TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 12 Ở TRƯỜNG THPT BÌNH THUẬN,
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 12 Ở TRƯỜNG THPT BÌNH THUẬN, HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
Thuộc nhóm nghành khoa học: GD
Sơn La, tháng 06 năm 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 12 Ở TRƯỜNG THPT BÌNH THUẬN, HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
Thuộc nhóm nghành khoa học: GD
Sinh viên thực hiện: Lý Hừ De Nam, Nữ: Nữ Dân tộc: Hà Nhì
Vừ Thị Bấu Nam, Nữ: Nữ Dân tộc: H’Mông Màng Thị Chanh Nam, Nữ: Nữ Dân tộc: Thái Tín Diên Hò Nam, Nữ: Nữ Dân tộc: Hoa
Lý A Khày Nam, Nữ: Nữ Dân tộc: H’Mông Lớp K55 ĐHGD Chính trị A Khoa : Lý luận chính trị Năm thứ 3/ Số năm đào tạo: 4
Ngành học: Giáo dục chính trị
Sinh viên chịu trách nhiệm chính: Lý Hừ De
Người hưỡng dẫn: ThS Nguyễn Thị Linh Huyền
Sơn La, tháng 06 năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học của mình, ngoài sự nỗ lực của bản thân em còn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, nhiệt tình của Ban giám hiệu, phòng Quản lý khoa học và Quan hệ quốc tế, các thầy cô trong khoa Lý luận chính trị cùng các Phòng ban chức năng Trường Đại học Tây Bắc
Bên cạnh đó, em còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy, cô giáo trong trường THPT Bình Thuận, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, em cũng nhận được sự giúp đỡ của gia đình, các thầy (cô) giáo, bạn bè
Đặc biệt là sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn khoa học, thạc sĩ Nguyễn Thị Linh Huyền Cho phép em gửi tới các thầy(cô) , gia đình, bạn bè và những người đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất
Em xin chân thành cảm ơn!
Lý Hừ De
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Phương pháp nghiên cứu đề tài 4
8 Kết cấu của đề tài 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12 Ở TRƯỜNG THPT BÌNH THUẬN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA 6
1.1 Cơ sở lý luận của việc vận dụng PPTLN trong dạy học môn GDCD lớp 12…….6
1.1.1 Khái niệm nhóm và các hình thức chia nhóm 6
1.1.2 Phương pháp thảo luận nhóm 8
1.1.3 Mối quan hệ giữa PPTLN với các phương pháp dạy học tích cực khác 11
1.1.4 Đặc thù và vị trí vai trò của phương pháp thảo luận nhóm đối với môn GDCD 12 1.2 Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn GDCD lớp 12 14
1.2.1 Thực trạng việc dạy học bằng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Bình Thuận, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La 14
1.2.2 Sự cần thiết phải đổi mới PPTLN trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Bình Thuận, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La 20
Tiểu kết chương 1 22
CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 12 Ở TRƯỜNG THPT BÌNH THUẬN – TỈNH SƠN LA 23
2.1 Kế hoạch thực nghiệm 23
2.1.1 Mục đích thực nghiệm 23
2.1.2 Nội dung thực nghiệm 23
2.1.3 Nhiệm vụ thực nghiệm 23
Trang 52.1.4 Đối tượng thực nghiệm 23
2.1.5 Địa điểm và thời gian thực nghiệm 23
2.1.6 Phương pháp thực nghiệm 23
2.2 Qúa trình thực nghiệm 24
2.2.1 Khảo sát trình độ đầu vào của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 24
2.2.2 Soạn giáo án thực nghiệm 25
2.2.3 Tiến hành dạy thực nghiệm 43
2.2.4 Kiểm tra, đánh giá sau thực nghiệm 44
2.2.4.1 Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm lần thứ nhất 44
2.2.4.2 Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm lần hai 45
2.2.5 Phân tích kết quả trưng cầu ý kiến điều tra dành cho nhóm thực nghiệm 45
Tiểu kết chương 2 48
CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH VÀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 12 Ở TRƯỜNG THPT BÌNH THUẬN, HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA 49
3.1 Quy trình thực nghiệm phương pháp thảo luận nhóm 49
3.1.1 Quy trình thực hiện PPTLN tổng quát 49
3.1.1.1 Quy trình thực hiện PPTLN đối với giáo viên 49
3.1.1.2 Quy trình thực hiện PPTLN đối với HS 52
3.1.2 Quy trình thực hiện PPTLN trong dạy học một vấn đề 53
3.2 Điều kiện thực hiện phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Bình Thuận, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La 54
3.2.1 Điều kiện để thực hiện PPTLN 54
3.2.2 Một số kiến nghị 56
Tiểu kết chương 3 57
KẾT LUẬN 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61 PHỤ LỤC
Trang 6Phương pháp dạy học
Bộ luật hình sự Giáo dục - Đào tạo
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ CNH, HĐH đòi hỏi ngành GD -
ĐT phải tạo ra những con người đáp ứng được những yêu cầu của sự phát triển kinh tế, xã hội, đào tạo ra những con người có kiến thức văn hóa, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo, có năng lực tự giải quyết vấn đề và có tính kỷ luật, giàu lòng nhân ái yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh
Dạy học có vai trò quan trọng trong việc trang bị cho người học phương pháp tốt để nắm bắt tri thức Hiện nay với sự bùng nổ và tác động của công nghệ thông tin, nền kinh tế tri thức và xu hướng toàn cầu hoá việc đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề cấp thiết Phương pháp dạy học tích cực bao gồm nhiều phương pháp khác nhau, trong đó phương pháp thảo luận nhóm tích hợp được nhiều phương pháp dạy học nhằm nâng cao hiệu quả nhận thức của học sinh Tuy nhiên, hiện nay ở nhà trường THPT việc vận dụng phương pháp thảo luận nhóm còn ít, chưa thực sự mang lại hiệu quả cao
Môn GDCD giữ vai trò quan trọng và trực tiếp trong việc giáo dục học sinh ý thức và hành vi người công dân, phát triển năng lực và nhân cách con người toàn diện.Vì vậy môn GDCD ở trường THPT cần tích cực đổi mới cả về nội dung lẫn phương pháp dạy học nhằm đắp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Thảo luận nhóm là một trong nhiều phương pháp dạy học có thể phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trong học tập Phương pháp này chẳng những giúp cho người học tích cực, tự giác, chủ động tiếp thu kiến thức mà còn tạo nên môi trường thuận lợi để người học tham gia thực hành xã hội và phát triển nhân cách đầy
đủ hơn Đổi mới PPDH là một đòi hỏi cấp thiết song hiệu quả của nó phụ thuộc vào việc chủ động đổi mới phương pháp học của trò
Ở trường THPT Bình Thuận, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đa số học sinh ít hứng thú khi học môn này, học tập môn GDCD còn mang tính thụ động, thiếu sự tích cực Giáo viên chưa tìm ra biện pháp hữu hiệu nhằm phát huy tính tích cực học tập của học sinh Hơn nữa giáo viên được đào tạo chuyên sâu về môn học này còn thiếu Đa số học sinh là con em dân tộc thiểu số vì vậy vận dụng các biện pháp phát huy tính tích
Trang 8cực học tập môn GDCD ở trường THPT Bình Thuận nhằm nâng cao chất lượng dạy học của môn GDCD, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo của ngành giáo dục nói chung và của nhà trường nói riêng là điều hết sức cần thiết
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài:
“Vận dụng PPTLN nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Bình Thuận, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm gần đây đã có nhiều tài liệu trong và ngoài nước đều nêu rõ
sự cần thiết phát huy tính tích cực của người học qua việc chuyển từ “dạy học lấy giáo viên làm trung tâm” sang “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” Đây là một xu hướng mang tính tất yếu được nhiều nhà giáo dục quan tâm và tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau
Nói đến học tập nhóm phải nói tới Casinst-Roger, vào năm 1949 đã đề xuất phương pháp làm việc tự do theo nhóm: Làm việc theo nhóm có nghĩa là sinh viên phải tìm tòi, phải thực hiện cuộc khảo cứu hay quan tâm hay quan sát, phải cố gắng phân tích, tìm hiểu diễn đạt, phải thành lập theo phiếu và sắp xếp, phải đóng góp sự tìm tòi của mình cho công việc của nhóm
Tác giả A.Jakiel, ông là nhà giáo dục Ba Lan lỗi lạc với cuốn sách “Học tập theo nhóm ở trường học” đã giới thiệu một hình thức học mới đem lại hiệu quả cao trong hoạt động dạy học đó là: “Học tập theo nhóm ở trường học”
Tiếp đến là năm 1995, Robert Vlavin trong tác phẩm “Dạy học theo nhóm nhỏ:
Lý thuyết nghiên cứu và thực hành” cũng đã đề cập đến mô hình dạy học theo nhóm nhỏ, tất cả đều có chung ý tưởng là các học viên cùng nhau làm việc trong các nhóm nhỏ để hoàn thành mục tiêu học tập chung
Bài viết: “Lấy học sinh làm trung tâm” của tác giả Trần Bá Hoành đã đề cập tới phương pháp hợp tác hay phương pháp học tập nhóm với ý nghĩa là một trong phương pháp lấy học sinh làm trung tâm
PGS - TS Phạm Viết Vượng trong bài viết: “Về quan điểm giảng dạy lấy học sinh làm trung tâm” viết: Phương pháp thảo luận nhóm còn gọi là hợp tác, sắp xếp học sinh theo nhóm ngồi quanh một bàn, thảo luận, góp ý kiến để xây dựng các ý kiến trả lời từng tiểu mục trong modul Đại diện từng nhóm hoặc cá nhân phát biểu trước lớp
về những điều đã thu được
Trang 9Nguyễn Hữu Châu trong cuốn: “Những vấn đề cơ bản về quá trình dạy học” cũng đã đưa ra quan điểm về dạy học hợp tác theo nhóm Theo ông thì: “Dạy học hợp tác là việc sử dụng các nhóm nhỏ để học sinh làm việc cùng nhau nhằm tối đa hóa kết quả học tập của bản thân cũng như của người khác” [2,225]
Tác giả Phan Trọng Ngọ trong cuốn “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường” cũng đã giới thiệu về vấn đề phương pháp dạy và học trong nhà trường hiện nay, trong đó có phương pháp thảo luận nhóm Tác giả cho rằng “Phương pháp thảo luận nhóm là phương pháp dạy học trong đó nhóm lớn (lớp học) được chia thành các nhóm nhỏ để tất cả các thành viên trong lớp đều được làm việc và thảo luận về một một chủ đề cụ thể và đưa ra ý kiến chung của nhóm về vấn đề đó” [10,223]
Lê Đức Ngọ trong cuốn: “Giáo dục đại học phương pháp dạy và học” cho rằng:
“Thảo luận nhóm là sự trao đổi ý tưởng, quan điểm nhận thức giữa các học viên và giáo viên, để làm rõ và làm và làm giàu sự hiểu biết các nội dung phù hợp với các hoạt động đào tạo” [11,43]
Học tập theo nhóm được các nhà giáo dục trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm trên nhiều khía cạnh Dù ở khía cạnh nào thì học tập theo nhóm vẫn được hiểu là môi trường học tập nhằm phát huy vai trò chủ động sáng tạo của người học Trong môi trường ấy tùy thuộc vào nội dung, điều kiện học tập, đối tượng học sinh, tính học và năng lực sư phạm của mình, người thầy có thể sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học tích cực, trong đó có phương pháp thảo luận nhóm vào quá trình dạy học nói chung
có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu song nghiên cứu vận dụng PPTLN nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Bình Thuận, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La thì chưa có tác giả nào đề cập đến một cách cụ thể Vì vậy, việc nghiên cứu
đề tài: “Vận dụng PPTLN nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD lớp 12 ở
trường THPT Bình Thuận, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La” là một đề tài mới mẻ
3 Mục đích nghiên cứu
tài nhằm xây dựng quy trình thực hiện phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học
để phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD ở trường THPT Bình Thuận, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
Trang 104 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích đề ra, chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
+ Làm rõ cơ sở lý luận của PPTLN và thực trạng sử dụng PPTLN trong dạy môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Bình Thuận, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
+ Thực trạng sử dụng PPTLN trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Bình Thuận, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
+ Tiến hành thực nghiệm PPTLN trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Bình Thuận, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
+ Xây dựng quy trình thực hiện PPTLN trong dạy học môn GDCD lớp 12 và đưa ra các điều kiện để PPTLN có hiệu quả
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu quá trình dạy học sử dụng PPTLN trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Bình Thuận, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi lý luận
+ Phạm vi thực tiễn:
THPT Bình Thuận, trường THPT Tông Lệnh, trường THPT thị trấn Thuận Châu
6 Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng tốt PPTLN trong dạy học môn GDCD thì sẽ nâng cao tính tích cực chủ động cho học sinh đồng thời nâng cao chất lượng dạy học môn này cho học sinh lớp
12 ở trường THPT Bình Thuận, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
7 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích tổng hợp các tài liệu có liên quan đến phương pháp thảo luận nhóm để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Trang 11+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm
+ Phương pháp thống kê toán học
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần các danh mục tham khảo, mục lục, phụ lục Phần nội dung chính của đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn vận dụng vận PPTLN trong dạy học môn
giáo dục công dân lớp 12 ở trường THPT Bình Thuận, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn
La
Chương 2: Thực nghiệm PPTLN trong dạy học môn giáo dục công dân lớp 12
ở trường THPT Bình Thuận, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
dục công dân lớp 12 ở trường THPT Bình Thuận, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
Trang 12
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN
LỚP 12 Ở TRƯỜNG THPT BÌNH THUẬN, HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA 1.1 Cơ sở lý luận của việc vận dụng PPTLN trong dạy học môn GDCD lớp 12
1.1.1 Khái niệm nhóm và các hình thức chia nhóm
* Khái niệm nhóm
Nhóm là một hiện tượng xã hội, một sự tập hợp của hai hay nhiều người có sự tác động lẫn nhau nhằm đạt được mục tiêu chung
Nhóm là tập thể nhỏ được hình thành để thực hiện một nhiệm vụ nhất định trong một thời gian nhất định, căn cứ vào điều kiện cụ thể mà có những cách phân chia nhóm khác nhau Song về cơ bản: Nhóm là sự hợp tác giữa các cá nhân với nhau trên
cơ sở kỳ vọng chung, trong nhóm có sự phân công nhiệm vụ giữa các thành viên có sự tương tác lẫn nhau nhằm đạt được các mục tiêu chung
Đặc điểm của nhóm được xác định bởi:
- Số người trong nhóm
- Nhiệm vụ của mỗi nhóm
- Sự tương tác giữa các thành viên trong nhóm
- Các đặc điểm tâm lý của nhóm
- Chia sẻ mục tiêu chung: Mục tiêu càng rõ thì mối tương tác càng mạnh
- Hệ thống các quy tắc (sự tuân thủ)
- Cơ cấu chính thức và phi chính thức
- Các vai trò thể hiện trong nhóm: Vai trò hướng về công việc, vai trò củng cố nhóm, vai trò liên quan đến nhu cầu cá nhân (vai trò cản trở hay vai trò thúc đẩy) Các vai trò này luôn biến đổi làm cho nhóm năng động, ảnh hưởng lên từng con người trong nhóm
* Các hình thức chia nhóm
độ của đối tượng học sinh, có các hình thức chia nhóm khác nhau
- Hình thức chia nhóm ngẫu nhiên
Trang 13Đây là cách chia nhóm được tiến hành khi giữa các đối tượng học sinh không cần có sự phân biệt Mọi học sinh đều phải hoạt động cùng chiếm lĩnh tri thức Nhiệm
vụ được giao không khác nhau nhiều về nội dung, ít có sự chênh lệch về nội dung, ít
có sự chênh lệch về độ khó và có cùng chung một yêu cầu
Ở hình thức thức chia nhóm ngẫu nhiên nay khi chia nhóm giáo viên có thể chia theo bàn, theo tổ hoặc bằng cách điểm vòng tròn
- Chia nhóm cùng một trình độ
Việc chia nhóm cùng một trình độ được áp dụng khi cần có sự phân hóa về trình độ bởi mức độ khó dễ của nội dung bài học cho từng đối tượng học sinh Người
ta thường dựa vào trình độ giỏi, khá, trung bình và yếu để chia thành nhóm tương ứng
Với cách chia này giáo viên có thể đưa ra các yêu cầu cụ thể khác nhau đối với từng nhóm trong việc giải quyết cùng một nhiệm vụ học tập
Song khi áp dụng hình thức chia nhóm này giáo viên cần phải thận trọng Bởi
vì, muốn chia đúng trình độ học sinh, giáo viên phải nắm chắc được trình độ của học sinh, nếu không nắm chắc được trình độ của học sinh mà chia sai nhóm thì sẽ dấn đến
sự phản tác dụng
- Chia nhóm nhiều trình độ khác nhau
Cách chia này thường được sử dụng khi nội dung hoạt động dạy học cần có sự hỗ trợ lẫn nhau Trong trường hợp này cần phải xác định vai trò của nhóm trưởng là rất quan trọng trong việc phân chia nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm
- Chia nhóm theo sở trường
Cách chia nay thường được tiến hành trong các buổi học tập ngoại khóa, mỗi nhóm sẽ gồm một số học sinh có chung sở trường, hứng thú,
Tóm lại: Có nhiều hình thức chia nhóm khác nhau, mỗi một hình thưc có đặc điểm và ưu thế riêng Vì vậy, trước khi quyết định chia nhóm theo hình thức nào, giáo viên nên dựa vào mục tiêu bài học, loại bài học, không gian học tâp, trình độ, sở trường của học sinh
Trong quá trình dạy học môn GDCD lớp 12 bằng PPTLN, theo tôi hình thức phổ biến nhất vẫn là cách chia thứ nhất - ngẫu nhiên Song để cho chia ngẫu nhiên hạn chế những nhược điểm của nó thì người giáo viên cần phải chú ý đến hai vấn đề:
+ Một là nhiệm vụ được giao cho mỗi nhóm phải có cả yêu cầu khó, dễ khác nhau + Phải điều hành sao cho mọi thành viên của nhóm đề phải tích cực có hoạt động
Trang 141.1.2 Phương pháp thảo luận nhóm
* Khái niệm về phương pháp thảo luận nhóm
Có nhiều cách định ghĩa khác nhau về PPTLN song chúng ta có thể rút ra khái niệm cụ thể như: Thảo luận nhóm là một phương pháp day học, trong đó lớp học được chia thành các nhóm nhỏ để học sinh trong nhóm tích cực nghiên cứu, chủ động thảo luận các nhiệm vụ học tập để đạt được mục tiêu học tập dưới sự hướng dấn của giáo
viên Như vậy có thể có thể tóm tắt bởi các ý cơ bản như sau:
+ PPTLN chia nội dung bài dạy thành những vấn đề nhỏ Mỗi vẫn đề nhỏ được coi là một chủ đề thảo luận
+ Chia lớp học thành nhiều nhóm khác nhau, tùy thuộc vào nội dung và tính chất của vấn đề thảo luận, cũng như các điều kiện phục vụ khác như bàn ghế, phòng học, tài liệu, phương tiện dạy học
+ Mỗi nhóm cử ra một nhóm trưởng điều khiển và duy trì hoạt động của nhóm
và một thư ký ghi chép đầy đủ các phát biểu trong thảo luận
+ Có thể giao nhiệm vụ cho từng cá nhân làm viêc độc lập trong nhóm sau đó
cả nhóm đánh giá và bổ sung Cũng có thể giai nhiệm vụ cho cả nhóm, tuy nhiên cần nhớ: Tại một thời điểm, mỗi nhóm (cá nhân) chỉ được giao thảo luận một chủ đề, kết thúc chủ đề này lại thảo luận chủ đề khác (phát triển bài học theo chiều dọc)
.Cũng có thể giao cho mỗi nhóm thảo luận một chủ đề (phát triển bài học theo chiều ngang), sự liên kết các nhóm này sẽ tạo ra sự thống nhất về kết quả chung của bài dạy Cả hai hướng đều có điểm mạnh và hạn chế nhất định, vì vậy phải tùy theo nội dung mục tiêu của bài day, giáo viên cũng có thể kết hợp cả hai cách trên với nhau trên cùng một mức độ nhất định
+ Các sản phẩm của cá nhân hay của nhóm có thể được thể hiện trên các văn bản, biểu đồ các sản phẩm đó phải được giới thiệu và trình bày trước nhóm hoặc trước các nhóm khác trong lớp
+ Đảm bảo yếu tố thông tin phản hồi từ các nhóm
+ Bất kì cuộc thảo luận nào cũng phải có kết quả của giáo viên Cần giành thời gian ghi chép và đánh giá sự tiến bộ của các nhóm, tóm tắt ý tưởng của các nhóm, thực hiện công tác trọng tài cố vấn cho các nhóm tiếp tục hoàn thiện và phát triển ý tưởng của mình
* Các hình thức thảo luận nhóm
Trang 15Có nhiều hình thức thảo luận nhóm, hiệu quả công việc của chúng tùy thuộc vào ý đồ và tính chất sử dụng của người dạy
Dưới đây là một số hình thức thảo luận của nhóm phổ biến:
- Nhóm nhỏ thông thường
Giáo viên chia lớp học thành các nhóm nhỏ (3 đến 5 người) để thảo luận một vấn đề cụ thể náo đó và nhanh chóng đưa ra kết luận tập thể về các vấn đề đó Hình thức này thường này thường được sử dụng kết hợp với các kĩ thuật dạy học khác trong một bài học Nội dung thảo luận của nhóm thông thương là các nội dung nhỏ, thời gian thảo luận ngắn (5 đến 10 phút)
- Nhóm rì rầm
Giáo viên chia lớp học thành các nhóm “cực nhỏ”, khoảng 2 đến 3 người (thường là cùng bàn) để trao đổi (rì rầm) và thống nhất trả lời một câu hỏi, giải quyết một vấn đề một ý tưởng, thái độ… để nhóm rì rầm có hiệu quả hơn, GV cần cung cấp đầy đủ, chính xác các dữ liệu, các gợi ý và nêu rõ yêu cầu đối với câu trả lời để các thành viên tập trung vào giải quyết Việc chia lớp thành những nhóm nhỏ hặc nhóm “rì rầm” là biện pháp khắc phục hiện tượng “người ngoài cuộc” là tăng hiệu quả của PPTLN
- Nhóm kim tự tháp
Đây là hình thức mở rộng của nhóm rì rầm, sau khi thảo luận theo cặp (nhóm rì rầm ), các cặp (2 hoặc 3 nhóm rì rầm ) kết hợp thành nhóm 4 đến 6 người để hoàn thiện một vấn đề chung Đây cũng là biện pháp khắc phục hiện tượng “người ngoài cuộc”, đồng thời tạo điều kiện hoàn chỉnh nhiệm vụ học tập với chất lượng cao hơn
- Nhóm đồng tâm (nhóm bể cá)
Giáo viên chia lớp chia lớp thành hai nhóm: Nhóm thảo luận và nhóm qua sát (sau đó có thể hoán vị cho nhau) Nhóm nhỏ hơn 6 đến 10 người có nhiệm vụ thảo luận và trình bày vấn đề được giao, còn các thành viên trong lớp đóng vai trò người quan sát và phản biện Hình thức nhóm này rất có hiệu quả đối với việc làm tăng ý thức trách nhiệm cá nhân trước tập thể và tạo động cơ cho người trình bày ý tưởng của mình trước tập thể
- Nhóm khép kín và nhóm mở
Nhóm khép kín là các thành viên trong nhóm làm việc trong khoảng thời gian dài, thực hiện trọn vẹn một hoạt động học tập từ thời gian đầu đến cuối cùng
Trang 16- Nhóm mở là các thành viên có thể tham gia một hoặc vài giai đoạn phù hợp với khả năng và sở thích của mình Hình thức này mang lại cho người học nhiều khả năng lựa chọn vấn đề thực hiện hiệu quả, chủ động về thời gian, sức lực
Tóm lại, có nhiều hình thức thảo luận nhóm, mỗi hình thức có đặc điểm và ưu thế nổi trội của mình Tùy thuộc vào thuộc vào tính chất, nội dung của bài học cũng như các điều kiện dạy học khác mà người GV có thể lựa chọn cho mình một hình thức thảo luận theo nhóm phù hợp hoặc cũng có thể lựa chọn nhiều hình thức thảo luận theo nhóm kết hợp với nhau một cách linh hoạt
* Ưu điểm và hạn chế của PPTLN
- Ưu điểm: Dạy học bằng phương pháp thảo luận nhóm có một số ưu điểm:
+ Học theo nhóm bao giờ cũng sôi nổi hơn, nó tạo ra mọi cơ hội tối đa cho mọi thành viên trong nhóm được bộc lộ sự hiểu biết và quan điểm của mình về nội dung và phương pháp học tập, giúp họ phát triển khả năng diễn đạt, trao đổi suy nghĩ và quan điểm một cách rõ ràng Tăng cường khả năng chịu đựng và sự quan tâm của người học Điều này đặc biệt có ích đối với những HS nhút nhát,ngại ngùng ít phát biểu trong lớp học
+ Tạo cơ hội thuận lợi để các thành viên trong nhóm học hỏi lẫn nhau và lịch sự thể hiện quan điểm của mình cũng như nhận xét, đánh giá ý kiến của bạn, điều chỉnh
tư duy của mình
+ Tạo cơ hội để các thành viên trong lớp học làm quen, trao đổi và hợp tác với nhau, hình thành theo thói quen tương tác trong lớp học Góp phần làm tăng bầu không khí hiểu biết, tin cậy, thân thiện và đoàn kết với nhau giữa các thành viên
+ Tạo yếu tố kích thích thi đua giữa các thành viên trong nhóm, đặc biệt là trong việc học tập các chủ đề có tính sáng tạo cao Rèn luyện, phát triển các kỹ năng tư duy, phân tích tổng hợp…
+ Tạo cơ hội cho giáo viên có cơ hội phản hồi về người học Đây là một trong những ưu điểm nổi trội của PPTLN so với các PPDH khác Mặt khác, GV còn có thể thu được tri thức và kinh nghiệm từ phía người học, qua các phát biểu có suy nghĩ và sáng tạo của học sinh
Như vậy, PPTLN được tổ chức tốt sẽ tăng cường tính tích cực, chủ động của
HS, giúp HS tập trung vào bài học, phát triển được các kỹ năng tư duy và óc phê phán các kỹ năng giao tiếp xã hội quan trọng khác
Trang 17- Hạn chế: Mặc dù có nhiều ưu điểm, nhưng PPTLN cũng có những khó khăn, hạn chế nhất định
+ Để PPTLN có hiệu quả, đòi hỏi người GV phải có khả năng xây dựng, thiết
kế những tri thức trong bài học thành tình huống có vấn đề Song đó là việc không hề đơn giản đối với GV và mọi bài học
+ Để tổ chức một bài học bằng PPTLN có hiệu quả thì cả GV và HS đều phải chuẩn bị, đầu tư nhiều về thời gian và công sức Đặc biệt là những lớp học qua đông thì đây thực sự là một trở ngại Vì thế, học bằng PPTLN sẽ làm mất lấy nhiều thời gian của GV và HS
+ Hiệu quả học tập của nhóm phụ thuộc rất nhiều vào tinh thần tham gia của các thành viên trong nhóm, thảo luận chỉ có một vài người tham gia tích cực thì dẫn đến tình trạng có một vài người là chủ nhân còn các thành viên khác là khác ngồi nghe, để mặc cho người khác dẫn dắt và quyết định Khi đó thảo luận nhóm sẽ trở thành sự độc diễn cá nhân, hệt như phương pháp thuyết trình của GV Còn các thành viên khác trở thành “người ngoài cuộc”- một hiện tượng khá phổ biến trong thảo luận hiện nay
+ Sự tác động từ bên ngoài như sự giám sát thường xuyên của giáo viên, yếu tố thi đua giữa các nhóm cũng ảnh hưởng ít nhiều đến quá trình thảo luận
Có thể thấy rằng thảo luận nhóm là một trong những phương pháp dạy học phát huy được tính cực, tự giác của người học Nó đã tạo ra một môi trường học tập thuận lợi
mà ở đó trí tuệ tập thể đã được phát huy cũng như vai trò hoạt động xã hội của các cá nhân được trải nghiệm Nếu GV là người có tâm huyết, có quy trình và biện pháp thảo luận hữu hiệu thì những khó khăn, hạn chế trên hoàn toàn có khả năng khắc phục được
1.1.3 Mối quan hệ giữa PPTLN với các phương pháp dạy học tích cực khác
Hiện nay, trong các trường THPT sử dụng rất đa dạng các phương pháp dạy học tích cực, do vậy GV phải nghiên cứu kỹ mục đích, nội dung môn học, bài dạy để tìm
ra được các phương pháp phù hợp Mỗi phương pháp đều có ưu, nhược điểm riêng nên các phương pháp cần được sử dụng phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau chỉ có vậy mới đảm bảo dạy học thành công
PPTLN là một phương pháp được sử dụng phổ biến, thường xuyên song song với các phương pháp dạy học tích cực khác trong quá trình dạy hoc, chẳng hạn:
Sau khi HS trả lời câu hỏi GV sẽ nhận xét, bổ sung và kết luận vấn đề, do đó
Trang 18việc sử dụng phương pháp thuyết trình kết hợp với PPTLN là cần thiết để luận giải cho HS hiểu rõ các vấn đề mà GV đã nêu ra
- Khi GV yêu cầu HS thảo luận để đưa ra ý kiến quan điểm về một chủ đề nào
đó thì lúc đó phương pháp thảo luận nhóm đang được thực hiện, nhưng để có được ý kiến và quan điểm thống nhất thì HS các nhóm đều phải đào sâu suy nghĩ Như vậy, qua thảo luận nhóm mà phương pháp động não được thể hiện
- Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề cũng chỉ được thực hiện có hiệu quả khi các nhóm trao đổi bàn bạc một cách tích cực, sôi nổi các vấn đề, mục tiêu học tập đề ra
- Phương pháp vấn đáp còn được vận dụng trong giờ thảo luận tập thể bằng một hệ thống các câu hỏi giúp học sinh cùng tranh luận để hiểu sâu sắc hơn vấn đề đang học
- Phương pháp day học thông qua ngiên cứu tình huống cũng không thoát li khỏi PPTLN Bởi vì một tình huống có vấn đề nào đó chỉ có thể biến thành tri thức của học sinh thông qua viêc trao đổi, thảo luận các yếu tố, các mâu thuẫn của tình huống
- Có một phương pháp nữa mà nếu thiếu nó thì PPTLN khó có thể phát huy được thế mạnh của mình Đó chính là phương pháp thảo luận lớp Bởi vì, để có được một ý kiến thống nhất chung của các nhóm trong qua trình thảo luận thì tất yếu phải có
sự trao đổi, bàn bạc, bổ sung, thống nhất giữa các nhóm và vì thế không thể thiếu được phương pháp thảo luận lớp khi thực hiện PPTLN trong quá trình dạy học
Như vậy, PPTLN là một trong những phương pháp dạy học được sử dụng kết hợp với nhiều phương pháp dạy học tích cực khác, mà điển hình là phương pháp thuyết trình Thảo luận nhóm là phương tiện, điều kiện cho sự thành công của phương pháp dạy học tích cực và ngược lại cũng nhờ các phương pháp dạy học tích cực đó mà PPTLN đã phát huy được tác dụng và thế mạnh của mình Vì thế, một lần nữa khẳng định ý nghĩa quan trọng của việc nghiên cứu, vận dụng PPTLN trong quá trình dạy học
1.1.4 Đặc thù và vị trí vai trò của phương pháp thảo luận nhóm đối với môn GDCD
* Đặc thù cuả môn GDCD
Môn GDCD là một môn khoa học xã hội, có vị trí đặc biệt quan trọng trong trường THPT Điều này có từ chính đặc thù về tri thức của môn GDCD đem lại, có thể nêu lên một vài điểm riêng biệt như sau:
Một là, Nội dung tri thức của môn học bao gồm phạm vi kiến thức rộng lớn, bao quát toàn bộ đời sống xã hội, những tri thức này được khái quát từ những vấn đề rất gần
Trang 19gũi, thiết thực trong đời sống thường nhật của cá nhân công dân, gia đình và xã hội đến những vấn đề lớn hơn của quốc gia, dân tộc, nhân loại Đây là những kiến thức thể hiện tên gọi của môn học, dạy và học để làm người công dân Để trở thành người công dân đúng chuẩn mực xác định người công dân Việt Nam trong thời đại mới, khỏe mạnh, tự trọng, có kiến thức, kỹ năng, có động lực học tập suốt đời, biết quan tâm đến người khác
và có trách nhiệm với xã hội
Hai là, các tri thức GDCD mang tính khái quát cao, tính trừu tượng, tính quy luật, tính logic chặt chẽ Đây là tri thức mang tính định hướng chính trị sâu sắc, nó trực tiếp đề cập đến vấn đề chính trị, tư tưởng của giai cấp công nhân, của ĐCS Việt Nam, trực tiếp xác lập cho học sinh một thế giói quan khoa học và nhân sinh quan cộng sản Những kiến thức triết học nền tảng của thế giới quan đã giúp cho học sinh có được định hướng đúng đắn trong hoạt động thực tiễn, biết cách giải quyết mối quan hệ của bản thân với cộng đồng trong các lĩnh vực ở phạm vi khác nhau Những kiến thức về kinh tế, chính trị - xã hội, pháp luật, đạo đức trực tiếp giúp cho học sinh bước đầu biết phân tích, đánh giá và rút ra kết luận đúng đắn về những vấn đề nóng bỏng của đất nước, về thế giới Mỗi môn học trong nhà trường đều có nhiệm vụ xây dựng thế giới quan và phương pháp luận khoa học song lợi thế hơn các môn học khác, môn GDCD thực hiện nhiệm vụ này một cách trực tiếp Đây là đặc điểm nói lên khả năng to lớn và trách nhiệm nặng nề của môn GDCD trong trường THPT
Ba là, tri thức GDCD gắn bó mật thiết với hiện thực, phản ánh một cách sinh động đời sống hiện thực, nếu việc dạy học môn GDCD tách khỏi thực tiễn xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc XHCN Việt Nam thì sẽ mất hết ý nghĩa và tác dụng Bởi lẽ, dạy học GDCD là dạy học sinh trở thành người công dân có tinh thần và trách nhiệm của một thành viên hữu ích cho đất nước Do đó, quá trình dạy học môn GDCD phải trực tiếp, cụ thể với đời sống, với việc rèn luyện và tu dưỡng của mỗi học sinh
Tóm lại, môn GDCD ở trường THPT đã đề cập và giải quyết một cách toàn diện hệ thống kiến thức cơ bản, cần thiết của một công dân Việt Nam trong thời đại mới là tổng hợp tri thức của nhiều môn khoa học Đào tạo ra những thế hệ công dân có lập trường tư tưởng vững vàng, có ý thức tự tôn dân tộc, có lý tưởng cách mạng, có tự trọng, giỏi giang và có ích cho xã hội là hết sức cần trọng, cần thiết
* Vị trí, vai trò của phương pháp thảo luận nhóm đối với môn GDCD
Trang 20tập ở mức độ cao Người học không thụ động, chỉ nghe giảng và truyền đạt kiến thức
mà còn được học tập bằng hoạt động của chính mình
Người học sẽ tự chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng và điều chỉnh thái độ phù hợp với những tác động của nhà trường cũng như thực tiễn
Những tri thức trong môn GDCD mang tính khái quát hóa trừu tượng hóa cao, vận dụng phương pháp thảo luận nhóm này sẽ giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức một cách sâu sắc và bền vững
Như vậy, vận dụng phương pháp thảo luận nhóm sẽ khuyến khích lòng say mê học hỏi, tính tự giác, chủ động trong học tập, có khả năng tạo ra được tính chủ động trong học tập của nguời học Từ đó người học nâng cao vai trò, trách nhiệm của mình trong học tập, có khả năng tạo ra được tính chủ động, độc lập hành động cho bản thân người học
Vận dụng PPTLN sẽ giúp người học phát triển được các kỹ năng tư duy và kỹ năng giao tiếp cơ bản Điều đó cho thấy vị trí của môn GDCD là quan trọng, cần phải có nhận thức đúng đắn đầy đủ về vị trí, vai trò của môn học này thì mới góp phần thực hiện “ chiến lược con người ” mà chúng ta đang triển khai
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc vận dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn GDCD lớp 12
1.2.1 Thực trạng việc dạy học bằng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Bình Thuận, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
* Đặc điểm của môn GDCD lớp 12
Môn giáo dục công dân lớp 12 bao gồm những tri thức về pháp luật và đời sống, trang bị cho HS một cách tương đối về hệ thống những nội dung cơ bản về thế giới quan, phương pháp luận của pháp luật và đời sống
Hiểu được bản chất và vai trò của pháp luật đối với sự phát triển của công dân, đất nước, nhân loại Hiểu quyền và nghĩa vụ của công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, hiểu được trách nhiệm cuả việc thực hiện đường lối, quy định của Đảng, chính sách của Nhà nước
Nội dung chương trình giáo dục công dân lớp 12 được cấu trúc thành một phần
“Công dân với pháp luật ”
Trang 21Bài 2 Thực hiện pháp luật 3
* Tiến hành điều tra, khảo sát GV và HS
Để đánh giá thực trạng dạy học môn GCDC lớp 12 chúng tôi đã tiến hành điều tra 5 GV tại các trường: trường THPT Bình Thuận, trường THPT Tông Lệnh, trường THPT thị trấn Thuận Châu Trong đó không có giáo viên dạy kiêm nhiệm bộ môn, tất
cả GV đều có trình độ Đại học hoặc thạc sĩ
Chúng tôi thực hiện khảo sát 160 HS lớp 12 của năm học 2016 – 2017 (lựa chọn ngẫu nhiên 4 lớp: 12a1 - 32 học sinh, lớp 12a3 - 35 học sinh, lớp 12a4 - 36 học sinh, lớp 12a6 - 39 học sinh)
Trong quá trình dạy học môn GDCD, đa số giáo viên thường sử dụng phương pháp truyền thống là thuyết trình Mặc dù phương pháp này có ưu điểm là trong khoảng một thời gian ngắn giáo viên có thể truyền tải đến người học một lượng thông tin lớn cần thiết, cô đọng và cập nhật Nhưng phương pháp này cũng làm cho người học gần như thụ động tiếp nhận thông tin từ phía người giáo viên nên ít có cơ hội thể hiện và áp dụng các ý tưởng của mình đối với tài liệu học tập Do đó, bài học dễ dẫn đến đơn điệu, nhàm chán, kém hiệu quả
Hiện nay, cùng với quá trình cải cách giáo dục, tri thức của môn GDCD được nâng lên Việc giáo viên sử dụng phương pháp thuyết trình được giảm dần và có kết hợp một số phương pháp khác như: Phương pháp trực quan, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp đàm thoại, phương pháp thảo luận nhóm… giáo viên nhận thấy rằng để nâng cao chất lượng dạy học nhất thiết phải đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng các phương pháp phù hợp với yêu cầu của thực tiễn
* Kết quả phân tích dữ liệu điều tra giáo viên
Trang 22trường THPT Bình Thuận Chúng tôi có đưa ra một số câu hỏi cho giáo viên như sau:
Câu hỏi số 1: Theo các thầy cô PPTLN cần thiết ở mức độ như thế nào trong dạy học GDCD 12?( câu 2-Phụ lục 1)
Chúng tôi thu được kết quả như sau:
Căn cứ vào kết quả trên, PPTLN tuy nhận được đánh giá là một trong những phương pháp cần thiết và quan trọng như đã điều tra (20% và 80%), song số giáo viên
sử dụng phương pháp này là thường xuyên thì không có ai, đôi khi là 80% còn tới 20% giáo viên chưa bao giờ sử dụng phương pháp này
Câu hỏi 3: Theo thầy (cô) nên vận dụng PPTLN kết hợp những phương pháp dạy học nào sau đây? (Câu 3 - Phụ lục 1)
Trang 23(80%), vấn đáp (60%) Điều đó cho thấy việc kết hợp tối ưu các phương pháp dạy học khác là rất cần thiết
Câu hỏi 4: Thầy(cô)sử dụng PPTLN trong dạy học nhằm mục đích gì? (Câu 4- Phụ lục 1)
Chúng tôi thu được kết quả như sau:
Kết quả trên cho thấy, mục đích sử dụng PPTLN chủ yếu thực hiện trong các giờ ôn tập và củng cố kiến thức, khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức Còn việc áp dụng PPTLN giúp học sinh lĩnh hội tri thức mới hoặc liên hệ giữa kiến thức lý luận với thực tiễn và hình thành kỹ năng, kỹ xảo còn hạn chế(20%) Đây là hạn chế cần phải được khắc phục, bởi nếu thảo luận nhóm chỉ nhằm mục đích ôn tập, củng cố, khái quát hóa…thì không khai thác hết tất cả nhũng ưu thế và hiệu quả của PPTLN
Câu hỏi 5: Theo thầy(cô), có những khó khăn nào ảnh hưởng đến hiệu quả của việc vận dụng PPTLN vào quá trình dạy học?
Qua điều tra phỏng vấn chúng tôi thu được kết quả như sau:
Kết quả cho thấy, có hai nhóm khó khăn chủ yếu nhất ảnh hưởng đến việc vận dụng PPTLN, đó là những khó khan mang tính chủ quan và khách quan
- Những khó khăn chủ quan:
Trong những khó khăn chủ quan ảnh hưởng đến thảo luận nhóm thì thói quen
Trang 24sử dụng phương pháp dạy học truyền thống là khó khăn cơ bản ảnh hưởng đến việc không thường xuyên sử dụng PPTLN trong dạy học của giáo viên
Khó khăn thứ hai là do năng lực tổ chức điều khiển thảo luận của giáo viên còn hạn chế Năng lực này thể hiện ở kỹ thuật phân chia và điều khiển các nhóm thảo luận, thể hiện ở khả năng xử lí khéo léo các tình huống bất ngờ diễn ra quá trình thảo luận
chưa cao, chưa nhiệt tình với việc học, vẫn còn tư tưởng ỷ lại, trông đợi vào thầy cô
Ngoài ra còn có một số khó khăn khác như:
+ Trường THPT Bình Thuận là một trường đa số các em học sinh là dân tộc thiểu số nên các em vẫn còn nhút nhát, ngại ngần khi phát biểu
+ Do đặc thù của trường là ở địa bàn vùng Tây Bắc đa số là dân tộc thiểu số nên khả năng phát âm tiếng Việt của các em chưa cao
Trong khi đó thảo luận nhóm đòi hỏi hoạt động tích cực, tự giác… Song với các đặc điểm vừa nêu trên nên các em rất ngại thể hiện trước đám đông Mặt khác, giáo viên lại thiếu những kinh nghiệm điều khiển thảo luận, dẫn dắt vì thế không khơi gợi hứng thú học tập từ các em
- Những khó khăn khách quan:
Thứ nhất là chưa có quy trình thảo luận khoa học, chi tiết là khó khăn cơ bản nhất ảnh hưởng đến thảo luận nhóm Bởi quy trình thảo luận là cách thức tổ chức thảo luận, là trình tự các giai đoạn, các thao tác, kỹ năng trong quá trình tổ chức điều khiển các nhóm thảo luận
Thứ hai là khó khăn về cơ sở vật chất chưa đảm bảo, thiếu thiết bị dạy học hiện đại, bàn ghế không cơ động, đây cũng là lý do cản trở phương pháp thảo luận nhóm
Tóm lại: có nhiều khó khăn và hạn chế ảnh hưởng đến việc PPTLN trong quá trình dạy học môn GDCD Vì vậy, muốn khắc phục những khó khăn trên đòi hỏi sự cố gắng đồng thời của cả giáo viên và học sinh và sự quan tâm của trường
* Kết quả phân tích dữ liệu phiếu điều tra học sinh
Điều tra học sinh nhằm mục đích tìm hiểu về nhận thức của học sinh đối với PPTLN cũng như những khó khăn mà các em gặp phải trong giờ học có vận dụng PPTLN Mặt khác đối chiếu, kiểm nghiệm các dữ liệu thu thập từ giáo viên
Tổng số phiếu phát ra 160 và thu về đủ 160 Trong đó có 154 phiếu hợp lệ và 6 phiếu không hợp lệ (mặc dù đã có những hướng dẫn cụ thể và nêu rõ quan điểm điều
Trang 25tra nhưng vẫn xảy ra sự sai sót) Kết quả như sau:
Câu hỏi 1: Theo em đặc trưng của PPTLN là gì ?
LUẬN NHÓM
Số lƣợng
TỶ LỆ (%)
Kết quả: Đa số học sinh có nhận thức đúng về PPTLN Tuy nhiên vẫn còn nhiều học sinh nhầm lẫn PPTLN là việc các em tự phối hợp và liên kết với nhau để thực hiện nhiệm vụ học tập (%), hoặc đơn giản PPTLN là giáo viên dành thời gian cho các em tự thảo luận
Câu hỏi 2: Trong quá trình dạy học môn GDCD lớp 12 các thầy cô của bạn đã
sử dụng phương pháp dạy học dưới đây ở mức độ nào?
Kết quả thu được: 100% học sinh cho rằng giáo viên vẫn thường xuyên sử dụng phương pháp thuyết trình trong quá trình dạy học Những phương pháp dạy học tích cực như: Dạy học nêu vấn đề, thảo luận nhóm… ít khi sử dụng Như vậy, có thể thấy
rõ mức độ vận dụng các phương pháp dạy học tích cực của giáo viên còn hạn chế
Trang 26Câu hỏi 3: Những khó khăn mà em thường gặp phải khi học theo phương pháp thảo luận nhóm?
HS
TỶ LỆ (%)
Nhìn vào bảng trên ta thấy:
- Có 88 học sinh (chiếm 57,1%) cho rằng khó khăn cơ bản mà học sinh thường xuyên gặp phải khi học giờ có vận dụng PPTLN là do cách thức tổ chức, điều khiển của giáo viên còn hạn chế Và điều này cũng phù hợp với kết quả khi điều tra về khó khăn mà giáo viên cũng gặp phải khi giáo viên vận dụng PPTLN
- Còn có khó khăn như không có kỹ năng hợp tác, trình bày, không thích thể hiện, thói quen học thụ động,… đều là những khó khăn từ chính bản thân học sinh, nhưng theo chúng tôi những khó khăn này hoàn toàn có thể khắc phục được khi người giáo viên tạo được sự hứng thú, sự say mê, tính tích cực chủ động cho học sinh bằng năng lực tổ chức, điều khiển, hướng dẫn học sinh thảo luận
1.2.2 Sự cần thiết phải đổi mới PPTLN trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Bình Thuận, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn giảng dạy PPTLN trong dạy học môn GDCD ở trường THPT Bình Thuận cho thấy việc đổi mới PPTLN trong dạy học môn GDCD lớp 12 là hết sức cần thiết Cụ thể:
- Kết quả điều tra, khảo sát trên HS, GVcủa nhà trường cho thấy khó khăn cơ bản nhất đối với GV khi thực hiện PPTLN là chưa có một quy trình hợp lý, khoa học
- Với cách dạy và học học thụ động, GD sẽ không đáp ứng được những yêu cầu mới của xã hội Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đang đòi hỏi phải đổi mới GD, trong
đó có sự đổi mới căn bản về phương pháp dạy và học
Trang 27- Trên thế giới và ở Việt Nam đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu áp dụng PPTLN trong các môn khoa học khác nhau Kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước là cơ sở thực tế của việc áp dụng PPTLN vào dạy học
- Đặc trưng của môn GDCD lớp 12: Là mộn khoa học xã hội trang bị cho HS những hiểu biết cơ bản về pháp luật Vì vậy, việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn GDCD là hết sức cần thiết để góp phần đào tạo ra những con người có phẩm chất đạo đức, có bản lĩnh chính trị, có tri thức khoa học, có kỹ năng, có sự năng động, sáng tạo… Để đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
- PPTLN tạo không khí sôi nổi, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS Kiến thức của HS sẽ giảm bớt tính chủ quan, phiến diện và tăng tính khách quan và khoa học Kiến thức trở nên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được giao lưu, học hỏi giữa các thành viên Giúp HS thoải mái, tự tin hơn trong việc trình bày ý kiến của mình và biết lắng nghe có phê phán ý kiến của người khác Vốn hiểu biết và kinh nghiệm xã hội của HS thêm phong phú; kỹ năng giao tiếp, hợp tác của HS được bồi dưỡng và phát triển
Trang 28Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 tác giả trình bày cơ sở lý luận của PPTLN trong quá trình dạy học, đề cập đến ưu điểm và hạn chế của PPTLN, quan niệm về PPTLN, vai trò và ý nghĩa của PPTLN trong dạy học môn GDCD Trên cơ sở đó thấy được mối quan hệ giữa PPTLN với các PPDH khác Trong nội dung của chương cũng phân tích những kết quả điều tra thực trạng việc vận dụng PPTLN trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT Bình Thuận Chẳng hạn như: Tìm hiểu nhận thức của GV và HS về đặc trưng của PPTLN; Tìm hiểu mức độ vận dụng cũng như biện pháp quy trình mà GVthường sử dụng khi tổ chức cho HS thảo luận; Tìm hiểu những khó khăn ảnh hưởng đến hiệu quả của PPTLN trong dạy học môn GDCD lớp 12 của cả GV và HS…
Đó là cơ sở thực tiễn cho việc tiến hành thực nghiệm PPTLN trong dạy học môn GDCD theo hướng tích cực ở trường THPT Bình Thuận
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC NGHIỆM PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN NHÓM
TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 12
Ở TRƯỜNG THPT BÌNH THUẬN – TỈNH SƠN LA 2.1 Kế hoạch thực nghiệm
2.1.1 Mục đích thực nghiệm
Mục đích thực nghiệm nhằm kiểm tra tính khoa học, hiệu quả của PPTLN Thực nghiệm là bước đưa ra những giả định vào thực tiễn để thực tiễn xác nhận hiệu quả và những kiến giải do đề tài đề xuất Qua đó điều chỉnh, bổ sung những thiếu sót của quy trình thiết kế và sử dụng PPTLN đã dự kiến xây dựng trong quá trình dạy học môn GDCD
2.1.2 Nội dung thực nghiệm
Nội dung thực nghiệm mà tác giả tiến hành là kiến thức của Bài 3 “ Công dân với các quyền tự do cơ bản” (tiết 3) và Bài 7 “Công dân với các quyền dân chủ” (tiết 1) (Sử dụng SGK môn GDCD lớp 12 của Bộ giáo dục và đào tạo NXB)
2.1.3 Nhiệm vụ thực nghiệm
- Sử dụng PPTLN để dạy các nội dung bài học trong Bài 6 “Công dân với các quyền
tự do cơ bản” (tiết 3) và Bài 7 “ Công dân với các quyền dân chủ” (tiết 1)
- Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
- Thông qua xử lý dữ liệu, phân tích kết quả thực nghiệm và rút ra kết luận về tính hiệu quả của quy trình thiết kế và sử dụng PPTLN trong giảng dạy khái niệm, vấn
đề trong bài học
2.1.4 Đối tượng thực nghiệm
Là những học sinh của trường THPT Bình Thuận, tỉnh Sơn La năm học 2016 -
2017
+ Lớp thực nghiệm : Lớp 12A1 gồm 32 học sinh
+ Lớp đối chứng : Lớp 12A4 gồm 36 học sinh
2.1.5 Địa điểm và thời gian thực nghiệm
- Địa điểm thực nghiệm: Trường THPT Bình Thuận, tỉnh Sơn La
- Thời gian thực nghiệm: Tháng 1 năm 2017
2.1.6 Phương pháp thực nghiệm
Để quá trình thực nghiệm PPTLN đảm bảo tính khoa học và hiệu quả cao,
Trang 30chúng tôi sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm theo cách:
- Thiết kế quy trình PPTLN
- Thực nghiệm giảng dạy theo kiểu đối chứng
+ Chọn lớp thực nghiệm (dạy theo phương pháp mới)
+ Chọn lớp đối chứng
+ Tổ chức thực nghiệm
- So sánh kết quả của hai lớp thực nghiệm và đối chứng
- Hoàn chỉnh quy trình để chứng minh giả thuyết
2.2 Qúa trình thực nghiệm
2.2.1 Khảo sát trình độ đầu vào của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Để kiểm tra trình độ nhận thức của học sinh lớp đối chứng và lớp vừa thực nghiệm khi chưa có tác động sư phạm, chúng tôi tiến hành khảo sát đầu vào của lớp đối chứng và lớp thực nghiệm (kết quả này là cơ sở đánh giá kết quả thực nghiệm khi tiến hành sử dụng PPTLN vào quá trình dạy học)
Để đảm bảo tính chính xác và khách quan chúng tôi cho lớp đối chứng và lớp thực nghiệm làm một bài kiểm tra và đánh giá theo thang và chuẩn như nhau Nội dung kiểm tra là những kiến thức môn GDCD Mà học sinh vừa được học từ những bài
trước Kết quả điểm kiểm tra phản ánh như sau:
Bảng 2.1 Kết quả điểm kiểm tra đầu vào của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Trang 31- Tỷ lệ học sinh đạt điểm khá cũng chiếm tỷ lệ tương đương gần bằng nhau Lớp thực nghiệm là 46,88%, lớp đối chứng là 44,44%
- Tỷ lệ học sinh đạt điểm trung bình: Lớp thực nghiệm 40,62%, lớp đối chứng
là 38,89%
- Tỷ lệ học sinh đạt yếu kém: Lớp thực nghiệm là 6,25%, lớp đối chứng là 11,11%
Từ số liệu điểm thu được, ta thấy mức độ nhận thức của học sinh các lớp thực nghiệm và đối chứng trước khi có tác động sư phạm đạt ở mức độ trung bình Trình độ của lớp thực nghiệm và đối chứng là tương đương nhau, không có sự chênh lệch nhau nhiều ở các mức độ nhận thức
2.2.2 Soạn giáo án thực nghiệm
Để tiến hành thực nghiệm, chúng tôi tiến hành soạn bài cho hai lớp thực nghiệm
và đối chứng cùng một bài
Hai giáo án khi thiết kế phải đảm bảo nguyên tắc chung:
- Không làm thay đổi chương trình, kế hoạch và nội dung theo quy định vủa Bộ giáo dục
- Tuân thủ các bước lên lớp
- Phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất của trường
Tuy nhiên giữa hai giáo án có sự khác biệt cơ bản là:
* Giáo án dạy ở lớp đối chứng
- Phương pháp dạy học: Phương pháp chủ đạo là phương pháp thuyết trình (Thầy giảng - trò ghi nhớ; thầy kiểm tra – trò tái hiện)
- Đánh giá kết quả: GV là người độc quyền đánh giá kết quả học tập của học sinh GV thường chú ý vào khả năng ghi nhớ và tái hiện thông tin mà giáo viên cung cấp cho học sinh
* Giáo án lớp thực nghiệm
- Phương pháp dạy học: Phương pháp chủ đạo là phương pháp thảo luận nhóm,
có kết hợp các phương pháp dạy học khác nhau
- Đánh giá kết quả:
GV không còn giữ vai trò độc quyền trong đánh giá kết quả của học sinh nữa
GV không chỉ dựa vào khả năng ghi nhớ tái hiện của các em mà còn đòi hỏi các em phải có khả năng ghi nhớ, hiểu và vận dụng được vào trong thực tiễn cuộc sống
Trang 32* Để thiết kế một bài học theo PPTLN, phải tuân theo các bước cơ bản sau đây:
- Bước 1: Xác định rõ mục tiêu, yêu cầu của bài học bao gồm cả nội dung tri
thức, kỹ năng và thái độ
- Bước 2: Xác định phương pháp, phương tiện dạy học cũng như phân chia thời
gian sao cho hợp lý giữa các phần, các mục
- Bước 3: Xây dựng tiến trình bài học
Việc tiến hành soạn bài cụ thể theo PPTLN trong chương trình môn GDCD được tuân thủ theo các bước cơ bản như trên
Sau đây là giáo án Bài 6 “Công dân với các quyền tự do cơ bản” (tiết 3) và Bài
7 “Công dân với các quyền dân chủ” ( tiết 1) được soạn theo PPTLN là chủ yếu
Trang 33
BÀI 6: CÔNG DÂN VỚI CÁC QUYỀN TỰ DO CƠ BẢN (Tiết 3)
3 Về thái độ
- Có ý thức bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền được bảo đảm an
toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của mình và người khác
- Phê phán những hành vi vi phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín
II PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
- Phương pháp chủ đạo là PPTLN, ngoài ra GV có thể sử dụng kết hợp linh hoạt với các phương pháp dạy học khác:
Trang 34IV TIẾN TRÌNH BÀI DẠY
1 Ổn định (1phút)
2 Kiểm tra bài cũ ( 3 phút )
Câu hỏi: Em hiểu thế nào là quyền được pháp luật bảo vệ về tính mạng sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm? Nội dung quyền được pháp luật bảo vệ về tính mạng sức khỏe, danh dự và nhân phẩm được thể hiện như thế nào?
Đáp án:
- Quyền được pháp luật bảo vệ tính mạng sức khỏe, danh dự và nhân phẩm có nghĩa là, công dân có quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, được bảo
vệ về danh dự và nhân phẩm; không ai được xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe, danh
dự và nhân phẩm của người khác
- Nội dung: Không ai được xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác
+ Không được đánh người; đặc biệt nghiêm cấm những hành vi hung hãn, côn
đồ, đánh người gây thương tích, làm tổn hại đến sức khỏe của người khác
+ Nghiêm cấm những hành vi xâm phạm đến tính mạng của người khác như giết người, đe dọa giết người, làm chết người
- Không ai được xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác
GV: Tổ chức cho HS thảo luận nhóm,
tìm hiểu về quyền bất khả xâm phạm
về chỗ ở của công dân là gì? Thời gian
c Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân (15 phút)
*Thế nào là quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân
Trang 35+ Nhóm 1: Chỗ ở của công dân bao
gồm những gì? Có thể tự ý vào nhà
người khác khi chưa được người đó
đồng ý hay không? Em hiểu thế nào là
quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của
công dân?
+ Nhóm 2: Những hành vi nào được
coi là xâm phạm chỗ ở của người khác?
Lấy ví dụ? Việc khám xét chỗ ở của
công dân cần tiến hành theo trình tự và
thủ tục như thế nào?
+ Nhóm 3: Nghiên cứu tình huống
SGK trang 58, theo em hành vi của hai
bố con ông A có vi phạm quyền bất
khả xâm phạm về chỗ ở của công dân
hay không? Tại sao?
+ Nhóm 4: Cho tình huống sau:
A là một tên trộm chuyên nghiệp Hắn
lấy cắp đồ của B và nhiều người trong
xóm Được biết A và đồng bọn đã xa
lưới pháp luật B và mọi người bàn
nhau đến nhà A để tìm đồ của mình
Em có nhận xét gì về hành động của
anh B và mọi người? Vậy trong những
trường hợp nào thì pháp luật cho phép
khám chỗ ở của công dân?
GV: Hướng dẫn HS thảo luận
HS: Suy nghĩ, thảo luận
HS: + Cá nhân tự nghiên cứu
+ Thảo luận theo cặp
+ Thảo luạn theo nhóm
HS: Cử đại diện trình bày
Phương pháp thảo luận nhóm kết hợp với phương pháp thuyết trình
Trang 36HS : Các nhóm khác bổ sung
GV: Nhận xét và bổ sung
Câu 1:
+ Chỗ ở của công dân bao gồm nhà
riêng ở thành phố, nông thôn, căn hộ
trong khu chung cư hay trong khu tập
thể…Đó là tài sản riêng hoặc tài sản
thuộc quyền sử dụng của công dân, là
nơi thờ cúng tổ tiên, là nơi sum họp,
nghỉ ngơi của mỗi gia đình
+ Không ai được tự ý vào chỗ ở của
người khác nếu không được người đó
đồng ý
+ Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở là
một trong các quyền tự do cơ bản của
công dân, có nghĩa là: Chỗ ở của công
dân được Nhà nước và mọi người tôn
trọng, không ai được tự ý vào chỗ ở
của người khác nếu không được người
đó đồng ý Chỉ trong trường hợp được
pháp luật cho phép và phải có quyết
định của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền mới được khám xét chỗ ở của
một người Trong trường hợp này việc
khám xét cũng không được tiến hành
tùy tiện mà phải tiến hành theo trình tự,
đi vắng); Khám xét trái pháp luật chỗ ở
Chỗ ở của công dân được Nhà nước và mọi người tôn trọng, không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý Chỉ trong trường hợp được pháp luật cho phép và phải có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mới được khám xét chỗ ở của một người Trong trường hợp này việc khám xét cũng không được tiến hành tùy tiện mà phải tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
*Nội dung quyền bất khả xâm phạm chỗ ở của công dân
- Mọi cá nhân tổ chức không được tự ý vào chỗ ở
Phương pháp thảo luận nhóm kết hợp với phương pháp thuyết trình
Phương pháp thuyết trình
Trang 37của người khác (VD: Khám khi không
có lệnh của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền); Đuổi trái pháp luật người khác
khỏi chỗ ở của họ (VD: Ngôi nhà đang
bị tranh chấp, chưa được Tòa án giải
quyết)
+ Chỉ được tiến hành trong trường hợp
thật cần thiết và chỉ những người do
pháp luật quy định thuộc về Viện kiểm
sát, Tòa án nhân dân, cơ quan điều tra
mới có quyền ra lệnh khám (trong 24
giờ kể từ khi khám xong người ra lệnh
khám phải thông báo cho viện kiểm sát
cùng cấp)
+ Thủ tục khám cần phải: Có mặt của
chủ nhà hoặc người đã thành niên trong
gia đình, người chứng kiến; không
khám nhà vào ban đêm (trừ trường hợp
không thể trì hoãn) Khi khám xét phải
đọc lệnh, giải thích quyền và nghĩa vụ
của người đang bị khám xét…
Câu 3:
Hành vi của hai bố con Ông A là vi
phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ
ở của công dân vì người có thẩm quyền
mới có quyền khám chỗ ở của công dân
và việc khám xét phải tuân theo trình
tự, thủ tục do pháp luật quy định
Câu 4:
+ Hành động của anh B và mọi người
là vi phạm pháp luật vì theo quy định
của pháp luật, việc cá nhân, tổ chức tự
của người khác Tự tiện vào chỗ ở của người khác,
tự tiện khám chỗ ở của công dân là vi phạm pháp luật
- Pháp luật cho phép khám chỗ ở của công dân trong các trường hợp sau:
Phương pháp thuyết trình
Trang 38tiện vào chỗ ở của người khác, tự tiện
khám chỗ ở của công dân là vi phạm
pháp luật
+ Trường hợp thứ nhất, khi có căn cứ
để khẳng định chỗ ở, địa điểm của
người nào đó có công cụ, phương tiện
(ví dụ: gậy gộc, dao, búa, rìu, súng…)
để thực hiện tội phạm hoặc có đồ vật,
tài liệu liên quan đến vụ án
+ Trường hợp thứ hai, việc khám xét
chỗ ở, địa điểm của người nào đó được
tiến hành khi cần bắt người đang bị
truy nã hoặc người phạm tội đang lẩn
tránh ở đó
- GV giảng : Ý nghĩa quyền bất khả
xâm phạm về chỗ ở của công dân
- Tôn trọng và bảo vệ công dân
- Tránh hành vi tùy tiện, lạm dụng
quyền hạn của cơ quan, cán bộ khi thi
hành án công vụ
- Tạo điều kiện cho công dân được
sống trong một xã hội văn minh
GV: Chúng ta đã hiểu thế nào là quyền
bất khả xâm phạm về chỗ ở của công
dân và nội dung của nó Quyền được
bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện
thoại, điện tín chúng ta cùng tìm hiểu
vụ án,…
+ Có người phạm tội, người bị truy nã lẩn trốn ở
đó
- Việc khám xét chỗ ở phải tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật
d Quyền đƣợc bảo đảm
an toàn, bí mật thƣ tín, điện thoại, điện tín (15
Phương pháp thuyết trình