Theo thống kê của cục quản lý khám chữa bệnh Bộ TN&MT, 2011 về báo cáo công tác khám chữa bệnh, cả nước có 13.511 cơ sở y tế bao gồm các cơ sởkhám chữa bệnh và dự phòng từ cấp Trung ương
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
Trang 2KHOA MÔI TRƯỜNG
-& -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN Y
TẾ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN KIMĐỘNG,
TỈNH HƯNG YÊN
Giáo viên hướng dẫn : ThS NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ
TS VÕ HỮU CÔNG
Địa điểm thực tập : Trung Tâm Y Tế Huyện Kim Động,
Tỉnh Hưng Yên
HÀ NỘI - 2016
Trang 3ấy không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang để
em bước vào cuộc sống một cách vững vàng và tự tin
Em xin gửi lời cảm ơn đến tập thể, cá nhân tại TTYT huyện Kim Động, đặcbiệt là tổ Kiểm soát Nhiễm khuẩn, nơi mà em đã tham gia và tìm hiểu công tácquản lý chất thải rắn y tế, đã tạo điều kiện và tận tình chỉ đẫn, góp ý cho emtrong suốt quá trình thực tập
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên TS Võ Hữu Công và giảngviên Th.s Nguyễn Thị Bích Hà, người đã tận tình hướng dẫn, góp ý, chỉnh sửacho em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp.Trong thời gian nghiên cứu và làm khóa luận, do điều kiện về thời gian,trình độ nghiên cứu của bản thân còn hạn chế nên khi thực đề tài khó tránh khỏinhững thiếu sót, em rất mong nhận được sự chỉ bảo thêm của thày cô, bạn bè đểbài khóa luận tốt nghiệp được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Vũ Thị Nhung
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục bảng iv
Danh mục hình vi
Danh mục từ viết tắt vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Giới thiệu chung về chất thải rắn y tế 4
1.1.1 Một số khái niệm 4
1.1.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn y tế 5
1.1.3 Thành phần chất thải rắn y tế 6
1.1.4 Phân loại chất thải rắn y tế 7
1.2 Tổng quan tình hình phát sinh, quản lý và xử lý chất CTRYT 12
1.2.1 Tình hình phát sinh CTR y tế trên thế giới 12
1.2.2 Tình hình phát sinh CTR y tế tại Việt Nam 15
1.2.3 Tình hình quản lý và xử lý CTR y tế trên thế giới 20
1.2.4 Tình hình quản lý và xử lý CTR y tế tại Việt Nam 27
1.3 Tác hại và nguy cơ của chất thải rắn y tế 40
1.3.1 Tác hại và nguy cơ của CTR y tế tới môi trường 40
1.3.2 Tác hại và nguy cơ của CTR y tế tới sức khỏe con người 41
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁPNGHIÊN CỨU 47
2.1 Đối tượng nghiên cứu 47
2.2 Phạm vi nghiên cứu 47
2.3 Nội dung nghiên cứu 47
2.4 Phương pháp nghiên cứu 47
Trang 52.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 47
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 48
2.4.3 Phương pháp xác định khối lượng CTR y tế phát sinh 48
2.4.4 Phương pháp tổng hợp phân tích và xử lý số liệu 49
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 50
3.1 Khái quát về Trung tâm Y tế huyện Kim Động 50
3.1.1 Vị trí của Trung tâm Y tế huyện Kim Động 50
3.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Trung tâm Y tế huyện Kim Động 50
3.1.3 Cơ cấu tổ chức và tình hình nhân sự của trung tâm 51
3.2 Hiện trạng phát sinh chất thải y tế tại trung tâm Y tế huyện Kim Động 54
3.2.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải y tế 54
3.2.2 Lượng chất thải y tế phát sinh 56
3.2.3 Tính chất chất thải, thành phần chất thải y tế phát sinh tại TTYT huyện Kim Động 62
3.3 Thực trạng công tác quản lý và xử lý CTR y tế tại TTYT huyện Kim Động 65
3.3.1 Tổ chức quản lý chất thải tại TTYT huyện Kim Động 65
3.3.2 Hiện trạng công tác quản lý CTRYT tại TTYT huyện Kim Động 70
3.3.3 Công tác xử lý chất thải y tế tại TTYT huyện Kim Động 81
3.3.4 Tình hình tuân thủ thực hiện quản lý hành chính tại TTYT huyện Kim Động 82
3.4 Đánh giá và đề xuất giải pháp công tác quản lý CTR tại TTYT huyện Kim Động 82
3.4.1 Những mặt đã đạt được 83
3.4.2 Những mặt còn hạn chế 84
3.4.3 Đề xuất giải pháp 87
Chương 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
Kết luận 91
Kiến nghị 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ các hoạt độngy tế 5
Bảng 1.2 Tổng lượng CTR y tế tại một số quốc gia (khu vực)trên thế giới 12
Bảng 1.3 Lượng chất thải thay đổi theo từng nhóm nước 13
Bảng 1.4 Lượng chất thải thay đổi theo từng loại bệnh viện 14
Bảng 1.5 Lượng CTYT thay đổi theo các bộ phận khác nhau trong bệnh viện 14
Bảng 1.6 Khối lượng CTYT phát sinh tại các bệnh viện trực thuộc BYT 15
Bảng 1.7 Khối lượng CTR y tế ở một số địa phương năm 2013 16
Bảng 1.8 Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện 17
Bảng 1.9 Khối lượng CTRYT/giường bệnh tại một số TTYT tuyến huyện năm 2013 18
Bảng 1.10 Dự báo lượng chất thải rắn nguy hại phát sinh trên địa bàn cả nước đến năm 2025 20
Bảng 1.11 Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải rắn y tế tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2010 29
Bảng 1.12 Thực trạng các trang thiết bị thu gom, lưu trữ CTRYT tại một số thành phố 30
Bảng 1.13 Công tác xử lý CT y tế nguy hại tại 7 vùng trong cả nước 32
Bảng 1.14 Quy trình quản lý CTR y tế theo quy định của Bộ Y tế, 2015 39
Bảng 1.15 Các bệnh nhiễm trùng có thể được gây ra bởi CTYTnguy hại 44
Bảng 3.1 Quy mô hoạt động của trung tâm y tế tính đến tháng 3 năm 2016 53
Bảng 3.2 Công tác khám chữa bệnh của trung tâm y tế huyện Kim Độngnhững năm gần đây 54
Bảng 3.3 Lượng CTYTNH tại TTYT huyện Kim Động (2013-2015) 56
Bảng 3.4 Lượng CTRYTNH tại các khoa của TTYT huyện Kim Động 60
Bảng 3.5 Thành phần CTR y tế tại TTYT huyện Kim Động 63
Trang 7Bảng 3.6 Kiến thức hiểu biết về Quy chế Quản lý chất thải rắn y tế của cán bộ
nhân viên tại TTYT huyện Kim Động 67
Bảng 3.7 Kinh phí quản lý chất thải của TTYT huyện Kim Động 70
Bảng 3.8 Hiện trạng phân loại đúng CTRYT tại TTYT 73
Bảng 3.9 Hiện trạng dụng cụ, bao bì đựng, thu gom, vận chuyển CTRYT 74
Bảng 3.10 Hoạt động thu gom, vận chuyểnCTR y tế của nhân viên 75
Bảng 3.11 Tổng hợp ý kiến của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân về tình hình thực hiện đúng quy chế và vệ sinh tại TTYT 77
Bảng 3.12 Điều kiện lưu trữ chất thải y tế TTYT huyện Kim Động so với Quy chế 43/2007 - BYT 79
Bảng 3.13 Nhận xét của bệnh nhân về số lượng dụng cụ thu gom 80
Bảng 3.14 Đề xuất giải pháp của người được phỏng vấn để nâng cao hiệu quả quản lý chất thải y tế 86
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Thành phần chất thải rắn y tế dựa trên đặc tính lý hóa tại Việt Nam 6
Hình 1.2 Một số biểu tượng nguy hại 9
Hình1.3 Sự gia tăng CTYT tại một số tỉnh thành giai đoạn 2005-2009 19
Hình 1.4 Thiết bị khử khuẩn bằng hơi nước 24
Hình 1.5 Quy trình xử lý chất thải bệnh viện 27
Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức của trung tâm 52
Hình 3.2 Khối lượng CTYT phát sinh tại TTYT qua các thángtrong năm (2013- 2015) 57
Hình 3.3 Khối lượng CTRYTNH qua các ngày trong tuần 59
Hình 3.4 Khối lượng CTRYTNH tại các khoa trong ngày 61
Hình 3.5 Thành phần CTRYT tại TTYT huyện Kim Động năm 2016 62
Hình 3.6 Nhận thức của người được phỏng vấn về tác hại của chất thảirắn y tế với người tiếp xúc 64
Hình 3.7 Sơ đồ tổ chức QLCT y tế tại TTYT huyện Kim Động 71
Hình 3.9: Đánh giá của người được phỏng vấn về môi trường tại TTYTso với trước đây 84
Trang 9DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BTN&MT Bộ tài nguyên và môi trường
CDC Trung tâm kiểm soát bệnh tật
CTRYT Chất thải rắn y tế
CTRYTSH Chất thải rắn y tế sinh hoạt
CTRYTNH Chất thải rắn y tế nguy hại
TVGS & QLDA Tư vấn giám sát và quản lý dự án
UNEP Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, sức khỏe và môi trường là hai vấn đề đang được quan tâm hàngđầu trên thế giới cũng như Việt Nam Xã hội không ngừng phát triển, dân số tăngnhanh dẫn tới các nhu cầu của con người cũng ngày càng cao Chăm sóc sứckhỏe là một trong những nhu cầu thiết yếu nhất của mỗi người Với các thànhtựu trong và ngoài nước, ngành y học đã trở thành một trong những ngành quantrọng của mỗi quốc gia kéo theo các cơ sở y tế không ngừng tăng lên về sốlượng, quy mô và chất lượng khám chữa bệnh Song song với điều đó là lượnglớn chất thải rắn (CTR) y tế phát sinh, trong đó thành phần nguy hại ngày càng
tăng Theo thống kê của cục quản lý khám chữa bệnh (Bộ TN&MT, 2011) về báo
cáo công tác khám chữa bệnh, cả nước có 13.511 cơ sở y tế bao gồm các cơ sởkhám chữa bệnh và dự phòng từ cấp Trung ương đến địa phương với lượng chấtthải rắn phát sinh vào khoảng 450 tấn/ngày, trong đó có 47 tấn/ngày là chất thảirắn y tế nguy hại Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý môi trường y tế, tínhđến năm 2015 lượng chất thải rắn y tế phát sinh là 600 tấn/ngày và đến năm
2020 là khoảng 800 tấn/ngày
Cho đến nay, ở hầu hết các bệnh viện lớn việc quản lý chất thải y tế đangđược quan tâm chú trọng Việc thực hiện phân loại, thu gom CTR y tế đã đạtnhững tỉ lệ tương đối theo Quy chế quản lý chất thải y tế Theo báo cáo hiệntrạng môi trường quốc gia năm 2011, tỷ lệ bệnh viện thực hiện phân loại CTRYT
là 95,6% và thu gom hàng ngày là 90,9%,(BTN&MT, 2011).Còn ở các cơ sở
khám chữa bệnh địa phương do các Sở Y tế quản lý, các bệnh viện loại III, trungtâm y tế tuyến huyện với lượng chất thải y tế phát sinh khá lớn, trong khi đócông tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR vẫn chưa được chú trọng, đặc biệt
Trang 11là công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn (chất thải y tế thông thường,chất thải y tế nguy hại ) Điều này sẽ gây khó khăn rất lớn cho công tác xử lýchất thải sau này, gây thất thoát tài nguyên tái chế và lãng phí trong xử lý.
Trung tâm y tế huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên hình thành và phát triểnphục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của đa số cán bộ nhân dân trong và ngoàihuyện Trung bình hàng năm, trung tâm khám và điều trị cho khoảng hơn 40000lượt bệnh nhân Với số lượng bệnh nhân như vậy đã làm ra tăng một lượng lớnchất thải y tế , gây khó khăn cho công tác quản lý chất thải tại trung tâm, nguy cơgây hại đến sức khoẻ cộng đồng và môi trường Trong khi đó, nhận thức về bảo
vệ môi trường của người dân, cán bộ y bác sĩ trong bệnh viện còn nhiều hạn chếnhư công tác thu gom và phân loại chưa phù hợp, còn thiếu tích cực, chủ động,thậm chí không quan tâm đến việc tổ chức xử lý các đối tượng, phòng ban gây ônhiễm môi trường thuộc trách nhiệm của mình; trông chờ, ỷ lại và đùn đẩy tráchnhiệm cho cơ quan quản lý cấp trên
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, nhằm tìm kiếm được những giải phápquản lý, phương pháp xử lý CTR y tế phù hợp cho những bệnh viện, trung tâm y
tế tuyến huyện, góp phần cải thiện môi trường và đảm bảo sức khỏe người dân,
tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản
lý và xử lý chất thải rắn y tế tại trung tâm y tế huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên”.
2 Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng CTR y tế phát sinh tại trung tâm y tế huyện KimĐộng:
- Đề xuất giải pháp quản lý và xử lý CTR y tế phù hợp với TTYT KimĐộng nhằm góp phần bảo vệ môi trường của huyện
Trang 12 Yêu cầu nghiên cứu
- Phản ánh được thực trạng CTR phát sinh tại trung tâm y tế huyện KimĐộng :
+ Nguồn phát sinh
+ Khối lượng CTR y tế phát sinh (khoa, phòng ban; theo tháng, quý)
+ Thành phần CTR phát sinh
- Đánh giá công tác quản lý, xử lý CTR y tế tại bệnh viện theo quyết định
số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ y tế
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, xử lý CTR y tếphù hợp với điều kiện của trung tâm
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Giới thiệu chung về chất thải rắn y tế
1.1.1 Một số khái niệm
Theo quy chế quản lý chất thải y tế được Bộ Y tế (BYT) quy định tại quyếtđịnh 43/2007/QĐ-BYT ban hành ngày 30/11/2007, Chất thải y tế được địnhnghĩa như sau:
Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế baogồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường
Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏeconngười và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ,
dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không đượctiêu hủy an toàn
Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu,thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủychất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện Trong đó xử lý ban đầu là quátrình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao tại nơichất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi lưu giữ hoặc tiêu hủy; Vậnchuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, tới nơi xử lýban đầu, lưu giữ, tiêu hủy; Thu gom chất thải tại nơi phát sinh là quá trình phânloại, tập hợp, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chấtthải trong cơ sở y tế Tái chế là việc tái sản xuất các vật liệu thải bỏthành nhữngsản phẩm mới; Tái sử dụng là việc sử dụng một sản phẩm nhiều lần cho đến hết
Trang 14tuổi thọ sản phẩm hoặc sử dụng sản phẩm theo một chức năng mới, mục đíchmới; Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làmmất khả năng gây huy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi
trường, (Bộ Y Tế, 2007).
1.1.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn y tế
Nguồn phát sinh CTRYT được xác định chủ yếu từ: bệnh viện; các cơ sở y
tế khác như: trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộsinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu ; các trung tâm xét nghiệm vànghiên cứu y sinh học; ngân hàng máu Hầu hết các CTRYT đều có tính chấtđộc hại và tính đặc thù khác với các loại chất thải rắn (CTR) khác Các nguồn xảchất lây lan độc hại chủ yếu là ở các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật, bàochế dược
Bảng 1.1 Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ các hoạt độngy tế
Chất thải rắn thông
thường
Các chất thải ra từ nhà bếp, các khu nhà hành chính,các loại bao gói
Chất thải chứa các vi
trùng gây bệnh
Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạngngười sau khi mổ xẻ và của các động vật sau quátrình xét nghiệm, các gạc bông lẫn máu mủ củabệnh nhân
Chất thải bị nhiễm bẩn Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh nhân,
các chất thải từ quá trình lau cọ sàn nhà
Chất thải đặc biệt
Các loại chất thải độc hại hơn các loại nói trên, cácchất phóng xạ, hóa chất dược từ các khoa khám,chữa bệnh, hoạt động thực nghiệm, khoa dược
(Nguồn: Bộ TN&MT, 2011)
Trang 151.1.3 Thành phần chất thải rắn y tế
Ở Việt Nam, hầu hết các CTRYT là các chất thải sinh học độc hại vàmang tính đặc thù so với các loại CTR khác Các loại chất thải này nếu khôngđược phân loại cẩn thận trước khi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽgây ra những nguy hại đáng kể Xét về các thành phần chất thải dựa trên đặc tính
lý hóa thì tỷ lệ các thành phần có thể tái chế là khá cao, chiếm trên 25% tổnglượng CTRYT, chưa kể CTRYT là các chất hữu cơ Trong thành phần CTRYT
có lượng lớn chất hữu cơ và thường có độ ẩm tương đối cao, ngoài ra còn cóthành phần chất nhựa chiếm khoảng 10%, vì vậy khi lựa chọn công nghệ thiêuđốt cần lưu ý đốt triệt để và không phát sinh khí độc hại
Chai, túi nhựa các loại Bệnh phẩm
Rác hữu cơ Đất đá và các loại vật rắn khác
Hình 1.1 Thành phần chất thải rắn y tế dựa trên đặc tính lý hóa
tại Việt Nam
Trang 16- Bông vải sợi: gồm bông băng, gạc, quần áo, khăn lau, vải trải…
- Giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh
- Nhựa: hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng
- Thủy tinh: chai lọ, ống tiêm, bơm tiêm thủy tinh, ống nghiệm
- Kim loại: dao kéo mổ, kim tiêm
Thành phần hóa học gồm 2 loại:
- Vô cơ: hóa chất, thuốc thử,…
- Hữu cơ: đồ vải sợi, phần cơ thể, xác động vật thí nghiệm, thuốc,…
Thành phần sinh học: máu, bệnh phẩm, bộ phận cơ thể bị cắt bỏ
Căn cứ theo tính độc hại của chất thải, có thể chia CTRYT làm 2 phầnchính: Phần không độc hại (chiếm khoảng 85% tổng số chất thải bệnh viện) loạichất thải này chỉ cần xử lý đơn giản như những loại rác thải sinh hoạt Phần cònlại (chiếm khoảng 15%) là những chất thải độc hại nguy hiểm, cần có biện pháp
xử lý thích hợp
1.1.4 Phân loại chất thải rắn y tế
CTRYT có thành phần phức tạp, có các tính chất độc hại khác nhau, vì vậyviệc phân loại là một khâu vô cùng quan trọng trong quá trình quản lý và xử lýchất thải này Khâu phân loại tiến hành tốt ngay từ đầu sẽ tạo điều kiện thuận lợicho những khâu quản lý phía sau đạt hiệu quả cao hơn, hạn chế chi phí xử lýcũng như giảm thiểu tối đa ô nhiễm môi trường
Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, hướng xử lý CTRYT của mỗi quốc gia màviệc phân loại CTRYT cũng có sự khác nhau
1.1.4.1 Phân loại CTRYT theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 2014)
Chất thải y tế được chia làm hai loại: chất thải y tế nguy hại và chất thải y tếthông thường Trong đó:
Trang 17Chất thải y tế nguy hại được chia làm 8nhóm sau:
Nhóm 1: Chất thải lây nhiễm: Là chất thải chứa mầm bệnh như vi khuẩn, virút, kí sinh trùng với số lượng đủ để gây bệnh cho những người dễ bị cảm nhiễm,bao gồm các loại:
Môi trường nuôi cấy từ phòng thí nghiệm
Chất thải từ phòng cách ly bệnh nhân bị nhiễm trùng
Dụng cụ hoặc vật tiếp xúc với bệnh nhân bị truyền nhiễm
Nhóm 2: Chất thải sắc nhọn: Là chất thải có thể làm rách hoặc tổn thương
da bao gồm cả kim tiêm, kim tiêm dưới da, dao mổ, bộ truyền Dù có haykhông bị nhiễm khuẩn, chất thải này được coi là chất thải y tế nguy hại cao vàcần được xử lý như chất thải có nguy cơ nhiễm khuẩn
Nhóm 3: Chất thải dược phẩm: Chất thải dược phẩm bao gồm thuốc quá hạn,thuốc không dùng hoặc các loại vaccin, huyết thanh, kể cả chai, lọ đựng chúng Nhóm 4: Chất thải gây ung thư (genotoxic) và gây độc tế bào (cytotoxic) :Chất thải gây ung thư (genotoxic) có thể gây đột biến (có khả năng gây đột biếngen), gây quái thai (có khả năng gây dị tật ở phôi thai hoặc thai nhi) hoặc gâyung thư Chất thải genotoxic có thể bao gồm một số loại thuốc kìm tế bào, chấtnôn, nước tiểuhoặc phân của bệnh nhân điều trị với các thuốc kìm tế bào, hóachất và các vật liệu phóng xạ
Nhóm 5: Chất thải giải phẫu: Bao gồm các mô, các cơ quan, bộ phận cơ thể,máu và các phế thải khác từ phẫu thuật và khám nghiệm tử thi trên bệnh nhân bịnhiễm trùng Nó cũng bao gồm bào thai của con người và xác động vật bị nhiễmbệnh Chất thải bệnh lý có thể bao gồm các bộ phận cơ thể khỏe mạnh đã được gỡ bỏtrong một thủ tục y tế hoặc sản xuất trong quá trình nghiên cứu y học
Trang 18Nhóm 6: Chất thải hóa học: Chất thải hóa học bao gồm các loại phế thảirắn, lỏng và khí Chất thải hóa học từ chăm sóc y tế được coi là gây nguy hiểmnếu nó có ít nhất một trong các thuộc tính sau.
+ Độc hại
+ Ăn mòn (pH <2 hoặc pH>12)
+ Oxy hóa (bình chứa áp suất)
+ Phản ứng+ Dễ gây cháy nổ
Hình 1.2 Một số biểu tượng nguy hại
Nhóm 7: Chất thải phóng xạ: bắt nguồn từ máy phát điện hạt nhân phóngxạ; cặn từ các lô hàng nguyên liệu phóng xạ và các giải pháp không mong muốncủa các hạt nhân phóng xạ dành cho sử dụng chẩn đoán hoặc điều trị; phân từbệnh nhân được điều trị hoặc thử nghiệm với các hạt nhân phóng xạ; mức độthấp chất thải rắn (ví dụ như giấy thấm, gạc, thủy tinh, kim tiêm, lọ); mức độthấp chất thải lỏng (ví dụ như từ máy giặt)
Nhóm 8: Chất thải chứa kim loại nặng độc: Chất thải chứa kim loại nặngnhư chì, thủy ngân, asen
Chất thải y tế thông thường:
Trang 19Là các chất thải không tiếp xúc với các tác nhân truyền nhiễm, hóa chất độchại hoặc các chất phóng xạ và vật nhọn không gây nguy hiểm Bao gồm giấy, bìacác tông, nhựa, thực phẩm thừa
1.1.4.2 Phân loại CTRYT theo Quy chế quản lý chất thải y tế số 43/2007/QĐ-BYT
Việt Nam là một quốc gia thuộc nhóm các nước đang phát triển Hiện tạiViệt Nam đang áp dụng quy chế quản lý chất thải y tế số 43/2007/QĐ-BYT do
Bộ Y tế ban hành ngày 30/11/2007 về Quy chế quản lý chất thải y tế
Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại,chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm sau:
Nhóm 1: Chất thải lây nhiễm:
- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặcchọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn củadây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ vàcác vật sắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấmdịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong cácphòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm
- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thểngười; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm
Nhóm 2: Chất thải hóa học nguy hại:
- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng
- Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế (nằm trong phụ lục I ban hànhkèm theo Quy chế 43/2007/QĐ-BYT)
Trang 20- Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốcgây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu.
- Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủyngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy),chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từcác khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)
Nhóm 5: Chất thải thông thường:
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóahọc nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ buồng bệnh cách ly)
- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủytinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xươngkín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa họcnguy hại
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệuđóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
Trang 211.2 Tổng quan tình hình phát sinh, quản lý và xử lý chất CTRYT
1.2.1 Tình hình phát sinh CTR y tế trên thế giới
Lượng phát sinh CTRYT trên thế giới thay đổi theo từng khu vực địa lý,theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịchbệnh, quy mô bệnh viện, lượng bệnh nhân khám, chữa bệnh, điều kiện kinh tế,
xã hội của khu vực, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việckhám, điều trị, chăm sóc bệnh nhân và việc thải rác của bệnh nhân ở các khoa,phòng
Bảng 1.2 Tổng lượng CTR y tế tại một số quốc gia (khu vực)trên thế giới S
TT
Quốc gia
(Khu vực)
Chất thải y tế (Kg/giường/ngày)
S TT
Quốc gia (Khu vực)
Chất thải y tế (Kg/giường/ngày)
(Nguồn: M.E.Bi rpinar, 2009)
Khối lượng CTRYT phát sinh có sự thay đổi tùy từng quốc gia trên thế giới.Điều này được cụ thể tại bảng 1.2 Theo đó, khối lượng CTRYT phát sinh lớn
Trang 22nhất ở hai quốc gia là Tây Ban Nha và USA lên tới 4,4 kg/giường/ngày và thấpnhất tại Nhật Bản 0,25 kg/giường/ngày Nguyên nhân của sự khác biệt trên là dochênh lệch về kinh tế với mức sống khác nhau ở các quốc gia trên thế giới dẫnđến sự đầu tư cho y tế không giống nhau Các đặc điểm văn hóa- xã hội, mức độnhận thức của người dân về chất lượng sức khỏe và tác hại của CTYT là khácnhau Lượng CTYT thay đổi theo từng nhóm nước (nhóm nước thu nhập cao,nhóm nước thu nhập trung bình và nhóm nước thu nhập thấp), điều này được thểhiện trong bảng 1.3.
Bảng 1.3 Lượng chất thải thay đổi theo từng nhóm nước
(kg/gb/ngày)
CTYT nguy hại (kg/gb/ngày)
(Lê Thị Hằng, 2014)
Bảng 1.3 cho thấy, lượng CTYT tại các nước thu nhập cao luôn lớn hơn rấtnhiều so với nước thu nhập trung bình và thu nhập thấp Cụ thể, lượng CTYT tạinước thu nhập cao gấp 2 lần lượng CTYT tại các nước có thu nhập trung bình vàgấp 4 lần lượng CTYT tại các nước có thu nhập thấp
Khối lượng CTRYT phát sinh có sự khác biệt tại từng loại bệnh viện (bệnhviện đại học y dược, bệnh viện đa khoa, bệnh viện tuyến huyện, trung tâm y tế),các bộ phận khác nhau trong bệnh viện, (bảng 1.4)
Trang 23Bảng 1.4 Lượng chất thải thay đổi theo từng loại bệnh viện
(kg/gường bệnh/ngày)
(Lê Thị Hằng,2014)
Tùy theo quy mô, đặc điểm chức năng của từng loại bệnh viện mà lượngCTYT phát sinh không giống nhau Bệnh viện đại học y dược với quy mô lớn vànhiều chức năng (khám chữa bệnh, đào tạo, nghiên cứu…) phát sinh lượngCTYT lớn (4,1 – 8,7 kg/giường bệnh/ngày) Các trung tâm y tế với quy mô nhỏ,phát sinh lượng CTYT ít hơn (0,05 – 1,2 kg/gường bệnh/ ngày)
Bảng 1.5 Lượng CTYT thay đổi theo các bộ phận khác nhau trong bệnh
(Lê Thị Hằng,2014)
Theo bảng 1.5, lượng CTYT tại các bộ phận khác nhau trong bệnh viện làkhác nhau Lượng chất thải phát sinh lớn nhất tại khoa hồi sức cấp cứu (3 – 5 kg/giường bệnh/ngày) và nhỏ nhất tại các phòng điều dưỡng, phòng phát sinh bệnhphẩm chung toàn bệnh viện (0,2- 1,5 kg/gường bệnh/ngày)
1.2.2 Tình hình phát sinh CTR y tế tại Việt Nam
Theo nghiên cứu điều tra mới nhất của Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế vàViện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng, năm 2009-2010,
Trang 24tổng lượng CTR y tế trên toàn quốc khoảng 100-140 tấn/ngày, trong đó có 16-30tấn/ngày là CTR y tế nguy hại Lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/ngày,
trong đó CTR y tế nguy hại tính trung bình là 0,14 - 0,2 kg/giường/ngày.Ước
tính đến năm 2016, lượng CTRYT phát sinh sẽ là 600 tấn/ngày và đến năm 2020
là khoảng 800 tấn/ngày
Bảng 1.6 Khối lượng CTYT phát sinh tại các bệnh viện trực thuộc BYT
Lượng phát sinh CTRYT (kg/gường bệnh/ngày) 1,53
Lượng CTRYT nguy hại (kg/gường bệnh/ngày) 0,25
Tỉ lệ TP nguy hại/tổng lượng phát sinh (%) 16,2
(Nguồn: Cục quản lý khám chữa bệnh, 2009a)
Theo báo cáo của cục quản lý khám chữa bệnh, 2009a lượng CTRYT phátsinh trung bình tại các bệnh viện trực thuộc BYT là 1,53 kg/giường bệnh/ngày.Lượng CTRYT nguy hại là 0,25 kg/gường bệnh/ngày Tỉ lệ CTYT nguy hại/tổnglượng CTRYT phát sinh chiếm 16,2%
Khối lượng CTRYT không chỉ khác nhau theo từng khu vực địa lý, mà cònthay đổi tùy thuộc vào từng loại bệnh viện (bệnh viện đa khoa, chuyên khoa);tuyến bệnh viện (bệnh viện tuyến Trung Uơng, tuyến tỉnh, tuyến huyện, trungtâm y tế); loại đô thị (đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loạiIII) Ta thấy, lượng CTRYT của những tỉnh có đô thị loại I, loại II (Nghệ An,Đồng Nai) và đô thị loại đặc biệt (Hà Nội, Tp.Hồ Chí Minh) luôn lớn hơn nhữngtỉnh có đô thị loại III (Vĩnh Long, Trà Vinh, Hà Nam,…)(bảng 1.7)
Bảng 1.7 Khối lượng CTR y tế ở một số địa phương năm 2013
Trang 25(*: năm 2015) ( Nguồn: Số liệu thống kê, 2013)
Lượng CTR y tế phát sinh trong ngày khác nhau giữa các bệnh viện tùythuộc vào số giường bệnh, bệnh viện chuyên khoa hay đa khoa, số thủ thuậtchuyên môn được thực hiện tại bệnh viện, số lượng vật tư tiêu hao được sử dụng,
tỉ lệ bệnh nhân điều trị nội, ngoại trú, cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, thảm họa độtxuất…
Lượng CTYT phát sinh tại các khoa trong bệnh viện cũng có sự chênh lệchrất lớn Lượng CTYT phát sinh tùy thuộc vào số giường bệnh tại các khoa, lượngbệnh nhân tại mỗi khoa phòng, tính chất nguồn bệnh và đặc tính chất thải phátsinh trong điều trị, điều này được thể hiện trong bảng 1.8
Trang 26Bảng 1.8 Lượng chất thải phát sinh tại các khoa trong bệnh viện
Khoa
Tổng lượng chất thải phát sinh (kg/giường/ngày)
Tổng lượng chất thải y tế nguy hại (kg/giường/ngày) BV
TW
BV Tỉnh
BV Huyện
Trung bình
BV TW
BV Tỉnh
BV Huyện
Trung bình
Bệnh viện 0,97 0,88 0,73 0,86 0,16 0,14 0,11 0,14Khoa hồi
Trang 27Bảng 1.9 Khối lượng CTRYT/giường bệnh tại một số TTYT tuyến huyện
năm 2013
Phú Lộc
*Huyện Hương Trà
lý Tại một số cơ sở y tế, việc phân loại CTYT không được thực hiện đúng theoquy định, khối lượng chất thải y tế không được cân theo dõi mà chỉ được ướcchừng… điều này làm tăng lượng CTYT cần xử lý, gây thất thoát và lãng phícho cơ sở y tế
CTRYT phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các tỉnh thành xuất phát từmột số nguyên nhân như: sự gia tăng dân số kèm theo tăng số lượng cơ sở y tế và
số giường bệnh, tăng cường sử dụng các sản phẩm y tế dùng một lần, nhu cầuchăm sóc sức khỏe cao cùng với việc sử dụng nhiều dịch vụ y tế tiện ích
Trang 28Hình1.3 Sự gia tăng CTYT tại một số tỉnh thành giai đoạn 2005-2009
(Nguồn: Sở TN&MT các địa phương, 2010)
Hình 1.3 cho thấy, lượng CTYT tại các tỉnh thành: Trà Vinh, Hà Giang,Lâm Đồng, Vĩnh Long, Bạc Liêu, Quảng Ninh, An Giang, Hà Nam đều tăngtrong giai đoạn 2005 – 2009 Lượng CTYT biến động nhiều nhất tại Trà Vinh,
Hà Giang, biến động ít nhất tại Bạc Liêu và Quảng Ninh Sự biến động củaCTYT nhiều hay ít tại các tỉnh thành phụ thuộc vào sự phát triển của tỉnh, nhucầu của người dân về chăm sóc sức khỏe và mối quan tâm của các cơ quan chứcnăng về quản lý CTYT
Theo Quyết định số 170/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệtQuy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2025(8/2012) Căn cứ vào Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giaiđoạn đến năm 2010 tầm nhìn đến 2020; Quy hoạch mạng lưới khám chữa bệnhđến năm 2010 tầm nhìn đến năm 2020 và căn cứ vào các số liệu thống kê hàngnăm, các nghiên cứu của Việt Nam và thế giới - Dự báo lượng chất thải rắn y tếnguy hại phát sinh trên địa bàn cả nước như sau:
Trang 29Bảng 1.10 Dự báo lượng chất thải rắn nguy hại phát sinh trên địa bàn cả
nướcđến năm 2025 ST
T
(kg/ngày)
Năm 2025 (kg/ngày)
1.2.3 Tình hình quản lý và xử lý CTR y tế trên thế giới
Nghiên cứu về chất thải rắn y tế (CTYT) đã được tiến hành tại nhiều nướctrên thế giới, đặc biệt ở các với môi trường và sức khoẻ Đề xuất các biện pháplàm giảm tác hại của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng; sự đe dọa củachất thải nhiễm khuẩn tới cộng đồng; ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việclan truyền dịch bệnh; những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTYT; tổnthương nhiễm khuẩn nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Canada Đề cập đếnnhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh, phân loại CTYT; quản lý chất thải y tế
Trang 30(biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánhgiá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ); tác hại của chất thải y tế đối ở
y tá, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoàibệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng; các trường hợpphơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế
Trên thế giới đã có nhiều cơ quan quốc tế như WHO, UNEP, ICRC, WorldBank , CDC, IPCS đã xây dựng và quản lý các dữ liệu thông tin về sức khỏecộng đồng, an toàn hóa chất, phát sinh chất thải
Tùy từng điều kiện kinh tế xã hội và mức độ phát triển khoa học kỹ thuậtcùng với mức độ quan tâm về quản lý chất thải y tế mà mỗi nước có những cách
xử lý chất thải riêng Đa số các nước phát triển trên thế giới thường áp dụngđồng thời nhiều phương pháp để xử lý chất thải rắn, trong đó có chất thải rắnnguy hại, tỷ lệ xử lý chất thải bằng các phương pháp như đốt, xử lý cơ học,hóa/lý, sinh học, chôn lấp rất khác nhau Qua số liệu thống kê về tình hình xử
lý chất thải rắn của một số nước trên thế giới cho thấy, Nhật Bản là nước sử dụngphương pháp thu hồi chất thải rắn với hiệu quả cao nhất (38%), sau đó đến Thụy
Sỹ (33%), trong khi đó Singapore chỉ sử dụng phương pháp đốt, Pháp lại sửdụng phương pháp xử lý vi sinh nhiều nhất (30%) Các nước sử dụng phươngpháp chôn lấp hợp vệ sinh nhiều nhất trong xử lý chất thải rắn là Phần Lan(84%), Thái Lan (84%), Anh (83%), Liên Bang Nga (80%) và Tây Ban Nha
Trang 31loại lò đốt đã không đáp ứng được yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường Lò đốt chấtthải y tế là nguồn chính phát sinh ra dioxin và thủy ngân trong các hoạt động dân
sự hiện nay Với mục tiêu bảo vệ môi trường (BVMT) và bảo vệ sức khỏe, cácnước đang phát triển như Mỹ và châu Âu ngày càng thắt chặt các tiêu chuẩn khíthải lò đốt chất thải y tế Trong tình hình như vậy, nhiều loại lò đốt được sản xuấttại Mỹ và châu Âu cũng không đáp ứng được tiêu chuẩn môi trường và tìm cáchxuất khẩu sang các nước đang phát triển, nơi mà các tiêu chuẩn môi trường cònlỏng lẻo hoặc chưa có các biện pháp kiểm soát chặt chẽ Tại Mỹ, vào năm 1988,
cả nước có 6200 lò đốt chất thải y tế nhưng đến năm 2006 chỉ còn lại 62 lò đốthoạt động Tại Canada, năm 1995 có 219 lò đốt nhưng đến năm 2003 chỉ còn 56
lò đốt vận hành Tại châu Âu, nhiều nước đã đóng cửa nhiềulò đốt chất thải y
tế Tại các nước phát triển các công nghệ không đốt thân thiện với môi trườngđược sử dụng phổ biến bao gồm:Quy trình nhiệt:Khử khuẩn bằng nhiệt ướt nhưnồi hấp (autoclave) hay hệ thống hấp ướt tiên tiến (advanced steam), khử khuẩnbằng nhiệt khô (dry heat), công nghệ vi sóng (microwave), plasma ; Quy trìnhhoá học: Không dùng clo (non-chlorine), thuỷ phân kiềm(alkalinehydrolysis);Quy trình bức xạ: Tia cực tím, cobalt; Quy trình sinh học:
Xử lý bằng enzyme Trong đó, quy trình nhiệt được sử dụng phổ biến nhất vàđược chia làm ba loại:
+ Quy trình nhiệt thấp: Với nhiệt độ vận hành khoảng từ 93-177oC với 2nhóm cơ bản là nhiệt ướt và nhiệt khô Công nghệ nhiệt ướt dùng hơi nước đểkhử khuẩn chất thải Công nghệ xử lý bằng vi sóng thực chất là khử khuẩn bằnghơi nước vì hơi nước bão hoà được thêm vào làm ẩm chất thải và năng lượng visóng sẽ làm nóng chất thải Quy trình nhiệt khô không thêm nước hay hơi nướcvào chất thải Chất thải được làm nóng bởi tính dẫn nhiệt, đối lưu tự nhiên haycưỡng bức, sử dụng bức xạ nhiệt hoặc bức xạ hồng ngoại Quy trình nhiệt thấp
Trang 32cần có thêm thiết bị cắt, xay để làm giảm thể tích và biến dạng chất thải và thểtích chất thải có thể giảm từ 60-70%.
+ Quy trình nhiệt trung bình : Nhiệt độ vận hành khoảng từ 177 đến 370oC
có tác dụng phá vỡ liên kết hoá học của chất hữu cơ Đây là quy trình dựa trêncông nghệ mới bao gồm quy trình trùng hợp ngược sử dụng năng lượng vi sóngcường độ cao và khử trùng hợp sử dụng hơi nóng và áp suất cao
+ Quy trình nhiệt cao: Nhiệt độ vận hành vào khoảng 540 đến 8300oC hoặccao hơn Điện trở, cảm ứng điện, khí tự nhiên hoặc năng lượng plasma cung cấpnhiệt cao Nhiệt độ cao làm thay đổi tính chất lý hoá của chất thải, từ chất hữu cơthành chất vô cơ và tiêu huỷ hoàn toàn chất thải đồng thời làm thay đổi lớn vềtrọng lượng và thể tích chất thải Quy trình nhiệt cao có thể giảm thể tích đến 90-
95%,(Môi trường ngành xây dựng, 2016).
Tháng 8/2004, trong tài liệu “Chính sách quản lý an toàn chất thải y tế”,WHOđã đưa ra các chính sách nhằm khuyến cáo các quốc gia quan tâm đến quản
lý chất thải y tế Cụ thể như:
+ Quản lý chất thải y tế không an toàn gây tử vong và tàn tật
+ Quản lý chất thải y tế cũng có thể gây ra những rủi ro đối với sức khoẻ,đặc biệt lo ngại về việc phơi nhiễm với dioxin và furan từ khí thải lò đốt chất thảirắn y tế
+ Cần cân nhắc giữa các yếu tố nguy cơ để có những quyết định đúng đắntrong quản lý chất thải y tế
Đồng thời, WHO cũng đưa ra các chiến lược ngắn hạn và dài hạn trongquản lý an toàn chất thải y tế Phát triển các ứng dụng tái chế chất thải ở nơi cóthể tái chế được; sử dụng các thiết bị y tế không có chứa chất liệu PVC; khuyếnkhích sử dụng các thiết bị nhỏ thay thế cho phương pháp thiêu đốt là các giảipháp ngắn hạn quản lý an toàn chất thải y tế Về lâu dài, các cơ sở y tế cầnhướng tới phát triển và ứng dụng các công nghệ không đốt để xử lý CTR y tế;
Trang 33xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch, chính sách, luật pháp và hướng dẫnquản lý chất thải y tế; phân bổ nguồn nhân lực, tài chính cho quản lý an toànCTYT.
Hình 1.4 Thiết bị khử khuẩn bằng hơi nước
Lựa chọn công nghệ thay thế dựa trên chuẩn mực về hiệu lực xử lý CTYT.Hiện nay, Mỹ và EU đang áp dụng chuẩn STAATT (State and TerritorialAssociation on Alternative Treatment Technologies) để đánh giá hiệu lực khửkhuẩn, trong đó cấp độ III được coi là chuẩn mực tối thiểu, mức giảm 6 Log 10tương đương với xác suất sống sót 1 phần triệu của vi sinh vật hay giảm99,9999% vi sinh vật do quá trình xử lý
Theo kinh nghiệm của Mỹ và các nước Châu Âu, các yếu tố cần thiết nhấtphải xem xét khi lựa chọn công nghệ là công suất xử lý; loại chất thải được xửlý; hiệu lực khử khuẩn; phát thải ra môi trường và phần còn lại của chất thải;chấp nhận của cơ quan quản lý; yêu cầu không gian, công trình phụ và lắp đặtkhác; mức độ giảm bớt khối lượng và thể tích chất thải; an toàn nghề nghiệp vàbảo hộ lao động; độ ồn và mùi; tự động hoá và độ ổn định; mức độ thương mại
Trang 34hoá và tình trạng của nhà sản xuất/người bán và chấp nhận của cộng đồng và bộ
máy quản lý.
Để đạt được những mục tiêu trong quản lý CTRYT, rất nhiều các chínhsách, quy định, nguyên tắc (nguyên tắc phòng ngừa, nguyên tắc tiếp cận, ngườigây ô nhiễm phải trả tiền), công ước đã ra đời (như: công ước Basel, công ướcStockholm)
- Các công ước quốc tế:
+ Công ước Basel: Công ước này là một thỏa thuận toàn cầu, phê duyệt một
số 178 quốc gia thành viên để giải quyết các vấn đề và thách thức đặt ra bởi chấtthải nguy hại.Quy định về sự vận chuyển các chất độc hại qua biên giới, đồngthời áp dụng, cả với chất thải y tế
Một mục tiêu trọng tâm của Công ước Basel là "quản lý môi trường"(ESM), mục đích của nó là để bảo vệ sức khỏe con người và môi trường bằngcách giảm thiểu sản xuất chất thải nguy hại bất cứ khi nào có thể ESM nghĩa làgiải quyết vấn đề thông qua một "cách tiếp cận vòng đời tích hợp", trong đó baogồm điều khiển mạnh mẽ từ các thế hệ của một chất thải nguy hại để bảo quản,vận chuyển, xử lý, tái sử dụng, tái chế, thu hồi và xử lý rác thải
+ Công ước stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy: Hội nghị
này là một hiệp ước toàn cầu để bảo vệ sức khỏe con người và môi trường khỏicác chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POPs): là những hóa chất mà vẫn cònnguyên vẹn trong môi trường trong thời gian dài, tích tụ trong mô mỡ của cácsinh vật sống và gây độc cho con người và môi trường
- Các kế hoạch, chiến lược:
+ Kế hoạch ngắn hạn
Sản xuất của tất cả các thành phần ống tiêm làm bằng nhựa cùng để tạođiều kiện tái chế
Trang 35 Lựa chọn các thiết bị y tế PVC-miễn phí.
Xác định và phát triển các lựa chọn tái chế bất cứ nơi nào có thể (ví dụ:tái chế nhựa, thủy tinh, vv)
Nghiên cứu và xúc tiến trên công nghệ mới hoặc thay thế cho đốt quy mônhỏ
+ Kế hoạch trung hạn
Nỗ lực hơn nữa giảm số mũi tiêm không cần thiết để giảm lượng chất thải
y tế nguy hại cần được xử lý;
Nghiên cứu về ảnh hưởng sức khỏe khi tiếp xúc với mức độ thấp của chấtđộc dioxin và furan;
Đánh giá rủi ro để so sánh các nguy cơ sức khỏe liên quan đến: đốt; vàtiếp xúc với CTYT
+ Kế hoạch dài hạn
Xúc tiến các công nghệ không đốt cho việc xử lý cuối cùng của CTRYT
để tránh gánh nặng bệnh tật từ: quản lý chất thải y tế không an toàn; và tiếp xúcvới dioxin và furan;
Hỗ trợ cho các quốc gia về quản lý âm thanh trong xử lý CTYT
Hỗ trợ cho các quốc gia trong việc phát triển và thực hiện một kế hoạchquốc gia, chính sách và pháp luật về CTYT
Thúc đẩy các nguyên tắc của quản lý môi trường về CTYT như quy địnhtrong Công ước Basel
Hỗ trợ phân bổ nguồn nhân lực và tài chính để quản lý một cách an toànCTYT trong nước
Trang 361.2.4 Tình hình quản lý và xử lý CTR y tế tại Việt Nam
Hình 1.5 Quy trình xử lý chất thải bệnh viện
CHÁT THẢI Y TẾ
CHẤTTHẢI Y TẾ NGUY
HẠI
CHẤT THẢI Y TẾ THÔNG THƯỜNG
CHẤT THẢI LÂY
NHIỄM
BÌNH CHỨA ÁP SUẤT
CT HÓA HỌC
CT PHÓNG XẠ
CƠ LN CAO
CT GIẢI PHẪU
THU GOM VẬN CHUYỂN
THU GOM VẬN CHUYỂN
THU GOM VẬN CHUYỂN
LƯU GIỮ TẠM THỜI LƯU
GIỮ
TẠM
THỜI
LƯU GIỮ TẠM THỜI
LƯU GIỮ TẠM THỜI
XỬ LÝ
SƠ BỘ
LƯU GIỮ TẠM THỜI
LƯU GIỮ TẠM THỜI
LƯU GIỮ TẠM THỜI
LÒ CHUYÊN DỤNG
ĐỐT TRONG
LÒ CHUYÊN DỤNG
ĐỐT TRONG
LÒ CHUYÊN DỤNG
VẬN CHUYỂN
RA NGOÀI
VẬN CHUYỂN
RA NGOÀI
VẬN CHUYỂN RA NGOÀI XỬ LÝ
RA NGOÀI
KHỬ KHUẨN DIỆTKH UẨN
XL NHƯ
CT TT
CHÔN
LẤP VỆ
SINH
CHÔN LẤP VỆ SINH
CHÔN LẤP
VỆ SINH
TRẢ NƠI SẢN XUẤT
TÁI SỬ DỤNG
TRUNG HÒA, THỦY PHÂN
TRẢ NƠI SẢN XUẤT
THU GOM VẬN CHUYỂN
THU GOM VẬN CHUYỂN
Trang 37(Nguồn: Bộ Y tế, 2015)
Về công tác thu gom, lưu trữ và vận chuyển
Công tác thu gom, lưu trữ CTR y tế nói chung đã được quan tâm bởi cáccấp từ Trung ương đến địa phương, thể hiện ở mức độ thực hiện quy định ở cácbệnh viện khá cao
Chất thải y tế phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sự quản lýcủa Bộ Y tế, phần lớn được thu gom và vận chuyển đến các khu vực lưu giữ sau
đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vậnchuyển và xử lý đối với các cơ sở xử lý chất thải đã được cấp phép tại địa bàn cơ
sở khám chữa bệnh đó Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các
Sở Y tế quản lý, công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR chưa được trútrọng, đặc biệt là công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn (chất thải y tếthông thường, chất thải y tế nguy hại )
Có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải trong đó 91,1% đã sửdụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn Theo báo cáo kiểm tra của các tỉnh vànhận xét của đoàn kiểm tra liên Bộ, còn có hiện tượng phân loại nhầm chất thải,một số loại chất thải thông thường được đưa vào chất thải y tế nguy hại gây tốnkém trong việc xử lý Có 63,6% sử dụng túi nhựa là bằng nhựa PE, PP Chỉ có29,3% sử dụng túi có thành dày theo đúng quy chế
Chất thải y tế đã được chứa trong các thùng đựng chất thải Tuy nhiên, cácbệnh viện có các mức độ đáp ứng yêu cầu khác nhau, chỉ có một số ít bệnh viện
có thùng đựng chất thải theo đúng quy chế (bệnh viện trung ương và bệnh việntỉnh) Hầu hết ở các bệnh viện (90,9%) CTR được thu gom hàng ngày, một sốbệnh viện có diện tích chật hẹp nên gặp khó khăn trong việc thiết kế lối đi riêng
để vận chuyển chất thải Chỉ có 53% số bệnh viện chất thải được vận chuyểntrong xe có nắp đậy Có 53,4% bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải có mái che,trong đó có 45,3% đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải y tế
Trang 38Trong vận chuyển CTRYT, chỉ có 53% số bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy
để vận chuyển chất thải y tế nguy hại; 53,4% bệnh viện có mái che để lưu giữ CTR đây là những yếu tố để đảm bảo an toàn cho người bệnh và môi trường
Về phương tiện thu gom, vận chuyển chất thải: Nhìn chung các phương tiệnthu gom, vận chuyển chất thải y tế còn thiếu, đặc biệt là các xe chuyên dụng.Hoạt động vận chuyển chất thải y tế nguy hại từ bệnh viện, cơ sở y tế đến nơi xử
lý, chôn lấp hầu hết do Công ty môi trường đô thị đảm nhiệm, không có các
trang thiết bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn, (Nguồn: Bộ TN&MT, 2011).
Bảng 1.11 Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải rắn y tế tại các bệnhviện
trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2010
(%)
Túi đựng chất thải đúng quy cách về bề dày và dung tích 66,67
Túi đựng chất thải đúng quy cách về màu sắc 30,67
Túi đựng chất thải đúng quy cách về buộc đóng gói 82,33
Trang 39Bảng 1.12 Thực trạng các trang thiết bị thu gom, lưu trữ CTRYT tại một
số thành phố
Thành
phố
Số lượng
đv trả
lời phiếu
điều tra
Dụng cụ thu gom tại
chỗ
Lưu trữ chất thải
Xe tay
Thùng có bánh xe
điều hòa và thông gió
Không
có điều hòa và thông gió
Phòng chung
Không
có khu lưu trữ
CTR y tế không nguy hại ở hầu hết các tỉnh, thành phố đều do Công ty môitrường đô thị thu gom, vận chuyển và được xử lý tại các khu xử lý CTR tậptrung của địa phương Hoạt động thu hồi và tái chế CTR y tế tại Việt Nam hiệnđang thực hiện không theo đúng quy chế quản lý CTR y tế đã ban hành Chưa cócác cơ sở chính thống thực hiện các hoạt động thu mua và tái chế các loại chấtthải từ hoạt động y tế ở Việt Nam Quy chế Quản lý chất thải y tế (2007) đã bổsung nội dung tái chế CTR y tế không nguy hại làm căn cứ để các cơ sở y tế thựchiện Tuy nhiên, nhiều địa phương chưa có cơ sở tái chế, do vậy việc quản lý tái
Trang 40chế các CTR y tế không nguy hại còn gặp nhiều khó khăn Một số vật liệu từchất thải bệnh viện như: chai dịch truyền chứa dung dịch huyết thanh ngọt(đường glucose 5%, 20%), huyết thanh mặn (NaCl 0,9%), các dung dịch acideamine, các loại muối khác; các loại bao gói nilon và một số chất nhựa khác; một
số vật liệu giấy, thuỷ tinh hoàn toàn không có yếu tố nguy hại, có thể tái chế đểhạn chế việc thiêu đốt chất thải gây ô nhiễm
Khối lượng CTR y tế nguy hại được xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm 68% tổnglượng phát sinh CTR y tế nguy hại trên toàn quốc CTR y tế xử lý không đạtchuẩn (32%) là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏecộng đồng Các thành phố lớn như Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội đã có xí nghiệp
xử lý CTR y tế nguy hại vận hành tốt, tổ chức thu gom và xử lý, tiêu huỷ CTR y
tế nguy hại cho toàn bộ cơ sở y tế trên địa bàn CTR y tế nguy hại của các tỉnh,thành phố khác hiện được xử lý và tiêu huỷ với các mức độ khác nhau: một sốđịa phương như Thái Nguyên, Hải Phòng, Cần Thơ đã tận dụng tốt lò đốt trang
bị cho cụm bệnh viện, chủ động chuyển giao lò đốt cho công ty môi trường đôthị tổ chức vận hành và thu gom xử lý CTR y tế nguy hại cho toàn tỉnh, thànhphố; Nghệ An có lò đốt đặt tại bệnh viện tỉnh xử lý CTR y tế nguy hại cho cácbệnh viện khác thuộc địa bàn thành phố, thị xã Một số thành phố lớn đã bố trí lòđốt CTR y tế nguy hại tập trung tại khu xử lý chung của thành phố Tỷ lệ lò đốtCTR y tế phân tán được vận hành tốt chỉ chiếm khoảng xấp xỉ 50% số lò đượctrang bị, có vùng chỉ đạt 20%