hợp không đủ hoặc không cần thiết để đặt chẩn đoán, nhưng có thể giúp cho chẩn đoán Thiếu kiềm chế trong các mối quan hệ xã hội,

sự dại dột trong những hoàn cảnh nguy hiểm, sự coi thường các nguyên tắc xã hội một cách xung động (như can thiệp vào hay làm gián đoạn những công việc của người khác, hoặc vội vã đưa ra những câu trả lời cho những câu hỏi trước khi chúng được phát biểu đầy đủ, hoặc không yên tâm chờ đợi đến lượt mình) tất cả là những nét đặc trưng của những trẻ em có những rối loạn này

Các khó khăn trong học tập và sự vụng về trong vận động xuất hiện với các tần số bất thường phải được ghi chú riêng (từ F80 đến F89) nếu có, nhưng chúng không được xem như là một thành phần của chẩn đoán hiện tại về rối loạn tăng động Các triệu chứng rối loạn hành vi không phải là những chỉ tiêu bao gồm hay loại trừ chẩn đoán nhưng có chúng hay không có chúng là cơ sở để sự phân chia chủ yếu của rối loạn

Các rối loạn hành vi đặc trưng phải xuất hiện sớm (trước 6 tuổi) và tồn tại lâu dài Tuy nhiên tăng động khó phát hiện trước tuổi vào trường bởi vì các biến đổi của trạng thái bình thường rất rộng; chỉ những cách biệt cực xa mới phải làm chẩn đoán ở trẻ em trước tuổi đi học

Ở tuổi thanh niên, chẩn đoán rối loạn tăng động còn có thể đặt ra Cơ sở như nhau nhưng sự chú ý và hoạt động phải được đánh giá theo các chuẩn mực tương ứng của sự phát triển

Khi tăng động xuất hiện ở tuổi trẻ em nhưng đã mất để nhường chỗ cho một rối loạn khác như một rối loạn nhân cách chống đối xã hội hoặc lạm dụng ma túy, thì người ta ghi mã ở trạng thái hiện tại hơn là trạng thái trước kia

Chẩn đoán phân biệt: Các rối loạn hỗn hợp thường gặp, và các rối loạn lan tỏa của sự phát triển được ưu tiên chẩn đoán nếu chúng xuất hiện Những vấn đề

Trang 25

chủ yếu trong chẩn đoán nằm ở chỗ phân biệt với các rối loạn hành vi; rối loạn tăng động được ưu tiên chẩn đoán hơn các rối loạn hành vi, khi các tiêu chuẩn được đáp ứng Tuy nhiên các thể nhẹ hơn của tăng động và thiếu chú ý cũng phổ biến trong rối loạn hành vi Khi cả hai nét tăng động và rối loạn hành vi đều có và tăng động lan tỏa và nặng thì chẩn đoán “rối hoạn hành vi tăng động (F90.1) Một vấn đề khác phát sinh ở chỗ tăng động và thiếu chú ý thuộc loại không đặc trưng cho một rôi loạn tăng động, có thể xuất hiện như một triệu chứng của lo âu hay trầm cảm Do vậy, trạng thái bất an, thành phần điển hình của rối loạn trầm cảm kích động, không được đưa vào chẩn đoán của một rối loạn tăng động Cũng như vậy, trạng thái bất an đó thường là một thành phần của lo âu trầm trọng cũng không được đưa vào chẩn đoán của một rối loạn tăng động Nếu các tiêu chuẩn cho một trong những rối loạn lo âu được thỏa mãn thì chẩn đoán này phải ưu tiên hơn là chẩn đoán rối loạn tăng động, trừ khi có bằng chứng là có thêm rối loạn tăng động cùng với trạng thái bất an kết hợp với lo âu Tương tự như vậy nên tiêu chuẩn của rối loạn cảm xúc (F30 – F39) được thoả mãn thì không được chẩn đoán thêm rối loạn tăng động, đơn giản vì có suy giảm tập trung và có kích động tâm thần vận động Chỉ làm cả hai chẩn đoán khi các triệu chứng trên không phải đơn thuần là một phần của rối loạn cảm xúc và khi chúng cho thấy rõ ràng là các rối loạn tăng động riêng biệt

Sự khởi phát cấp của một hành vi tăng động ở một đứa trẻ ở tuổi đi học có thể là kết quả của một rối loạn phản ứng (tâm sinh hoặc thực tổn) một trạng thái hưng cảm, bệnh tâm thần phân liệt hay bệnh thần kinh (thí dụ sốt ho thấp khớp)

- Loại trừ các rối loạn lo âu (F41 hoặc F93.0)

- Các rối loạn khia sắc (cảm xúc) (F30 – F39)

- Các rối loạn phát triển lan tỏa (F84)

- Tâm thần phân liệt (F20)

1.1.4 Dịch tễ học và nguyên nhân

1.1.4.1 Dịch tễ

ADHD là rối loạn tâm thần phổ biến nhất trẻ nhỏ Nhìn chung, tỉ lệ lưu hành

từ 5 - 12% trẻ em tuổi đi học

Trang 26

Tỉ lệ nam: nữ khoảng 3:1 ở trẻ em và vị thành niên, nhưng cho rằng chẩn đoán này cho trẻ nữ bị bỏ sót Xấp xỉ 8-10% nam và 3-4% nữ dưới 18 tuổi có ADHD Khoảng 80% các trẻ ADHD sẽ tiếp tục thỏa mãn các tiêu chuẩn chẩn đoán ADHD ở tuổi vị thành niên và 60% sẽ duy trì các triệu chứng cốt lõi ở tuổi trưởng thành

Trong các tư liệu khoa học quốc tế, những ước tính về tỉ lệ lưu hành thay đổi qua các nghiên cứu Ở Colombia, tỉ lệ lưu hành ADHD được ước tính là 19% đối với nam và 12% đối với nữ; loại kết hợp (ADHD) là 6.4%, loại kém chú ý là 4.8%

và loại tăng động xung động là 3% Một phạm vi rộng như vậy trong ước tính tỉ lệ lưu hành dường như không phản ánh sự khác biệt thực sự trong số người có ADHD ở các dân số khác nhau Polanczyk và các cộng sự (2008) đã tiến hành một tổng quan hệ thống các nghiên cứu tỉ lệ lưu hành và kết luận rằng phần lớn các sự thay đổi bắt nguồn từ các phương pháp sử dụng, chẳng hạn như cách thức mà các triệu chứng được đo lường và các định nghĩa chính xác được sử dụng Có sự khác biệt tương đối nhỏ trong các khu vực khác nhau trên thế giới và tổng kết về tỉ lệ lưu hành của sự tổng quan là vào khoảng 5,3% [20]

Ở Việt Nam, từ năm 2007 đến nay đã xuất hiện một vài nghiên cứu về tỉ lệ mắc ADHD nhưng chỉ diễn ra ở địa bàn Hà Nội và trên một số trường tiểu học và trung học cơ sở (THCS) Các nghiên cứu cũng cho kết quả rất khác nhau, tỉ lệ mắc phải dao động từ 3-6,3% Trong đó, theo Võ Thị Minh Chí (2003) tỉ lệ nam là 1,28%, nữ là 0,19% ở học sinh THCS [5,6] Tại thành phố Hồ Chí Minh (2013),

có 2,3% trẻ có biểu hiện rối loạn giảm chú ý [4]

1.1.4.2 Nguyên nhân

Các nguyên nhân của ADHD liên quan đến sự tương tác của nhiều yếu tố gen

và môi trường Không có một nguyên nhân trực tiếp nào gây ra ADHD, kể cả gen

và không liên quan đến gen Mà là những tương tác phức tạp của nhiều yếu tố nguy cơ và môi trường

Gen

Trang 27

Có bằng chứng mạnh mẽ từ các nghiên cứu về sự đóng góp lớn của di truyền đối với ADHD Phát hiện này được hỗ trợ bởi các nghiên cứu song sinh, nghiên cứu nhận nuôi,các nghiên cứu gia đình và các nghiên cứu di truyền học phân tử ADHD là rối loạn có thể có tính di truyền rất cao nhưng tỷ lệ không phải là 100% Nó đã được báo cáo trong một số nghiên cứu cao đến 79% ADHD chia sẻ một nguy cơ về di truyền với những vấn đề phối hợp phát triển, khả năng đọc, IQ, những vấn đề về khí sắc và ứng xử

Các gen nhạy cảm (Susceptibility Genes)

Những bất thường ở các gen quy định thụ thể dopamine D4 và D5 (DRD 4 & DRD5) được nối kết với ADHD Các gen quy định chất vận chuyển dopamine (dopamine transporter genes - DAT1) đưa đến mức độ dopamine thấp trong não

bộ của những bệnh nhân ADHD

Một số rối loạn hiếm gặp về gen như hội chứng mất đoạn và bất thường nhiễm sắc thể được kết hợp với ADHD Những ví dụ bao gồm U sợi thần kinh type 1, hội chứng Angelman, hội chứng Prader-Willi, hội chứng nhiễm sắc thể X

dễ vỡ, bệnh xơ cứng củ và mất đoạn nhỏ nhiễm sắc thể 22 q 11

Hình ảnh học thần kinh và hóa học thần kinh

ADHD được cho là do việc hoạt động kém ở những cấu trúc vỏ não vùng trán và dưới vỏ làm giảm sự sản xuất dopamine và norepinephrine Những nghiên cứu về hình ảnh học thần kinh xác nhận rằng những bất thường của não bộ trong các mạng lưới trán-dưới vỏ được nối kết với ADHD nhưng những kỹ thuật về hình ảnh học thần kinh không phải là các công cụ có giá trị trong chẩn đoán ADHD; những đo lường hình ảnh không đủ độ đặc hiệu và độ nhạy để có thể sử dụng cho mục đích chẩn đoán

Lưng vỏ não trước Cingulate được cho là có nối kết với chú ý có chọn lọc (chi tiết, lắng nghe, lỏng lẻo, quên) Vỏ não vận động trán trước được gắn với những triệu chứng tăng động Vỏ não trán-ổ mắt được gắn với những triệu chứng xung động Vỏ não trước trán vùng lưng bên được liên kết với chức năng giải quyết vấn đề, duy trì chú ý và chức năng quản trị (tổ chức, theo dõi, tránh nỗ lực tinh thần)

Trang 28

Những nghiên cứu hình ảnh học thần kinh và MRI ở trẻ ADHD đã báo cáo những sự bất thường ở vỏ não tiền trán, hạch nền, kích thước giảm của vỏ não

trán, tiểu não, hạch nền, thể chai và thùy trán Chứng giảm lưu thông máu cũng được báo cáo ở vùng vân

Các yếu tố giai đoạn mang thai và ở đầu giai đoạn thời thơ ấu

Một số yếu tố đã cho thấy sự liên kết về mặt dịch tễ và lâm sàng với ADHD Những yếu tố này bao gồm sử dụng rượu và thuốc lá dẫn đến hội chứng ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh do người mẹ khi mang thai nghiện rượu (hội chứng rượu-bào thai) hoặc dùng ma túy như heroin trong thời gian thai kỳ Người ta cũng cho rằng trẻ này sinh rất nhẹ cân, sinh non, giảm oxi trong bào thai, chấn thương não

có thể dẫn đến ADHD Sự căng thẳng của người mẹ cũng được nối kết với ADHD

Những yếu tố độc tố và chế độ ăn uống

Tiếp xúc với các chất độc như thuốc trừ sâu, polychlorinated biphenyl (PCBs), đưa đến và thiếu sắt và kẽm đã được nghiên cứu trong nỗ lực để hiểu những đóng góp của chung đối với ADHD

Phụ gia thực phẩm, đường, chất tạo màu, các axit béo omega 3 và chế độ ăn hạn chế (elimination diet) đã được nghiên cứu liên quan đến các triệu chứng ADHD Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên gần đây cho thấy một số lợi ích trong việc sử dụng chế độ ăn loại trừ trong việc cải thiện các triệu chứng ADHD

Các yếu tố tâm lý xã hội

ADHD có liên quan với bất lợi tâm lý xã hội ban đầu nghiêm trọng Học vấn của cha mẹ thấp, nghèo đói, thiếu thốn, cha mẹ tiêu cực, bị bắt nạt bởi các bạn đồng trang lứa, bất hòa trong gia đình có liên quan đến ADHD [19]

1.1.5 Các phương thức điều trị rối loạn tăng động giảm chú ý

Như đã thảo luận ở phần lý do chọn đề tài, trẻ ADHD gặp nhiều khó khăn trong hầu hể các khía cạnh đời sống của trẻ Bên cạnh những triệu chứng cốt lõi tăng động/xung động và suy giảm chú ý, trẻ ADHD còn gặp nhiều vấn đề khác là

hệ quả của những triệu chứng chính như rối loạn hàn vi, các vấn đề trong tương tác xã hội Vì vậy, trong những thập niên trước, nhiều phương pháp điều trị

Trang 29

ADHD đã được nghiên cứu Các phương pháp điều trị đã được chứng minh là hiệu quả trong nhiều thử nghiệm khác nhau là thuốc và điều trị hành vi Qua thời gian, hai phương pháp này ngày càng được các nhà khoa học đào sâu, phát triển và thực hành kết hợp trong điều trị Gần đây trên thế giới, phương pháp điều trị hiệu quả nhất cho rối loạn tăng động giảm chú ý là trị liệu đa phương thức bao gồm kết hợp điều trị thuốc methylphenidate với liệu pháp gia đình, hoặc là huấn luyện hành vi

và dạy những kỹ năng ứng phó cho cha mẹ và các chương trình giáo dục ở trường học [1, tr 168 - 169]

1.1.5.1 Điều trị bằng hóa dược

Đối với hầu hết trẻ em, thuốc rất hiệu quả cho các triệu chứng cốt lõi của ADHD là thiếu chú ý, hiếu động, và bốc đồng

Thuốc kích thích hệ thần kinh trung ương:

Một số thuốc giống giao cảm được dùng trong tâm thần học như các thuốc kích thích tâm thần và hồi sức là dextroamphetamin (Dexedrin), methylphenidat (Ritalin) và pemolin (Cylert) Các thuốc này được dùng để chữa chứng ngủ rũ và tăng động – giảm chú ý

Dextroamphetamin viên 5mg, 10mg; cho người lớn, liều ban đầu 10mg/ngày, trung bình 10-20mg/ngày, tối đa 40mg/ngày; nếu dùng cho trẻ ba hay trên ba tuổi, cần thăm dò liều thích hợp;

2.5-Methylphenidat cho trẻ em 6 tuổi hoặc trẻ lớn hơn nhưng cần thăm dò liều lượng; có viên 5mg, 10mg, 20mg; cho người lớn bắt đầu 5mg/ngày, tăng dần đến 20-30mg/ngày, tối đa 60-80mg/ngày;

Pemolin tuy tác dụng có phần không mạnh bằng hai loại trên nhưng khả năng gây lạm dụng thấp nên được dùng nhiều hơn; có viên 18.75mg, 37.5mg, 75mg; bắt đầu dùng liều 18.75-37.5mg/ngày, trung bình 56.25-75mg/ngày, tối đa 112.5mg/ngày Cho trẻ em, cần thăm dò liều lượng thích hợp

Có hai vấn đề tranh cãi về sử dụng các thuốc này:

Thuốc làm giảm nhẹ sự tăng trưởng: cho nghỉ thuốc một thời gian, sự phát triển trở lại bình thường rõ ràng

Trang 30

Quen thuốc và lạm dụng thuốc: sẽ không có vấn đề gì nếu dùng thuốc hợp lý trong phạm vi liều lượng thường dùng

Thuốc chống trầm cảm

Imipramin (Tofranil) đặc biệt cho thể trầm cảm có rối loạn ám ảnh và/hay là

lo âu viên 25mg, cho thanh thiếu niên 1-3 viên/ngày;

Desipramin (Norpramin) dùng có lợi khi các thuốc kích thích không cho hiệu quả Thuốc này còn dùng để điều trị rối loạn giảm chú ý – tăng động kết hợp với tic và khi dùng thuốc kích thích điều trị cho một trẻ bị giảm chú ý – tăng động đã làm xấu đi rối loạn tic Thuốc có dạng viên 25mg, cho thanh thiếu niên bắt đầu dùng 1-2 viên/ngày, có thể tăng đến 5-6 viên/ngày Cho trẻ em, cần thăm dò liều lượng

Các thuốc chống trầm cảm ba vòng tác động bằng cách phong bế sự tái bắt giữ catecholamin; cần dùng rất thận trọng vì thuốc có khả năng gây độc cho tim Như vậy, bên cạnh những lợi ích mà việc điều trị thuốc có thể đem lại như là giúp trẻ kiểm soát được những hành vi tăng động/xung động, cải thiện khả năng chú ý thì cũng tồn tại những mặt hạn chế do các tác dụng phụ không mong muốn của thuốc

1.1.5.2 Điều trị bằng các liệu pháp tâm lý xã hội

Như đã biết, mặc dù thuốc có vai trò quan trọng trong điều trị ADHD, tuy

nhiên phương pháp này chỉ là một phần trong chiến lược điều trị đa phương thức cho trẻ ADHD Đối với các vấn đề thiếu hụt kỹ năng xã hội, các liệu pháp tâm lý

cá nhân giúp trẻ thay đổi hành vi, tư vấn cho cha mẹ và điều trị các rối loạn phát triển đặc hiệu cùng tồn tại đều rất cần thiết [1, tr 168]

Những can thiệp tâm lý xã hội cho trẻ ADHD bao gồm giáo dục tâm lý, khắc phục những kỹ năng tổ chức học tập, huấn luyện cha mẹ, sửa đổi hành vi ở lớp học và tại nhà, liệu pháp nhận thức hành vi, huấn luyện kỹ năng xã hội Huấn luyện kỹ năng hành vi, nhóm xã hội cho cha mẹ có trẻ ADHD, và những can thiệp hành vi ở trường và tại nhà, đã được nghiên cứu độc lập và kết hợp với việc quản

lý thuốc cho ADHD

Trang 31

Sự đánh giá và điều trị các rối loạn học tập và rối loạn tâm thần khác đi kèm cũng là một trong những vấn đề quan trọng Khi đứa trẻ được trợ giúp để cấu trúc môi trường của chúng, những lo lắng của chúng sẽ giảm đi Rất hữu ích khi cha

mẹ và giáo viên làm việc cùng nhau để thiết lập những mong đợi cụ thể cho đứa trẻ và và một hệ thống phần thưởng cho trẻ khi những mong đợi được đáp ứng Mục đích chung của liệu pháp là giúp đỡ phụ huynh nhận thức và thúc đẩy ý tưởng rằng mặc dù trẻ không thể biểu hiện các triệu chứng của ADHD một cách

“tự nguyện” trẻ vẫn có khả năng đáp ứng được những mong đợi có thể (phù hợp với trẻ)

Phụ huynh cũng được giúp đỡ để nhận thức rằng, cho dù những khó khăn của con cái họ như vậy, mỗi đứa trẻ phải đối diện mới những khó khăn trưởng thành thông thường bao gồm xây dựng lòng tự trọng khi trẻ pháp triển một ý thức về sự thông thạo Do đó đứa trẻ ADHD không có được lợi ích từ việc được miễn những yêu cầu, mong đợi và hoạch định có thể đối với những trẻ khác Huấn luyện cha

mẹ là một phần lồng ghép của những can thiệp điều trị đối với trẻ ADHD Hầu hết việc huấn luyện cha mẹ được dựa trên những can thiệp hành vi có thể sử dụng với những củng cố tích cực đối với cả hành vi xã hội lẫn hành vi học tập

Liệu pháp nhóm nhắm đến mục tiêu về những kỹ năng xã hội, gia tăng lòng

tự trọng và phát triển ý thức về sự thành công có thể rất có lợi cho những trẻ ADHD vốn có những khó khăn trong các môi trường nhóm, đặc biệt là ở trường Một can thiệp nhóm kéo dài một năm trong môi trường lâm sàng cho những bé trai có rối loạn đã mô tả mục tiêu là giúp những bé trai này phát triển kỹ năng chơi trò chơi và ý thức thông thạo với bạn bè cùng trang lứa Những bé trai này đầu tiên được yêu cầu thực hiện những trò chơi vui vẻ, theo cặp, và kế đó dần được yêu cầu thực hiện những nhiệm vụ theo nhóm Trẻ được hướng dẫn theo những chỉ dẫn sau: chờ đợi, tập trung chú ý, và được khen thưởng khi hợp tác thành công [16]

Tất cả những phương pháp can thiệp tâm lý xã hội trên đều nhằm đến hỗ trợ trẻ ADHD trong các khía cạnh khó khăn về mặt xã hội Như vậy, hỗ trợ điều trị

Trang 32

cho trẻ ADHD đang được ngày càng chú ý ở mức toàn diện hơn trên tất cả các mặt đời sống của trẻ

1.1 Phong cách làm cha mẹ

1.1.6 Định nghĩa

Phong cách làm cha mẹ (được dịch từ tiếng Anh là “parenting style”) được

đề cập nhiều bắt đầu từ những năm 1920 Làm cha mẹ là một hoạt động phức tạp bao gồm nhiều hành vi cụ thể như làm việc cá nhân và cùng nhau để gây ảnh hưởng đến các kết quả của con cái Mặc dù hành làm cha mẹ là cụ thể, chẳng hạn như đánh đòn hoặc đọc to, có thể ảnh hưởng đến phát triển của trẻ, nhưng nhìn vào bất kỳ hành vi cụ thể nào trong sự tách biệt cũng có thể gây hiểu nhầm Nhiều tác giả đã lưu ý rằng những thực hành cụ thể trong nuôi dạy con cái là ít quan trọng trong việc dự đoán hạnh phúc của con cái hơn là mẫu hình chung của cha

mẹ Hầu hết các nhà nghiên cứu đã cố gắng để mô tả mẫu hình này của cha mẹ dựa trên khái niệm về phong cách làm cha mẹ của Diana Baumrind

Theo Baumrind (1991) việc xây dựng phong cách làm cha mẹ được sử dụng

để nắm bắt sự thay đổi bình thường trong các nỗ lực của cha mẹ để kiểm soát và

xã hội hóa con cái của họ Tồn tại hai điểm rất quan trọng trong việc tìm hiểu định nghĩa này Đầu tiên, phong cách làm cha mẹ là có nghĩa là để mô tả sự thay đổi bình thường ở cha mẹ Nói cách khác, các loại hình phong cách làm cha mẹ mà bà Baumrind đã phát triển không nên được hiểu là bao gồm các hành vi lệch chuẩn của cha mẹ, chẳng hạn như có thể được quan sát thấy trong những gia đình lạm dụng hoặc bỏ rơi con cái Thứ hai, Baumrind giả định rằng làm cha mẹ bình thường xoay quanh các vấn đề về kiểm soát Mặc dù cha mẹ có thể khác nhau ở cách họ cố gắng để kiểm soát hay xã hội hóa con cái của họ và mức độ mà họ làm như vậy, nó được giả định rằng vai trò chính của tất cả các bậc cha mẹ là gây ảnh hưởng, dạy dỗ và kiểm soát con cái của họ [5]

Bên cạnh đó, theo Maccoby và Martin (1983) phong cách làm cha mẹ có hai yếu tố chính: sự nồng nhiệt và những mong muốn của cha mẹ Trong đó, sự nồng nhiệt được thể hiện qua mức độ ấm áp trong đáp ứng và hỗ trợ con cái Những mong muốn của cha mẹ được thể hiện qua mức độ kiểm soát, đưa ra những yêu

Trang 33

cầu trên con cái của cha mẹ

Như vậy, mặc dầu mỗi tác giả khi nghiên cứu về phong cách làm cha mẹ thường đưa ra những ý kiến riêng nhưng hầu hết đều ủng hộ và xây dựng khái niệm phong cách làm cha mẹ dựa trên quan điểm của Diana Baumrind (1991) [5]

Bà cho rằng “phong cách làm cha mẹ là những khuôn mẫu khác nhau mà cha mẹ thường sử dụng để cố gắng kiểm soát và xã hội hóa đứa trẻ” Và trong nghiên cứu này, chúng tôi cũng ủng hộ định nghĩa này của Diana Baumrind để hiểu về phong cách làm cha mẹ

1.1.7 Phân loại các kiểu phong cách làm cha mẹ

Theo Diana Baumrind, có bốn khía cạnh quan trọng trong phong cách làm cha mẹ [18]:

- Chiến lược kỷ luật

- Ấm áp và chăm sóc

- Cách thức giao tiếp với con cái

- Kỳ vọng về sự trưởng thành của con cái và cách thức kiểm soát

Dựa trên bốn khía cạnh này, bà cho rằng có ba phong cách cha mẹ chủ yếu là: phong cách làm cha mẹ dân chủ, phong cách làm cha mẹ độc đoán và phong cách làm cha mẹ dễ dãi

Diana Baumrid (1966) [54] mô tả ba phong cách làm cha mẹ điển hình như sau:

Cha mẹ có phong cách làm cha mẹ dễ dãi có huynh hướng cư xử một cách không trừng phạt, chấp nhận và khẳng định nhằm hướng đến sự bất đồng, mong muốn và hành động của trẻ Cha mẹ hỏi ý kiến trẻ về các quyết định và đưa ra các giải thích về luật lệ gia đình Cha mẹ đưa ra một vài yêu cầu cho trách nhiệm gia đình và hành vi có trật tự Cha mẹ thể hiện mình với con cái như một nguồn lực để đáp ứng các mong ước của trẻ, chứ không phải như một ý tưởng cho con cái mô phỏng theo, hay không phải như một tác nhân tích cực có nhiệm vụ xây dựng hoặc thay đổi hành vi trong hiện tại hay tương lai của con trẻ Cha mẹ cho phép con cái điều tiết các hoạt động của mình càng nhiều càng tốt, tránh việc kiểm soát, và không khuyến khích con cái tuân thủ một số các tiêu chuẩn bên ngoài Cha mẹ

Trang 34

hướng đến sử dụng lý trí hoặc hành động, nhưng không sử dụng quyền lực để thực hiện mục đích của mình

Cha mẹ có phong cách làm cha mẹ độc đoán thường cố gắng định hình, kiểm soát, đánh giá hành vi và thái độ của con cái theo một bộ tiêu chuẩn đạo đức, thường là một tiêu chuẩn tuyệt đối, được thúc đẩy và hình thành một cách chủ quan bởi người thẩm quyền cao hơn Phụ huynh đánh giá sự vâng lời như một đức tính tốt và ủng hộ việc trừng phạt, áp dụng các biện pháp mạnh mẽ để ngăn chặn

sự tự ý xảy ra khi hành vi hoặc niềm tin của con cái xung đột với những gì cha mẹ nghĩ đó là đức tính tốt Cha mẹ tin vào việc kiểm soát con cái, hạn chế quyền tự chủ của con cái, và phân công trách nhiệm gia đình để khắc sâu sự tôn trọng công việc Cha mẹ xem việc giữ gìn trật tự và cấu trúc truyền thống như một mục đích

có giá trị cao Cha mẹ không khuyến khích sự cho và nhận bằng lời nói và tin rằng con cái nên vâng lời mình vì việc gì đó được cho là đúng

Cha mẹ có phong cách làm cha mẹ dân chủ cố gắng để chỉ đạo các hoạt động của con cái nhưng theo một định hướng hợp lý Cha mẹ khuyến khích cho và nhận bằng lời nói, chia sẻ với con cái những lý do đằng sau những quyết định của mình,

và gạ gẫm sự phản đối của trẻ khi trẻ từ chối tuân theo Cả hai sự tự chủ và sự tuân thủ kỷ luật đều được coi trọng Vì vậy cha mẹ thường kiểm soát chắc chắn các điểm khác biệt giữa cha mẹ và con cái, nhưng không bao bọc con cái bởi các ràng buộc Cha mẹ thực thi quan điểm riêng của mình như một người trưởng thành, nhưng công nhận sở thích cá nhân và tính cách đặc biệt của trẻ Cha mẹ có phong cách làm cha mẹ dân chủ thường khẳng định phẩm chất hiện tại của con cái, nhưng cũng đặt ra các tiêu chuẩn cho hành vi trong tương lai Cha mẹ sử dụng lý trí, quyền lực và định hình cách giáo dục và củng cố để đạt được mục tiêu của mình Cha mẹ không áp đặt quyết định của mình trên sự đồng thuận nhóm hoặc những ham muốn cá nhân của con cái

1.1.8 Tính cách của trẻ và phong cách làm cha mẹ

Phong cách làm cha mẹ uy quyền

- Khuynh hướng sôi nổi và hạnh phúc

- Tự tin về khả năng làm chủ công việc

Trang 35

- Quy chế cảm xúc phát triển tốt

- Kỹ năng xã hội phát triển

- Ít cứng nhắc về đặc điểm giới tính (ví dụ: nhạy cảm ở bé trai và độc lập ở bé

gái)

Phong cách làm cha mẹ độc đoán

- Có huynh hương lo lắng, dễ từ bỏ và không hạnh phúc

- Hành xử kém đối với các việc gây thất vọng (đặc biệt các bé gái dễ từ bỏ và

bé trai đặc biệt trở nên không thân thiện)

- Học tốt ở trường (có thể so sánh với các nghiên cứu cho mẹ phong cách uy

quyền )

- Không có khuynh hướng tham gia vào các hoạt động chống đối xã hội (ví

dụ: ma túy và lạm dụng rượu, đập phá, các băng nhóm)

Phong cách làm cha mẹ dễ dãi

- Quy chế cảm xúc kém

- Nổi loạn và ngang bướng khi sự ham muốn bị thách thức

- Kiên trì thấp với các nhiệm vụ có tính thử thách

- Hành vi chống đối xã hội

Ngoài ra, trong một nghiên cứu mới hơn, Maccoby và Martin (1983) [28] đã

bổ sung thêm một phong cách làm cha mẹ vào ba loại phong cách trên Phân loại bốn phong cách làm cha mẹ của ông là:

- Phong cách làm cha mẹ dân chủ (cha mẹ có sự ấm áp, mong đợi của cha mẹ

rõ ràng, luật lệ được đưa ra phù hợp và có thảo luận với con cái)

- Phong cách làm cha mẹ độc đoán (ít thể hiện sự nồng ấm, cha mẹ đưa ra

mong đợi và luật lệ theo cách áp đặt, thiếu sự trao đổi, có nhiều hình phạt nghiêm khắc về thể chất nếu trẻ phạm lỗi)

- Phong cách làm cha mẹ dễ dãi – nuông chiều (cha mẹ thể hiện mức độ nồng

ấm cao nhưng với sự kiểm soát thấp)

- Phong cách làm cha mẹ thờ ơ – không quan tâm (thể hiện thấp cả về sự

nồng ấm và kiểm soát)

Như vậy với mỗi phong cách làm cha mẹ, sự tương tác giữa cha mẹ với con

Trang 36

cái là khác nhau, chất lượng tương tác ảnh hưởng đến tính cách của đứa trẻ Trong nghiên cứu này, chúng tôi xin sử dụng thang đo phong cách cha làm mẹ dựa trên

ba yếu tố dân chủ, độc đoán và dễ dãi để thực hành Do đó, chúng tôi dựa vào sự phân loại 3 phong cách làm cha mẹ dân chủ, độc đoán, dễ dãi

1.2 Phong cách làm cha mẹ trong những gia đình có trẻ được chẩn đoán rối

loạn tăng động giảm chú ý

1.1.9 Các nghiên cứu ở phương Tây

Hamid Alizadeh (2007) [16] xác định mối quan hệ giữa sự tự tin của cha mẹ,

sự ấp áp và gần gũi với con cái và sự trừng phạt trong gia đình của trẻ em bị chứng tăng động, giảm chú ý (ADHD) Về phương pháp, chẩn đoán ADHD được thiết lập thông qua phỏng vấn lâm sàn với cha mẹ, con cái, và giáo viên theo tiêu chuẩn DSM – IV – TR Chẩn đoán này cũng được thiết lập bằng cách cho cha mẹ hoàn thành khảo sát về thang đo đánh giá cha mẹ của Conner, và các giao viên hoàn thành thang đo đánh giá giao viên của Conner Hai nhóm cha mẹ người Iran, một nhóm với con cái bị ADHD (N=130) và một nhóm kiểm soát (N=120), thang đo phong cách cha mẹ và sự tư tin được lấy từ bảng khảo sát đã thực hiện Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra cha mẹ của trẻ bị ADHD thì cho thấy có một sự tự tin thấp hơn và ít ấm áp và ít gần gũi với con cái của họ hơn, sử dụng biện phát trừng phạt mạnh hơn so với cha mẹ của nhóm kiểm soát Kết luận của nghiên cứu cung cấp một bằng chứng mạnh mẽ rằng trẻ em bị ADHD thì có rủi ro đáng xem xét về

sự ngược đãi bởi cha mẹ của chúng Thay vì chỉ tập trung vào chứng ADHD của trẻ, phương pháp điều trị cũng cần tính đến chức năng của cha mẹ

Trong nghiên cứu của mình, Shakila Yousefia (2011) [34] nhắm đến so sánh

áp lực nuôi dạy trẻ của những người mẹ có trẻ bị ADHD và những đứa trẻ bình thường Phương pháp so sánh nhân quả được sử dụng Đặc trưng của mẫu là gồm các trẻ em từ 5 đến 12 tuổi được chuyển đến bệnh viện tâm thần (bệnh viện I bn-e-sina và bệnh viện Shaykh Doctor, thuộc Iran) Tất cả những người mẹ của nhóm trẻ bình thường (từ 5-12 tuổi) được chọn ở trường mẫu giáo và tiểu học trong địa bàn quận 4 của Mashhad với 50 cha mẹ có trẻ bị ADHD và 80 người mẹ trong nhóm trẻ bình thường được chọn theo phương pháp chọn mẫu cả khối (cluster

Trang 37

sampling) Các công cụ được đề xuất là thang đo phong cách cha mẹ Diana Baumrind và chỉ số áp lực nuôi dạy trẻ (PSI) Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là kiểm định T-test cho các nhóm độc lập, phân tích ANOVA hai chiều Các kết quả cho thấy rằng có một sự khác biết có ý nghĩa thống kê giữa áp lực nuôi dạy trẻ của những người mẹ có con bị ADHD và nhóm trẻ bình thường Và có một

sự khác biệt có ý nghĩa thông kê giữa phong cách cha mẹ giữa những người mẹ có con bị ADHD và nhóm trẻ bình thường Bên cạnh đó có một sự khác biệt có ý nghĩa thông kê trong áp lực nuôi dạy trẻ giữa những người mẹ có con bị ADHD và nhóm trẻ bình thường Và mức độ áp lực nuôi dạy trẻ có một tác động lên phong cách cha mẹ của nhóm trẻ bị ADHD Nói cách khác, áp lực nuôi dạy trẻ càng cao,

thì phong cách cha mẹ độc đoán càng cao

Trong nghiên cứu so sánh về hiệu quả của cha mẹ và hành vi trẻ em trong một mẫu gồm có cha mẹ và trẻ em từ lớp 4 đến lớp 6 có và không có ADHD của Primack và cộng sự (2012) [32] Mục tiêu của nghiên cứu là sử dụng báo cáo của

cả cha mẹ và trẻ Kết quả đã cho thấy hiệu quả trong cách làm cha mẹ của những

cha mẹ của trẻ ADHD thấp hơn so với những cha mẹ của trẻ không ADHD, và nếu phản hồi điều này cho họ biết sẽ cải thiện hiệu quả của vai trò làm cha mẹ, và

điều này được biết có gắn kết tích cực đến kết quả điều trị ADHD

Mahboobeh Firouzkouhi Moghaddam và cộng sự (2013) [29] so sánh phong cách cha mẹ của những cha mẹ của trẻ có và không có ADHD cho thấy rằng cha

mẹ của trẻ ADHD có phong cách cha mẹ độc đoán nhiều hơn và ít có phong cách cha mẹ dễ dãi hơn Những cách nuôi dạy như vậy có thể dẫn đến việc làm xấu đi những triệu chứng của ADHD, vì thế việc cải thiện phong cách cha mẹ với liệu pháp gia đình, huấn luyện phụ huynh về hành vi, các chương trình giáo dục học đường, và kỹ năng ứng phó giảng dạy có thể cải thiện chất lượng cuộc sống và các mối quan hệ trong gia đình có trẻ em ADHD

Nhìn chung, các tài liệu nghiên cứu của các tác giả phương Tây cho thấy những đặc điểm chung trong tương tác cha mẹ - con cái trong gia đình có trẻ ADHD là trẻ ADHD nhận được ít sự quan tâm, ít sự nồng ấm, và có khuynh hướng chịu sự trừng phạt nhiều hơn so với những trẻ bình thường và trẻ không có

Trang 38

ADHD Các nghiên cứu cũng chỉ ra tác động của các triệu chứng ADHD ở trẻ tạo

ra áp lực hơn cho cha mẹ trong nuôi dạy con cái so với những trẻ em bình thường

Áp lực trong nuôi dạy con cái càng cao thì cha mẹ càng có khuynh hướng phong cách độc đoán càng nhiều Điều này nói lên rằng cha mẹ của trẻ ADHD thường có phong cách độc đoán hơn, kém hiệu quả hơn so với phong cách cha mẹ của những phụ huynh có con bình thường hay không có ADHD

1.1.10 Các nghiên cứu ở châu Á và Việt Nam

1.1.10.1 Các nghiên cứu ở châu Á

Theo Li-Ren Chang cùng cộng sự (2013) [27] các tài liệu nghiên cứu phương Tây khảo chứng sự tương tác cha – con kém và sự tương tác mẹ – con kém ở các gia đình có trẻ em bị tăng động/ giảm chú ý (ADHD) Tuy vậy, phương pháp giáo dục của cha và sự ảnh hưởng của phương pháp này trong các gia đình châu Á có trẻ bị ADHD vẫn chưa được khám phá Các tác giả so sánh mối tương tác cha – con và phong cách làm cha giữa trẻ em bị ADHD và không bị ADHD và nhận ra mối tương quan của các thang đo phong cách cha mẹ này Về phương pháp, sự tương tác cha – con và phong cách làm cha được so sánh với giữa 296 trẻ bị tăng động/ giảm chú ý (ADHD) và 229 trẻ em không bị ADHD ở Đài Loan Tất cả trẻ

em và cha mẹ của chúng nhận các bảng phỏng vấn tâm thần để chẩn đoán ADHD

và các rối loại tâm thần khác của trẻ, và người cha cũng được đánh giá về các triệu chứng ADHD, lo âu và trầm cảm Cả người cha và con đều báo cáo về phong cách làm cha, sự tương tác cha – con, các vấn đề về hành vi tại nhà, và nhận thức về sự

hỗ trợ của gia đình Các kết quả cho thấy trẻ em bị ADHD ít nhân được sự quan tâm hơn và bị bảo vệ quá mức và kiểm soát độc đoán từ cha của chúng Chúng có

ít sự tương tác linh hoạt với cha hơn, các vấn đề đối xử nghiêm khắc, và nhận thức

sự hỗ trợ gia đình thì ít hơn trẻ không bị ADHD Tương quan đối với sự tương tác cha – con kém là các yếu tố các triệu chứng ADHD khi còn nhỏ, bệnh tật, tuổi đánh giá, và triệu chứng lạo thần và trầm cảm ở người cha Thêm vào đó, trẻ em báo cáo tiêu cực hơn về sự tương tác cha-con và phong cách làm cha hơn những người cha bao cáo Như vậy, các nghiên cứu của tác giả gợi ý rằng tác động tiêu cực của ADHD lên phong cách cha mẹ và tương tác cha – con Nhưng biện pháp

Trang 39

can thiệp lâm sàn nhắm đến cải thiện tương tác cha – con nên được chú ý hơn Gau và Chang (2013) [14] điều tra nghiên cứu sự tương tác mẹ – con và phong cách làm mẹ trong thanh thiếu niên bị và không bị chứng tăng động giảm chú ý (ADHD) trong một mẫu gồm 190 thanh thiếu niên bị DSM-IV ADHD kéo dài, và 147 ADHD không kéo dài và 233 không bị ADHD Cả người tham dự và cha mẹ của họ nhận phỏng vấn tâm thần cho các triệu chứng ADHD và các rối loạn tâm thần khác, và thước đo phong cách mẹ dựa trên công cụ kết nối cha mẹ (Parental Bonding Instruments), thước đo sự tương tác với mẹ và vấn đề hành xử trong gia đình dựa trên thống kê điều chỉnh xã hội (Social Adjustment Inventory) Người mẹ cũng báo có về ADHD và các triệu chứng tâm thần/ trầm cảm của họ Kết quả dựa trên cả hai thông tin viên chỉ ra rằng cả hai nhóm trẻ ADHD nhận được ít tình cảm/ chăm sóc và bảo vệ quá mức và kiểm soát từ những người mẹ,

và nhận thức sự hỗ trợ của gia đình ít hơn những đứa trẻ không bị ADHD Sự không tập trung và bệnh tật ở trẻ, và trầm cảm ở mẹ có tương quan đáng kể tới sự suy giảm trong tình yêu thương/sự quan tâm của người mẹ và sự kiểm soát gia tăng; tăng động -tính bốc đồng của trẻ em và đặc điểm loạn thần của mẹ có tương quan đáng kể với sự bảo vệ quá mức của mẹ; và thiếu chú ý và bệnh tật của đứa trẻ, và triệu chứng loạn thần/ trầm cảm của mẹ có tương quan đáng kể với suy giảm tương tác mẹ-con và hỗ trợ gia đình ít hơn Những phát hiện của chúng tôi gợi ý rằng, bất kể chuẩn đoán ADHD ở trẻ em, lâu dài, đặc biệt là các triệu chứng thiếu chú ý và bệnh kết hợp với triệu chứng loạn thần/ trầm cảm của mẹ liên quan với cách nuôi dạy con kém của mẹ

1.1.10.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Hiện nay ở Việt Nam chưa có tài liệu hay nghiên cứu nào đề cập đến phong cách cha mẹ trong gia đình có trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý

Tóm lại, các nghiên cứu ở châu Á, cụ thể là Trung Quốc cũng chỉ ra rằng trong tương tác giữa cha mẹ và con cái, trẻ ADHD nhận được ít tình cảm, sự quan tâm chăm sóc hơn và chịu sự kiểm soát cao hơn so với những dứa trẻ bình thường Như vậy, cha mẹ trẻ ADHD cũng có phong cách độc đoán hơn so với cha mẹ của trẻ em bình thường

Trang 40

Tiểu kết chương 1

Về phong cách làm cha mẹ của phụ huynh trong gia đình có trẻ ADHD

Khái quát tình hình nghiên cứu về phong cách làm cha mẹ trong gia đình có trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý bước đầu được chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:

Về phân loại phong cách làm cha mẹ, chúng tôi chọn phân loại theo ba phong cách: phong cách làm cha mẹ dân chủ, phong cách làm cha mẹ độc đoán và phong cách làm cha mẹ dễ dãi Trong phân loại này, phong cách làm cha mẹ dân chủ được cho là phong cách làm cha mẹ hiệu quả hơn hẳn so với hai phong cách còn lại

Thông qua phân tích và tổng hợp các nghiên cứu về tương tác và phong cách làm cha mẹ của phu huynh trẻ ADHD trên toàn thế giới, kết luận được rút ra là cha mẹ của trẻ ADHD có phong cách làm cha mẹ độc đoán hơn so với cha mẹ của những trẻ em không có ADHD hoặc những trẻ em bình thường Phong cách làm cha mẹ của những phụ huynh này bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: kinh tế, xã hội, tình trạng sức khỏe tâm thần của cha mẹ, sự tự tin của cha mẹ trong nuôi dạy con cái, sự áp lực và căng thẳng của phụ huynh trẻ ADHD đến từ những hành vi bốc đồng hay tăng động của trẻ

Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy hệ quả là trẻ ADHD thường chịu sự kiểm soát và các phương pháp trừng phạt nhiều hơn, đồng thời lại ít nhận được sự nồng ấm, quan tâm hơn từ cha mẹ

Như vậy, từ các kết quả nghiên cứu của châu Âu và châu Á, chúng ta nhận thấy có những sự ảnh hưởng tiêu cực qua lại giữa trẻ ADHD và cha mẹ của trẻ khi chưa có sự hướng dẫn hay can thiệp nào của các công tác hỗ trợ và điều trị Qua

đó, chúng ta cũng nhận thấy tầm quan trọng của việc tìm hiểu kiểu tương tác cũng như phong cách làm cha mẹ của phụ huynh trẻ ADHD trong bối cảnh ở Việt Nam

Ngày đăng: 30/07/2017, 22:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Kim Việt biên dịch và hiệu đính. Tóm lượt tâm thần học trẻ em và thanh thiếu niên 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tóm lượt tâm thần học trẻ em và thanh thiếu niên
[3] Lê Thị Minh Hà. Hướng nghiên cứu về trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD), Tạp chí Khoa học ĐH Sƣ phạm TP. HCM, 27/08/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng nghiên cứu về trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD)
[4] Lê Thị Minh Hà. Thực trạng trẻ có rối loạn giảm chú ý tại TP. HCM, Tạp chí Khoa học ĐH Sƣ phạm TP. HCM, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng trẻ có rối loạn giảm chú ý tại TP. HCM
[5] Nguyễn Thị Thanh Vân (2009). Quan hệ giữa trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý và cha mẹ trong gia đình, Bệnh Viện Bạch Mai, bài đăng trên tạp chí Tâm lý học số 2/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ giữa trẻ rối loạn tăng động giảm chú ý và cha mẹ trong gia đình
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Vân
Năm: 2009
[6] Nguyễn Thị Thu Hiền. Nghiên cứu tỉ lệ học sinh tiểu học mắc rối loạn tăng động giảm chú ý tại quận Ba Đình, Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ ngành Tâm lý học lâm sàng trẻ em và vị thành niên, năm bảo vệ 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tỉ lệ học sinh tiểu học mắc rối loạn tăng động giảm chú ý tại quận Ba Đình, Hà Nội
[9] Nguyễn Việt, Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10, bản dịch của Viện sức khỏe tâm Thần, Bệnh viện Tâm thần Trung ƣơng, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10
[10] Phạm Thị Bích Phƣợng. Ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ đến hành vi không thích nghi của trẻ VTN có rối loạn hành vi, Luận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của phong cách làm cha mẹ đến hành vi không thích nghi của trẻ VTN có rối loạn hành vi
[1] American Psychiatric Association (2000). Diagnostic and statistical manual of mental disorders (4th ed., text rev.). Washington, DC:Author Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diagnostic and statistical manual of mental disorders (4th ed., text rev.)
Tác giả: American Psychiatric Association
Năm: 2000
[2] American Psychiatric Association (2013). Diagnostic and statistical manual of mental disorders (5th ed.). Arlington, VA: American Psychiatric Publishing Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diagnostic and statistical manual of mental disorders (5th ed.)
Tác giả: American Psychiatric Association
Năm: 2013
[3] Anastopoulos AD, Guevremont DC, Shelton TL, DuPaul GJ. Parenting stress among families of children with attention deficit hyperactivity disorder. J Abnorm Child Psychol. 1992 Oct; 20(5):503-520 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Parenting stress among families of children with attention deficit hyperactivity disorder
[4] Baumrind (1967) Parental disciplinary patterns and social competence in children: 239-276 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Parental disciplinary patterns and social competence in children
[5] Baumrind (1991) The influence of parenting style on adolescent competence and substance use: 56-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The influence of parenting style on adolescent competence and substance use
[6] Benjamin J. Sadock, Virginia A. Sadock, Pedro Ruiz-Kaplan and Sadock's Synopsis of Psychiatry-Wolters Kluwer (2014) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pedro Ruiz-Kaplan and Sadock's Synopsis of Psychiatry-Wolters Kluwer
[8] Clyde C. Robinson, Barbara Mandleco, Susanne Frost Olsen, and Craig H. Hart (1995). Authoritative, authoritarian, and permissive parenting practices: development of a new measure.Psychological Reports: Volume 77, Issue , pp. 819-830 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Authoritative, authoritarian, and permissive parenting practices: development of a new measure
Tác giả: Clyde C. Robinson, Barbara Mandleco, Susanne Frost Olsen, and Craig H. Hart
Năm: 1995
[9] Conger RD, Conger KJ, Elder GH Jr, et al. A family process model of economic Hardship and adjustment of early ado- lescent boys.Child Dev 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A family process model of economic Hardship and adjustment of early ado- lescent boys
[10] David Reitman, Paula C. Rhode, Stephen D. A. Hupp, Cherie Altobello. Development and Validation of the Parental Authority Questionnaire – Revised, Journal of Psychopathology and Behavioral Assessment, 2002, Volume 24, Number 2, Page 119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Development and Validation of the Parental Authority Questionnaire – Revised
[12] Frank C Verhulst and Jan van der Ende (2006), Assessment Scales in Child and Adolescent Psychiatry, Informa Publishing, Page 166 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Assessment Scales in Child and Adolescent Psychiatry
Tác giả: Frank C Verhulst and Jan van der Ende
Năm: 2006
[14] Gau SS, Chang JP. Maternal parenting styles and mother- child relationship among adolescents with and without per- sistent attention-deficit/hyperactivity disorder. Res Dev Dis- abil. 2013 May;34(5): 1581-94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Maternal parenting styles and mother- child relationship among adolescents with and without per- sistent attention-deficit/hyperactivity disorder
[15] Glyn Lewis Anthony J. Pelosi. The Case-Control Study in Psychiatry. British Journal of Psychiatry (1990), 157, 197-207 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Case-Control Study in Psychiatry
Tác giả: Glyn Lewis Anthony J. Pelosi. The Case-Control Study in Psychiatry. British Journal of Psychiatry
Năm: 1990
[16] Hamid Alizadeh, Kimberly F. Applequist, Frederick L. Coolidge. Parental self-confidence, parenting styles, and corporal punishment in families of ADHD children in Iran. (2007) Page 570-571 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Parental self-confidence, parenting styles, and corporal punishment in families of ADHD children in Iran

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.1  Thống kê mô tả hai nhóm nghiên cứu - Phong cách làm cha mẹ ở những gia đình có trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý
ng 2.1 Thống kê mô tả hai nhóm nghiên cứu (Trang 42)
Hình  2.1 Giới tính con của từng nhóm - Phong cách làm cha mẹ ở những gia đình có trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý
nh 2.1 Giới tính con của từng nhóm (Trang 44)
Hình  2.4 Giới tính của phụ huynh trong nhóm ADHD và bình thường - Phong cách làm cha mẹ ở những gia đình có trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý
nh 2.4 Giới tính của phụ huynh trong nhóm ADHD và bình thường (Trang 45)
Hình 2.5 Trình độ học vấn của phụ huynh của phụ huynh trong nhóm ADHD - Phong cách làm cha mẹ ở những gia đình có trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý
Hình 2.5 Trình độ học vấn của phụ huynh của phụ huynh trong nhóm ADHD (Trang 46)
Hình 2.6 Nghề nghiệp của phụ huynh của phụ huynh trong nhóm ADHD và  bình thường - Phong cách làm cha mẹ ở những gia đình có trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý
Hình 2.6 Nghề nghiệp của phụ huynh của phụ huynh trong nhóm ADHD và bình thường (Trang 47)
Hình  2.7  Tình  trạng  công  việc  của  phụ  huynh  trong  nhóm  ADHD  và  bình  thường - Phong cách làm cha mẹ ở những gia đình có trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý
nh 2.7 Tình trạng công việc của phụ huynh trong nhóm ADHD và bình thường (Trang 47)
Hình  2.8 Khu vực sinh sống của trẻ trong nhóm ADHD và bình thường - Phong cách làm cha mẹ ở những gia đình có trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý
nh 2.8 Khu vực sinh sống của trẻ trong nhóm ADHD và bình thường (Trang 48)
Hình  2.9 Tình trạng hôn nhân gia đình trong nhóm ADHD và bình thường - Phong cách làm cha mẹ ở những gia đình có trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý
nh 2.9 Tình trạng hôn nhân gia đình trong nhóm ADHD và bình thường (Trang 49)
Hình  2.10 Cấu trúc gia đình trong nhóm ADHD và bình thường - Phong cách làm cha mẹ ở những gia đình có trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý
nh 2.10 Cấu trúc gia đình trong nhóm ADHD và bình thường (Trang 50)
Hình  2.11 Thu nhập gia đình trong nhóm ADHD và bình thường - Phong cách làm cha mẹ ở những gia đình có trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý
nh 2.11 Thu nhập gia đình trong nhóm ADHD và bình thường (Trang 50)
Bảng  2.2 Bảng phân tích Cronback Alpha thang PAQ – R - Phong cách làm cha mẹ ở những gia đình có trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý
ng 2.2 Bảng phân tích Cronback Alpha thang PAQ – R (Trang 54)
Bảng  3.2 Điểm phong cách cha mẹ với khu vực - Phong cách làm cha mẹ ở những gia đình có trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý
ng 3.2 Điểm phong cách cha mẹ với khu vực (Trang 61)
Bảng  3.3 Điểm phong cách cha mẹ với trình độ học vấn - Phong cách làm cha mẹ ở những gia đình có trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý
ng 3.3 Điểm phong cách cha mẹ với trình độ học vấn (Trang 61)
BẢNG HỎI VỀ UY QUYỀN CHA MẸ - PHIÊN BẢN CẢI BIÊN  Hướng dẫn: Trong mỗi câu bên dưới, anh/ chị hãy khoanh tròn số mô - Phong cách làm cha mẹ ở những gia đình có trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý
ng dẫn: Trong mỗi câu bên dưới, anh/ chị hãy khoanh tròn số mô (Trang 84)
BẢNG LIỆT KÊ HÀNH VI CHO HỌC SINH - Phong cách làm cha mẹ ở những gia đình có trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý
BẢNG LIỆT KÊ HÀNH VI CHO HỌC SINH (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w