"Phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát triển nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để p
Trang 2GS TRẦN VĂN HÀ - PGS.TS NGUYÊN KHÁNH QUAC
Chi bien: GS TRAN VAN HÀ
TIẾP CẬN NỀN KINH TẾ TRI THỨC THẾ KỶ XXI
PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ TÌNH HUỐNG - HÀNH ĐỘNG
Dạy học - Nghiên cứu - Quản lý - Lãnh đạo
Ps HOCT HỌC THÁI NGU; UYÊN
Paice 'HON(ˆ* MƯỢN
NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI - 2001
Trang 4LỜI GIỚI THIỆU
Tôi may mắn là người đầu tiên được đọc bản thảo cuốn: "Tiếp cận nền kinh tế tri
thức thế kỷ 21 Phương pháp giải quyết vấn dé Phương pháp xử lý tình huống -_
hành động Dạy học - Nghiên cứu - Quản lý - Lãnh đạo" của GS Trần Văn Hà và
PGS.TS Nguyễn Khánh Quấc, hai vị đồng nghiệp cao niên, đều có bề dày kinh nghiệm
về quản lý, nghiên cứu và đạy - học đại học
Để tỏ lòng cảm ơn các tác giả về nội dung sách đã đem lại nhiều điều bổ ích, vốn
đang có nhiều trăn trở suy nghĩ về phương pháp lãnh đạo và quản lý, phương pháp dạy - học và nghiên cứu trong thời kỳ tiếp tục đổi mới, khi đang phải tiếp cận với xu thế toàn cầu hoá và nền kinh tế tri thức, tôi nảy ra ý kiến viết mấy dòng cảm nghĩ thay cho lời giới thiệu, sau khi đã đọc kỹ bản thảo cuốn sách
Bước vào thiên niên ky III va nam dau của thế kỷ XXI, nước ta đã trải qua 15 năm đổi mới Chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng về kinh tế, về khoa học và giáo dục Từ một nước bị tàn phá bởi 30 năm chiến tranh xâm lược, hàng năm phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực, nước Việt Nam đã trở thành nước thứ hai trên thế giới xuất khẩu gạo trong suốt 12 năm liền 1989 - 2000, từ trên l1 triệu tấn gạo đến 4 triệu tấn
gạo Việt Nam đã đạt thành quả xoá nạn mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học Tuy vậy
nước ta vẫn còn là một nước nghèo và kém phát triển Chỉ số của Việt Nam là 117 sinh viên trên một vạn dân, 400 USD/GDP Các chỉ số tương ứng trong những năm cuối cùng
thế kỷ XX của Hàn Quốc là 4250 SV, 10070 USD; Thai Lan là 2970 SV, 2860 USD; Indonesia là 1043 SV, 940 USD; Malaysia là 679 SV, 3430 USD; Philippine là 2696 SV,
1130 USD; Đài Loan là 3325 SV, 12265 USD; Singapore là 2050 SV, 26400 USD
Làm thế nào và bao giờ Việt Nam sẽ sánh vai cùng với các nước trong khu vực và trên thế giới, như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong đợi?
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra một phương hướng chiến
lược đúng đắn và vô cùng quan trọng: “Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa”
"Phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát triển nguồn lực con người, yếu
tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bên vững"
Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ IX đã đề ra yêu cầu tiếp tục đổi mới đối với nhiều ngành Riêng đối với ngành giáo dục - đào tạo, báo cáo đã chỉ rõ: “Đổi mới nội
3
Trang 5dung phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hoá - hiện đại hoá - xã hội hoá Phát huy tư duy khoa học và sáng tạo năng lực tự nghiên cứu của học sinh và sinh viên đê cao năng lực tự học, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính qui và không chính qui,
thực hiện giáo dục cho mọi người cả nước trở thành một xã hội học tập"
Chúng tôi rất vui mừng là cuốn sách đã giới thiệu tương đối cụ thể và có hệ thống,
phương pháp giải quyết vấn đề Phương pháp này có nhiều khả năng đáp ứng những yêu
cầu đổi mới trong các lĩnh vực dạy-học, nghiên cứu, quản lý và lãnh đạo Cuốn sách được biên soạn rất công phu trên cơ sở tập hợp được nhiều nguồn tư liệu phong phú trên thế
giới và trong nước, kết hợp với kinh nghiệm của bản thân trong nhiều năm về giảng dạy, nghiên cứu, quản lý và lãnh đạo của hai tác giả
* GS Trần Văn Hà - Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Chăn nuôi, nguyên cố vấn
của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp về chăn nuôi và kinh tế gia đình VAC, là một cán bộ lão thành cách mạng trong ngành nông nghiệp, có nhiều kinh nghiệm chỉ đạo, nghiên cứu trên thực địa, giảng dạy, quản lý và lãnh đao Là tác giả của nhiều sách nghiên cứu, sách
giáo trình về nông nghiệp, về quản lý theo phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp
xử lý tình huống - hành động Kể từ năm 1985 đến nay, ông còn là GS thỉnh giảng của trên 30 trường đại học, cao đẳng ở trong nước và ngoài nước (Pháp, Congo - Brazzaville)
về phương pháp giải quyết vấn đề van dụng trong nông nghiệp, giáo dục và nhiều ngành nghề khác
Với tư cách là cố vấn của đề án "O1 - 27 - 93" của Bộ Giáo dục và Đào tạo mang tên “Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực giải quyết
vấn để" và với tư cách là cố vấn của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, GS Trần Văn
Hà là người đầu tiên bồi dưỡng giáo viên của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và Trường Quản lý cán bộ Giáo dục và Đào tạo Trung ương I - Hà Nội về một phương pháp tiếp
cận mới trong dạy - học, nghiên cứu quản lý và lãnh đạo, phương pháp tiếp cận giải quyết vấn
đề (MARP), phương pháp xử lý tình huống - hành động (MASI - A)”
Hiện phương pháp mới này vẫn tiếp tục được triển khai tại hai trường này và nhiều
trường đại học và cao đẳng khác
* PGS-TS Nguyễn Khánh Quắc, NGƯT, giải thưởng khoa học Hồ Chí Minh, Anh hùng lao động, nguyên là Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Ông đã
là cán bộ nghiên cứu nhiều năm tại Viện Chăn nuôi thuộc Bộ Nông nghiệp Là Hiệu
t? MARP là chữ viết tắt tiếng Pháp: Méthode dApproche de Résoudre les problèmes (phương pháp tiếp
cận giải quyết vấn đê)
MASI - A là chữ viết tat tiéng Phép: Méthode Analytique et Synthétique des Incidents réels etconcrets - Action (Phương pháp phân tích và tổng hợp những tình huống có thật và cụ thể - Hành động).
Trang 6trưởng 2 nhiệm kỳ của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (1991 - 2000), ông vẫn
theo đuổi những công trình giảng dạy và nghiên cứu theo sở trường của mình Say mê và
có trách nhiệm cao với nghề,ông là bạn đồng nghiệp thân thiết của ŒS Trần Văn Hà Hai ông đã là đồng tác giả của nhiều cuốn sách - giáo trình, sách nghiên cứu theo phương pháp giải quyết vấn đề Những cuốn sách này có giá trị hữu ích đối với nhiều ngành, Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã viết lời giới thiệu cho cuốn “Phương pháp khoa học, học và làm của kỹ sư nông lâm nghiệp” Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã viết lời giới hiệu cho cuốn “Khuyến nông học”, cuốn “Kinh tế nông nghiệp gia đình - nông trại”
Tôi có vinh dự được giới thiệu với bạn đọc cuốn mới nhất của hai tác giải, chào mừng thế kỷ mới, thế kỷ của nền kinh tế tri thức: "Tiếp cận nền kinh tế tri thức thế kỷ
21 Phương pháp giải quyết vấn đề Phương pháp xử lý tình huống - hành động Dạy học - Nghiên cứu - Quản lý - Lãnh đạo"
PGS.TS TỪQUANG HIẾN
Hiệu trưởng Trường ĐHNL - Thái Nguyên
Trang 8LỜI TỰA
Sau những cuốn sách đã được xuất bản về một số chuyên đề về giảng dạy và nghiên cứu theo phương pháp giải quyết vấn đề (PGQVĐ), phương pháp xử lý tình huống -
hành động (PPTH - H)°', chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp, hoan nghênh
và khích lệ từ phía các đồng chí lãnh đạo trong ngành nông nghiệp, ngành giáo dục, ngành kinh tế, ngành quản lý kinh doanh, ngành công an từ phía nhiều nhà sư phạm,
nhiều nhà nghiên cứu, quản lý, nhiều thầy cô giáo và các bạn thanh thiếu niên
Đáp lại tấm thịnh tình đó, và cũng là một yêu cầu của tiếp tục đổi mới phát triển
giáo dục và đào tạo khoa học và công nghệ, một động lực quan trọng hàng đầu của nước ta để vượt lên trên nhiều thách thức của thế kỷ 21, chúng tôi đã dụng công biên soạn tài liệu này
Thế kỷ 21 là thế kỷ của xu thế toàn cầu hoá của nền kinh tế tri thức, của cạnh tranh
và hợp tác, của những xã hội thông tin và những xã hội học hành Con người Việt Nam ở thế kỷ 21, nhất là cán bộ phụ trách các đơn vị từ thấp đến cao, không những sẽ phải là những người có kiến thức và kiên trì học tập suốt đời, mà còn phải nắm được phương pháp, phương pháp tự học, phương pháp nghiên cứu, phương pháp quản lý, phương pháp lãnh đạo, phương pháp ứng xử để chung sống trong cạnh tranh và hữu nghị
Để góp phần khiêm tốn của mình trong sự nghiệp phấn đấu chung, chúng tôi xin trình quí vị độc giả cuốn:
''Tiếp cận nên kinh tế trí thức thế kỷ 21 Phương pháp giải quyết vấn dé Phuong pháp xử lý tình huống - hành động Dạy học - Nghiên cứu - Quản ly - Lanh dao" Phương pháp giải quyết vấn để trong đời sống rất phong phú và đa dạng Tài liệu trong nước và thế giới có nhiều Song trình độ của chúng tôi có hạn, chắc không tránh khỏi nhiều bất cập, thiếu sót Rất mong quí vị độc giả và các đồng nghiệp lượng thứ, chỉ
bảo để lần tái bản sau sẽ được hoàn thiện hơn
+ Chuyên đề về giảng dạy theo phương pháp giải quyết vấn đề (PGQVĐ), phương pháp xử lý tình huống -
hành động (PPTH - H)
1 Phương pháp công tác và chức năng khoa học của kỹ sư nông nghiệp (1985)
2 Phương pháp khoa học, học và làm của kỹ sư nông lâm nghiệp (1996)
3 Khuyến nông học (1997)
- Chuyên đề về nghiên cứu theo PGQVĐIPPTH-H
1 Nuôi ong và hệ đình thái RVAC chống đói nghèo (1997)
2 Kinh tế nông nghiệp gia đình - nông trại.
Trang 9Chúng tôi xin chân thành cảm ơn GS.VS Vữ Tuyên Hoàng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, ŒS Đặng Hữu - Trưởng ban Khoa giáo Trung ương
đã tạo điều kiện cho chúng tôi nắm thêm nhiều thông tin, tư liệu về nền kinh tế trí thức
Xin chân thành cảm ơn các bạn thành viên của CLB "Tư duy gido duc": GS Lam Quang Thiệp, GS Vũ Văn Tảo, GS Lê Khánh Bằng, PGS Đặng Quốc Bảo, nhà báo Trường Giang và nhiều bạn đồng nghiệp khác đã cung cấp cho nhiều tư liệu về giáo dục có liên quan đến nền kinh tế trí thức và đã khuyến khích chúng tôi rất nhiều trong việc đi sâu vào
lĩnh vực phương pháp Xin chân thành cảm ơn bà Maria Nguyên Thị Hinh đã tận tình
giúp đỡ thu thập tư liệu và đánh máy ˆ
Nhân dịp công trình nghiên cứu này được giới thiệu với bạn đọc, một lần nữa chúng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành với Hiệp hội các Trường đại học Canada, các vị giáo sư thuộc Đại học Saskafchewan, ông tiến sĩ D.I.Acton, ba tiến sĩ M.Boehm, ông tiến sĩ Delwyn GŒ.Fredlund đã tài trợ cho việc biên soạn các cuốn “Khuyến nông học”,
“Kinh tế nông nghiệp gia đình nông trại" nay lại giúp đỡ có hiệu quả cuốn “Phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp xử lý tình huống - hành động, vận dụng trong dạy học - _ nghiên cứu, quản lý và lãnh đạo" được ra mắt bạn đọc ngay tại năm đầu của thế kỷ 21
CÁC TÁC GIÁ
Trang 12NHẬP ĐỀ
- Thế kỷ 21 là thế kỷ của xu hướng toàn cầu hoá của nền kinh tế tri thức, của những
xã hội thông tin, của những xã hội học tập, của nền văn minh trí tuệ Xu hướng toàn cầu hoá là một sự chuyển dịch tất yếu từ những xã hội "khép" sang những xã hội "mở" do tiến
bộ của khoa học công nghệ cao, đứng đầu là công nghệ thông tin (CNTT) - Nhờ có CNTT
mà những trí thức, những tiến bộ khoa học công nghệ mới, những sáng kiến phát minh được lan toả rất nhanh đến mọi quốc gia, mọi vùng lãnh thổ, mọi cộng đồng, mọi gia đình Người ta có thể học tập ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, tùy theo điểu kiện và phương
tiện, để mở rộng kiến thức; để mưu sinh, có việc làm, có tay nghề; để mưu cầu hạnh phúc,
biết ứng xử xã hội, biết giải quyết được những vấn đề đặt ra cho mình; để biết chung sống
trong hoà bình và phát triển
- Thực ra xu thế hoàn cầu hoá đã xuất hiện, từ những năm tám mươi, chín mươi của thế kỷ 20 khi mà tiến bộ của khoa học công nghệ thông tin đã đạt những tốc độ chưa từng thấy: khi mà hàng loạt nước mức thu nhập quốc dân theo đầu người từ 100 - 200 đô la, chỉ trong vòng ba, bốn chục năm đã đạt vài ngàn đô la như Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan Dat vài chục ngàn đô la như Nhật Bản, Đài Loan, Singapore Sang thế kỷ 21, với tiến
bộ siêu tốc của CNTTT và của những khoa học công nghệ cao khác, xu thế toàn cầu hoá sẽ được đẩy mạnh với một tốc độ mới Người ta đã thấy rõ ràng hiện tượng toàn cầu hoá là
không thể tránh khỏi, là không thể đảo ngược
- Toàn cầu hoá đem lại nhiều thuận lợi và cũng đem lại nhiều thách thức, cho mọi nước, ở mức độ khác nhau Hội nhập khu vực và hội nhập thế giới là một cuộc thi dua cạnh tranh và hợp tác để cùng tồn tại và cùng phát triển Trong cuộc thi đua mới này, khoa học và giáo dục giữ một vị trí vô cùng quan trọng Giáo dục là nguồn sản xuất và phát triển nhân lực có tri thức, là nguồn đào tạo và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Cũng
vì vậy mà nhiều nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật và gần đây như Hàn Quốc, Singapore, vẫn coi giáo dục là quốc sách hàng đầu Ngoài việc ưu tiên dành đầu tư cho khoa học và giáo dục, họ rất chăm lo đổi mới giáo dục cả về nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng nhân lực có tri thức Trong thời đại bùng nổ thông tin đổi mới nội dung giảng dạy không có nghĩa là kéo dài chương trình giảng dạy ra thêm cho nhiều, cho đủ lượng thông tin mới, một việc không thể nào làm được Xét cho cùng đổi mới nội dung giảng dạy cũng là phương pháp chọn lọc và xử lý thông tin mới, là đổi mới
phương pháp biên soạn giáo trình sao cho thích hợp với yêu cầu của thời đại
- Từ những năm 80, Pháp đã là một nước công nghiệp phát triển, nước Pháp có niềm
“tự hào chính đáng về nền giáo dục đại học của mình, vẫn được nhiều nước bạn thừa nhận
là một nền đại học có truyền thống và tiên tiến Tuy vậy, qua việc tổng kết và đánh giá kết quả đào tạo kỹ sư của 130 trường đại học, nước Pháp thấy rằng sẽ thua Mỹ, Đức, Nhật
1]
Trang 13trong nền kinh tế tri thức trước những thách thức của thế kỷ 21 nếu không mau đổi mới
nội dung và phương pháp đào tạo”)
Người kỹ sư tương lai của nước Pháp phải cự phách trong ngành chuyên môn của mình, đồng thời phải là nhà kinh tế học, nhà tài chính, nhà xã hội học, nhà tâm lý học, nhà đạo đức học, người có tài tổ chức, nhà sư phạm, có tài ứng xử và khả năng giải quyết
tốt vấn để”, Thời gian đào tạo sẽ phải rút ngắn không thể kéo dài bốn, năm năm như hiện
nay Chất lượng phải nâng cao, nếu không người kỹ sư tốt nghiệp sẽ lạc hậu so với siêu tốc của tiến bộ khoa học công nghệ Việc này tưởng chừng như là nghịch lý nhưng hoàn toàn có thể thực hiện được với những tiến bộ khoa học của công nghệ thông tin Vào đời hành nghề anh ta sẽ được đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên, định kỳ tại nhiều tổ chức giáo dục nâng cao hoặc qua nhiều phương tiện truyền thông
Ba biện pháp chính được áp dụng và thực hiện, đã có kết quả là:
1 Đào tạo kỹ sư tại các cực Fitech nghĩa là cực đào tạo kỹ sư bằng nghiên cứu công nghệ (Pôle de formation des ingénieurs par la recherche en technologie) Mỗi cực Firtech gồm có trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu, xí nghiệp hoặc vùng sản xuất được trang thiết bị bằng công nghệ hiện đại
2 Dạy và học theo phương pháp tình huống, phương pháp giải quyết vấn để Khuyến khích và bắt buộc phát triển khả năng tự học, học thêm cập nhật thông tin, mới
xử lý được những tình huống theo phương án tối ưu
3 Tăng thời lượng thực hành, chiếm khoảng 40% của học trình Việc hướng dẫn
và tổ chức sinh viên thực tập tốt nghiệp được tiến hành cả ở trong nhiều vùng của đất nước và Ở nước ngoài
Nền giáo dục Pháp được đổi mới cả về nội dung, phương pháp, công nghệ nhưng tập ` trung chủ yếu vào phương pháp dạy và phương pháp học để biết sâu biết rộng biết làm,
biết ứng xử giải quyết vấn đề, đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ trong thập kỷ 90,
trước khi bước vào thập kỷ 21
Tuy vậy những thách thức của thế kỷ 21 ma nén văn minh trí tuệ và cạnh tranh vẫn rất lớn đối với nước Pháp cũng như đối với các nước công nghiệp tương đương Đối với các nước phát triển thì những thách thức còn to lớn hơn nhiều
Sau đây chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu những đặc trưng của nền kinh tế tri thức, chiến lược phát triển giáo dục đào tạo của thế giới và của Việt Nam trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 21, những phương pháp hữu hiệu cần vận dụng trong lĩnh vực dạy học, nghiên cứu, trong lĩnh vực quản lý và lãnh đạo
t2 Báo thế giới (Le Monde) ngày 1311211985 bài: Trường đại học Pháp, kỹ sự Pháp trước thách thức của
tế Nhộ, — `
'® Gọi tắt tiếng Pháp là kỹ sư TEFSPSYMOP (T: Technicien: Nhà chuyên môn, E: Economiste: Nhà kinh
tế, F: Financier: Nha tai chinh; S: Sociogue: Nha xa hội học; PSY: Psychlogue: Nhà tâm lý; M: Moraliste: Nhà đạo đức học; O: Organisateur: Nhà tổ chức; P: Pédagogue: Nhà sư phạm )
12
Trang 14Chuong I
XU THE TOAN CAU HOA VA SU CHUYEN DICH TAT YEU
CUA BA NEN KINH TE XA HOI DAC TRUNG
CUA NEN KINH TE TRI THUC
I XU THE TOAN CAU HOA VA SU CHUYEN DICH TAT YEU CUA BA NEN
KINH TE
- Thời đại mới, cuối thế kỷ XX và bước vào thế kỷ XXI, chứng kiến một xu thế mới,
xu thế toàn cầu hoá Xu thế toàn cầu hoá nổi bật nhất là về nền kinh tế với ưu thế của những nền kinh tế tri thức, và về công nghệ với ưu thế của các công nghệ cao Trong các công nghệ cao thì công nghệ thông tin giữ vị trí quan trọng nhất Thông tin trở thành tài nguyên cần thiết của xã hội, giúp cho con người tác động vào các quá trình sản xuất làm
ra những sản phẩm sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên, bên đẹp rẻ, tác động có hiệu quả đến các công việc, giáo dục và đào tạo, nghiên cứu, quản lý điều hành và mọi lĩnh vực khác của đời sống xã hội Công nghệ thông tin đã là nhân tố quyết định nhất, thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá chuyển dịch từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, hình thành các xã hội thông tin, xã hội tri thức, nền văn minh trí tuệ
- Những năm 1945 - 1950, Hàn Quốc, Đài Loan đều là những phần của những đất nước nông nghiệp bị phân chia và bị chiến tranh tàn phá Ngày nay sau 50 năm, đã trở thành những cộng đồng dân cư công nghiệp mới, có thể được xếp vào hàng các nước hậu công nghiệp Năm 1945, Nhật là nước bị bại trận thảm thê với hai quả bom nguyên tử ném xuống hai thành phố Hirosima và Nagasaki Từ một nước nông nghiệp đã có một bộ phận được công nghiệp hoá, ngày nay Nhật đã là một trong bẩy nước G7 chỉ đứng sau Mỹ
là nước có nền kinh tế tri thức hàng đầu của thế giới Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Philippine những năm 1950 có tổng thu nhập quốc dân theo đầu người trên dưới 200 USD, ngày nay đã trở thành những nước công nghiệp hoặc sắp hoàn thành chương trình công nghiệp hoá đất nước Singapore thì đã đứng trong xã hội hậu công nghiệp Malaysia có đầy triển vọng, đã là một nước loại hàng đầu sản xuất các linh kiện
điện tử Một số nước ở Châu Âu, như Ireland với 3,5 triệu dân, ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ, một
số nước Châu Phi qua nhiều chặng đường lịch sử riêng của mình, cũng đã lần lượt tiến từ những nước nông nghiệp sang công nghiệp, sang hậu công nghiệp Với sự tiến bộ siêu tốc của công nghệ thông tin, hàng ngày, hàng giờ, hàng phút, họ được trao đổi thông tin qua mạng Internet Những sản phẩm mới, những sáng kiến, phát minh mới được phổ cập rất nhanh Những gì trước đây, nhiều nước cho là bí mật quốc gia thì nay không còn giá trị nữa Tính phụ thuộc lẫn nhau, mối tương tác giữa các nước phát triển với nhau, giữa các
13
Trang 15nước phát triển và các nước đang phát triển ngày càng tăng cường độ Nếu nền hoà bình
được mọi nước, mọi công dân của trái đất bảo vệ và giữ vững, nếu "tâm hoà bình” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá kiệt xuất thế
giới được để cao và phát triển (bốn biển năm châu đều là anh em) thì chấc thế giới đại đồng sẽ được xuất hiện trong thiên niên kỷ thứ bà”)
Trung Quốc là nước có đông dân cư nhất thế giới (1,2 tỷ người) căn cứ vào xu thế toàn cầu hoá và tính tất yếu của sự chuyển dịch các nền kinh tế xã hội, căn cứ vào những đặc điểm của Trung Quốc, người ta đã dự đoán rằng Trung Quốc sẽ trở thành siêu cường,
đứng trong hàng đầu của những nước có nền kinh tế tri thức trong những thập kỷ đầu của
thé ky 21
Nam 1988, Dang Tiểu Bình đã nêu rõ: "Khoa học kỹ thuật là lực lượng sản xuất thứ nhất Cần phải đưa điều dưới đây (vốn xếp hàng thứ chín trong thời kỳ cách mạng văn hoá) lên đứng vào hàng thứ nhát, trì thức là một bộ phận của giai cấp công nhân” (Tập 3
trang 275 - Văn tuyển Đặng Tiểu Bình)
Trước kia, Trung Quốc chỉ cho rằng khoa học kỹ thuật là yếu tố quan trọng hợp thành lực lượng sản xuất hoặc coi đó là một yếu tố sản xuất quan trọng Giờ đây, Trung Quốc nhận định rằng bẩn thân khoa học kỹ thuật là lực lượng sản xuất, bản thân trì thức
là lực lượng sản xuất Bởi vì loài người không những cần có sản phẩm vật chất mà cần cả sản phẩm tỉnh thần, tức tri thức
- Sự ra đời của khái niệm kinh tế tri thức đã là sự chú giải rõ ràng cho lý luận khoa học
kỹ thuật là lực lượng sản xuất thứ nhất Sự thay đổi của Trung Quốc qua thực tiễn hành động (các đặc khu khoa học công nghệ làm thí điểm ở Thâm Quyến, nay làm ở Thượng Hải, và nhiều tỉnh lớn vùng duyên hải, sự trở về với nước Trung Hoa: Hồng Kông, Ma Cao) cho phép người ta dự đoán bước tiến nhảy vọt của Trung Quốc trong thế kỷ này Nghiên cứu quá trình tiến hoá của nền văn minh, các nền kinh tế xét theo lực lượng sản xuất thì ứhời đại mới cũng là thời đại cùng tôn tại ba nên văn mình, nền văn mình nông nghiệp nền văn minh công nghiệp, nên văn mình trí tuệ của lịch sử loài người Mỗi nước cụ thể có tỷ lệ khác nhau về các nên văn minh đó Mỗi nền văn minh đều có những nét đặc thù mang tính lịch sử
- Nền văn minh nông nghiệp mở đầu bằng cái cầy đã có từ mấy ngàn năm
+ Tương ứng là nên kinh tế nông nghiệp dựa trên việc sử dụng nhiều sức lao động cơ bắp, khai thác đất nước
t° Nhà kinh tế học nổi tiếng, giáo sư Viện kỹ thuật học Massenly Mỹ, C Thurow trong cuốn "Tương lại của chủ nghĩa tư bản" của mình đã dành riêng một chương trình bày về các vấn đề kinh tế có tính toàn cầu
Ông chỉ ra rằng nguyên nhân hình thành kinh tế toàn cầu có 2 mặt: hệ tư tưởng và tiến bộ khoa học kỹ
thuat C.Thurow nhấn mạnh: “Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, đã xuất hiện là bất cứ cái gì cũng cỗ
thể sản xuất ở bất cứ nơi nào trến thế giới và tiêu thụ tới các nơi trên thế -giới” (Thurow 1998, trang
112)
14
Trang 16+ Nhân lực chủ yếu quyết định sự phát triển: lao động chân tay
- Nền văn minh công nghiệp mở đầu bằng máy hơi nước và máy công cụ đã có từ
hơn 2 thế kỷ nay
+ Tương ứng là nền kinh tế công nghiệp dựa trên sử dụng nhiều tư bản thiết bị,
khai thác tài nguyên thiên nhiên
+ Nhân lực chủ yếu quyết định sự phát triển: Người chuyên gia, công nhân lành
nghề
- Nền văn minh trí tuệ mở đầu bằng máy tính điện tử và công nghệ thông tin mới
cách đây khoảng năm chục năm
+ Tương ứng là nền kinh tế tri thức dựa trên việc sử dụng nhiều tri thức Thông tin là tài nguyên quan trọng nhất của nền kinh tế và của xã hội
+ Nhân lực chủ yếu quyết định sự phát triển: Chuyên gia công nghệ cao và
người lao động tri thức có nhiều khả năng sáng tạo
Il ĐẶC TRƯNG CỦA NỀN KINH TẾ TRI THỨC
- Xét về mặt quan hệ xã hội thì có thể gọi xã hội tương ứng với nền kinh tế tri thức là
xã hội thông tin hay xã hội tri thức Khái niệm này đã được thế giới thừa nhận UNESCO
có một chuyên mục để theo dõi phân tích quá trình một xã hội đang chuyển sang xã hội
thông tin, có chỉ số được công bố hàng năm Đã có khoảng 55 nước có các chỉ số đo sự
phát triển của xã hội thông tin
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD (Organisation for Economic Cooperation and Development) có định nghĩa kinh tế tri thức (Knowledge - based economy) là nền kinh tế trong đó tri thức đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội loài người Đó là nền kinh tế kiểu mới dựa trên cơ sở chiếm hữu, sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức và thông tin
- Nền kinh tế tri thức có một số đặc trưng như sau:
1 Tri thức trở thành nhân tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển: Nên kinh
tế nông nghiệp, nền kinh tế công nghiệp dựa vào các yếu tố hữu hình như đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn, máy móc, sức lao động Nền kinh tế tri thức dựa vào tri thức là
yếu tố vô hình, tri thức giữ vai trò quan trọng nhất đối với sự phát triển đẩy vốn, lao động đất đai là những yếu tố hữu hình xuống hàng thứ hai trong nền kinh tế trí thức, quyền sở hữu trí tuệ được luật pháp bảo vệ Cho nên người có sáng kiến phát minh làm giầu nhanh chóng Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế, khi siêu xa lộ thông tin
được triển khai toàn cầu, mức độ đóng góp của tri thức cho sự tăng trưởng kinh tế thế
giới sẽ tăng lên khoảng 90% vào cuối thập niên đầu của thế kỷ 21, hiện nay mới có khoảng 10% - 20% Ưu thế lớn nhất của một quốc gia trên thị trường toàn cầu là khả năng sáng tạo và khai thác tri thức
Trang 172 Công nghệ thông tin (CNTT) được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực: Mạng lưới thông tin, máy tính được thiết lập và phủ sóng hầu khắp cả nước, nối với hầu hết các
tổ chức, các gia đình Mọi người đều có nhu cầu thông tin và được truy cập vào các kho thông tin cần thiết cho mình Mọi lĩnh vực hoạt động trong xã hội đều có tác động của
CNTT để nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả
3 Hàm lượng chất xám chứa trong các sản phẩm ngày càng cao: Người ta dự kiến trong thế kỷ 21, trung bình lượng tri thức sẽ chiếm 90% dung lượng của một sản phẩm làm
ra Trong nền kinh tế tri thức (KTTT), các sản phẩm công nghệ cao với sự tập trung cao độ của chất xám sẽ dần dần thay thế các sản phẩm tập trung nhiều sức lao động và vật chất
4 Công nghệ đổi mới rất nhanh, vòng đời công nghệ rút ngắn: Quá trình từ lúc ra đời, phát triển rồi tiêu vong của một lĩnh vực sản xuất hay một công nghệ trở nên rất ngắn Có khi từ lúc ra đời đến khi tiêu vong chỉ vài năm thậm chí mấy tháng Chính vì
vậy mà muốn tồn tại và phát triển, một tổ chức sản xuất và dịch vụ phải luôn khuyến
khích những sáng kiến mới, luôn tìm ra những công nghệ mới Tri thức và kỹ năng của nhân lực lao động phải luôn luôn đổi mới, cập nhật Yêu cầu học tập không ngừng, xã hội luôn luôn đổi mới Vai trò của khoa học công nghệ là cực kỳ quan trọng trong các loại hình sản xuất, sản xuất công nghệ là loại hình quan trọng nhất Trong các kiểu đầu tư, đầu tư vô hình cho phát triển con người, đầu tư cho bồi dưỡng và đào tạo nhân tài, đầu tư mạo hiểm cho những sáng tạo chưa biết trước, ngày càng lớn
$ Quan hệ giữa các doanh nghiệp, vừa là cạnh tranh vừa là hợp tác: Trong cùng một lĩnh vực khi một công ty thành công hơn, lớn mạnh nhanh hơn, thì nhiều công ty khác phải tìm cách sát nhập hoặc chuyển hướng khác ngay, nếu không muốn bị phá sản
Vì luôn luôn nảy sinh công nghệ mới, nên xuất hiện nhiều công ty mới Và các công ty
ấy phải hợp tác với nhau, phải "mua nhau” để thành công ty lớn, có các công ty con trên khắp hoàn cầu Mô hình tổ chức doanh nghiệp không phải là mô hình đẳng cấp, có trung tâm chỉ huy nữa, mà là sơ đồ mạng, quan hệ ngang nhiều hơn Tổ chức như vậy linh hoạt, dân chủ, kích thích sáng tạo Các công ty con có quyền chủ động nhiều hơn
6 Một nên kinh té mo, mang tinh toàn cầu đang hình thành thay cho nền kinh tế đóng, khép kín trong quốc gia Nhiều xí nghiệp không còn quốc tịch Nhà kinh tế học nổi tiếng, giáo sư Viện kỹ thuật học Massenly Mỹ, C Thurow trong cuốn tương lai của chủ nghĩa tư bản của mình đã dành riêng một chương trình bày về các vấn đề kinh tế có tính toàn cầu, có hai mặt: hệ tư tưởng và tiến bộ khoa học kỹ thuật Thurow nhấn mạnh
"Lan đầu tiên trong lịch sử loài người đã xuất hiện hiện tượng là bất cứ cái gì cũng có
thể sản xuất bất cứ nơi nào và tiêu thụ ở mọi nơi khác trên trái đáf” Như vậy, nên kinh tế
đã vượt qua tính địa lý, không gian, thời gian Các dịch vụ trước hết là dịch vụ tiền tệ, điện tín, vận tải đang tạo ra kết cấu hạ tầng có tính toàn cầu Thông tin và tri thức không 16
Trang 18bị cột chặt vào một nước hay một khu vực, mà lưu động không hạn chế, có khả nãng mở rộng vô hạn Kỹ thuật không biên giới mở đường cho mỗi quốc gia truy cập tri thức và
thông tin một cách tự do
7 Xã hội học tập được hình thành, vì học tập thường xuyên, học tập suốt đời là yêu
cầu đối với mọi thành viên của các tổ chức sản xuất và dịch vụ, để có thể đáp ứng và thích
nghỉ với sự đổi mới thường xuyên của công nghệ, để cho mọi người trong xã hội thích
nghi với cuộc sống trong xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức Mọi người đều học tập, thường xuyên, học ở trường và học trên mạng Mọi người thường xuyên được bổ túc, cập
nhật kiến thức, phát triển trí sáng tạo, chủ động theo kịp sự đổi mới và có khả năng thúc
đẩy sự đổi mới
II THẾ GIỚI CHUẨN BỊ CHO NỀN KINH TẾ TRI THỨC
Để đánh giá nền kinh tế tri thức của một quốc gia, người ta thường xem tỉ lệ khối lượng các ngành kinh tế tri thức trong kinh tế quốc dân, hoặc số lượng người sử dụng internet Ngành KTTT là ngành mà công nghệ chiếm trên 2/3 tổng sản lượng Theo số liệu thống kê, trong bốn thập niên qua, sự phát triển khoa học công nghệ cao tao 70% tăng trưởng kinh tế của Mỹ; 60% của Canada, Đức; 78% của Nhật Bản và 73% của Anh quốc Về nhân lực trong các ngành CNTT, theo số liệu năm 1998 ở Mỹ có 9 triệu người tức là 3,6% dân số, ở liên hiệp Châu Âu chỉ có 4,5 triệu người tức 0,1% dân số, nên EU đang có chiến lược tăng nhanh nhân lực cho ngành này Hiện nay Mỹ dẫn đầu thế giới với khoảng 46%, Nhật Bản 25%, EU 20% dân số sử dụng internet Nhật Bản dự tính đến năm
2004 có 80% dân số (100 triệu người ) sử dụng internet
Trong các nước công nghiệp mới thì Singapore và Hàn Quốc có quyết tâm cao tiến vào KTTT Singapore phấn đấu trở thành một "Hòn đảo trí tuệ”, còn Hàn Quốc hy vọng vào cuối năm 2000 sẽ có 45% dân số (20 triệu người ) sử dụng Internet và cu6i nam 2003
sẽ có 30% kim ngạch ngoại thương thực hiện qua thương mại điện tử
Trong các nước đang phát triển, Trung Quốc có chiến lược chuẩn bị khẩn trương
đồng thời cho cả nền kinh tế công nghiệp và nền KTTT Hiện nay Trung Quốc đã đứng hàng thứ ba thế giới sau Mỹ, Nhật ngang hàng với Pháp, Đức về các sản phẩm công nghệ
cao trong tổng sản phẩm công nghệ xuất khẩu Ấn Độ cũng có nhiều cố gắng trong lĩnh vực phát triển CNTT: doanh thu từ xuất khẩu phần mềm dat hon 5 tỉ USD năm 2000 và
phấn đấu đến năm 2008 đạt 50 tỉ USD Vùng Bengalo Ấn Độ là một trong những trung
tâm sản xuất và xuất khẩu phần mềm lớn nhất Châu Á với hơn 250 công ty
Một số biểu bảng sau đây giải trình rõ thêm xu hướng toàn cầu hoá, bước chuyển
dịch tất yếu của các nền văn minh kinh tế Những biểu bảng này cũng giúp chúng ta, qua
đối chiếu so sánh nhận thức đựơc mình đang đứng ở đâu và phương hướng phấn đấu để tiến lên trong cuộc đua tranh đây thách thức của Việt Nam ở những thập kỷ đầu của thế
ky 21
—_—_———_—— _
là HOCT i MAI IAINGU 3U Ê&
Trang 19Bảng 1: Những đặc trưng chủ yếu của 3 nên kinh tế - xã hội
Các nước
TT Các đặc trưng bái tế hong Inn té công Kinh tế tri thức | và khu vực chủ
nghiệp AST sức | nghiệp OST tai (KT hau CN) yếu và tổng số người ) nguyên)
4 |Lao động Cơ bắp Cơ khí Tri thức
2 Trình độ ia eng Ben seed gidi Công nghệ Công nghệ cao
trang thiết bị mức thấp)
3 |GDP/người
3.1 Loại nước thu nhập < 765 Bangladesh,
thấp (USD) Trình độ lao | Giản đơn, cơ giới Nigeria, Trung
động và trang thiết bị hoá ít, thấp Quốc, Việt Nam
và 60 nước
oo 766 - 1700 Indonesia,
3.2 Loại nước trung bình ; Philipine, Ai
_|thấp A Trình độ lao động | L0 động thú Hos mm công + cơ giới Cap, Angiéri p UY
Nga, lran, Thổ
3.3 Loại nước t bình Ne 1701 - 3035 cơ Nhĩ Kỳ, Thái CN, hạ
thấp B Trình độ lao động ode z Lan, Ba Lan,
24 nước
3.4 Loại nước trung bình "- Nam Phi,
24 nước
Mỹ, Nhật Bản, 3.5 Loại nước có thu nhập > 9386 Đức, Anh, Pháp,
cao Trình độ lao động và „ ÝHàn Quốc |
trang thiết bị Công ngne cao Singapore cộng
33 nước
4_ |Kết cấu sức lao động
- Nông nghiệp * Trên 50% 10 - 20% * Dưới 10%
- Công nghiệp * 45 - 20* * Trên 30% * Dưới 20%
- Công nghệ cao 10 - 15% * Trên 40%
18
Trang 20
5 |Tam quan trọng của nghiên
cứu khoa học và giáo dục |* Nhỏ * Lớn * Rất lớn
* Binh quân trình độ văn | Tỷ lệ mù chữ cao | Trưng học Trung học
6 |Kết cấu Công nghệ
* Công nghệ thông tin 3 - 5% Gần 15%
|* Công nghệ sinhhọc - 2% Gần 10%
* Công nghệ năng lượng tái 2% Gần 10%
sinh và năng lượng mới
7 | Vai trò của truyền thôn ab NS Exe ey Ở l* Không lớn * Lớn * Rất lớn
Mức độ toàn cầu hoá kinh nue ag LOẠN call Na * Thấp * Khá cao * Rất cao :
tế thể giới
Chú ý: * Mặt phải và mặt trái của "toàn cầu hoá” trong tình hình hiện nay
* Trung Quốc: GDP/người: $620 Việt Nam: GDP/người: $400 Nguôn: 1! Ngô Qui Tùng- Kinh tế tri thức - NXB KHKT Bắc Kinh năm 1998
2! Phân loại của Ngân hàng thế giới về trình độ phái triển kinh tế các nước, các khu vực chủ yếu
Bảng 2: Giá trị gia tăng của ngành sản xuất thứ ba chiếm tỷ lệ bình quân
trong GDP của các loại nước (năm 1995)
Phản lại Số mẫu | lưng | hứng | tao | HP
Nước có thu nhập thấp 46 30.0 27.7 16.5 | 41.7
Nước có thu nhập trung bình thấp 38 36.3 24.3 51.0
Nước có thu nhập trung bình cao ; 13 10.8 33.9 21.8 55.2
TrungQuốc : 21 48 28 7 34
T5
Trang 21- Bảng 3: Tỷ lệ bình quân % nhân viên làm việc tại ngành sản xuất thứ ba
của các loại nước (khoảng năm 1994)
Phân loại Số mẫu Ngành SX I Ngành SX II Ngành SX III
Nước có thu nhập thấp 6 55.5 15.5 28.5
Nước có thu nhập trung bình thấp 28 34.5 23.1 41.6
Nước có thu nhập trung bình cao 14 23.5 23.5 53.1
(khoảng năm 1994)
Nhân Viên Nhân Nhân | Nhân viên Nhân wien Nhan met
7 ~ 5 kỹ thuật = sa " san xuat | san xuất Phan loai S6 mau vién vién | cung tiéu ˆ :
phu EU nghiệp quany uanly | thườn g| Pục hục vụ vi nghiệp | kiến trúc họng vận tải
Nước có thu nhập thấp 5 5.5 1.2 5.2 15.4 42.8 29.1 Nước có thu nhập 25 11.2 2.4 6.5 18.1 30.1 31.7
trung bình thấp
Nước có thu nhập 14 9.7 6.7 10.8 24.7 22.6 25.3 trung binh cao
Nước có thu nhập cao 27 17.5 9.0 15 23.0 5.6 28.9
Bảng 5: Tỷ lệ bình quân ?%o số dân 25 tuổi trở lên có giáo dục cao đẳng ở các loại nước
Phân loại Số mẫu Tỷ lệ % số dân 25 tuổi trở lên
Nước có thu nhập trung bình thấp 25 8.8
Nước có thu nhập trung bình cao 9 9.9
20
Trang 22Bảng 6: Tỷ lệ nhập học và tỷ lệ sinh viên tại trường so với số dan
ở các loại nước (đầu thập kỷ 90)
Phan lo S6mấu | na neo | trantvandan | (0A0)
Nước có thu nhập trung bình thấp 49 22.4 1946.0
Nước có thu nhập trung bình cao 18 15.8 1446.1
Nước có thu nhập cao 30 53.0 901.2
Trang 23Chương II
BỐI CẢNH - THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC
I BỐI CẢNH QUỐC TẾ
- Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại bắt đầu từ giữa thế kỷ XX phát triển với tốc độ ngày một cao Nhiều nước đã vượt qua tình trạng kém phát triển, mức sống tiếp tục được nâng lên theo những nhịp độ khác nhau tuỳ theo mỗi nước
Những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là khoa học công nghệ cao, đứng đầu là công nghệ thông tin đã đưa đến sự hình thành một nền kinh tế mới, nền kinh tế tri thức, hình thành nên những xã hội thông tin Khoa học, tri thức trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp là động lực cơ bản của sự phát triển xã hội
- Việc áp dụng rộng rãi các công nghệ hiện đại đang đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa
+ Về mặt kinh tế đang hình thành một nền kinh tế không biên giới Nhiều công ty đa
quốc gia đang đóng vai trò ngày càng quyết định trong sự phát triển của nền kinh tế thế giới Đầu tư nước ngoài và thương mại quốc tế gia tăng Đặc biệt nhờ thương mại điện tử
mà kinh tế hộ gia đình, các doanh nghiệp nhỏ có thể kết nối với thị trường toàn cầu Nhờ
vậy mà nhiều gia đình, nhiều đơn vị kinh doanh nhỏ vốn không nhiều đã làm giầu nhanh
chóng
+ Về mặt văn hoá do các phương tiện truyền thông, mạng viễn thông, các cuộc di dân, du lịch ngày càng gia tăng đang diễn ra một sự giao lưu và hội nhập văn hoá giữa các
quốc gia Đồng thời cũng đã diễn ra một cuộc đấu tranh gay gắt để bảo tồn nền văn hoá
của mình, trước nguy cơ bị đồng hoá bởi văn hoá của các nước giầu mạnh hơn
- Thế giới ngày nay đang chịu sự chỉ phối mạnh mẽ của xã hội toàn cầu hoá Bên cạnh những mặt tích cực như đã nói trên, đã xuất hiện nhiều mặt tiêu cực, nhiều thác
thức mà nhân loại phải đương đầu
+ Một là: Khoảng cách giàu nghèo giữa các nước công nghiệp phát triển và các nước kém phát triển ngày càng gia tăng Hố phân cách giầu nghèo trong từng nước nhất l: trong các nước đang phát triển một khi gia nhập vào kinh tế thị trường chung ngày cần; sâu thêm Tình trạng bất bình đẳng đó không thể không diễn ra nhiều cuộc xung đột + Hai là: Môi trường sống ngày càng bị ô nhiễm phá hủy do những chất độc hại củ:
nền công nghiệp phồn vinh thải ra Mặt khác, nạn đốt phá rừng, những lõ lụt lớn chư:
ae
Trang 24từng có ở đầu thế kỷ 20, nay diễn.ra liên tiếp với cường độ ngày càng cao Nhân tai cộng với thiên tai không những đe doạ đời sống của nhiều nước phát triển, lại còn làm cho
những nước nghèo, những vùng cư dân nghèo lại càng nghèo hơn
+ Ba là: Sự bùng nổ dân số, nạn thất nghiệp, nguy cơ thiếu hụt lương thực cho hàng trăm triệu người Kèm theo là những tệ nạn xã hội, trộm cướp, cờ bạc, ma tuý, mãi dâm, những bệnh hiểm nghèo như HIV - AIDS, bệnh do chất độc màu da cam, hậu quả của
những cuộc chiến tranh hủy diệt man rợ bằng những vũ khí tối tân, sản phẩm của công
nghệ hiện đại
+ Bốn là: Chiến tranh giữa nhiều sắc tộc ngày càng gia tăng, chiến tranh giữa các dân tộc vẫn rình rập loài người sau hai cuộc chiến ở vùng Vịnh chống IRAK, ở vùng Ban Căng chống Nam Tư vừa mới xảy ra ở những năm cuối cùng của thế kỷ 20
- Những căng thẳng khác: ý thức về vai trò và trách nhiệm của mình, Hội đồng quốc
tế về giáo dục cho thế kỷ XXI của UNESCO?') trước khi đề xuất giải pháp giải quyết vấn
_ để, còn nêu thêm nhiều căng thẳng khác cần phải vượt qua
+ Sự căng thẳng giữa toàn cục và cục bộ: Con người dân dân trở thành công dân toàn cầu mà không mất gốc, vẫn tiếp tục tham gia tích cực vào cuộc sống của quốc gia mình
và cộng đồng cơ sở mình
+ Sự căng thẳng giữa phổ biến và cá biệt: Sự toàn câu hoá về văn hoá được thực hiện
dần dần Làm sao hoà hợp mà không hoà tan, làm sao vẫn bảo tồn được truyền thống tốt
đẹp và bản sắc văn hoá của mình
+ Sự căng thẳng giữa dài hạn và ngắn hạn: Nhiều ý kiến muốn có những trả lời và
những giải pháp nhanh chóng, trong khi nhiều vấn đề gặp phải lại cần một chiến lược cải
cách có tính kiên nhẫn, hoà hợp và thương thảo Chính đó là trường hợp của chính sách giáo dục
+ Sự căng thẳng giữa sự cạnh tranh cần thiết và sự quan tâm bình đẳng và cơ may:
Khi khẳng định rằng cạnh tranh cần thiết là yếu tố thúc đẩy tiến bộ, thì cần phải chú ý
đem lại cho mỗi con người những phương tiện để nắm bất mọi cơ may cho mình Chính
nhận thức đó đã giúp ta xem lại và cập nhật quan niệm về giáo dục suốt đời, làm sao để hoà hợp sự cạnh tranh có tính kích thích, sự hợp tác mang tính tăng cường và sự đoàn kết
đem lại tính gắn bó
® Học tập: Một kho báu tiém dn (Learning: The Treasure within) la báo cáo của Hội đông quốc tế về giáo dục cho thế kỷ 21 do UNESCO thành lập năm 1993, nguyên Chủ tịch Hội đông Châu Au Jacques Delors (1985 - 1995) làm Chú tịch, báo cáo nhằm hỗ trợ các nước tìm tòi cách thức tốt nhất để kiến tao lai nền
giáo dục của mình, vì sự phát triển bên vững của con người UNESCO đã xuất bản 411996 (Bản tóm tắt
do chính ông J.Delors viết, đã được dịch ra tiếng Việt Người dịch Vũ Văn Tảo - NXBGD 1997)
23
Trang 25+ Su căng thẳng giữa trình độ phát triển phi thường về tri thức và những khả năng
nắm vững của con người:
Chương trình dường như ngày thêm nặng Như vậy cần phải, trong một chiến lược rõ
ràng của công cuộc cải cách, thực hiện việc lựa chọn, với điều kiện phải gìn giữ những
nhân tố chủ yếu của nền giáo dục cơ sở, để học sao cho sống tốt hơn bởi kiến thức, bởi
thực nghiệm và bởi sự xây dựng một văn hoá cá nhân
+ Šự căng thẳng giữa tri thức và vật chất: Không có gì cao quí bằng nhiệm vụ của
giáo dục là nhằm khuyến khích từng con người hành động phù hợp với truyền thống và niềm tin của mình, trong sự tôn trọng đầy đủ những người khác, là nhằm nâng cao tư
tưởng và tỉnh thần lên đến tầm cỡ tính phổ biến, có phần còn vượt qua chính bản thân
mình Sự tiếp tục tồn tại của loài người phụ thuộc vào điều này
II CHÌA KHOÁ ĐỂ VƯỢT QUA NHỮNG THÁCH THỨC CỦA THẾ KỶ XXỊ,
DO XU THẾ TOAN CAU HOA
Hội đồng quốc tế về giáo dục cho thế kỷ 2l trình bày trong cuốn “Học tập: Một kho báu tiêm ẩn” đặt vấn đề khi nhân loại bước vào thế kỷ 21, trong xu thế toàn cầu hoá và cách mạng công nghệ với nhiều sự căng thẳng phổ biến, thì “một trong những chìa khoá
để vượt qua những thách thức của thế kỷ 21 là giáo dục, một trong những con đường chủ
yếu phục vụ sự phát triển con người sâu sắc hơn và hài hoà hơn, và từ đó có thể day lui tình trạng nghèo khổ, bài trừ nhau, không hiểu nhau, áp bức nhau"
Triết lý giáo dục này được thể hiện vào tư tưởng chủ đạo là lấy “học thường xuyên suốt đời" làm nên móng, xây dựng bốn trụ cột của giáo dục “học để biết, học để làm, học
để cùng sống với nhau và học để làm người hướng tới một xã hội học tập” nhằm thực hiện
một "ảo tưởng cần thiết" là không để một tài năng nào, được coi là những kho báu, vùi sâu trong lòng của mỗi con người, lại bị lãng quên mà không được khai thác
"Trong triển vọng một xã hội toàn cầu ra đời một cách khó khăn, giáo dục đứng ở
trung tâm của sự phát triển vừa của con người, vừa của cộng đồng Giáo dục có sứ mạng giúp cho mọi người, không trừ một ai, được phát huy tất cả mọi tài và tất cả mọi tiềm lực sáng tạo, bao gồm ca tinh than trách nhiệm đối với đời sống của bản thân và việc dat được những mục đích cá nhân”
+ Học tập suốt đời: Giáo dục và học tập suốt đời sẽ cung cấp cho các cá nhân một
giấy "thông hành cơ động" mà họ rất cần có nhằm tự điều chỉnh trước những đòi hỏi về
sự mềm dẻo và sự thay đổi mà họ phải đối mặt trong một thế giới đang chuyển động từ những xã hội nông nghiệp, những xã hội công nghiệp hoá theo kiểu truyền thống sang những xã hội kiến thức đang xuất hiện và nổi trội lên Ý tưởng “đặt việc học tập suốt đời
vào frung tâm của xế hội” được coi như một bước nhảy về chất trong sự phát triển của
24
Trang 26giáo dục Cốt lõi để học tập suốt đời có hiệu quả là mỗi con người phải học cách học
Như vậy học tập suốt đời bao gồm cả nội dung (học gì cần thiết cho mình, cho cuộc sống của cộng đồng) và phương pháp (phương pháp học và phương pháp hành)
+ Học để biết: Phải tính đến những thay đổi nhanh chóng do tiến bộ khoa học và những hình thức mới của hoạt động kinh tế và xã hội mang lại Cần phải hoà hợp một cơ
sở văn hoá chung đủ rộng với khả năng làm việc sâu trên một số vấn để Cơ sở văn hoá
chung đó tạo ra ít nhiều tấm giấy thông hành cho một nền giáo dục thường xuyên, trong mức độ người học còn thích thú, nhưng đồng thời cũng đặt nền móng cho việc học A suốt đời Học để biết bao gồm cả học-hỏi, vì có hỏi thì mới hiểu, có hiểu mới biết, có biet mới suy, học phải đi đôi với hành
+ Học để làm: Học một nghề để có việc làm, rất cần tạo thêm một năng lực giúp cho con người xử lý được nhiều tình huống mới, thường ta không thể thấy trước được, và giúp cho con người làm việc theo tinh thần đồng đội, một đặc điểm mà những phương pháp dạy học hiện nay rất coi nhẹ Trong nhiều trường hợp, năng lực và những kỹ năng này, ngày càng nằm trong tầm tay của những học sinh, sinh viên, nên họ có điều kiện tự trắc nghiệm
và tự làm phong phú mình bằng sự tham gia những hoạt động xã hội và nghề nghiệp Song song với việc học tập Điều này minh chứng rằng những hình thức khác nhau của sự xen kẽ giữa nhà trường và lao động phải có vị trí quan trọng ngày một gia tăng
+ Học để cùng sống với nhau: Đó cũng là học để biết người, biết giá trị, mặt mạnh, mặt yếu của người; biết mình, biết thời, biết đủ, biết dừng (không tham lam, không đi quá giới hạn) Năm biết đó (ngũ tri: tri bị, tri lý, tri thời, tri túc, tri chỉ) là cơ sở của học để cùng sống với nhau, hợp tác với nhau để cùng hưởng lợi (vật chất, tỉnh thần), an bình và hạnh phúc Chính xuất phát từ đó mà kiến tạo một tinh thần mới thúc đẩy thực hiện những
dự án chung hoặc giải quyết một cách thông minh và hoà bình những xung đột thường không tránh khỏi
+ Học để làm người, trụ cột thứ tư của giáo dục: Đó là chủ đề nổi trội của báo cáo
Edgar Faure: "Học để làm người" công bố năm 1972 dưới sự bảo trợ của ƯNESCO Những khuyến cáo đó, theo Jacques Delors đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự Vì thế
kỷ 21 đòi hỏi ở mỗi con người một năng lực tự chủ và xét đoán cao hơn gắn bó với sự tăng cường trách nhiệm cá nhân, trong nỗ lực nhằm đạt được mục đích chung Báo cáo
nhấn mạnh đến một đòi hỏi trong tương lai: Không được để một tài năng nào, như một
kho báu tiểm ẩn trong từng con người không được khai thác Thí dụ: những năng lực như
trí nhớ, sự lập luận, trí tưởng tượng, những khả năng thể lực, thẩm mỹ, sự dễ dàng giao tiếp với những người khác Những điều này, xác nhận sự cần thiết phải hiểu chính bản thân mình tốt hơn nữa
“Học để làm người” cũng là truyền thống của Việt Nam ngàn năm văn hiến, cũng là nguyện vọng cao cả nhất của những bà mẹ Việt Nam dẫu thuộc lớp nghèo nhất “Nghèo
25
Trang 27mấy thì nghèo cũng phải kiếm cho con dăm ba chữ để nên người” Nên người là người có học, hướng thiện (tốt lành không làm việc ác như trộm cướp, cờ bạc, nghiện hút ) có nghề, có địa vị xứng đáng trong xã hội Chữ "con người” ở Việt Nam thật là hay có nghĩa hàm xúc hơn hẳn những chữ người của nhiều dân tộc khác (homme, man, nhân)
Trong "con người" có "con” là động vật mang thú tính (tham ăn, dâm dục, lợn đực con nhảy mẹ, cắn xé nhau, ăn thịt nhau, cá lớn nuốt cá bé ), có "người” mang thần tính (đạo đức, có tâm trong sáng, cần kiệm liêm chính, có ý thức trách nhiệm xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho mình, cho cộng đồng )
Người vô học thì thú tính phát triển, thần tính giảm sút Người có học vấn (hiểu biết sâu rộng do trong quá trình học, chịu hỏi để học một biết mười) được xã hội Việt Nam rất tôn trọng, xếp đứng hàng đầu trong các tầng lớp xã hội Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ năm cánh sao vàng trên nền cờ đỏ là biểu tượng của Sĩ - Nông - Công - Thương -
Binh hăng hái làm cách mạng để đổi mới cuộc đời mình
+ Xã hội học tập: Xã hội học tập dựa trên những thành tựu khoa học, sự cập nhật và việc ứng dụng tri thức Đó là ba khía cạnh cần nhấn mạnh trong quá trình giáo dục Vì
"xã hội thông tin" đang phát triển, những cơ hội tiếp cận những dữ liệu và sự kiện được gia tăng, nên giáo dục cần phải giúp cho mọi người sử dụng được những thông tin, biết
II THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ
VÀ HIỆN ĐẠI HOÁ CỦA VIỆT NAM
Trang 28mười năm liền (1989 - 2000) đứng hàng thứ hai trên thế giới, đời sống nhân dân nói chung
được nâng cao với đường lối đúng đắn về chính trị - ngoại giao, thuận theo xu thế toàn cầu hoá Việt Nam đã có một vị thế mới ở trong khu vực và thế giới
- Việt Nam tiến hành công nghiệp hoá và hiện đại hoá với xuất phát điểm là một
nước nông nghiệp, 76% dân cư sống ở nông thôn (điều tra dân số năm 1999) sản xuất
nông nghiệp chiếm khoảng 26% thu nhập quốc dân (1998) Trong quá trình công nghiệp hoá sẽ diễn ra sự chuyển dịch một cách cơ bản cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo hướng đến năm 2010 giảm tỷ lệ đóng góp của Nông - Lâm - Ngư nghiệp trong GDP xuống còn 16 - 17%, tăng tỷ lệ đóng góp của công nghiệp lên 40 - 41%., dịch vụ lên đến
42 - 43% Vào năm 2010 giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống mức 50%, lao động công nghiệp và xây dựng chiếm 24%, lao động dịch vụ chiếm 26%
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhiều công nghệ hiện đại, công nghệ cao sẽ được sử dụng trong những lĩnh vực then chốt, mặt khác những công nghệ đòi hỏi đầu tư ít, thu hút nhiều lao động cũng được sử dụng rộng rãi để tạo thêm nhiều công ăn việc làm đặc biệt là lao động dư thừa ở nông thôn
- Việt Nam đang cùng với toàn nhân loại ở trong thời kỳ chuyển dịch lên nền kinh tế tri thức Việt Nam đang thực hiện một chuyển dịch kép: về tổng thể tiến lên nền kinh tế công nghiệp và ở những bộ phận hoặc ở mặt nào đó đi vào nền kinh tế tri thức, ngành bưu điện viễn thông Việt Nam là một ví dụ
+ Thách thức:
- Sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học công nghệ mới và sự quá độ sang nền kinh tế tri thức của nhân loại đã đặt các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam trước những thách thức gay gắt Các nước đang phát triển là các nước nghèo nói chung và hiện nay là các nước nghèo thông tin Theo số liệu thống kê quốc tế, sự chênh lệch giữa các nước giầu và nước nghèo ở đầu thế kỷ 20, trung bình là 30 lần, ở giữa thế kỷ là cỡ 60 lần, ở cuối thế kỷ cỡ 90 lần Sự chênh lệch giầu nghèo này lại có tác động xấu đến sự phát triển
các nước nghèo để tiến lên nền kinh tế tri thức Thêm vào đó điều kiện làm việc và đời
sống khó khăn ở các nước nghèo tạo nên sự chảy máu chất xám từ nước nghèo sang nước giàu Tất cả thách thức nói trên làm cho các nước nghèo dường như không có đường ra
- Những thách thức do tình trạng kinh tế của Việt Nam:
Một thách thức gay gắt đối với nước ta là tình trạng nghèo nàn và lạc hậu về kinh tế của đất nước, GDP trên đầu người mới đạt khoảng 352 USD/năm 1998, do đó đầu tư cho giáo dục - đào tạo theo đầu người so với các nước trong khu vực là quá thấp (năm 1998 là
11USD/người) Nguy cơ tiếp tục tụt hậu về phát triển kinh tế và thiếu điều kiện để phát
triển các lĩnh vực xã hội khác còn cao Các thể chế kinh tế và nề nếp quản lý xã hội hình
27