Kalexnik 1959 định nghĩa cảnh quan "cảnh quan địa lý là một bộ phận nhỏ của bề mặt trái đất, khác biệt về chất với các bộ phận khác, được bao bọc bởi những ranh giới tự nhiên và bản th
Trang 1Phần B
Cảnh quan học
Theo A.G Isatsenko việc nghiên cứu lớp vỏ địa lý có thể được tiến hành theo 2 mặt: 1) toàn bộ và 2) theo những bộ phận cấu trúc riêng biệt các thể tổng hợp địa lý Mặt thứ nhất là nhiệm vụ của Địa lý đại cương, mặt thứ hai là của Cảnh quan học Giữa Địa lý đại cương và Cảnh quan học bao gồm hai bộ phận không tách rời nhau, liên quan kế tục nhau của một khoa học Những kiến thức cơ sở của Địa lý đại cương là những điều kiện để nghiên cứu cảnh quan, đồng thời Cảnh quan học là sự tiếp tục tất nhiên của
Địa lý đại cương, trong đó những quan điểm địa lý chung nhất có thể dùng
để giải thích những đặc điểm của địa lý địa phương Từ đó cho thấy Cảnh quan học có ý nghĩa thực tiễn lớn lao nhiều mặt, nó có quan hệ trực tiếp tới vấn đề sử dụng tổng hợp, bảo vệ và phục hồi những nguồn lợi thiên nhiên ở các đới, các khu vực và các vùng khác nhau
Đối tượng Cảnh quan học là nghiên cứu các thể tổng hợp địa lý gồm cấu tạo, sự phát triển và sự phân bố của chúng Nói khác đi, Cảnh quan học
là một bộ phận của Địa lý tự nhiên, nghiên cứu về sự phân hóa lãnh thổ của lớp vỏ địa lý Trong hệ thống phân hóa lãnh thổ địa lý tự nhiên, đơn vị cơ
sở đó là cảnh quan địa lý mà từ đó có tên gọi là Cảnh quan học A.G Isatsenko khi bàn về cơ sở Cảnh quan học đã phân môn Cảnh quan ra làm 3 phần chính:
1 Học thuyết về các quy luật phân hóa địa lý tự nhiên theo lãnh thổ (quy luật địa đới và phi địa đới);
2 Học thuyết về cảnh quan (hay là Cảnh quan học với nghĩa hẹp của nó) đề cập đến cấu trúc, động lực, hình thái, phân loại cảnh quan và các vấn đề khác;
3 Phân vùng địa lý tự nhiên
Trang 2Chương I
Cảnh quan địa lý
I khái niệm cảnh quan địa lý
Khái niệm cảnh quan lần đầu tiên được sử dụng như là một khái niệm khoa học vào đầu thế kỷ XX, lấy từ tiếng Đức (die Landschaft) có nghĩa là quang cảnh Hiện nay tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về cảnh quan Một số tác giả như F.N.Mincov, D.L.Acmăng, Iu Ephemov cho rằng cảnh quan là một khái niệm chung, đồng nghĩa với tổng thể địa lý thuộc các cấp phân vị khác nhau Một số tác giả như L.X Becgơ coi cảnh quan là một bộ phận tương đối nhỏ của bề mặt Trái đất là một đơn vị lãnh thổ địa lý xác
định, không phải là một danh từ chung, cũng không phải là một địa tổng thể bất kỳ mà là một đơn vị cơ bản nhưng là đơn vị cấp thấp của phân vùng
địa lý tự nhiên Mặc dù những định nghĩa do nhiều tác giả đưa ra có những nét khác nhau về chi tiết nhưng nói chung chúng giống nhau ở chỗ coi cảnh quan như là một tổng thể địa lý tự nhiên Quan điểm giải thích cảnh quan theo vùng như L.X Becgơ được phần lớn các nhà địa lý Xô Viết cũ ủng hộ
và được phát triển trong các tác phẩm của L.G Ramenxki, X.V Kalexnik, N.A Xôltxev, V.B Xotxava, A.A Grigoriev và nhiều nhà địa lý khác
X.V Kalexnik (1959) định nghĩa cảnh quan "cảnh quan địa lý là một
bộ phận nhỏ của bề mặt trái đất, khác biệt về chất với các bộ phận khác,
được bao bọc bởi những ranh giới tự nhiên và bản thân là một sự kết hợp các hiện tượng và đối tượng tác động lẫn nhau một cách có quy luật được biểu hiện một cách điển hình trên một không gian rộng và có quan hệ mọi mặt với lớp vỏ địa lý" Định nghĩa này chưa bao hàm các chỉ tiêu cụ thể, nó
chỉ tạo nên một khái niệm chung trong Địa lý học, giống như khái niệm chung về thổ nhưỡng, khí hậu
Trang 3Xuất phát từ những kinh nghiệm nghiên cứu cảnh quan trên thực địa, N.A Xôltxev (1962) đã đưa ra một định nghĩa rõ ràng và cụ thể về cảnh
quan: "Cảnh quan là một thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên đồng nhất về mặt
phát sinh, có một nền địa chất đồng nhất, có một kiểu địa hình, một khí hậu
đồng nhất và bao gồm một tập hợp các cảnh khu chính và phụ có liên kết với nhau về mặt động lực và lặp đi lặp lại trong không gian một cách có quy luật, tập hợp các cảnh khu này chỉ thuộc về cảnh quan đó mà thôi"
N.A Xôltxev đã xác định được cấu trúc thẳng đứng và cấu trúc ngang của cảnh quan Định nghĩa này có ý nhấn mạnh: cảnh quan là một hệ thống những tổng hợp thể tự nhiên đơn giản được cấu tạo một cách có quy luật từ dưới lên A.G Isatsenco (1965) đã bổ sung cho định nghĩa trên, ông nhấn mạnh rằng, bất kỳ một cảnh quan nào cũng là kết quả của sự phát triển và phân dị của lớp vỏ địa lý, do đó có đặc điểm đồng nhất về cả mặt địa đới và phi địa đới, có một cấu trúc hình thái cá biệt
Trong giai đoạn phát triển hiện nay của Địa lý học, một số ý kiến cho rằng khi hiểu khái niệm về cảnh quan không được chỉ hạn chế ở việc phân tích các dấu hiệu thuần túy của tự nhiên, một tự nhiên chưa bị đụng chạm bởi con người, mà cần phân tích luôn các mối quan hệ tồn tại giữa các hợp phần tự nhiên của cảnh quan với các hợp phần "dân cư và nền văn hóa của con người" (L.X Becgơ), chính sự hợp nhất giữa hai loại hợp phần đó mới tạo thành một thể thống nhất hoàn chỉnh hơn là cảnh quan
ii các dấu hiệu của cảnh quan
Qua các định nghĩa của các nhà cảnh quan học, Lê Bá Thảo (1988) đã nêu ra những dấu hiệu cơ bản của cảnh quan: a) cảnh quan là một bộ phận nhỏ của lớp vỏ địa lý B) cảnh quan có những đặc điểm riêng trong cấu trúc
và cấu tạo hình thái làm cho nó có thể phân biệt và vạch ranh giới so với cảnh quan khác, c) Mặc dù có những đặc thù riêng, cảnh quan cũng chỉ là một bộ phận của lớp vỏ địa lý, vì vậy nó chịu những quy luật chung của vỏ
đó chi phối
Trang 4Theo A.G Isatsenco, những dấu hiệu cơ sở có thể cho phép coi cảnh quan là đơn vị cơ bản của sự phân chia địa lý tự nhiên:
1) So sánh cảnh quan với các thể tổng hợp khu vực ở bậc cao hơn (như các đới, á đới, xứ ) chúng có sự khác biệt về chất, không có đơn vị bậc cao nào có được tính chất quan trọng nhất như ở cảnh quan là tính đồng nhất cao về cả hai phương diện địa đới và phi địa đới Các đơn vị trên thực ra vẫn nghiêng về một mặt nào đó; như vòng, đới mới đồng nhất về mặt địa
đới còn về mặt phi địa đới vẫn có thể phân hóa thành miền, khu Các ô, xứ chỉ mới đồng nhất về mặt phi địa đới, còn về mặt địa đới vẫn bao gồm một tập hợp các đới Do đó không có đơn vị bậc cao nào được xem là tiêu chuẩn cơ sở cho các điều kiện địa lý tự nhiên
2) Mặt khác, cũng không có một đơn vị bậc thấp nào (đơn vị hình thái cấu tạo nên cảnh quan: cảnh diện, cảnh khu) lại có tính đồng nhất trên của cảnh quan Giữa cảnh quan và các đơn vị cấu tạo hình thái của nó có sự khác biệt quan trọng quan trọng về chất ở chỗ: các cảnh diện và các cảnh khu không cho một khái niệm đầy đủ về những đặc điểm tự nhiên điển hình của lãnh thổ, chúng không có nét độc đáo, chúng có thể lập lại ở nhiều nơi, trong khi đó cảnh quan bao giờ cũng độc đáo, có tính cá thể và không lập lại Cảnh quan khác với các đơn vị cấp thấp là nó có một lịch sử tồn tại lâu dài và có tình bền vững hơn đối với những tác động bên ngoài, trong đó có
sự tác động của con người Đồng thời cảnh quan là một hệ thống thiên nhiên tương đối độc lập hơn so với cảnh diện và cảnh khu Trong phạm vi cảnh quan có thể đặt vấn đề nghiên cứu toàn diện mối liên hệ địa lý và các quá trình địa lý mà điều đó chưa thể nói được trong phạm vi các đơn vị bậc thấp
Trong quan niệm thực tiễn đối với cảnh quan, V.B Xôtxava và V.M Tsituakin đã cho rằng, cảnh quan là một tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên mà
ở đó người ta có thể đặt vấn đề về một phương hướng phát triển kinh tế cũng như một hướng sử dụng và cải tạo tự nhiên khi xác định vị trí kinh tế của lãnh thổ
Trang 5Từ các điểm nói trên, có thể rút ra kết luận chỉ có cảnh quan mới là đơn
vị cơ bản của sự phân chia địa lý tự nhiên
iii thành phần và cấu trúc cảnh quan
1 Thành phần cảnh quan
Cảnh quan gồm nhiều thành phần vật chất có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: nền địa chất, địa hình, khí hậu, các dạng tồn tại của nước, tập hợp các quần xã sinh vật, thổ nhưỡng
* Cảnh quan có một nền địa chất đồng nhất, biểu hiện ở sự đồng nhất của thành phần nham thạch và điều kiện thế nằm của nham thạch bề mặt Theo A.G Isatsenco thành phần nham thạch của nền cảnh quan được biểu hiện thành hệ địa chất như về tổng hợp thể các đá theo phát sinh, chúng hình thành trong những điều kiện cấu trúc nham tướng nhất định và liên quan với nhau về mặt lãnh thổ phân bố như thành hệ flish bao gồm những lớp sa thạch sét, thành hệ halogen, thành hệ nham thạch màu đỏ
* Địa hình của cảnh quan là thành phần quan trọng nhất trong cấu trúc thẳng đứng của cảnh quan và các cấp cấu tạo nên cấu trúc ngang của cảnh Theo A.G Isatsenco, địa hình ở đây là một thể tổng hợp địa mạo, một yếu
tố hình thái - cấu trúc thống nhất về mặt phát sinh của bề mặt đất với một
sự kết hợp của các dạng hình thái - điêu khắc kèm theo Điều đó có nghĩa
là tổng thể này có một nền địa chất đồng nhất và các quá trình địa mạo ngoại lực cùng kiểu Theo Vũ Tự Lập (1976), cấp phân vị địa hình tương
đối với cảnh quan là kiểu địa hình, đó là thể tổng hợp các dạng trung địa hình âm và dương khác nhau liên quan với nhau về mặt phát sinh và phát triển, dưới tác động của cùng một thể tổng hợp các lực tạo thành địa hình ở một giai đoạn phát triển nhất định
Thủy quyển được thể hiện bằng rất nhiều dạng trong cảnh quan trên lục
địa Theo A.G Isatsenco có thể dễ nhận thấy sự phong phú của các dạng nước này liên quan trực tiếp với các đặc điểm riêng biệt của cảnh quan Trong mỗi cảnh quan đều quan sát thấy một tập hợp dạng tích lũy nước có
Trang 6quy luật với những đặc tính động lực, hóa học, chế độ nhiệt riêng và do
đó một sự kết hợp mà ở cảnh quan khác không có
Khí hậu trong cảnh quan theo X.P Khrômôv là khí hậu của cảnh được căn cứ vào các trạm đặt tại những địa điểm của những cảnh khu đại diện cho cảnh quan Khí hậu tại các cảnh khu này là khí hậu địa phương, còn khí hậu ở cảnh diện là vi khí hậu Do đó khí hậu cảnh quan có thể được coi
là sự kết hợp của các khí hậu địa phương trong phạm vị lãnh thổ của cảnh quan
* Thế giới sinh vật trong cảnh quan là một tổng hợp thể tương đối phức tạp của các quần xã sinh vật Khác với cảnh diện, cảnh quan không thể đặc trưng bằng một quần xã, một quần hợp hay quần hệ thực vật Trong mỗi cảnh quan có thể gặp những quần xã của nhiều kiểu thực vật khác nhau, ví
dụ, theo A.G Isatsenco, mỗi cảnh quan của đới taiga hình như đều có thực vật kiểu rừng, kiểu đầm lầy, đồng cỏ Mặt khác, các quần xã này lại gặp trong cảnh quan khác Do đó mỗi cảnh quan được đặc trưng bởi một sự phối hợp có quy luật các quần xã thực vật khác nhau có liên quan với sự thay đổi sinh cảnh ở các cảnh khu và cảnh diện khác nhau
* Giữa cảnh quan và thổ nhưỡng cũng có những quan hệ tương tự Các loại thổ nhưỡng khác nhau thường thay thế nhau trong một khoảng nhỏ theo các cảnh diện Vì thế bất cứ một cảnh quan nào cũng bao gồm tập hợp
có quy luật các kiểu đất theo lãnh thổ, kiểu phụ, các loại đất và các biến dạng thổ nhưỡng, mà tập hợp theo lãnh thổ này được tương ứng với một vùng thổ nhưỡng
* Trong thành phần cấu tạo cảnh quan, ngoài thành phần cấu tạo vật chất còn có thành phần cấu tạo năng lượng, trong đó quan trọng nhất là năng lượng bức xạ mặt trời, năng lượng của quá trình kiến tạo và trọng lực
2 Cấu trúc cảnh quan
Các thành phần (hợp phần) tự nhiên cấu tạo cảnh quan tồn tại trong mối liên hệ tương hỗ với nhau như là trong một hệ thống thông qua các luồng trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin Chính mối liên hệ tương
Trang 7hỗ giữa các hợp phần cấu tạo cảnh quan quyết định cấu trúc của nó, có
nghĩa là quyết định sự tổ chức bên trong các vật thể và hiện tượng trong hệ
thống vật chất phức tạp này Theo A.G Isatsenco cấu trúc cảnh quan gồm
không chỉ là các thành phần cấu tạo của nó, mà còn là những đơn vị hình
thái của nó nữa như cảnh diện, cảnh khu Ngoài ra, X.V Kalexnik còn xếp
những nét quan trọng nhất của nhịp điệu theo mùa biểu hiện trong sự thay
đổi cảnh trí vào đặc điểm cấu trúc của cảnh quan
Có thể phân biệt ra 2 kiểu cấu trúc của cảnh quan: cấu trúc không gian
và cấu trúc chức năng
a Cấu trúc không gian:
Gồm có cấu trúc thẳng đứng và cấu trúc ngang của cảnh quan
* Cấu trúc thẳng đứng: sự phân bố các hợp phần tự nhiên trong cảnh
quan theo tầng tạo nên cấu trúc thẳng đứng của nó Dưới cùng là nền địa
chất, trên đó là kiểu địa hình và lớp phủ thổ nhưỡng tương ứng, các dạng
tập trung nước, lớp thảm thực vật và trên hết là phần dưới cùng của tầng đối
lưu trong khí quyển Giữa chúng có mối tác động qua lại trong một thể
thống nhất và quyết định đặc tính của từng cảnh quan Cấu trúc thẳng đứng
của cảnh quan được thể hiện qua lát cắt tổng hợp địa lý tự nhiên
T 2 , T 8 ) của một địa tổng thể (cấu trúc thẳng đứng)
Trang 8* Cấu trúc ngang: (còn gọi là cấu trúc hình thái của cảnh quan) Các hợp phần của cảnh quan còn được cấu tạo bởi một số địa hệ thống cấp thấp hơn (đơn vị cảnh quan hình thái) phân bố theo chiều ngang, bao gồm cảnh diện, cảnh khu (là 2 đơn vị được nhiều người thừa nhận)
+ Cảnh diện: (diện địa lý, cảnh tướng faxia)
Danh từ cảnh diện được gọi bằng nhiều tên khác nhau: cảnh tướng (A.G Isatsenco, N.A Xôltxev), diện địa lý (N.I Mikhailov, V.I Prakaev,
đồng nhất như trong một cảnh sinh thái
Cảnh diện là hạt nhân địa hóa học và năng lượng đầu tiên trong cảnh quan, tựa như tế bào trong vật thể sống Nghiên cứu sự tuần hoàn và biến
đổi năng lượng và vật chất trong cảnh quan cần bắt đầu từ cảnh diện Tuy nhiên, cảnh diện không phải là những hệ thống độc lập, chúng chỉ là những
bộ phận cấu thành của cảnh quan nên chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, trao đổi vật chất và năng lượng với nhau Thường cảnh diện thay thế nhau một cách có quy luật theo lát cắt địa hình tạo nên những loạt cảnh diện Một loạt cảnh diện chiếm những dạng địa hình lồi và lõm, nối hai hay ba, bốn cảnh khu gần nhau Nghiên cứu hàng loạt những cảnh diện điển hình
đó cũng làm cơ sở cho phân loại cảnh diện B.B Pôlưnôv đã xác định ba kiểu cảnh quan cơ bản hay cảnh diện cơ bản: kiểu tàn tích, kiểu cảnh diện trên cạn và kiểu cảnh diện dưới nước
Có thể phân biệt ra một số cảnh diện: Cảnh diện gồm một phần của một dạng vi địa hình, thí dụ một bộ phận của trung tâm bồn trũng; cảnh diện gồm toàn bộ vi địa hình, thí dụ di tích lòng sông cũ trên bãi bồi, gò tự
Trang 9nhiên trên bãi sông; cảnh diện gồm một bộ phận của dạng trung địa hình, thí dụ đỉnh đồi, sườn đồi Quanh một dãy đồi từ trên xuống dưới có thể phân biệt ra một số cảnh diện: cảnh diện đá gốc trên đỉnh, cảnh diện các sườn dốc, cảnh diện sườn thoải, cảnh diện sườn tích, cảnh diện lòng trũng giữa các đồi
K.G Raman đã xây dựng một sơ đồ các địa thế và cảnh diện chủ yếu
áp dụng ở nước cộng hòa Latvia như sau:
Sơ đồ 13 - Sơ đồ các địa thế chủ yếu (theo K.G Raman)
I Thung lũng II Đồng bằng III Vùng trũng IV Đồi
a Thềm 1; b Bãi bồi; c Lòng; d Sườn thung lũng;
1 Mực nước ngầm - 2 Than bùn - 3 Trầm tích sườn
Các cảnh diện tự nhiên có thể bị biến đổi mạnh mẽ do tác động của con người Hoạt động kinh tế làm thay đổi mạnh thực bì và động vật cũng như thổ nhưỡng, chế độ nước, vì khí hậu của cảnh diện hình thành nên những cảnh diện thứ sinh Những sự biến thể của các cảnh diện gốc như vậy thường có tính chất tạm thời, nó có thể dần dần trở lại trạng thái gần như lúc ban đầu trong trường hợp nó không còn được sử dụng vào mục đích kinh tế nữa Cũng có trường hợp cảnh diện bị phá hủy toàn bộ như việc sử dụng vào xây dựng công trình, xây dựng đường sá, đập nước
Trang 10điểm của các cảnh khu không chỉ lệ thuộc vào loại dạng địa hình bên ngoài
mà còn vào sự phát sinh của chúng và thành phần nham thạch của đá mẹ, vì
sự khác biệt về đá mẹ chúng sẽ ảnh hưởng đến đặc điểm chế độ nhiệt, nước cũng như tới việc hình thành thổ nhưỡng và sinh quần Thí dụ, một cảnh quan cồn cát, lạch trũng, gờ cát Cảnh khu bãi biển có thể được phân biệt
ra các cảnh diện: cảnh diện hạ triều, trung triều, cao triều Mỗi cồn cát là một cảnh quan khu vì ứng với một dạng trung địa hình, nhưng nếu cồn cát
đó kéo dài hàng chục km, có sự phân hóa về đá mẹ, điều kiện thoát nước, thổ nhưỡng và sinh vật thì có thể phân hóa thành 2, 3 cảnh khu
Bất kỳ một cảnh khu nào cũng là một hệ thống có quy luật các cảnh diện, tính chất kết hợp của các cảnh diện trong phạm vi một cảnh khu có thể rất khác nhau Tùy thuộc vào mức độ phức tạp của cấu tạo bên trong mà phân biệt ra các cảnh khu đơn giản và phức tạp, N.A Xôltxev cho rằng ở các cảnh khu đơn giản mỗi bộ phận trung địa hình chỉ có một cảnh diện, còn ở cảnh khu phức tạp lại có một hệ thống các cảnh diện; hoặc phân biệt
ra các cảnh khu cơ bản (thống trị) và cảnh khu thứ cấp (phụ thuộc) tùy thuộc vào vai trò của chúng trong cấu trúc hình thái của cảnh quan Các cảnh khu cơ bản làm cơ sở (làm nền) cho cảnh quan và thường chiếm ưu thế về diện tích, còn cảnh quan phụ thuộc nằm rải rác trên nền và đóng vai
Trang 11trò thứ yếu A.G Isatsenco cho rằng sự phân biệt như vậy còn quá đơn
giản, ông cho rằng khi phân loại các cảnh khu cần xuất phát từ sự giống
nhau và khác nhau có tính chất phát sinh tồn tại giữa chúng, và cả từ sự kết
hợp các cảnh diện đối với mỗi kiểu hay loại cảnh khu Từ quan niệm đó
phân biệt ra hai loại cảnh khu: các cảnh khu có liên quan với các dạng lồi
của trung địa hình và với các khu vực phân thủy khác cũng được nâng lên
và các cảnh khu dạng lõm của trung địa hình cũng như các thềm thấp, mỗi
loại có những điều kiện khác nhau về mặt thoát nước, vị trí của mực nước
ngầm, điều kiện khí hậu tại chỗ và kết hợp của một loại cảnh diện thống trị
Sơ đồ 14 - Mô hình cấu trúc ngang của một cảnh địa lý đồi
xen thung lũng bồi tụ - xâm thực (Vũ Tự Lập - 1976)
Trong cấu trúc ngang của cảnh quan, ngoài 2 đơn vị cấu tạo chủ yếu là
cảnh diện và cảnh khu, còn có thể phân biệt thêm một số đơn vị trung gian
Nhiều cảnh quan phức tạp về mặt hình thái bắt buộc phải phân ra 5 - 6 bậc,
như cảnh diện và cảnh khu có bậc trung gian là phụ cảnh khu, giữa cảnh
khu và cảnh quan có bậc cảnh khu phức tạp Những đơn vị trung gian này
thường bổ trợ cho một số cảnh quan và thường có ý nghĩa địa phương hẹp
Trang 12Qua hoạt động sản xuất, tác động của con người làm biến đổi tự nhiên mạnh và nhiều nhất ở cảnh diện, đối với cảnh khu ít bị biến đổi hơn, còn biến đổi được cảnh quan thì khó hơn nhiều bởi vì cảnh quan là một thành tạo ổn định được cấu tạo do sự phối hợp các lực địa đới và phi địa đới của
tự nhiên
b Cấu trúc chức năng của cảnh quan
Cấu trúc không gian là một mặt quan trọng trong tính tổ chức của cảnh quan, nhưng riêng nó vẫn chưa lột tả được toàn bộ bản chất cấu trúc của cảnh quan Các phần cấu tạo cảnh quan luôn luôn tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau, bản chất của sự tác động ấy là sự trao đổi vật chất và năng lượng diễn ra giữa chúng và đi kèm sự biến đổi của năng lượng và vật chất Tổng hợp các quá trình trao đổi và biến đổi vật chất và năng lượng trong một cảnh quan gọi là hoạt động chức năng của cảnh quan hay cấu trúc chức năng của cảnh quan
Sự hoạt động chức năng của cảnh quan tuân theo những quy luật của cơ học, vật lý học, hóa học và sinh vật học, bao gồm các quá trình sơ đẳng như
sự chuyển động cơ học của vật liệu vụn, sự bốc hơi nước từ bề mặt đất, sự thẩm thấu của nước, sự di chuyển các nguyên tố hóa học, sự quang hợp, sự khoáng hóa các hợp chất hữu cơ Tuy nhiên, hoạt động chức năng của cảnh quan là một hoạt động tổng hợp, cao hơn nhiều so với tất cả các quá trình sơ đẳng hợp lại Xác định được điều đó là một nhiệm vụ phức tạp và khó khăn Theo A.G Isatsenco (1979) có thể vạch ra các kênh liên hệ chủ yếu sau đây giữa các thành phần trong cấu trúc cảnh quan:
Sự chuyển động cơ học (do trọng lực) của vật chất (thể rắn, thể lỏng, thể khí) đi kèm với sự biến đổi thế năng thành động năng Đặc điểm của kênh này là tính có hướng một chiều của nó Nó đóng vai trò quan trọng trong hệ thống các mối liên hệ theo chiều thẳng đứng và cũng như theo chiều ngang Đặc biệt là sự tập hợp của các cảnh diện vào cảnh khu và các cảnh khu vào cảnh quan được thực hiện trong một chừng mực lớn theo kênh này
Trang 13 Các quá trình vật lý (phân tử) bảo đảm các khâu quan trọng của sự
trao đổi chủ yếu theo chiều thẳng đứng giữa các hợp phần, thí dụ sự bốc
hơi, sự dâng lên của nước theo mao mạch trong đất, các dòng đối lưu của
không khí Tất cả các quá trình này được thực hiện nhờ năng lượng bức xạ
mặt trời và đi kèm với sự biến đổi của nó
Sự chuyển hóa sinh vật là thành phần cực kỳ quan trọng trong hệ
thống các mối liên hệ giữa các hợp phần, nhờ đó vật chất của tất cả các hợp
phần của cảnh quan được lôi cuốn vào sự trao đổi, cũng như nhờ vào việc
sử dụng năng lượng mặt trời ở đây được chuyển sang dạng khác Sự chuyển
hóa sinh vật đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh và ổn định cảnh
quan, nếu như sự mang vật chất ra khỏi cảnh quan diễn ra theo kênh trọng
lực thì sự chuyển hóa sinh vật lại giành lấy và giữ nó lại trong vòng tuần
hoàn sinh vật
Các mối quan hệ giữa các hợp phần của cảnh quan rất đa dạng, trong
đó có mối quan hệ thuận và nghịch, các quan hệ này lại có thể là tích cực (dương) hoặc tiêu cực (âm) Đáng chú ý là mối quan hệ nghịch dương thể
hiện ở chỗ quá trình xuất hiện do sự tác động của một nhân tố nào đó lại
tăng cường chính bản thân nó, còn trong quan hệ nghịch âm thì chính quá
trình đó bị suy yếu đi Như vậy, cảnh quan cũng như các địa hệ thống khác
có khả năng tự điều chỉnh Sự tồn tại của mối quan hệ nghịch dương và
nghịch âm của các quá trình tự điều chỉnh của các dạng tín hiệu liên hệ
giữa các hợp phần đã cung cấp cơ sở cho một số nhà địa lý học (V.B
Xotxava, V.X Preobrazenski, A.D Armand) coi các địa tổng thể nói chung
và cảnh quan nói riêng không chỉ như là các hệ vật chất - năng lượng, mà
còn như là các hệ thông tin
IV sự phát triển của cảnh quan
L.X Bécgơ, G.Ph Môrôzôv, B.B Pôlưnôp đã xem cảnh quan là một hệ
thống vật chất phức tạp ở trạng thái phát triển không ngừng Theo L.X
Bécgơ: "Hiểu một cảnh quan đã cho, chỉ có thể khi ta biết nó đã sinh ra như
thế nào và biến đổi theo thời gian thành cái gì"
Trang 14Những quy luật phát triển của cảnh quan cũng là những quy luật phát triển của toàn bộ lớp vỏ địa lý Cảnh quan phát triển như là một hệ thống vật chất thống nhất, nhưng tốc độ phát triển của các thành phần cấu tạo cũng như các đơn vị hình thái cảnh quan không như nhau Trong số các thành phần cấu tạo thì yếu tố thực động vật dễ bị biến động nhất, thổ nhưỡng biến đổi chậm hơn, khí hậu và địa hình có sức ỳ cao nhất Trong các đơn vị cảnh quan hình thái thì cảnh diện có thể biến đổi nhanh chóng, cảnh khu biến đổi chậm hơn, còn cảnh quan khó biến đổi hơn nhiều Trong sự phát triển của cảnh quan, ở mỗi cảnh quan hiện đại bao giờ cũng có những nét thuộc về quá khứ, những nét hiện đại và những nét tiến
bộ quyết định sự phát triển của nó trong tương lai Các yếu tố hiện đại là các yếu tố quyết định trạng thái hiện tại của khách quan Các yếu tố di lưu hay sót là những yếu tố còn được giữ lại của thời kỳ trước, nó được dùng để cắt nghĩa sự có mặt của các đặc điểm trong cảnh quan hiện đại và giúp hiểu
được những gì đã xảy ra trong sự phát triển cảnh quan, thí dụ các dạng địa hình đá vôi sót trong lòng đồng bằng, hay cây tràm còn sót lại trên đất cát
đã lùi sâu vào một số tỉnh duyên hải chứng tỏ trước kia đây là cảnh quan vùng ven bờ biển Các yếu tố tiến bộ, đấy là cái mới, cái đang được sinh ra trong cảnh quan hiện nay, nó định hướng cho sự phát triển của cảnh quan Các yếu tố tiến bộ tuy phát triển trên nền của các yếu tố di lưu và hiện đại nhưng nó sẽ loại dần các yếu tố hiện đại cùng với thời gian sẽ làm cho cảnh quan có chất lượng mới, biến đổi thành một cảnh quan mới Thí dụ cảnh quan bồn trũng là cảnh quan hiện đại, bản thân bồn trũng là yếu tố di lưu
do quá trình hình thành châu thổ để lại, các bụi lau sậy và thực vật thủy sinh khác hiện mọc trong đồng trũng là những yếu tố tiến bộ biến nó thành
đồng bằng
Quá trình phát triển của cảnh quan là quá trình phát triển tiến lên, ngày càng có thêm những dấu hiệu mới, thành phần và cấu trúc của nó ngày càng trở nên phức tạp hơn Trong quá trình nghiên cứu cảnh quan, nhà địa
lý cần phải chú ý đến sự phát hiện ra các yếu tố tiến bộ để dự báo hướng phát triển của nó trong tương lai, điều đó có ý nghĩa to lớn về cả mặt lý
Trang 15thuyết và thực tiễn, nó giúp rất nhiều trong việc sử dụng, bảo vệ và cải tạo
tự nhiên, nâng cao hiệu quả kinh tế lãnh thổ
Sự phân chia lãnh thổ thành các cảnh quan cá thể đó thuộc về công tác phân vùng
Mặt khác giữa các cá thể cảnh quan vẫn có thể có những nét giống nhau nhất định Việc so sánh các cảnh quan cho phép xác định các nhóm cảnh quan gần gũi về nguyên tắc theo nguồn gốc phát sinh, cấu trúc hình thái để gộp chúng lại thành những đơn vị kiểu loại nghĩa là thực hiện công tác phân kiểu hay phân loại cảnh quan, khi đó cần phải bỏ đi nhiều các nét cá biệt vốn có đối với cảnh quan để đi sâu nghiên cứu các điển hình Ví dụ, suốt từ Móng Cái đến Vĩnh Linh, có đến 22 cá thể cảnh quan đồng bằng ven biển, nhưng dù sao giữa chúng với nhau vẫn có những nét chung, như
đều có sự tham gia của các quá trình biển, luôn có mặt của đất cát và đất mặn, thực và động vật nước mặn, nước lợ (Vũ Tự Lập, 1976) Sự phân loại có ý nghĩa khoa học và thực tiễn lớn, nó là phương thức quan trọng để xác định các quy luật phát triển và phân bố các cảnh quan Trong các mục
đích thực tiễn, trên lãnh thổ nước ta có thể có đến hàng trăm cảnh quan thì việc nghiên cứu phân loại cảnh quan để tùy theo các đặc tính của chúng, sử dụng chúng vào mục đích kinh tế có hiệu quả nhất
Có nhiều phương án phân loại cảnh quan, theo A.E Phêđina (1973) có
ba phương án được chấp nhận rộng rãi nhất: phương án của A.G Isatsenko, của N.A Gvozdetxki và của V.A Nicolaep Thí dụ hệ thống phân loại cảnh