Qua nhận dạng được các nhân tố thành công của dự án có vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước trên địa bàn Tp.HCM, nghiên cứu đã đề xuất được những giải pháp chung nhằm làm tăng khả năng th
Trang 1O V O T O TRƯỜN Ọ MỞ T N P M N
-
N UYỄN LAM ƯƠN
CÁC N ÂN T THÀNH CÔNG ỦA Ự N XÂY ỰN
CÓ V N ẦU TƯ T U N ÂN S N NƯỚ
T TP M
LU N V N T S XÂY ỰN ÔN TRÌN ÂN N
V ÔN N ỆP
Trang 2O V O T O TRƯỜN Ọ MỞ T N P M N
-
N UYỄN LAM ƯƠN
N ÂN T T N ÔN ỦA Ự N XÂY ỰN
Trang 3LỜ AM OAN
Tôi cam đoan rằng luận văn này “ á n ân t thành ôn ủ dự án xây dựn có v n đầ tư t ộ n ân á N nướ tạ T n p
M n ” là bài nghiên cứu của chính tôi
Ngoại trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Không có sản phẩm/nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn này mà không được trích dẫn theo đúng quy định
Luận văn này chưa bao giờ được nộp để nhận bất kỳ bằng cấp nào tại các trường đại học hoặc cơ sở đào tạo khác
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015
N ễn L m ươn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để đạt được kết quả thực hiện đề tài, tác giả đã được sự hướng dẫn sâu sắc, nhiệt tình của Thầy hướng dẫn, sự giúp đỡ của các tổ chức, các cá nhân Nhân đây, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến các tổ chức, cá nhân đã nhiệt tình giúp
đỡ Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Lư Trường Văn đã nhiệt tình hướng dẫn Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Sở Xây
dựng Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Quản lý Dự án quận/huyện đã tạo điều kiện cho tác giả thực hiện nghiên cứu Xin cảm ơn các cá nhân, các chuyên gia đã có những ý kiến trả lời, ý kiến góp ý trong quá trình khảo sát để thực hiện luận văn Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến Thầy, Cô Khoa đào tạo Sau đại học trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh và các Thầy, Cô đã giảng dạy, hướng dẫn của Chương trình cao học ngành Xây dựng Dân dụng và Công nghiệp tại trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí minh
Cuối cùng, tác giả cũng gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt khóa học vừa qua
Tác giả
Nguyễn L m ươn
Trang 5Dự án xây dựng công có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nhiều công trình, dự án sử dụng vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước đã kịp thời giải quyết những yêu cầu bức thiết trong đời sống xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh Tuy nhiên phải thấy rằng, trong thực tế, hàng chục nghìn dự án triển khai trong thời gian qua trên cả nước hầu hết đều kéo dài, không đạt tiến
độ nhất là các dự án sử dụng vốn Nhà nước Riêng tại Tp.HCM, theo một báo cáo gởi Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 3/4/2014, hiện còn 76 dự án với tổng vốn đầu tư gần 12.900 tỉ đồng đang trong tình trạng bị kéo dài gây thất thoát, lãng phí
Xác định được các yếu tố thành công và các giải pháp góp phần làm tăng
sự thành công của dự án xây dựng công là mục tiêu của nghiên cứu này, xuất phát từ thực trạng nói trên Một cuộc khảo sát bằng bảng câu hỏi với 38 nhân tố thành công của dự án có vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước tại Tp.HCM, được thu thập từ 112 chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng dân dụng và công nghiệp đã từng tham gia dự án xây dựng công đã được tiến hành Bằng phương pháp phân tích dữ liệu trên phần mềm ứng dụng SPSS, nghiên cứu đã xác định được 35 nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công của dự án và đánh giá xếp hạng được 06 nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất, đó là: nhân tố về nạn tham ô, tham nhũng trong xây dựng; nhân tố về quy mô của dự án; nhân tố về loại dự án; nhân tố về hồ sơ thủ tục của dự án; nhân tố về năng lực tài chính của chủ đầu tư
và nhân tố về công tác giải phóng mặt bằng
Qua nhận dạng được các nhân tố thành công của dự án có vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước trên địa bàn Tp.HCM, nghiên cứu đã đề xuất được những giải pháp chung nhằm làm tăng khả năng thành công của dự án xây dựng công Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách, các bên tham gia dự án xây dựng công có cơ sở tham khảo, từ đó có một chiến lược, chính sách hợp lý và có những biện pháp cụ thể để làm tăng sự thành công của dự án xây dựng công, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
iii
Trang 61.1.1 Thực trạng tại một số tỉnh thành trong cả nước 4
ƣơng 2: TỔN QUAN Ơ SỞ LÝ T UYẾT N ÊN ỨU
2.1.10 Hoạt động tư vấn đầu tư xây dựng 17
2.1.12 Nhà thầu trong hoạt động xây dựng 17
2.2 Tổng quan những nhân tố thành công của dự án xây dựng
iv
Trang 73.2.3 Thiết kế bảng câu hỏi chính thức 33
4.3.1.1 Vai trò của người được khảo sát 42
4.3.1.3 Vị trí của người được khảo sát trong đơn vị hiện đang công tác 43 4.3.1.4 Số năm công tác của những người được khảo sát 44
4.3.2.1 Kết quả phân tích dữ liệu lần đầu 45 4.3.2.2 Kết quả phân tích dữ liệu lần cuối 46 4.3.3 Trung bình và xếp hạng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố 48 4.3.3.1 Công tác giải phóng mặt bằng thuận lợi, giao mặt bằng
ngân sách Nhà nước so với những dự án khác 54
5.1.3 Tâm huyết của người cán bộ làm công tác đền bù giải phóng mặt bằng đối với người dân bị giải tỏa 62 5.1.4 Nâng cao trình độ về pháp luật của người làm công tác đền bù,
Trang 85.2 Không quan liêu tham nhũng trong thực hiện dự án 65 5.2.1 Cải cách thủ tục hành chính về đầu tư xây dựng 66 5.2.2 Tăng cường đầu tư cho công tác quy hoạch 67 5.3 Hồ sơ dự án thực hiện đầy đủ, bản vẽ kỹ thuật rõ ràng, không mâu thuẫn giữa các giai đoạn thiết kế, giữa thiết kế và thi công 68
Trang 9AN M ÌN V T Ị
Trang
Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện vai trò người được khảo sát 42 Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện số dự án xây dựng sử dụng ngân sách Nhà nước
Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện Vị trí của người được khảo sát
Hình 4.4 Biểu đồ thể hiện số năm công tác của người được khảo sát 44
vii
Trang 10Trang Bảng 1.1 Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 8/2014 1 Bảng 2.1 So sánh xếp hạng các nhân tố thành công quan trọng theo loại dự án
Bảng 3.1 Nhân tố thành công của dự án xây dựng công tiến hành thử nghiệm 30 Bảng 4.1 Kết quả khảo sát thử nghiệm các nhân tố thành công 37 Bảng 4.2 Nhân tố thành công tiến hành khảo sát chính thức 39
Bảng 4.4 Số dự án xây dựng công người được khảo sát đã tham gia 43 Bảng 4.5 Vị trí của người được khảo sát trong đơn vị hiện đang công tác 44 Bảng 4.6 Số năm công tác của những người được khảo sát 44
Bảng 4.8 Hệ số Cronbachs Alpha If Item Delected 45 Bảng 4.9 Hệ số Cronbachs Alpha tổng thể lần cuối 46 Bảng 4.10 Hệ số Cronbachs Alpha If Item Delected lần cuối 47 Bảng 4.11 Trung bình xếp hạng các nhân tố khảo sát 48 Bảng 4.12 Trung bình xếp hạng tốp 5 nhân tố xếp hạng cao nhất 53
Bảng 4.14 Kết quả kiểm định KMO và Bartletts Test 55 Bảng 4.15 Kết quả Total Variance Explained 56 Bảng 4.16 Bảng kết quả hệ số nhân tố tải sau khi đã loại bỏ
Bảng 4.17 Các thành phần chính ảnh hưởng đến thành công của dự án 59
viii
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Cơ sở hình thành luận văn
Trong thời gian qua, các dự án đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân
sách Nhà nước đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ
thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội Nhiều công trình, dự án sử dụng vốn đầu
tư ngân sách Nhà nước được đầu tư đã kịp thời giải quyết những yêu cầu bức
thiết trong đời sống xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội,
tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh
Riêng trong năm 2014, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà
nước 8 tháng đầu năm đạt 129.046 tỷ đồng, bằng 69,7% kế hoạch năm và tăng
Ước tính tháng 8/2014
Cộng dồn
8 tháng năm 2014
8 tháng năm 2014
so với kế hoạch năm
2014 (%)
8 tháng năm 2014
Bộ Giáo dục - Đào tạo 59 60 385 61,6 100,8
Bộ Văn hóa, Thể thao
Trang 13Cùng với đà phát triển của xã hội, vốn dành cho đầu tư xây dựng ngày
càng tăng Trong cơ cấu vốn đầu tư xây dựng thì vốn đầu tư xây dựng thuộc
ngân sách Nhà nước luôn chiếm tỷ trọng cao Trong khoảng thời gian từ năm
2005-2010, Nhà nước đã đầu tư vào lĩnh vực xây dựng với tổng trị giá là
53,716 tỷ đồng Trong đó, năm 2010 tổng giá trị xây dựng mà Nhà nước đầu tư
vào là 14,679 tỷ đồng (Tổng cục Thống kê, 2010)
Tuy nhiên phải thấy rằng, trong thực tế, hàng chục nghìn dự án triển khai
trong thời gian qua hầu hết đều kéo dài, không đạt tiến độ nhất là các dự án sử
dụng vốn Nhà nước Theo số liệu mới nhất từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho
thấy, cả nước hiện có 38.420 dự án sử dụng vốn Nhà nước thì trong năm 2011
đã có tới 11,55% tương đương 4.436 dự án chậm tiến độ so với dự kiến Tỷ lệ
này của năm 2010 là 9,78% và một năm trước đó là 16,9% Năm 2011 cũng có
tới 5.447 dự án có vốn Nhà nước phải điều chỉnh, trong đó có 1.775 dự án phải
điều chỉnh do việc chậm tiến độ đầu tư (www.nguoiduatin.vn, ngày
19/4/2012) Số liệu thống kê từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho thấy, cơ quan
chức năng đã phát hiện 145 dự án có thất thoát, lãng phí, chiếm 0,38% và
1.034 dự án phải ngừng thực hiện, chiếm 2,69% tổng số dự án đang thực hiện
trong kỳ
Lý giải nguyên nhân của việc chậm tiến độ tại các dự án vốn ngân sách
Nhà nước, các chủ đầu tư cho rằng, vấn đề chính nằm ở công tác giải phóng
mặt bằng khi nguyên nhân này dẫn tới việc triển khai chậm tại 1.818 dự án,
chiếm 4,73% tổng số dự án thực hiện trong năm Một số nguyên nhân khác
như bố trí vốn không kịp thời (với 983 dự án), do năng lực của chủ đầu tư, ban
quản lý dự án và các nhà thầu (597 dự án), do thủ tục đầu tư… cũng ảnh hưởng
tiêu cực đến việc triển khai xây dựng tại các dự án này
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá, việc các dự án có vốn Nhà nước không
đảm bảo tiến độ trong xây dựng đã tạo nên hệ quả xấu làm tăng chi phí, làm
Trang 141.1.1 Thực trạng tại một số tỉnh thành trong cả nước
Tại Thành phố Hồ Chí Minh: Tổng hợp danh mục đầu tư năm 2012 cho
thấy có đến 86 dự án đầu tư bằng vốn ngân sách có tỷ lệ giải ngân dưới 30%
(http://hochiminhcity.vn/cat-von-dau-tu-86-du-an-trien-khai-cham-tien-do,
ngày 16/07/2013)
Mười năm trước, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã bố trí 4 tỉ
đồng xây dựng hạng mục kho bãi, đường giao thông cho cảng sông Phú Định,
thế nhưng từ đó tới nay, các hạng mục này chỉ giải ngân được 160 triệu đồng,
tỷ lệ giải ngân chỉ 4%
(http://www.thesaigontimes.vn/94316/TPHCM-se-cat-von-cac-du-an-cham-tien-do, ngày 08/4/2013)
Trong giai đoạn 2008 - 2011, Ban Quản lý dự án nâng cấp đô thị được
giao vốn 20 tỉ đồng để nâng cấp hạ tầng 63 khu dân cư thu nhập thấp lưu vực
Tân Hóa - Lò Gốm trên địa bàn quận 4, 7, 8, 9, 10 Thế nhưng đến nay, chủ
đầu tư mới triển khai được 2,8 tỉ đồng, đạt tỷ lệ giải ngân 14%
Hoặc tại khu vực nút giao thông Gò Dưa quận Thủ Đức vốn là khu vực
thường xuyên kẹt xe nhiều năm qua, Khu Quản lý giao thông đô thị số 2 được
giao vốn 20 tỉ đồng để hoàn thiện nút giao thông này trong 2 năm 2011 và
2012, thế nhưng tỷ lệ giải ngân của công trình này đến nay chỉ đạt 0,9% với số
vốn thực hiện 185 triệu đồng
Trong năm 2012, Thành phố còn 34 dự án có tỷ lệ giải ngân dưới 50%
Trong đó có những công trình rất cần thiết như trạm xử lý nước thải rạch Suối
Nhum, nút giao thông Tân Thời Hiệp (quận 12), cải tạo nâng cấp đường Rừng
Sác, dự án xây dựng tuyến đường Tân Sơn Nhất - Bình Lợi - Vành đai ngoài
tại quận Bình Thạnh, Trung tâm y tế dự phòng quận 9
Ngoài ra, rải rác ở các quận huyện còn nhiều công trình khác như trường
mầm non, trường phổ thông trung học, bệnh viện, trạm biến áp, bồi thường
giải phóng mặt bằng công trình giao thông đô thị cũng có tiến độ triển khai
khá chậm gây ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của nhiều người dân địa
phương
Trang 15Gần đây, theo một báo cáo gởi Bộ Kế hoạch và Đầu tư ngày 3/4/2014 về
các dự án đầu tư công, dàn trải, lãng phí, Thành phố Hồ Chí Minh hiện còn 76
dự án với tổng vốn đầu tư gần 12.900 tỉ đồng đang trong tình trạng bị kéo dài,
không hoàn thành đúng tiến độ quy định UBND thành phố cho rằng nguyên
nhân của việc các dự án chậm tiến độ là do vướng bồi thường giải phóng mặt
bằng, chi phí xây dựng công trình tăng phải điều chỉnh dự án, chủ đầu tư
chậm làm thủ tục quyết toán
(http://www.thesaigontimes.vn/112971/TPHCM-con-76-du-an-dau-tu-cong-cham-tien-do.html, ngày 05/4/2014)
Về trường hợp dự án chậm tiến độ do vướng bồi thường giải phóng mặt
bằng có thể kể đến Dự án Bệnh viện Nhi đồng Thành phố Hồ Chí Minh Bệnh
viện nằm trong Cụm viện trường y tế cửa ngõ phía Tây Nam thành phố, nằm trên
địa bàn hai xã Tân Kiên và Tân Nhựt của huyện Bình Chánh có diện tích sử dụng
1.000 giường bệnh, do Ban Quản lý đầu tư xây dựng các công trình thuộc Sở Y
tế thành phố làm Chủ đầu tư Tổng mức đầu tư ước tính gần 4.500 tỷ đồng từ
nguồn vốn Nhà nước và các nguồn vốn hợp pháp khác theo Quyết định phê duyệt
trọng điểm của thành phố nhằm giải quyết thực trạng quá tải trầm trọng ở 2
bệnh viện nhi Thành phố Hồ Chí Minh, dự kiến sẽ đưa vào hoạt động trong
tháng 11/2015 Sau nhiều nỗ lực của các đơn vị liên quan, lễ khởi công san lấp
mặt bằng dự án cũng đã được tổ chức vào ngày 22/7/2013 Song, sau nhiều
tháng giải phóng mặt bằng, dự án vẫn chưa thể xây dựng vì vướng hai hộ dân
chưa chịu giá đền bù nên không giao đất với diện tích hơn 7.000m2
(http://petrotimes.vn/tp-hcm-xay-benh-vien-nhu-rua-bo-187261.html,ngày
24/6/2014)
Một điển hình khác về dự án chậm tiến độ do vướng quy trình, thủ tục
đó là dự án xây mới khu khám, chẩn đoán và phát hiện sớm bệnh ung thư của
Bệnh viện Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh Báo cáo với Hội đồng nhân dân
Trang 16phát hiện sớm bệnh ung thư của Bệnh viện Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh
có thể được xếp vào diện chậm chưa từng thấy!”
Lập dự án từ cách nay 11 năm nhưng khu khám, chẩn đoán, điều trị kỹ
thuật cao của Bệnh viện Ung bướu Thành phố Hồ Chí Minh tại 47 Nguyễn
Huy Lượng, Phường 14, quận Bình Thạnh vẫn chưa có hình hài Cũng chừng
ấy năm, dự án bị vướng mắc hàng loạt thủ tục kéo dài từ chủ đầu tư là bệnh
viện chuyển lên chủ đầu tư là Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh và trượt giá từ
45 tỷ đồng lên 204 tỷ đồng Và đến nay, dự án tiếp tục bị đẩy ngược trở lại cho
bệnh viện
Dự án nói trên cũng là một điển hình cho thấy sự lãng phí trong đầu tư
xây dựng Từ nhiều năm nay, khu đất vàng này bị bỏ hoang vì quy trình đầu tư
thay đổi giữa chừng Ngày 16/4/2015, Ban Kinh tế - Ngân sách Hội đồng nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh và các sở ngành đã có buổi làm việc với Bệnh
viện Ung bướu xung quanh việc triển khai chậm trễ dự án nói trên Theo Giám
đốc BV Ung bướu Lê Hoàng Minh, dự án đã kéo dài tới 11 năm mà chưa khởi
công được khiến trượt giá quá lớn
(http://www.sggp.org.vn/ytesuckhoe/2015/4/382169/, ngày 27/4/2015)
Tại Thành phố Cần Thơ: Thời gian qua, trên địa bàn thành phố Cần
Thơ có nhiều công trình xây dựng từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước bị hư
hỏng từ giai đoạn thi công và khi đưa vào sử dụng gây lãng phí lớn
(http://www.nhandan.com.vn/mobile/_mobile_bandoc/item/23272702.html,
ngày 21/5/2014)
Dự án đầu tư công trình Cụm hồ bơi có mái che thuộc công trình trọng
điểm phục vụ Hội khỏe Phù Ðổng toàn quốc năm 2012 tổ chức tại thành phố
Cần Thơ, khởi công tháng 5-2011, đến đầu năm 2012 bị Ủy ban nhân dân
thành phố Cần Thơ ra quyết định đình chỉ thi công Kết quả thanh tra của Hội
đồng nhân dân thành phố Cần Thơ về tiến độ xây dựng công trình này cho
thấy: Mặt bằng xây dựng bể bơi thi đấu nằm trong khu đất chưa giải tỏa Tại
hiện trường thi công bể bơi luyện tập, đơn vị thi công đã đổ được 210 cọc, ép
Trang 17được 78 tim cọc Theo báo cáo của chủ đầu tư thì các cọc nói trên đã ép đủ tải,
nhưng chiều dài cọc so với mặt đất còn hơn hai mét, cho nên phải xử lý bằng
cách cắt bỏ Do sau khi có kết quả thử tĩnh cọc, các đơn vị có liên quan với tư
vấn thiết kế công trình không đưa ra phương án điều chỉnh chiều dài thiết kế
cọc cho phù hợp, dẫn đến lãng phí trong thi công Ngoài ra, có một số cọc
(phần ép không xuống hết) bị nghiêng cho thấy, trong quá trình thi công nhà
thầu và đơn vị giám sát, cũng như chủ đầu tư chưa thực hiện đúng các yêu cầu
kỹ thuật đề ra
Việc thi công nhà tình nghĩa cho người có công ở thành phố Cần Thơ năm
2013 cũng có nhiều sai sót Sau khi nhận thầu xây dựng nhà tình nghĩa cho
người có công với cách mạng ở 3 quận, huyện tại thành phố Cần Thơ, Công ty
TNHH Tư vấn thiết kế đầu tư xây dựng Bình Lâm (Công ty Bình Lâm) đã
không làm đúng tiến độ, vật liệu xây dựng không đạt chất lượng so với thiết kế
được duyệt; xây chưa xong đã hư hỏng, nhiều nền nhà tình nghĩa để lâu không
thi công Theo đó, nhiều nhà tình nghĩa chưa xây xong đã hư hao, phần đổ
bê-tông cột ép với độ nén không chặt, đa phần bị rỗng, có nơi đã bị nứt Công ty
Bình Lâm khoán gọn 38 triệu đồng cho mỗi gia đình thụ hưởng chính sách nhà
tình nghĩa tự thi công, trong khi dự toán xây dựng một nhà tình nghĩa trước
thuế trị giá là 57.382.490 đồng và trong hợp đồng với chủ đầu tư không có
điều khoản nào cho phép nhà thầu được phép giao tiền cho chủ nhà tự xây
dựng Có thể xem đây là hành vi bán thầu khi Công ty Bình Lâm thuê lại đơn
vị xây dựng khác, hoặc thuê thợ hồ tại địa phương xây nhà tình nghĩa với giá
trị thấp, rồi ứng tiền nhỏ giọt, thanh toán dây dưa, dẫn đến các nhà thầu phụ
làm đơn tố cáo nhà thầu chính đã cố tình chiếm đoạt thành quả của họ Trước
sự việc này, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội các quận, huyện và Sở
Lao động Thương binh và Xã hội thành phố Cần Thơ không ký nghiệm thu đối
với những căn nhà tình nghĩa do Công ty Bình Lâm xây dựng, không đạt chất
lượng và nhập nhằng tiền bạc trong quá trình thi công
Trang 18Trên đây là những công trình xây dựng, điển hình trên địa bàn thành phố
Cần Thơ được sử dụng từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, nhưng không phát
huy hiệu quả
Tại Thành phố Hà Nội: khảo sát của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố
Hà Nội cho thấy, trong 6 tháng đầu năm, có 118 dự án rơi vào tình trạng chậm
tiến độ, chiếm 18% tổng số dự án sử dụng 30% vốn Nhà nước trở lên của
thành phố Hà Nội Số dự án (sử dụng 30% vốn Nhà nước trở lên) phải điều
chỉnh trong nửa đầu năm 2011 là 67 dự án, chiếm 10,2% tổng số dự án được
triển khai bằng nguồn ngân sách Nhà nước do thành phố quản lý
(http://muasamcong.vn/danh-muc-tin/detail/bat-mach-cac-du-an-cham-tien-do,
ngày 18/01/2012)
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng chậm tiến độ của 118 dự án tại Hà Nội,
theo ông Phạm Văn Khương, Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố
Hà Nội, chủ yếu là do công tác giải phóng mặt bằng có 69 dự án, do năng lực
của chủ đầu tư, ban Quản lý Dự án và các nhà thầu có 16 dự án, do bố trí
vốn không kịp có 11 dự án, và do chậm thủ tục đầu tư lến đến 39 dự án
Trong số 67 dự án phải điều chỉnh, bao gồm: 20 dự án điều chỉnh quy mô đầu
tư, 39 dự án điều chỉnh vốn đầu tư, 26 dự án điều chỉnh tiến độ đầu tư, và 1 dự
án điều chỉnh địa điểm đầu tư
Nhiều dự án lớn trong ngành Giao thông đang chậm tiến độ cũng được
Cục Quản lý Xây dựng và Chất lượng Công trình Giao thông thuộc Bộ Giao
thông Vận tải nêu tên đó là: dự án Xây dựng cầu Nhật Tân, đường nối cầu
Nhật Tân – Nội Bài, dự án Cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình, dự án Đường sắt Yên
Viên – Phả Lại – Hạ Long – Cái Lân, Nhà ga T2 Nội Bài, Quốc lộ 3 đoạn Hà
Nội – Thái Nguyên
1.1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu
Chi phí, tiến độ và chất lượng là các tiêu chí hàng đầu được đặt ra khi
đánh giá sự thành công của bất kỳ dự án xây dựng Tuy nhiên, theo Mac
Callum, M (2000), ngành xây dựng lại được nhận xét như một ngành kinh
Trang 19doanh hấp dẫn với nhiều rủi ro, đòi hỏi các bên tham gia phải nỗ lực và quyết
tâm cao Việc hoàn thành một dự án theo đúng tiến độ và chi phí kế hoạch thật
sự khó khăn và đáng ngạc nhiên
Thực trạng của việc đầu tư vốn ngân sách Nhà nước cho lĩnh vực xây
dựng ngày càng tăng nhưng số dự án xây dựng công đạt được hiệu quả thiết
thực chiếm một tỉ lệ rất thấp so với tổng số dự án được đầu tư
Tùy theo quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau về sự thành công của
dự án mà mỗi lĩnh vực, mỗi ngành, mỗi loại dự án, có định nghĩa riêng
Theo Globerson và Zwikael (2002), dự án được xem là thành công phải thỏa
ba tiêu chí là chi phí, thời gian, và yêu cầu kỹ thuật Tuy nhiên, ba tiêu
chí này không đủ để đo lường một dự án thành công khi mà dự án còn đòi
hỏi về chất lượng trong quá trình quản lý dự án và thỏa mãn yêu cầu của
các bên liên quan
Theo Chan, A., Scott, D và Chan, Ada (2004) dự án thành công phải
đạt các tiêu chuẩn sau: thời gian, chi phí, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, thỏa
mãn yêu cầu của các bên tham gia, đáp ứng kỳ vọng người dùng, không ảnh
hưởng đến môi trường xung quanh, đem lại giá trị kinh doanh và an toàn khi
thi công
Trong những nghiên cứu về sự thành công của dự án xây dựng trước đây
tại Việt Nam như nghiên cứu của Long D.N và cộng sự (2003); Hoàng Thái
Sơn (2007); Đặng Ngọc Châu (2011), đều nghiên cứu về dự án bao gồm cả
khu vực công và tư nhân Tuy nhiên, dự án xây dựng công và tư nhân có nhiều
điểm khác biệt nhau do đó sự thành công của từng loại dự án này cũng khác
nhau Theo Jing Yang et al (2010), dự án xây dựng công và tư có khác biệt
nhau đáng kể ở các yếu tố thành công như: Hiểu phạm vi lợi nhuận của các bên
liên quan; Khám phá sự cần thiết và những ràng buộc của các bên liên quan
đối với dự án; Dự báo ảnh hưởng của các bên liên quan một cách chính xác
Tại Việt Nam, tuy chưa có nghiên cứu so sánh sự khác biệt về những nhân tố
Trang 20luật Việt Nam thì dự án xây dựng công và tư nhân có nhiều điểm khác biệt như
về trình tự, thủ tục lập và thẩm định dự án đầu tư, thẩm quyền phê duyệt dự án
đầu tư, bản vẽ thiết kế kỹ thuật thi công, tổng dự toán công trình…Điểm khác
biệt dễ nhận thấy trong dự án đầu tư xây dựng công so với dự án tư nhân hiện
nay đó là tuân thủ theo Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 đã được Quốc hội
khóa XIII thông qua tại Kỳ họp thứ 6, ngày 26/11/2013 và có hiệu lực thi hành
kể từ ngày 1/7/2014 Theo đó, các dự án đầu tư sau đây buộc phải chấp hành
thông qua hoạt động đấu thầu trong quá trình thực triển khai thực hiện dự án:
a) Dự án đầu tư phát triển sử dụng vốn nhà nước của cơ quan nhà nước, tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp,
tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang
nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập;
b) Dự án đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước;
c) Dự án đầu tư phát triển không thuộc quy định tại điểm a và điểm b
khoản này có sử dụng vốn nhà nước, vốn của doanh nghiệp nhà nước từ 30%
trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự
án
Vấn đề thất thoát lãng phí hầu như chỉ xảy ra ở dự án xây dựng vốn Nhà
nước Thực tế cho thấy đầu tư xây dựng cơ bản ở khu vực kinh tế tư nhân, ở
khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hầu như không có thất thoát, lãng
phí do quản lý cũng rất ít xảy ra Do vậy cụm từ "thất thoát, lãng phí trong đầu
tư xây dựng cơ bản" chỉ đúng và diễn ra phổ biến ở các dự án thuộc khu vực
kinh tế Nhà nước, đặc biệt là các dự án từ ngân sách Nhà nước
(http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/nha-nuoc-bi-that-thoat-20000-25000-ti-dongnam-72739.htm, ngày 17/11/2003) Một vấn đề khác biệt nữa giữa dự án
xây dựng công và tư nhân đó là công tác đền bù, giải phóng mặt bằng Công
tác này của dự án khu vực công thường xuyên chậm trễ nguyên nhân là do cơ
Trang 21chế chính sách không phù hợp, gây mâu thuẫn về lợi ích giữa Nhà nước với
người dân làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công xây dựng
Các Nhà hoạch định chính sách, chủ đầu tư dự án, các đơn vị khác tham
gia trong đầu tư dự án xây dựng khu vực công cần thiết phải xác định nhân tố
nào là quan trọng đối với sự thành công dự án xây dựng công, có sự khác biệt
giữa những nhân tố thành công của dự án xây dựng công và những dự án khác,
biện pháp nào có hiệu quả để tăng sự thành công của dự án từ đó sẽ có những
biện pháp, chính sách điều chỉnh phù hợp nhằm tăng tỷ lệ thành công, giảm
những ảnh hưởng xấu, giảm thất thoát, lãng phí trong ngành xây dựng, đặc biệt
là những dự án xây dựng công Một nghiên cứu đánh giá những nhân tố thành
công và các giải pháp làm tăng khả năng thành công cho dự án có vốn đầu tư
thuộc ngân sách Nhà nước (dự án xây dựng công) là rất cần thiết
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện dưới góc độ của người nghiên cứu chính
sách độc lập, với mục tiêu như sau:
- Nhận dạng các nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công của dự án sử dụng
vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước;
- Đánh giá ảnh hưởng của những nhân tố này đến sự thành công của dự
án;
- Đề xuất các giải pháp nhằm làm tăng sự thành công của dự án
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi 1 : Tiêu chí để đánh giá sự thành công của dự án là gì?
- Câu hỏi 2 : Các nhân tố nào ảnh hưởng đến sự thành công của dự án sử
dụng vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước?
- Câu hỏi 3: Các yếu tố này tác động như thế nào đến sự thành công của
Trang 22- Câu hỏi 4: Giải pháp nào giúp làm tăng sự thành công của dự án sử
dụng vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước?
1.4 Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
1.4.1 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu dựa trên cơ sở khảo sát các chuyên gia trong lĩnh vực xây
dựng đã từng tham gia các trong các dự án xây dựng dân dụng, công nghiệp
thuộc khu vực công và đang công tác tại các đơn vị như:
- Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh
- Ban Quản lý dự án các quận, huyện
- Các công ty xây dựng Nhà nước
- Các công ty xây dựng tư nhân có tham gia dự án xây dựng công
1.4.2 Đối tƣợng nghiên cứu
- Các dự án xây dựng thuộc địa bàn Quận 10 và các địa bàn lân cận
- Đối tượng nghiên cứu là những dự án xây dựng dân dụng và công
nghiệp sử dụng 100% vốn Nhà nước, không phân biệt quy mô
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu
- Nghiên cứu này nhằm áp dụng một mô hình tích hợp để để đánh giá
những yếu tố thành công của dự án xây dựng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước
trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
- Giúp các Nhà hoạch định chính sách, chủ đầu tư và các bên tham gia
khác trong dự án xây dựng thuộc lĩnh vực công nhận dạng các nhân tố thành
công của dự án và từ đó đề ra các giải pháp nhằm làm tăng sự thành công của
dự án, qua đó giảm được thiệt hại cho ngân sách, nền kinh tế và tăng cường an
sinh xã hội
1.6 Kết cấu luận văn
Đề tài nghiên cứu gồm có 6 chương:
- Chương 1: giới thiệu chung về thực trạng của các dự án xây dựng nói
chung và các dự án xây dựng sử dụng vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước
Trang 23phạm vi và đối tượng nghiên cứu; sử dụng phương pháp nghiên cứu như thế
nào Qua đó cho thấy ý nghĩa của đề tài nghiên cứu là gì
- Chương 2: tổng quan về cơ sở lý thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên
cứu
- Chương 3: các phương pháp nghiên cứu đề tài
- Chương 4: tiến hành phân tích các nhân tố thành công dự án
- Chương 5: đề ra các giải pháp tăng khả năng thành công của dự án sử
dụng vốn ngân sách Nhà nước trên cơ sở các phân tích yếu tố thành công dự
án
- Chương 6: kết luận và kiến nghị các nội dung rút ra được qua nghiên
cứu đề tài
Trang 24CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Các khái niệm
2.1.1 Dự án: “Dự án là một nỗ lực tạm thời được thực hiện để tạo ra một sản
phẩm hay dịch vụ duy nhất Tạm thời nghĩa là mọi dự án đều có thời gian kết
thúc xác định Duy nhất có nghĩa là sản phẩm hay dịch vụ là khác nhau trong
một số cách phân biệt từ tất cả các sản phẩm hoặc dịch vụ tương tự” (Cao Hào
Thi, 2006, tr.3)
2.1.2 Dự án đầu tư xây dựng: “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất
có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây
dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng
cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác
định Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông
qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả
thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng” (Khoản
15, Điều 3, Luật Xây dựng năm 2014)
2.1.3 Dự án đầu tư công: “Dự án đầu tư công là dự án đầu tư sử dụng toàn
bộ hoặc một phần vốn đầu tư công” (Khoản 13, Điều 4, Luật Đầu tư công năm
2014)
2.1.4 Vốn đầu tư công: “Vốn đầu tư công quy định tại Luật này gồm: vốn
ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái
phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn
vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của
Nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối
ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu
tư” (Khoản 21, Điều 4, Luật Đầu tư công năm 2014)
Trang 252.1.5 Công trình xây dựng: “ Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo
thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào
công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất,
phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng
theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình
công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ
tầng kỹ thuật và công trình khác” (Khoản 10, Điều 3, Luật Xây dựng năm
2014)
Loại và cấp công trình: được phân loại như sau (Điều 5, Luật Xây dựng
năm 2014):
1 Công trình xây dựng được phân theo loại và cấp công trình
2 Loại công trình được xác định theo công năng sử dụng gồm công trình
dân dụng, công trình công nghiệp, công trình giao thông, công trình nông
nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình quốc
phòng, an ninh
3 Cấp công trình được xác định theo từng loại công trình căn cứ vào quy
mô, mục đích, tầm quan trọng, thời hạn sử dụng, vật liệu sử dụng và yêu cầu
kỹ thuật xây dựng công trình
Cấp công trình gồm cấp đặc biệt, cấp I, cấp II, cấp III, cấp IV và các cấp
khác theo quy định của Chính phủ
2.1.6 Người quyết định đầu tư: “Người quyết định đầu tư là cá nhân hoặc
người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có thẩm
quyền phê duyệt dự án và quyết định đầu tư xây dựng” (Khoản 27, Điều 3,
Luật Xây dựng năm 2014)
2.1.7 Chủ đầu tư xây dựng: (Khoản 9, Điều 3 và Điều 7, Luật Xây dựng năm
2014): “Chủ đầu tư xây dựng (sau đây gọi là chủ đầu tư) là cơ quan, tổ chức,
cá nhân sở hữu vốn, vay vốn hoặc được giao trực tiếp quản lý, sử dụng vốn để
thực hiện hoạt động đầu tư xây dựng”
Trang 26“1 Chủ đầu tư do người quyết định đầu tư quyết định trước khi lập dự án
hoặc khi phê duyệt dự án
2 Tuỳ thuộc nguồn vốn sử dụng cho dự án, chủ đầu tư được xác định cụ
thể như sau:
a) Đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước và vốn nhà nước ngoài
ngân sách, chủ đầu tư là cơ quan, tổ chức được người quyết định đầu tư giao
quản lý, sử dụng vốn để đầu tư xây dựng;
b) Đối với dự án sử dụng vốn vay, chủ đầu tư là cơ quan, tổ chức, cá nhân
vay vốn để đầu tư xây dựng;
c) Đối với dự án thực hiện theo hình thức hợp đồng dự án, hợp đồng đối
tác công tư, chủ đầu tư là doanh nghiệp dự án do nhà đầu tư thỏa thuận thành
lập theo quy định của pháp luật;
d) Dự án không thuộc đối tượng quy định tại các điểm a, b và c khoản này
do tổ chức, cá nhân sở hữu vốn làm chủ đầu tư
3 Căn cứ điều kiện cụ thể của dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước,
người quyết định đầu tư dự án giao cho Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng
chuyên ngành, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực làm chủ đầu tư;
trường hợp không có Ban quản lý dự án thì người quyết định đầu tư lựa chọn
cơ quan, tổ chức có đủ điều kiện để làm chủ đầu tư”
Chủ đầu tƣ theo Luật Đầu tƣ công năm 2014: “Chủ đầu tư là cơ quan,
tổ chức được giao quản lý dự án đầu tư công” (Khoản 6, Điều 4)
2.1.8 Hoạt động đầu tƣ xây dựng: “Hoạt động đầu tư xây dựng là quá trình
tiến hành các hoạt động xây dựng gồm xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công
trình xây dựng” (Khoản 20, Điều 3, Luật Xây dựng năm 2014)
2.1.9 Hoạt động xây dựng: “Hoạt động xây dựng gồm lập quy hoạch xây
dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây
dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu,
nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì
Trang 27công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình”
(Khoản 21, Điều 3, Luật Xây dựng năm 2014)
2.1.10 Hoạt động tƣ vấn đầu tƣ xây dựng: “Hoạt động tư vấn đầu tư xây
dựng gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo
sát, thiết kế xây dựng, thẩm tra, kiểm định, thí nghiệm, quản lý dự án, giám sát
thi công và công việc tư vấn khác có liên quan đến hoạt động đầu tư xây dựng”
(Khoản 24, Điều 3, Luật Xây dựng năm 2014)
2.1.11 Lập dự án đầu tƣ xây dựng: “Lập dự án đầu tư xây dựng gồm việc
lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng (nếu có), Báo cáo nghiên
cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng
và thực hiện các công việc cần thiết để chuẩn bị đầu tư xây dựng” (Khoản 26,
Điều 3, Luật Xây dựng năm 2014)
2.1.12 Nhà thầu trong hoạt động xây dựng: “Nhà thầu trong hoạt động đầu
tư xây dựng (sau đây gọi là nhà thầu) là tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng
lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ
hợp đồng trong hoạt động đầu tư xây dựng” (Khoản 28, Điều 3, Luật Xây dựng
năm 2014)
2.1.13 Thẩm định: “Thẩm định là việc kiểm tra, đánh giá của người quyết
định đầu tư, chủ đầu tư, cơ quan chuyên môn về xây dựng đối với những nội
dung cần thiết trong quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án đầu tư xây dựng làm
cơ sở xem xét, phê duyệt” (Khoản 36, Điều 3, Luật Xây dựng năm 2014)
2.1.14 Thẩm quyền thẩm định dự án đầu tƣ xây dựng: (Điều 57, Luật Xây
dựng năm 2014)
- Đối với dự án quan trọng quốc gia thì Hội đồng thẩm định Nhà nước do
Thủ tướng Chính phủ thành lập có trách nhiệm thẩm định Báo cáo nghiên cứu
tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng
- Đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì cơ quan chuyên môn
về xây dựng theo phân cấp có trách nhiệm chủ trì tổ chức thẩm định
Trang 28- Đối với dự án đầu tư xây dựng chỉ cần lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu
tư xây dựng thì thẩm quyền thẩm định dự án đầu tư xây dựng được quy định
như sau:
+ Trường hợp sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì cơ quan chuyên môn về
xây dựng có trách nhiệm chủ trì tổ chức thẩm định các nội dung của Báo cáo
kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng;
+ Trường hợp sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách thì cơ quan chuyên
môn về xây dựng theo phân cấp có trách nhiệm chủ trì thẩm định thiết kế bản
vẽ thi công và dự toán xây dựng công trình Cơ quan chuyên môn trực thuộc
người quyết định đầu tư thẩm định phần thiết kế công nghệ (nếu có), các nội
dung khác của Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng;
- Dự án đầu tư xây dựng có yêu cầu về phòng, chống cháy, nổ, bảo vệ
môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh phải được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thẩm định
- Cơ quan chuyên môn về xây dựng, người quyết định đầu tư được mời tổ
chức, cá nhân có chuyên môn, kinh nghiệm tham gia thẩm định dự án hoặc yêu
cầu chủ đầu tư lựa chọn tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực hoạt động
xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng đã được đăng ký trên trang thông tin
điện tử về năng lực hoạt động xây dựng theo quy định của Luật này để thẩm
tra dự án làm cơ sở cho việc thẩm định, phê duyệt dự án Chi phí thẩm tra, phí
thẩm định dự án và thiết kế cơ sở được tính trong tổng mức đầu tư của dự án
- Cơ quan chủ trì thẩm định có trách nhiệm tổng hợp kết quả thẩm định
dự án trình người có thẩm quyền quyết định đầu tư xem xét, quyết định
- Tổ chức, cá nhân tham gia thẩm định, thẩm tra dự án chịu trách nhiệm
trước pháp luật về kết quả thẩm định, thẩm tra của mình Tổ chức, cá nhân lập
dự án không được tham gia thẩm định, thẩm tra dự án do mình lập
2.1.15 Thẩm tra: “Thẩm tra là việc kiểm tra, đánh giá về chuyên môn của tổ
chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành
nghề xây dựng đối với những nội dung cần thiết trong quá trình chuẩn bị và
Trang 29thực hiện dự án đầu tư xây dựng làm cơ sở cho công tác thẩm định” (Khoản
37, Điều 3, Luật Xây dựng năm 2014)
2.1.16 Thi công xây dựng công trình: “Thi công xây dựng công trình gồm
xây dựng và lắp đặt thiết bị đối với công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo,
di dời, tu bổ, phục hồi; phá dỡ công trình; bảo hành, bảo trì công trình xây
dựng” (Khoản 38, Điều 3, Luật Xây dựng năm 2014)
2.1.17 Ngân sách Nhà nước: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu,
chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và
được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
của Nhà nước” (Điều 1, Luật Ngân sách năm 2002)
“Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được
dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
của Nhà nước” (Khoản 14, Điều 4, Luật Ngân sách năm 2015, có hiệu lực năm
ngân sách 2017)
2.1.18 Thành công của dự án
- Thành công: theo từ điển tiếng Việt, thành công là đạt được kết quả,
mục đích như dự định; theo từ điển Oxford thành công (success) là hoàn thành
mục tiêu hay mục đích (the accomplishment of an aim or purpose)
- Thành công của dự án: Khái niệm thành công của dự án còn khá mơ
hồ, mang tính định tính, tương đối và thực sự khó khăn để đánh giá (Sơn,
2007) Mỗi người có nhận dạng về thành công của dự án rất khác nhau, có
người quan tâm đến từng khía cạnh như tiến độ, chi phí, chất lượng…., có
người quan tâm đến sự kết hợp nhiều yếu tố trên “Sự thành công dự án được
định nghĩa là hoàn thành một hoạt động trong sự ràng buộc về thời gian, chi
phí và hiệu suất” (Cao Hào Thi, 2006, tr.6)
Sự thành công của dự án xây dựng trong nghiên cứu này được hiểu là sự
đảm bảo mục tiêu đã đề ra như đảm bảo về chất lượng, tiến độ, ngân sách, vệ
Trang 302.2 Tổng quan những nhân tố thành công của dự án xây dựng đã nghiên
cứu trước đây
Lim và Mohamed (1999) đã đưa ra một khung khái niệm thể hiện mối
quan hệ giữa các tiêu chí của một dự án thành công với một bên là tập hợp các
nhân tố tác động đến sự thành công của dự án, được thể hiện qua hình sau:
Nguồn: Lim C S and Mohamed M Z (1999)
Liên quan đến các tiêu chí đánh giá sự thành công của dự án có nhiều
quan điểm khác nhau tùy vào cách đánh giá và lựa chọn loại dự án của nhà
nghiên cứu
Trong nghiên cứu của Cao Hào Thi (2006) đã tổng quan các nghiên cứu
trước và cho thấy những tiêu chí này có thể là quá trình thực hiện, giá trị nhận
thức của dự án và sự hài lòng của khách hàng với sản phẩm cuối cùng
Nghiên cứu của Long và cộng sự (2004) đã xác định được 05 nhân tố ảnh
hưởng nhất đến sự thành công của những dự án lớn (có giá trị trên 01 triệu
USD) tại Việt Nam là: Cam kết cho dự án; Kinh phí đầy đủ suốt dự án; Đầy đủ
Các tiêu chí thành công của dự án
- Các yếu tố cơ bản
- Các yếu tố chuẩn
Dự án thành công
Trang 31nguồn lực; Trình độ của người quản lý dự án; Đa dạng/trình độ của ban quản
lý dự án Sau khi phân tích nhân tố, tác giả đã nhận dạng 15 nhân tố ảnh hưởng
đến sự thành công và nhóm thành 4 nhóm gọi là 4 COMs, bao gồm: thuận lợi
(comfort); năng lực (competence); cam kết (commitment); thông tin
(communication) Nhân tố "thuận lợi" (comfort) liên quan đến đảm bảo nguồn
lực, nỗ lực và lãnh đạo để thực hiện dự án Nhân tố "năng lực" (competence)
đòi công nghệ, kinh nghiệm chuyên môn phù hợp; Nhân tố "cam kết"
(commitment) đảm bảo là tất cả các bên liên quan đến dự án và các cấp quản lý
dự án của mỗi tổ chức phải sẵn sàng quản lý, quy hoạch, thiết kế, xây dựng,
vận hành thuận lợi; Nhân tố " thông tin" (communication) giúp những thông
tin dự án cho tất cả các bên trong và ngoài dự án một cách rõ ràng, phổ biến
Mối liên hệ giữa nhân tố thành công (success factor) và chỉ số PSI
(Project Success Index) cũng đã được Hoàng Thái Sơn (2007) xác định Chỉ số
PSI theo nghiên cứu này được hiểu gồm 4 yếu tố: Thời gian hoàn thành dự án;
Chi phí thực hiện dự án; Chất lượng dự án; Các vấn đề an toàn trong quá trình
thực hiện Theo tác giả, nhân tố quan trọng đối với sự thành công của dự án
xây dựng theo PSI lần lượt là năng lực chuyên môn của các bên; kế hoạch tổ
chức công việc; năng lực của quản lý dự án; tầm quan trọng của dự án; sự tác
động của yếu tố khách quan
Đối với dự án thực hiện theo phương thức thiết kế - thi công cũng được
tác giả Đặng Ngọc Châu (2011) nghiên cứu và rút ra nhân tố thành công quan
trọng nhất đối với dự án loại này là: Đầy đủ tài chính để hoàn thành dự án; Chỉ
huy trưởng đủ năng lực, kinh nghiệm và quyền lực; Nhà thầu có kinh nghiệm
(với các dự án tổng thầu thiết kế-thi công) và có uy tín cao; Nhà thầu kết hợp
tốt giữa phương án thiết kế và các biện pháp thi công thích hợp; Nhà thầu có
năng lực mạnh về quản lý thiết kế và thi công ;…
Những nhân tố chính ảnh hưởng đến sự thành công của dự án được Chan
và cộng sự (2004) tổng kết bao gồm: Hoạt động quản lý dự án; Thủ tục dự án;
Trang 32đến con người Để đảm bảo sự thành công của dự án thì công tác quản lý dự án
là một khía cạnh rất quan trọng, những nhân tố thành công của khía cạnh này
được Divakar và cộng sự (2009) nghiên cứu Theo tác giả thì nhân tố ảnh
hưởng nhiều nhất đối với sự thành công của quản lý dự án là Dòng tiền trong
dự án, tiếp theo sau là những nhân tố: sự chuẩn bị hóa đơn chất lượng và kịp
thời trả cho nhà thầu xây dựng; Đình chỉ dự án do chờ quyết định sửa đổi hoặc
gia tăng chi phí dự án; Sự tham gia và cam kết của các bên tham gia dự án –
Khách hàng, tư vấn, kiến trúc sư, nhà thầu/nhà thầu thi công; Tranh cãi giữa
các bên dự án và do đó đình chỉ công việc; Sự tham gia và cam kết của các nhà
quản lý dự án, kỹ sư dự án, hỗ trợ kỹ thuật, người lao động; Phối hợp giữa các
bên liên quan trong dự án (nhà cung cấp vật liệu, thiết bị,…) Cũng theo Chan
và cộng sự (2004), các bên liên quan của dự án có ảnh hưởng rất lớn đến đến
thành công của dự án xây dựng, bao gồm các năng lực của Chủ đầu tư, Tư vấn,
Ban quản lý dự án cho đến năng lực Nhà thầu Thành công của các bên có liên
quan này chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố trách nhiệm xã hội, đảm bảo hiệu
quả thông tin, nhu cầu của các bên và hạn chế của dự án, quyền lợi của các bên
được rõ ràng (Yang, J và cộng sự, 2009) Theo Albert P C Chan và các cộng
sự (2004), thành công của các bên tham gia dự án nói chung phụ thuộc vào các
yêu tố như: Ủng hộ của quản lý cấp cao, đầy đủ nguồn lực, giải quyết tranh
chấp hiệu quả, phối hợp hiệu quả, thông tin hiệu quả, cam kết dài hạn, tin cậy
lẫn nhau
Thiếu quản lý và giám sát công trường, sự hỗ trợ của quản lý dự án ảnh
hưởng rất lớn đến vấn đề đảm bảo tiến độ và chi phí của dự án xây dựng (Long
Le-Hoai và cộng sự, 2008) Bản chất của dự án, hiệu quả của hoạt động quản
lý dự án, áp dụng phương pháp quản lý cải tiến thích hợp là nhân tố ảnh hưởng
quan trọng đối với chỉ số PSI của các dự án thiết kế - thi công (Lam, E.W.M và
cộng sự, 2008) Đối với dự án xây dựng công, theo SZS Tabish và cộng sự
(2011), xét về tổng thể những dự án xây dựng công bị ảnh hưởng lớn bởi các
nhóm nhân tố: Nhận thức và tuân thủ với quy tắc và quy định; Hiệu quả hợp
Trang 33tác giữa các bên tham gia; Hoạch định và xác định rõ ràng phạm vi tiền dự án
Nếu đứng ở khía cạnh tuân thủ các quy tắc về phòng chống tham nhũng thì
thành công của dự án xây dựng công bị ảnh hưởng mạnh bởi nhóm nhân tố
Hoạch định và xác định rõ ràng phạm vi tiền dự án Ở khía cạnh tuân thủ quy
tắc tài chính thì thành công của dự án xây dựng công bị ảnh hưởng mạnh bởi
nhóm nhân tố Nhận thức và tuân thủ với quy tắc và quy định Nhóm nhân tố
Nhận thức và tuân thủ với quy tắc và quy định có nghĩa là bạn phải tuân thủ
với quy tắc phòng chống tham nhũng trong quá trình ra quyết định, phải nhận
thức và tuân thủ quy tắc kiểm toán/tài chính và không có vấn đề về an toàn lao
động trong xây dựng Nhóm nhân tố Hiệu quả hợp tác giữa các bên tham gia
bao gồm những nhân tố: Nhà quản lý dự án ra quyết định đánh giá kịp thời đối
với nhân viên và dự án, thông tin kịp thời cho các bên tham gia, hợp tác toàn
diện giữa các bên tham gia, sự ủng hộ của quản lý cấp cao, mâu thuẫn được
giải quyết nhanh chóng, mức độ trung thực cao trong chia sẽ thông tin giữa các
bên, thường xuyên giám sát và phản hồi bởi quản lý cấp cao, nguồn lực có sẵn
xuyên suốt dự án Nhóm nhân tố Hoạch định và xác định rõ ràng phạm vi tiền
dự án bao gồm những nhân tố: hiểu rõ phạm vi phần công việc của chủ đầu tư
và nhà thầu, thực hiện điều tra toàn diện công trường tiền đấu thầu, không có
sự thay đổi lớn trong phạm vi công việc khi thi công, không có can thiệp một
cách quan liêu, phạm vi công việc được phân chia rõ ràng
Nghiên cứu của Phua, F.T.T (2004) cũng đề cập đến mức độ quan liêu thủ
tục hành chính của các cơ quan chức năng và sự ổn định của tình hình chính trị
sở tại trong các yếu tố tác động đến sự thành công của dự án xây dựng
Nhân tố thành công của dự án PPP/PFI (Public Private Partnerships/
Private Finance Initiative) được Bing Li và cộng sự (2005) phân hạng theo khu
vực công, tư và tổng hợp cả hai Theo khu vực công thì nhân tố quan trọng
nhất là quá trình mua sắm cạnh tranh Theo khu vực tư thì nhân tố quan trọng
là liên minh tư nhân mạnh Tổng hợp quan điểm công tư thì nhân tố ảnh hưởng
Trang 34mạnh nhất là liên minh tư nhân mạnh, phân phối và chia sẽ rủi ro hợp lý, thị
trường tài chính sẵn sàng,…
Mối quan hệ giữa nhân tố thành công và dự án thành công thực tế được
Erling S.Andersen và cộng sự (2006) nghiên cứu và rút ra các nhân tố quan
trọng ảnh hưởng đến thời gian và chi phí là cam kết thực hiện dự án mạnh, ảnh
hưởng sớm của các bên liên quan, các bên liên quan tán thành kế hoạch và
thông tin dự án dồi dào
Bảng 2.1: So sánh xếp hạng các nhân tố thành công quan trọng theo
loại dự án từ một số nghiên cứu trước đây
án
Kinh phí đầy đủ suốt dự
án
Đa dạng /năng lực của nhóm dự
án
Cam kết cho dự
án
Nguồn lực sẵn
Kế hoạch
tổ chức công việc
Năng lực của Quản lý
dự án
Tầm quan trọng của
dự án
Sự tác động của yếu tố khách quan
để hoàn thành dự
án
Chỉ huy trưởng
đủ năng lực, kinh nghiệm
và quyền lực
Nhà thầu
có kinh nghiệm (với các
dự án tổng thầu thiết kế-thi công)
và có uy tín cao
Nhà thầu kết hợp tốt giữa phương
án thiết
kế và các biện pháp thi công thích hợp
Nhà thầu
có năng lực mạnh
về quản
lý thiết
kế và thi công
từ khách hàng đến
kỹ sư công trường
Chuẩn bị hóa đơn
về số lượng và kịp thời trả cho nhà thầu xây dựng
Đình chỉ
dự án do chờ quyết định sửa đổi hoặc gia tăng chi phí
dự án
Sự tham gia và cam kết của các bên tham gia dự án – Khách hàng, tư
Tranh cãi giữa các bên dự án
và do đó đình chỉ công việc
Trang 35trúc sư, nhà thầu/nhà thầu thi công
Hiệu quả hợp tác giữa các bên tham gia
Hoạch định và xác định
rõ ràng phạm vi tiền dự
Phân phối và chia sẽ rủi ro hợp lý
Thị trường tài chính sẵn sàng
Cam kết/trách nhiệm của khu vực nhà nước/tư nhân
Đánh giá cẩn thận
và xác thực chi phí/lợi nhuận
Kết quả nghiên cứu tại Việt Nam: đến năm 2006, qua các kết quả từ các
nghiên cứu trước trên thế giới, Cao Hào Thi (2006) đã xây dựng mô hình
nghiên cứu đối với 236 dự án cơ sở hạ tầng tại Việt Nam và khẳng định các
nhóm nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công dự án là: năng lực nhà quản lý dự
án, năng lực các thành viên tham gia và môi trường bên ngoài với mức độ tác
động bị ảnh hưởng bởi đặc trưng dự án là giai đoạn hoàn thành và thực hiện
trong vòng đời dự án
Nguyễn Quý Nguyên và Cao Hào Thi (2010) qua phân tích 150 dự án xây
dựng dân dụng khu vực phía Nam đã kết luận có 4 nhân tố trực tiếp ảnh hưởng
đến sự thành công dự án là sự hỗ trợ từ tổ chức kết hợp năng lực điều hành của
nhà quản lý dự án, năng lực các thành viên tham gia, môi trường bên ngoài,
năng lực nhà quản lý dự án và nhân tố gián tiếp là đặc điểm chủ đầu tư và ngân
sách dự án
Nhìn chung, các nghiên cứu tại Việt Nam chủ yếu được thực hiện chung
chung cho các loại dự án và chưa thể hiện tính đặc thù của các dự án sử dụng
Trang 36buộc nhiều về chính sách, thủ tục và vấn đề phân cấp quản lý đầu tư cũng như
phân cấp về nguồn vốn
Tổng hợp vai trò của tiến độ trong sự thành công của dự án và các yếu tố
ảnh hưởng đến sự thành công của dự án qua các nghiên cứu trước kết hợp với
các quy định pháp luật đối với dự án xây dựng có vốn thuộc ngân sách Nhà
nước tại Việt Nam và ý kiến các chuyên gia là cơ sở lý thuyết để hình thành
mô hình nghiên cứu đối với các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước
trên địa bàn Quận 10 và các địa bàn lân cận tại Thành phố Hồ Chí Minh
2.3 Các mô hình sử dụng
Mô hình đo lường chỉ rõ quan hệ giữa các biến tiềm ẩn (Latent Variables)
và các biến quan sát (observed variables).Nó cung cấp thông tin về thuộc tính
đo lường của biến quan sát (độ tin cậy, độ giá trị)
Mô hình cấu trúc chỉ rõ mối quan hệ giữa các biến tiềm ẩn với nhau Các
mối quan hệ này có thể mô tả những dự báo mang tính lý thuyết mà các Nhà
nghiên cứu quan tâm
Trang 37CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Quy trình nghiên cứu
Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến dự án đầu tư xây dựng vốn ngân sách Nhà nước
Thiết kế bảng câu hỏi lần 1
Phát triển bảng câu hỏi lần 2
thu thập, xử lý phân tích
số liệu
Kết luận Kiến nghị
Xác định
đề tài
Phát hành bảng câu hỏi, thu thập, xử lý số liệu
Trang 38Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng và các giải pháp làm tăng khả năng
thành công của dự án xây dựng công bao gồm các bước sau:
- Bước 1: Tham khảo những nghiên cứu có liên quan về vấn đề thành
công của dự án xây dựng, chọn những nhân tố thành công phù hợp với loại dự
án xây dựng công làm thành danh sách Phỏng vấn những chuyên gia có kinh
nghiệm trong thực hiện, quản lý dự án xây dựng công để rút ra những nhân tố
chính thiết kế bảng câu hỏi
- Bước 2: Từ những nhân tố thành công chính được rút ra từ bước 1, thiết
kế bảng câu hỏi để thực hiện pilot test
- Bước 3: Tiến hành phát bảng câu hỏi thiết kế ở bước 2 cho những
chuyên gia là các Trưởng/Phó phòng, Ban giám đốc của Sở Xây dựng, Ban
Quản lý dự án, các công ty tư vấn thiết kế, thi công, những người có thâm niên
trong lĩnh vực xây dựng có kinh nghiệm về dự án xây dựng công
- Bước 4: Thu thập số liệu lần 1 để đánh giá nhân tố và loại bỏ những
nhân tố có ảnh hưởng ít đến thành công của dự án xây dựng công, làm cơ sở
cho thiết kế bảng câu hỏi chính thức
- Bước 5: Thực hiện thiết kế bảng câu hỏi chính thức, phát hành cho
những chuyên gia có kinh nghiệm trong thực hiện dự án xây dựng công
- Bước 6: Thu thập dữ liệu và thực hiện phân loại nhân tố ảnh hưởng
bằng phân tích khám phá EFA
- Bước 7: Kiểm tra đánh giá mô hình
- Bước 8: Kết luận và đưa ra kiến nghị
3.2 Thiết kế bảng câu hỏi
Khảo sát bằng bảng câu hỏi là một phương pháp hiệu quả để thu thập ý
kiến của một số lượng lớn người về một số vấn đề trong khoảng thời gian nhất
định (Sơn, 2007) Các câu hỏi được thiết kế dưới dạng trắc nghiệm kết hợp với
dạng câu hỏi mở Các câu hỏi trắc nghiệm là những nhân tố thành công của dự
án xây dựng công được xác định từ những nghiên cứu trước đây, từ tham khảo
ý kiến của chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong thực hiện dự án xây dựng
công
Trang 39Quy trình thiết kế bảng câu hỏi như sau:
Hình 3.2 Quy trình thiết kế bảng câu hỏi
3.2.1 Thiết kế bảng câu hỏi sơ bộ
Có hai dạng thức câu hỏi: câu hỏi mở và câu hỏi đóng Trong câu hỏi mở
không có những câu trả lời định trước Trong câu hỏi đóng có nhiều câu trả lời
định trước mà người được hỏi chỉ việc lựa chọn trong đó Ưu và khuyết điểm
của những câu trả lời là như sau:
Câu hỏi mở - Có tính cấu trúc thấp
- Khó mã hóa câu trả lời để
có thể phân tích thống kê
- Tốn nhiều thời gian
- Khó trả lời hơn
- Có nhiều chi tiết hơn
Câu hỏi đóng - Có ít chi tiết hơn
- Có thể khiến người được hỏi khó chịu
Liệt kê các nhân tố thành công của dự án xây dựng
công Thiết kế bảng câu hỏi sơ bộ
Kiểm tra thử
Điều chỉnh lại bảng câu hỏi, loại
bỏ những nhân tố ít ảnh hưởng, thêm vào nhân tố mới từ kết quả
khảo sát Bảng câu hỏi hoàn chỉnh
để phát hành chính thức
Trang 40Tuy nhiên nếu nghiên cứu định tính, người ta thích dùng câu hỏi mở hơn
bởi vì nó cho phép người trả lời có thể trình bày bằng ngôn từ của họ Còn việc
dùng bộ câu hỏi trong nghiên cứu định lượng người ta nhắm vào tiện lợi và tốc
độ chứ không chú trọng đến phân tích sâu
Một loại câu hỏi đóng đặc biệt có giá trị là thang đo Likert Thang đo
Likert do một nhà tâm lí học người Mỹ tên là Likert phát minh Thang đo này
có ba ưu điểm chính:
- Làm dễ dàng hơn việc xây dựng câu hỏi để xác định thái độ của người
dân
- Thuận tiện trong việc trả lời, phân tích câu hỏi
- Cho phép phân biệt nhiều mức độ khác nhau của thái độ
Thang đo Likert truyền thống là một câu hỏi đóng gồm một mệnh đề và
có 5 lựa chọn: có lựa chọn dương tính, lựa chọn âm tính và lựa chọn trung
bình
Dựa trên những nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây và ý kiến của
những chuyên gia có kinh nghiệm từng tham gia vào nhiều dự án xây dựng
công, tác giả đã lọc được 38 nhân tố tiềm năng Bảng câu hỏi được thiết kế
theo thứ tự ưu tiên chủ đề khảo sát hỏi trước, những câu hỏi phân loại hỏi sau,
gồm 3 phần: phần 1 giới thiệu và những thông tin hướng dẫn trả lời, phần 2 là
câu hỏi những nhân tố thành công, những câu hỏi này là câu hỏi dạng thang đo
5 điểm (5-point Likert Scale), phần 3 là những câu hỏi phân loại, câu hỏi này
dạng checklist và câu hỏi mở về thông tin chung của người được khảo sát
Bảng 3.1 Nhân tố thành công của dự án xây dựng công
tiến hành thử nghiệm
1 Hồ sơ dự án thực hiện đầy đủ, bản
vẽ kỹ thuật rõ ràng, không mắc lỗi,
không mâu thuẫn giữa các giai đoạn
thiết kế, giữa thiết kế và thi công
Long Le – Hoai vcs, 2008; Divakar vcs, 2009; SZS Tabish vcs, 2011
2 Công tác giải phóng mặt bằng thuận
lợi, giao mặt bằng đúng tiến độ
SZS Tabish vcs, 2011