1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN

97 500 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 2,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mức độ đánh giá của nhân viên y tế, nhân viên vệ sinh về công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh...73 Biểu đồ 4.6: Mức độ quan tâm của nhân viên y tế, nhân viên vệ si

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

KHOA MÔI TRƯỜNG

-& -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀTÀI:

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y

TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH,

TỈNH NGHỆ AN

Khóa : K56

Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Hoàng Thái Đại

Hà Nội - 2016

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC SƠ ĐỒ ix

DANH MỤC BIỂU ĐỒ ix

Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

Phần 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

2.1 Tổng quan về chất thải rắn y tế 3

2.1.1 Khái niệm chất thải rắn y tế 3

2.1.2 Phân loại chất thải rắn y tế 3

2.1.3 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn y tế 6

2.1.4 Thành phần chất thải rắn y tế 7

2.2 Cơ sở pháp lý về quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam 10

2.3 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi trường và con người 11

2.3.1 Đối với sức khỏe con người 11

2.3.2 Đối với môi trường 14

2.4 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới và Việt Nam 16

2.4.1 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới 16

2.4.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam 21

Phần 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 29

3.2 Nội dung nghiên cứu 29

3.2.1 Tổng quan về bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh 29

Trang 3

3.2.2 Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa Thành phố

Vinh 29

3.2.3 Hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh 29

3.2.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh 29

3.3 Phương pháp nghiên cứu 29

3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 29

3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 30

3.3.3 Phương pháp tổng hợp phân tích và xử lý số liệu 32

3.3.4 Phương pháp so sánh với tiêu chuẩn, quy chuẩn và các văn bản pháp luật 32

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

4.1 Tổng quan về bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh 33

4.1.1 Vị trí địa lý 33

4.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển 34

4.1.3 Quy mô, cơ cấu tổ chức, tình hình khám chữa bệnh của bệnh viện 36

4.2 Thực trạng phát sinh CTRYT tại bệnh viện Đa khoa thành phốVinh 39

4.2.1 Nguồn phát sinh CTRYT tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh 39

4.2.2 Khối lượng và thành phần CTRYT phát sinh tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh 41

4.3 Hiện trạng công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh 49

4.3.1 Quản lý về mặt hành chính 49

4.3.2 Quản lý về mặt kỹ thuật 55

4.3.3 Đánh giá của NVYT, nhân viên vệ sinh, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân về công tác quản lý CTRYT của bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh 72

4.3.4 Đánh giá ưu, nhược điểm của công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh 78

4.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTRYT tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh 80

4.4.1 Giải pháp hành chính 80

Trang 4

4.4.2 Giải pháp kỹ thuật 81

4.4.3 Giải pháp về mặt giáo dục, tuyên truyền cho cán bộ công nhân viên bệnh viện và bệnh nhân, người nhà bệnh nhân 82

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84

5.1 Kết luận 84

5.2 Kiến nghị 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC

Trang 5

CTYTNH Chất thải y tế nguy hại

CTRYTTT Chất thải rắn y tế thông thườngCTRYTNH Chất thải rắn y tế nguy hại

KSNK Kiểm soát nhiễm khuẩn

NVYT Nhân viên y tế

TNMT Tài nguyên Môi Trường

WHO Tổ chức y tế thế giới

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế 6

Theo Nguyễn Đức Khiển, thành phần CTRYT tại Việt Nam được thống kê như trong bảng 2.2 8

Bảng 2.2: Thành phầnCTRYT được thống kê ở Việt Nam 9

Bảng 2.3: Các dạng bệnh có thể được gây ra do CTRYT 12

Bảng 2.4: Lượng CTRYT phát sinh theo giường bệnh trên thế giới 16

Bảng 2.5: Lượng CTRYT phát sinh thay đổi theo mức thu nhập 17

Bảng 2.6: Lượng CTRYT phát sinh tại các bệnh viện 22

Bảng2.7: Khối lượng CTRYT phát sinh ở các khoa trong bệnh viện 23

Bảng 4.1: Các khoa của bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh 37

Bảng 4.2: Số ca phẫu thuật và lượng bệnh nhân khám chữa bệnh tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh trong giai đoạn 2011-2015 39

Bảng 4.3: Khối lượng CTRYT phát sinh tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh 9 tháng đầu năm 2015 43

Bảng 4.4: Khối lượng CTRYT phát sinh trung bình trong ngày tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh 45

Bảng 4.5: Kết quả phân loại CTRYT tại Bệnh viện Đa khoaThành phố Vinh năm 2015 47

Bảng 4.6: Trang thiết bị thu gom, phân loại, vận chuyển CTR tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh so với quyết định số 43/2007-BYT về quản lý chất thải y tế 57

Bảng 4.7: Số lượng dụng cụ, thiết bị để thu gom, vận chuyển CTR 59

Bảng 4.8: Hiện trạng phân loại CTRYT của NVYT 62

Bảng 4.9: Kiến thức về mã màu sắc trong phân loại CTRYT 63

Bảng4.10: Hoạt động thu gom CTRYT của NVYT, nhân viên vệ sinh 65

Bảng 4.11: Hoạt động vận chuyển CTRYT của NVYT, nhân viên vệ sinh 67

Bảng 4.12: Hiện trạng nơi lưu giữ CTRYT tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh so với quyết định số 43/2007/BYT về quản lý chất thải y tế 68

Bảng 4.13: Ý kiến, nhận thức của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân về công tác quản lý CTRYT, vệ sinh môi trường tại bệnh viện 76

Trang 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 4.1: Cơ cấu tổ chức của bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh 38

Sơ đồ4.2:Nguồn phát sinh CTRYT tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh 40

Sơ đồ 4.3: Sơ đồ tổ chức quản lý CTRYT tại bệnh viện Đa khoaThành phố Vinh 50

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Thành phần CTRYT dựa trên đặc tính lý hóa tại Việt Nam 8 Biểu đồ 4.1: Khối lượng CTRYT phát sinh trong giai đoạn 2011-2014 của bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh 41 Biểu đồ 4.2: Khối lượng CTRYT phát sinh trong một tuần tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh tháng 10, 11, 12 năm 2015 46 Biểu đồ 4.3: Tỷ lệ thành phần CTRYT tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh năm 2015 48 Biểu đồ 4.4: Mức độ đánh giá của nhân viên y tế, nhân viên vệ sinh về tầm quan trọng của công tác quản lý CTRYT hiện nay 72 Biểu đồ 4.5 Mức độ đánh giá của nhân viên y tế, nhân viên vệ sinh về công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh 73 Biểu đồ 4.6: Mức độ quan tâm của nhân viên y tế, nhân viên vệ sinh đến công tác quản lý CTRYT 74 Biểu đồ 4.7: Mức độ lo sợ bị lây nhiễm của nhân viên y tế, vệ sinh trong khi làm việc 75 Biểu đồ 4.8: Đánh giá mức độ hài lòng của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân trong việc quản lýCTRYT của bệnh viện 77

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1: Vị trí địa lý của bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh 33 Hình 4.2: Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh 34 Hình 4.3: Một số hình ảnh tại khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn 52 Hình 4.4: Hình ảnh các thùng rác nhỏ được bố trí trên hành lang các khoa, phòng.60 Hình 4.5: Thùng rác loại lớn 60 Hình 4.6: CTRYT được phân loại ngay tại nguồn (xe tiêm được trang bị các túi/hộp

màu vàng, màu trắng) 64 Hình 4.7: Hình ảnh CTRYT thu gom không đúng quy định 66 Hình 4.8: Hình ảnh nhà kho lưu giữ chất thải sinh hoạt, chất thải tái chế và chất thải

nguy hại 69 Hình 4.9: Lò đốt CTRYT của bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh 71

Trang 9

Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Môi trường đang là mối quan tâm hàng đầu của con người Xã hội ngàycàng phát triển, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện và khôngngừng được nâng cao nên nhu cầu chăm sóc sức khỏe trở thành một nhu cầuthiết yếu Nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sứckhoẻ của nhân dân, hệthống các cơ sở y tế không ngừng được tăng cường, mởrộng và hoàn thiện, tập trung chủ yếu ở các khu vực đông dân cư Theo thống

kê hiện nay, tại nước ta có 13.640 cơ sở y tế, trong đó có 1.263 cơ sở khámchữa bệnh, 1.016 cơ sở y tế dự phòng, 77 cơ sở đào tạo y dược, 180 cơ sở sảnxuất thuốc và 11.104 trạm y tế xã, phường, thị trấn Mỗi ngàyphát sinh 450tấn chất thải y tế, trong đó có 47 tấn chất thải rắn y tế nguy hại Dự báo khốilượng chất thải rắn y tế phát sinh trên địa bàn cả nước năm 2015 là 590tấn/ngày, năm 2020 là khoảng 800 tấn/ngày Cho đến nay, tỷ lệ giường bệnh

thực kê trên vạn dân là 28,1 tăng 3,4% so với năm 2013(Bộ Y tế, 2015).Việc

tăng số lượng giường bệnh thực tế đồng nghĩa với việc lượng chất thải rắn y

tế thải ra môi trường ngày càng nhiều,góp phần gây ra những nguy cơ tiềm ẩnkhôn lường cho sức khỏe con người và môi trường

Chất thải rắn y tế là môi trường chứa đựng các loại vi sinh vật gâybệnh, các chất độc hại như hóa chất, chất gây độc tế bào, chất phóng xạ Tuychỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp nhưngnếu không có phương pháp đúng đắn để xử lý, các thành phần nguy hại trongchất thải y tế sẽ là ẩn họa gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởngđến sức khỏe cộng đồng dân cư và môi trường

Quản lý hợp lý chất thải rắn y tế là một trong những cách hiệu quả đểngăn chặn những tác hại xấu của chất thải rắn y tế tới sức khỏe con người vàmôi trường Tuy nhiên, việc quản lý chất thải rắn y tế hiện nay còn mang tínhchất rời rạc, chưa đem lại hiệu quả cần thiết.Theo Cục Quản lý môi trường y

Trang 10

tế (2011), hiện mới có khoảng 44% các bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải

y tế nhưng nhiều nơi đã rơi vào tình trạng xuống cấp nghiêm trọng Đáng nói,ngay ở các bệnh viện tuyến trung ương vẫn còn tới 25% cơ sở chưa có hệthống xử lý chất thải y tế, bệnh viện tuyến tỉnh là gần 50%, còn bệnh viện

tuyến huyện lên tới trên 60% (Phan Thị Hải Liên, 2015)

Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh - là bệnh viện hạng II, hiện có 21khoa phòng trong đó có 13 khoa lâm sàng, 2 khoa cận lâm sàng và 6 phòngchức năng với 230 giường bệnh Tổng kết năm 2014, bệnh viện có khoảng153.584 lượt người đến khám chữa bệnh, có tới 65.237 lượt chụp X-quang,trên 650.675 lượt xét nghiệm, số bệnh nhân điều trị nội trú tăng 18% so với

các năm trước, tỷ lệ sử dụng giường bệnh là 154,6%.(Bệnh viện Đa khoa

thành phố Vinh, 2014).

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội bệnh viện

Đa khoa Thành phố Vinh được mở rộng hơn cũng như được quan tâm đầu tư

về trang thiết bị y tế, chất lượng khám chữa bệnh được nâng lên và ngày càngphát triển.Nhưng cùng với đó là lượng chất thải rắn y tế phát sinh ra ngàycàng nhiều, vì vậy công tác quản lý chất thải rắn y tế càng phải được chútrọng hơn Đây thực sự là mối quan tâm lo lắng không chỉ riêng đối với cán

bộ nhân viên bệnh viện mà cả với người dân sống quanh khu vực bệnh viện

Chính vì những lý do trên, tôi quyết định thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện

trạng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế ở bệnh viện Đa khoaThành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho hệ thống quản

lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh

Trang 11

Phần 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Tổng quan về chất thải rắn y tế

2.1.1 Khái niệm chất thải rắn y tế

Chất thải y tế (CTYT)là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được phát sinh từ

các cơ sở y tế (Bệnh viện, Trung tâm Y tế, các phòng thí nghiệm, trạm Y tế,các cơ sở y tế tư nhân,…).Bao gồm chất thải thông thường và chất thải y tế

nguy hại (Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT, ngày 30/11/2007)

Chất thải rắn y tế (CTRYT) là chất thải y tế ở thể rắn, phát sinh từ các

hoạt động y tế Bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn y tế nguy

hại.(Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT, ngày 30/11/2007)

Chất thải y tế thông thường(CTYTTT): là chất thải y tế không chứa

các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ.(Quyết định số

43/2007/QĐ-BYT, ngày 30/11/2007)

Chất thải y tế nguy hại (CTYTNH) là chất thải y tế chứa yếu tố nguy

hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc,phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu

những chất thải này không được tiêu hủy an toàn.(Quyết định số

43/2007/QĐ-BYT, ngày 30/11/2007).

Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban

đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu

hủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện.(Quyết định số

43/2007/QĐ-BYT, ngày 30/11/2007).

2.1.2 Phân loại chất thải rắn y tế

2.1.2.1 Phân loại theo hệ thống phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2014)

Chất thải y tế được chia làm hai nhóm: chất thải y tế nguy hại và chấtthải y tế thông thường

Trang 12

Chất thải y tế thông thường: đó là các chất thải không độc hại, về bản chất

tương tự như chất thải sinh hoạt Bao gồm giấy, bìa các tông, nhựa,

Chất thải y tế nguy hại:

- Chất thải là bệnh phẩm: mô, cơ quan, phần tử bào thai người, xác động vật

thí nghiệm, máu, dịch thể

-Chất thải chứa phóng xạ: chất thải từ quá trình chiếu chụp X-quang, phân

tích tạo hình cơ quan trong cơ thể, điều trị và khu trú khối u

-Chất thải hóa học: bao gồm các loại phế thải rắn, lỏng và khícó tác dụng độc

hại, ăn mòn, gây cháy hay nhiễm độc gen

-Chất thải nhiểm khuẩn: gồm các chất thải chứa các tác nhân gây bệnh như vi

sinh vật kiểm định, bệnh phẩm bệnh nhân bị cách ly hoặc máu nhiễm khuẩn

- Chất thải sắc nhọn: là chất thải có thể làm rách hoặc tổn thương da bao gồm

cả kim tiêm, kim tiêm dưới da, dao mổ, bộ truyền Dù có hay không bịnhiễm khuẩn, chất thải này được coi là chất thải y tế nguy hại cao và cần được

xử lý như chất thải có nguy cơ nhiễm khuẩn

- Chất thải dược phẩm: Chất thải dược phẩm bao gồm thuốc quá hạn, thuốc

không dùng hoặc các loại vaccin, huyết thanh, kể cả chai, lọ đựng chúng

- Chất thải gây ung thư (genotoxic) và gây độc tế bào (cytotoxic): chất thải

genotoxic có thể bao gồm một số loại thuốc kìm tế bào, chất nôn, nước tiểuhoặc phân của bệnh nhân điều trị với các thuốc kìm tế bào, hóa chất và cácvật liệu phóng xạ

- Chất thải chứa kim loại nặng độc: Chất thải chứa kim loại nặng như chì,

thủy ngân, asen

2.1.2.2 Phân loại theo hệ thống phân loại của Việt Nam

Theo Quy chế quản lý chất thải y tế ban hành theo quyết định số43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế, CTYT được phânloại dựa vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại.Theo cách phân loại này chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5

Trang 13

nhóm sau:

Chất thải lây nhiễm gồm các loại chất thải:

+Chất thải sắc nhọn (loại A): là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặcchọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn củadây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thuỷ tinh vỡ vàcác vật sắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế

+ Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): là chất thải chứa mầmbệnh với số lượng và mật độ đủ gây bệnh Bao gồm vật liệu bị thấm máu, thấmdịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly

+Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): là chất thải phát sinh trongcác phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm

+Chất thải giải phẫu (loại D): bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thểngười, rau thai, bào thai nội tạng và xác động vật thí nghiệm

Chất thải hóa học nguy hại gồm:

+ Dược phẩm quá hạn, kém chất lượng không còn khả năng sử dụng.+ Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế

+ Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụdính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằnghóa trị liệu

+ Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kếthủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắcquy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ

từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)

Chất thải phóng xạ: gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát

sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất

Bình chứa áp suất: bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga Các bình này

dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt

Chất thải thông thường: là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm,

Trang 14

hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:

+ Chất thải sinh hoạt từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly).+ Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọthủy tinh, chai huyết, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín.Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất thải nguy hại

+ Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu,vật liệu đóng gói, thùng carton, túi nilon, túi đựng phim

+ Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh

2.1.3 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn y tế

Nguồn gốc phát sinh CTRYT chủ yếu là bệnh viện, các cơ sở y tế khácnhư: trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh,phòng khám ngoại trú, các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu y sinh học,

Các nguồn xả thải chủ yếu là ở các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật (Bộ

Tài nguyên và Môi trường, 2011)

Bảng 2.1: Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế Loại chất thải

Chất thải sinh

hoạt

Các chất thải ra từ nhà bếp, các khu nhà hành chính, các loại bao gói

(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường , 2011)

2.1.4 Thành phần chất thải rắn y tế

2.1.4.1 Thành phần chất thải rắn y tế trên thế giới

Trang 15

Theo nghiên cứu của World Bank (2012), trên thế giớiCTYT chỉ chiếm1% trong tổng số chất thải rắn (CTR) phát sinh Tất cả chất thải phát sinhtrong một cơ sở chăm sóc sức khỏe đều được định nghĩa là CTYT Nhưngtrong thực tế, có tới 75-90%là chất thải thông thường Nhóm còn lại mangnguy cơ cao hơn được định nghĩa là CTYTNH Tuy nhiên, trong nhóm này,

có tới khoảng 80% chất thải mang nguy cơ lây nhiễm thấp, còn lại một phầnnhỏ là chất thải lây nhiễm (băng, gạc dính máu, bộ phận cơ thể giải phẫu),chất thải sắc nhọn, chất thải hóa học hoặc chất thải dược phẩm, và một lượngnhỏ kim loại nặng Như vậy CTYTNH chiếm 10-25% như là một nguồn tiềmnăng gây nhiễm trùng, chấn thương hoặc ảnh hưởng đến sức khỏe con người

Hình 2.1: Thành phần CTRYT trên thế giới

(Nguồn: World bank, 2012) 2.1.4.2 Thành phần chất thải rắn y tế tại Việt Nam

Mỗi ngày các cơ sở y tế thải ra một khối lượng không nhỏ CTR, thànhphần của chúng bao gồm: kim tiêm, bơm tiêm kèm kim tiêm, thiết bị giải phẫu;

mô tế bào người hoặc động vật; xương; nội tạng; bào thai hoặc các bộ phận cơthể; bình, túi hoặc các ống dẫn chứa các chất lỏng từ cơ thể, các vật dụng bị loại

bỏ trong quá trình thăm khám và điều trị chuyên khoa (Nguyễn Thị Giang, 2013)

Hầu hết các CTRYT là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặcthù so với các loại CTR khác Các loại chất thải này nếu không được phânloại cẩn thận trước khi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra

Trang 16

những nguy hại đáng kể.(Bộ Tài nguyên và môi trường, 2011).

Dựa vào đặc tính lý hóa thì thành phần CTRYT tại Việt Nam được chiathành 8 nhóm, thể hiện cụ thể trong biểu đồ 2.1

Đất đá và các loại vật rắn khác

Biểu đồ2.1: Thành phần CTRYT dựa trên đặc tính lý hóa tại Việt Nam

(Bộ Tài nguyên và môi trường, 2011)

Xét về các thành phần chất thải dựa trên đặc tính lý hóa thì tỷ lệ cácthành phần có thể tái chế là khá cao, chiếm trên 25% tổng lượng CTRYT,chưa kể 52% CTRYT là các chất hữu cơ Trong thành phần CTRYT có lượnglớn chất hữu cơ và thường có độ ẩm tương đối cao, ngoài ra còn có thànhphần chất nhựa chiếm khoảng 10%, vì vậy khi lựa chọn công nghệ thiêu đốtcần lưu ý đốt triệt để và không phát sinh khí độc hại.Đất đá và các loại vật rắnkhác chiếm 48% Các thành phần thuộc chất thải lây nhiễm như thủy tinh,chai lọ thuốc, bơm kim tiêm chiếm tỷ lệ nhỏ khoảng 3%, bệnh phẩm chiếm tỷ

lệ 1%.(Bộ Tài nguyên và môi trường, 2011)

Theo Nguyễn Đức Khiển, thành phần CTRYT tại Việt Nam được thống

kê như trong bảng 2.2

Trang 17

Bảng 2.2: Thành phầnCTRYT được thống kê ở Việt Nam

STT

(%)

Thành phần chất nguy hại

5 Chai lọ, xilanh, ống thuốc thủy tinh 2,3 Có

(Nguồn: Quản lý chất thải nguy hại, Nguyễn Đức Khiển)

Thành phần CTRYT gồm 9 loại cơ bản như trên trong đó tỷ lệ chấtthải nguy hại chiếm 22,6% Tuy chỉ chiếm ¼ thành phần nhưng tính chất lạirất nguy hại với môi trường và sức khỏe con người nếu không được thu gom,vận chuyển, xử lý theo quy định

CTRYT trong bệnh viện được phân làm hai loại gồm:CTR sinh hoạt vàchất thải rắn y tế nguy hại (CTRYTNH)

Chất thải rắn y tếthông thường (CTRYTTT): chiếm khoảng 75-80%

CTRYT trong bệnh viện (gồm chất hữu cơ, giấy gỗ, kim loại, sành sứ gạch

vỡ, thủy tinh, plastic, nilon và các thành phần khác ) Các chất thải này thải

ra từ nhà bếp, các khu hành chính, từ hoạt động sinh hoạt của bệnh nhân,

người nhà và cán bộ nhân viên trong bệnh viện (Xuân Tiến, 2014)

Chất thải rắny tế nguy hại: chiếm khoảng 20-25% CTRYT trong bệnh

viện, đó là chất thải bệnh lý và chất thải lây nhiễm bao gồm: mô bệnh phẩm

và cơ quan người từ các phòng mổ và tiểu phẫu; các bệnh phẩm nuôi cấy, môhoặc xác động vật từ phòng thí nghiệm; các chất thải nhiễm trùng từ phòng

Trang 18

cách ly và các khoa truyền nhiễm; các bông băng thấm dịch hoặc máu, kim

tiêm, ống tiêm, lọ thuốc, dược phẩm hư hỏng và quá hạn.(Xuân Tiến,2014)

2.2 Cơ sở pháp lý về quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam

Ở Việt Nam, khung pháp lý liên quan tới quản lý chất thải nói chung,quản lý CTRYT nói riêng đã dần dần được hình thành từ hàng chục năm nay,đặc biệt từ khi có Luật Bảo vệ Môi Trường được Quốc hội thông qua vàotháng 12 năm 1993 Bên cạnh Luật Bảo vệ Môi Trường, là hệ thống văn bảnpháp luật liên quan tới quản lý CTRYT do các cơ quan quản lý nhà nước cóliên quan ban hành

 Nghị định 59/2007/ NĐ-CP ngày 9/4/2007 do Chính phủ ban hành vềquản lý chất thải rắn

 Thông tư 18/2009/TT-BYT ngày 14/10/2009 của BYT - Hướng dẫn tổchức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khámbệnh, chữa bệnh

 Thông tư 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ Tài nguyên vàMôi trường Quy định về Quản lý chất thải nguy hại

 Quyết định số 3671/QĐ-BYT ngày 27/9/2012 của BYT - Hướng dẫnkhử khuẩn – tiệt khuẩn dụng cụ trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

 Thông tư số 31/2013/TT-BYT ngày 15/10/2013 của BYT - Quy định vềquan trắc tác động môi trường từ hoạt động khám bệnh, chữa bệnh củabệnh viện

 Quy chế quản lý chất thải y tế ban hành kèm theo quyết định số43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế

 Lò đốt CTRYT được kiểm soát và quản lý theo quy định tại:

 QCVN 02:2008/BTNMT:Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lòđốt CTRYT

 QCVN 07:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡngchất thải nguy hại

Trang 19

 QCVN 02:2012/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốtCTRYT.

2.3 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi trường và con người

2.3.1 Đối với sức khỏe con người

Con người là đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp từ CTRYT.Những cánhân phải thường xuyên tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với CTRYTNH đólà: bác sĩ, y tá, hộ lý; bệnh nhân điều trị nội trú hoặc ngoại trú; khách tới thămhoặc người nhà bệnh nhân; những người trực tiếp làm công việc xử lý rác thảitại các bãi đổ rác thải hay các lò đốt rác; những người thu gom, bới rác lànhững người đầu tiên chịu ảnh hưởng bởi các tác động có hại của CTRYT

nếu như CTRYT không được quản lý đúng cách (Đào Ngọc Phong, 2009).

 Ảnh hưởng của chất thải nhiễm khuẩn

Trong thành phần của CTRYT có thể chứa đựng một lượng lớn tácnhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm Các tác nhân này có thể xâm nhậpvào cơ thể con người thông qua các hình thức: qua da, qua niêm mạc, quađường hô hấp, qua đường tiêu hóa

Nhiễm khuẩn đường tiêu hóa gây ra do các vi khuẩn như: Samonella,Shigella, Vibrocholera, trứng giun Các vi khuẩn này truyền qua phân và các chấtnôn của người bệnh Ngoài ra trong các chất thải nhiễm khuẩn còn có các vi sinhvật khác như Herpes gây ra nhiễm khuẩn mắt, tụ cầu khuẩn gây nhiễm khuẩn da,

virus viêm gan A, B, C và HIV gây nên các bệnh lý tương ứng.(WHO, 2014)

Bảng 2.3: Các dạng bệnh có thể được gây ra do CTRYT

Nhiễm khuẩn đường tiêu hóa Vi khuẩn đường tiêu hóa:

Salmonella, Vibriocholera, Phân và chất nôn

Trang 20

thương hàn, tả, lỵ

Nhiễm khuẩn đường hô hấp Vi khuẩn lao, vius sởi, phế

cầu khuẩn

Chất tiết đường hôhấp, nước bọt

dục

Viêm gan B và C Vius viêm gan B và C Máu và dịch cơ thể

(Nguồn: Nguyễn Thị Giang, 2013)

 Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn

Việc tiếp xúc với CTRYT có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương cho

cơ thể do các vật sắc nhọn (như kim tiêm) Các vật sắc nhọn này không chỉgây nên những vết cắt, đâm mà còn gây nhiễm trùng các vết thương nếu vậtsắc nhọn đó bị nhiễm tác nhân gây bệnh Như vậy những vật sắc nhọn ở đâyđược coi là loại chất thải rất nguy hiểm bởi nó gây tổn thương kép (vừa gâytổn thường, vừa gây bệnh truyền nhiễm như viêm gan B, HIV ) Hơn nữa,trong chất thải y tế lại chứa đựng các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm như tụcầu, HIV, viêm gan B Các tác nhân này có thể thâm nhập vào cơ thể qua cácvết trầy xước, vết đâm xuyên, qua niêm mạc, qua đường hô hấp (do hít phải),

qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải) (Nguyễn Thị Giang, 2013)

Nghiên cứu của Helal và cộng sự (2011) tại Abu-Dhabi cho kết quả7,4% chấn thương trong nhân viên y tếlà do các vật sắc nhọn từ CTRYT Sựtổn thương do vật sắc nhọn trong y tế có khả năng lây truyền các bệnh nhiễmtrùng nguy hiểm như HIV, HBV, HCV (khoảng 80% nhiễm trùng HIV, HBV,

HCV nghề nghiệp là do thương tích vì vật sắc nhọn và kim tiêm) (Nguyễn Võ

Hinh, 2013)

Trang 21

Theo số liệu thống kê tại Nhật Bản, nguy cơ mắc bệnh sau khi bị kim tiêmđâm xuyên qua da như sau: HIV là 0,3%, nhiễm viêm gan B là 3%, viêm gan

CTRYT là 3 – 5% (Đào Ngọc Phong, 2009).

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính mỗi năm gánh nặng bệnh tậttoàn cầu do thực hành kim tiêm không an toàn là 1,3 triệu người chết sớm,mất 26 triệu năm cuộc sống, và chi phí y tế hàng năm của US lên tới 535

triệu đô (World Bank, 2012).

 Ảnh hưởng của chất hóa học và dược phẩm

Nhiều chất hóa học và dược phẩm được sử dụng trong cơ sở y tế lànhững mối đe dọa tới sức khỏe con người (độc dược, chất gây độc gen, chất

ăn mòn, chất dễ cháy, chất gay phản ứng, gây nổ, gây sốc, ) Các loại chấtnày thường chiếm số lượng nhỏ trong CTRYT, với số lượng lớn hơn có thểtìm thấy khi chúng dư thừa hoặc hết tác dụng cần vứt bỏ, chúng có thể gâynhiễm độc do tiếp xúc cấp tính và mãn tính gây ra các tổn thương như bỏng,ngộ độc Sự nhiễm độc này có thể là kết quả của quá trình hấp thụ hóa chấthoặc dược phẩm qua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp, qua đường tiêuhóa Việc tiếp xúc chất dễ cháy, dễ ăn mòn,các hóa chất gây phản ứng có thểgây nên những tổn thương tới mắt, da hoặc niêm mạc, đường hô hấp, các tổn

thương hay gặp nhất là các vết bỏng (Nguyễn Huy Nga và cộng sự, 2010)

Các chất khử trùng là thành phần đặc biệt quan trọng trong nhóm này,chúng thường được sử dụng với số lượng lớn, thường là những chất ăn mòn.Cũng phải lưu ý những loại hóa chất gây phản ứng có thể hình thành nên

những hỗn hợp thứ cấp có độc tính cao (Nguyễn Huy Nga và cộng sự, 2010)

Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ

Các chất thải phóng xạ có thể gây hại cho sức khỏe con người do cókhả năng gây ảnh hưởng đến di truyền Ngoài ra, chất thải phóng xạ còn gây

ra một loạt các triệu chứng: đau đầu, ngủ gà, nôn Tiếp xúc với các nguồnphóng xạ có hoạt tính cao: các nguồn phóng xạ của các phương tiện chuẩn đoán

Trang 22

(máy X-quang, máy chụp cắt lớp ) có thể gây tổn thương như phá hủy mô

(Phan Thị Hải Liên, 2015)

 Ảnh hưởng của bình chứa áp suất

Đặc điểm chung của các bình chứa áp suất là tính trơ, không có khảnăng gây nguy hiểm, nhưng dễ gây cháy nổ khi thiêu đốt hay bị thủng

Như vậy, nếu việc thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý CTRYTkhông đảm bảo sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe cộng đồng và nhất lànhững người trực tiếp tiếp xúc với chất thải

2.3.2 Đối với môi trường:

 Ảnh hưởng đến môi trường nước

Nguồn nước có thể bị nhiễm bẩn do các chất độc hại có trong chất thảibệnh viện (chứa các vi sinh vật gây bệnh, chứa các kim loại nặng, phần lớn làthủy ngân từ nhiệt kế và bạc từ quá trình tráng rửa phim X-quang ) Một sốdược phẩm nhất định nếu xả thải mà không xử lý có thể gây nhiễm độc nguồnnước cấp.Bên cạnh đó, việc xả thải bừa bãi chất lâm sàng, phân loại thiếuchính xác chất thải lây nhiễm và chất thải thông thường có thể tiềm ẩn nhiềunguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước do làm tăng BOD Ô nhiễm môi trườngnước còn có thể do các hóa chất và vi sinh vật rò rỉ từ khu vực lưu giữ chất

thải và nước rửa từ các lò thiêu đốt chất thải.(Phan Thị Hải Liên, 2015)

Ở Anh, hơn 50% tổng lượng phát thải thủy ngân đến từ phòng khám

nha khoa, phòng thí nghiệm và các thiết bị y tế (WHO, 2014)

 Ảnh hưởng đến môi trường đất

Môi trường đất bị ô nhiễm do CTRYT chứa các mầm bệnh, kí sinh trùng,hóa chất độc hại đi vào lòng đất Các yếu tố này sẽ góp phần đáng kể vào quytrình ô nhiễm đất canh tác, con người cũng có thể bị ảnh hưởng do sử dụng các

loại thực phẩm trồng trên các vùng đất bị ô nhiễm.(Phan Thị Hải Liên, 2015)

 Ảnh hưởng đến môi trường không khí

Trang 23

Các mầm bệnh ký sinh trùng, vi trùng và vi khuẩn trong CTRYT có thểphát tán vào không khí làm ô nhiễm môi trường không khí, gây ra một số loạibệnh như cảm cúm Hay việc vận hành lò đốt kém có thể dẫn đến sinh ra cáckhí gây khó chịu cho nhà dân xung quanh bệnh viện.

Nguy cơ ô nhiễm không khí tăng lên khi phần lớn CTRYT được thiêuđốt không đủ nhiệt độ trong khi rác thải đưa vào quá nhiều gây ra nhiều khóiđen Việc đốt CTRYTđựng trong túi nilon PVC cùng với các loại dược phẩmnhất định có thể sinh ra axit, thường là HCl và SO2 Trong quá trình đốt cácdẫn xuất halogen (F, Br, Cl, ) ở nhiệt độ thấp thường tạo ra axit HCl, điềunày dẫn đến nguy cơ tạo thành Dioxin - một loại hóa chất vô cùng độc hại,ngay cả ở nồng độ thấp Các kim loại nặng như thủy ngân có thể phát thải

theo khí lò đốt (Phan Thị Hải Liên, 2015)

Bên cạnh đó, việc lưu giữ chất thải lây nhiễm quá lâu hoặc lưu giữkhông đúng quy định cũng sẽ góp phần gây ra mùi hôi thối làm ô nhiễmkhông khí

Để tránh sự nguy hại của CTRYT đối với sức khỏe con người và môitrường, bảo vệ những người tiếp xúc với chất thải y tế thì ngành y tế phảiquan tâm đầu tư hơn nữa cho công tác xử lý CTRYT

Trang 24

2.4 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới và Việt Nam

2.4.1 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới

2.4.1.1 Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế trên thế giới

Khối lượng CTRYT phát sinh thay đổi phụ thuộc vào số lượng tănggiường bệnh, phát triển các dịch vụ kỹ thuật và sự tiếp cận các dịch vụ y tế củangười dân, theo từng khu vực địa lý và các yếu tố khách quan như: bệnh tậtbình thường, dịch bệnh thảm họa đột xuất; phụ thuộc vào phương pháp vàthói quen của NVYT trong việc khám, điều trị và chăm sóc bệnh nhân, số

lượng người nhà thăm nuôi, chăm sóc bệnh nhân (Nguyễn Thị Giang, 2013)

Bảng 2.4: Lượng CTRYT phát sinh theo giường bệnh trên thế giới

Tuyến bệnh viện

Tổng lượng CTRYT (kg/ giường bệnh)

CTRYT nguy hại (kg/ giường bệnh)

(Nguồn: Hoàng Thị Liên, 2009)

Tổng lượng CTRYT cũng như CTRYTNH giữa các tuyến bệnh viện làkhác nhau, bệnh viện ở tuyến càng cao thì lượng CTRYT phát sinh càng lớn,bệnh viện Trung ương lượng phát sinh CTRYT cao hơn bệnh viện tuyến tỉnh vàbệnh viện tuyến huyện, sở dĩ có sự khác biệt này là do ở bệnh viện tuyến càngcao thì công nghệ, kỹ thuật cũng như trình độ của các y bác sỹ sẽ cao hơn, cộngthêm tâm lý của những người đi khám nên lượng bệnh nhân lớn hơn, lượngCTRYT phát sinh lớn hơn

Bên cạnh đó, lượng CTRYT phát sinh cũng phụ thuộc vào điều kiệnkinh tế xã hội thể hiện qua mức thu nhập của từng nước, từng địa phươngcũngnhư quy mô của từng bệnh viện

Trang 25

Bảng 2.5: Lượng CTRYT phát sinh thay đổi theo mức thu nhập

(kg/ giường bệnh/ ngày)

CTRYTNH (kg/ giường bệnh/ ngày)

Khối lượng CTRYT phát sinh có sự thay đổi tùy từng quốc gia trênthế giới Theo thống kê tổng lượng CTRYT tại một số quốc gia trên thế giới, Tây Ban Nha và USA là những quốc gia có khối lượng CTRYT phát sinh lớn nhất lên tới 4,4 kg/giường/ngày, tiếp theo là Canada, Pháp, UK với lượng phát sinh là 3,3 kg/giường/ngày Khối lượng CTRYT phát sinh thấp nhất tại Nhật Bản 0,25 kg/giường/ngày, Hàn Quốc 0,48 kg/giường/ngày, Cát Lâm (Trung quốc) 0,5 kg/giường/ngày, Istanbul 0,63 kg/giường/ngày, Nam Kinh

(Trung quốc) 0,68 kg/giường/ngày (M.E.Bi rpinar, 2009)

2.4.1.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới

Trên thế giới việc quản lý CTRYT được nhiều quốc gia quan tâm vàtiến hành xử lý một cách triệt để từ rất lâu Một loạt chính sách, quy định đãđược ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này Các hiệp ước quốc

tế, các nguyên tắc, pháp luật và quy định về chất thải nguy hại, trong đó có cảchất thải bệnh viện cũng đã được công nhận và thực hiện trên hầu hết các

Trang 26

quốc gia trên thế giới.Theo tài liệu nghiên cứu của Bộ Y tế năm 2015, hiệnnay trên thế giới đang sử dụng một số công ước và nguyên tắc chung về vấn

đề quản lý CTRYT như: công ước Basel, nguyên tắc pollutor pay (người gây

ô nhiễm phải trả tiền), nguyên tắc proximitry.

a) Tình hình công tác phân loại, thu gom, vận chuyển CTRYT trên thế giới

 Quy trình phân loại, lưu giữ và thu gom CTRYT

Trước những năm 1980, hầu hết các nước trên thế giới đều không có hệthống phân loại CTRYT hợp lý Một nhóm nghiên cứu đã được thành lập vàonăm 1983 tại Thụy Điển để xây dựng các hướng dẫn phân loại CTRYT TheoWHO, chất thải nguy hại chiếm tới 20% tổng lượng CTRYT phát sinh tại các

cơ sở y tế, trong đó rác thải nhiễm khuẩn và lây nhiễm là 15% tổng lượng

(WHO, 2004)

Theo quy định của Tổ chức y tế thế giới WHO cho các nước đang pháttriển việc thu gom CTRYT theo từng loại riêng biệt vào các túi nilon có màusắc khác nhau được quy định cụ thể ở từng quốc gia Mỗi phòng khám chữabệnh, phòng bệnh nhân có thùng đựng chất thải được chia làm nhiều ngănthuận tiện cho việc phân loại Khu tập trung chất thải bệnh viện có mái che, hệthống thoát nước, thuận tiện cho xe chuyên chở ra vào, có hàng rào bảo vệ, khu

lưu giữ CTRYT riêng biệt với khu CTR sinh hoạt thông thường (WHO, 2004)

 Quy trình vận chuyển

Theo quy định của Tổ chức y tế thế giới, việc vận chuyển chất thảibệnh viện phải tuân theo những nguyên tắc riêng nghiêm ngặt

Tại Malaysia: các túi chất thải phải buộc kín và dán nhãn có tên nơi

phát sinh trước khi đưa ra khỏi phòng Chất thải là bệnh phẩm nếu chưa xử lýngay được bảo quản trong phòng lạnh Đường vận chuyển chất thải tránh điqua các khu vực đông người Khi chất thải bị đổ nhân viện cần cọ rửa nền nhàngay Xe dùng để vận chuyển là xe chuyên dụng, dễ cho chất thải vào, dễ làm

vệ sinh.(L F Diaz and G M Savege, 2003)

Trang 27

Tại các nước phát triển có 2 mô hình thu gom và vận chuyển CTRYT: + Hệ thống hút chân không tự động

+ Hệ thống thu gom vận chuyển bằng các thiết bị chuyên dụng với cácphương tiện thích hợp và dụng cụ thích hợp

Nguyên tắc làm việc của hệ thống này như sau: sau khi phân loại tại

nguồn, CTRYT được chuyển tới một xe tải chuyên dụng thông qua hệ thống hútchân không tự động được thiết kế ngay trên xe hoặc ở một trạm nào đó Tất cảCTRYT được vận chuyển theo đường ống ở gầm xe tải Khí ô nhiễm do chất

thải tạo ra sẽ được làm sạch trước khi thải ra môi trường (Vũ Thị Hoa, 2014)

Ưu điểm của hệ thống: hệ thống hút chân không tự động cho phép hạn

chế một cách tối đa lượng xe ra vào lấy rác ở các khu trung tâm thành phố vàcác bệnh viện là nơi tập trung đông người, điều kiện đất đai chật hẹp, dễ gâybụi, tiếng ồn Nhờ đó có thể làm giảm ô nhiễm môi trường và ách tắc giaothông Đồng thời hạn chế một cách tối đa sự tiếp xúc của con người với

Nhược điểm: hệ thống này đòi hỏi phải có kinh phí đầu tư lớn, công tác

vận hành và duy trì đòi hỏi phải có công nhân trình độ tay nghề cao Do đó hệthống này thường được áp dụng ở những nước có tiềm lực kinh tế mạnh

b) Tình hình xử lý chất thải rắn y tế trên thế giới

Hiện nay, trên thế giới thiêu đốt và khử khuẩn là 2 phương pháp được

áp dụng phổ biến nhất Tùy thuộc vào các điều kiện cụ thể (kinh phí, côngnghệ, quan điểm và các quy định về môi trường), mỗi quốc gia có thể lựa

chọn cho mình biện pháp xử lý phù hợp riêng (Nguyễn Thị Giang, 2013)

Trang 28

Tại Malaysia: phương pháp thiêu đốt trong các nhà máy xử lý chất

thải tập trung được lựa chọn là mô hình chủ yếu Tất cả các CTRYTNH

được thu gom và xử lý ở 3 nhà máy thiêu đốt rác tập trung (L F Diaz and

G M Savege, 2003)

Tại Pháp: CTRYTNH được xử lý theo 3 mô hình: phối hợp giữa thiêu

đốt tại chỗ và thiêu đốt bên ngoài bệnh viện, đốt chung với chất thải sinh hoạt

và khử khuẩn (Vũ Thị Hoa, 2014)

Tại Mỹ: phương pháp xử lý CTRYT truyền thống là đốt và khử trùng.

Các phương pháp này giúp tiệt trùng chất thải ở nhiệt độ cao trước khi đem

chôn lấp Chất thải lây nhiễm được quy định theo từng bang (Nguyễn Thị

Giang, 2013)

Tại Hồng Kông: chất thải lây nhiễm được xử lý bằng phương pháp

thiêu đốt, chất thải không lây nhiễm được chôn lấp Đối với cơ sở không có lòđốt, chất thải lây nhiễm được vận chuyển đến lò đốt chất thải tập trung để xử lý

chất thải lây nhiễm Mô hình tập trung này giống Malaysia (Vũ Thị Hoa,

2013)

Tại Nhật Bản: các công ty Môi trường ở Nhật Bản xử lý CTRYT chủ

yếu bằng phương pháp đốt (360 công ty chiếm 92,24%), xử lý CTRYT bằngphương pháp bê tông hóa là 7 công ty chiếm 1,83%, phương pháp xử lýkhông được ứng dụng nhiều ở Nhật Bản là phương pháp khử trùng bằng hơi

nước ở áp suất cao (Vũ Thị Hoa, 2013)

c) Một số phương pháp xử lý chất thải rắn y tế

- Phương pháp xử lý hóa sinh: là phương pháp sinh học nhằm phân hủy

chất thải nhờ các vi sinh vật hiếu khí và kỵ khí Phương pháp này cần thờigian lâu, hơn nữa nó không có khả năng phân hủy những chất độc vô cơ

(Nguyễn Anh Thắng, 2013)

- Phương pháp chôn lấp: là phương pháp dễ làm, ít tốn kém, nhưng

phương pháp này cũng có nhược điểm là tốn nhiều diện tích đất, khi chôn

Trang 29

thường bị người khác bới lên để lấy những vật dụng có thể tái chế, chuột vànhững côn trùng khác có thể tha đi nơi khác Như vậy chất độc có nhiều khả năngquay trở lại môi trường Ngoài ra nước mưa thấm vào hố chôn lấp có thể làm ảnhhưởng tới nguồn nước vùng xung quanh Do đó đây không phải là phương pháp

tốt nhất để giải quyết chất thải nguy hiểm độc hại.(Nguyễn Anh Thắng, 2013)

- Phương pháp đốt: là phương pháp dùng nhiệt để phân hủy các chất vô

cơ và hữu cơ thành dạng khí và tro xỉ Khí sinh ra sẽ trực tiếp được xử lý tiếp,tro xỉ được chôn lấp Phương pháp này đang được đánh giá là đem lại hiệuquả cao, mặc dù chi phí cho xử lý cao, song nó cho phép xử lý đồng thờinhiều loại chất thải, đảm bảo tiệt trùng cao, giảm được 90% thể tích chất thải,

khả năng ngăn ngừa truyền dịch bệnh cao.(Nguyễn Anh Thắng, 2013)

Có 2 phương pháp đốt:

+ Đốt tự nhiên: chất thải được tập trung tại thung lũng, đồi gò hoặc tậptrung trong bể để đốt Phương pháp này chỉ áp dụng thích hợp cho vùng xadân cư ít nhất là 50km Khi chất thải không được phân loại có thể áp dụngphương pháp này

+ Sử dụng lò đốt tiêu hủy: để giảm chi phí xử lý, chất thải được phânloại, những chất thải độc hại được thiêu đốt tại lò nhiệt độ cao

2.4.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam

2.4.2.1 Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế ở Việt Nam

Chất thải rắn phát sinh tại các cơ sở y tế ở Việt Nam chủ yếu là do cáchoạt động chuyên môn khám chữa bệnh tại các khoa, phụ thuộc vào sốgiường bệnh, số bệnh nhân nằm điều trị,dịch vụ bệnh viện, chất lượng, nănglực quản lí của bệnh viện và còn một lượng lớn chất thải sinh hoạt từ cán bộcông nhân viên trong bệnh viện

CTRYT phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương, xuấtphát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế và tăng sốgiường bệnh; tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế; dân

số gia tăng, người dân ngày càng được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế

Trang 30

(Phan Thị Hải Liên, 2015)

Theo báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2011, lượng CTRYTphát sinh tại các bệnh viện như sau:

Bảng 2.6: Lượng CTRYT phát sinh tại các bệnh viện

(Kg/giường bệnh/ngày)

CTRYTNH (Kg/giường bệnh/ngày)

(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011)

Lượng chất thải y tếphát sinh của các bệnh viện tuyến Trung ương, tuyến tỉnh và tuyến huyện là khác nhau, có sự dao động khá lớn về tổng lượngchất thải cũng như tỷ lệ CTRYTNH Trung bình khối lượng CTRYT tại các bệnh viện đạt 0,86 kg/giường/ngày và CTRYTNH là 0,14 kg/giường/ngày

Các khoa trong bệnh viện có khối lượng chất thải phát sinh khác nhau tùy thuộc vào đặc thù của từng khoa.Theo kết quả khảo sát của Bộ Y tế, lượng chất thải phát sinh tại các khoa của bệnh viện như sau:

Trang 31

Bảng 2.7: Khối lượng CTRYT phát sinh ở các khoa trong bệnh viện

(kg/ngày/người) Tuyến bệnh viện

Khoa

huyện Tổng

lượng chất thải

Chất thải y

tế nguy hại

Tổng lượng chất thải

Chất thải y

tế nguy hại

Tổng lượng chất thải

Chất thải y tế nguy hại

(Nguồn: Bộ tài nguyên và Môi trường, 2011)

Lượng CTRYT trung bình/ giường bệnh hàng ngày của khoa Hồi sức cấpcứu là khá cao so với lượng chất thải chung của toàn bệnh viện Lượng chất thảiphát sinh tại khoa Nội và khoa Nhi đều thấp hơn lượng chất thải trung bình trêntoàn bệnh viện, do các khoa này chủ yếu điều trị bằng thuốc, các kỹ thuật y tế tácdụng lên người bệnh cũng ít hơn các khoa hồi sức cấp cứu, khoa ngoại

Khoa Ngoại và khoaSản phát sinh chất thải cao hơn trung bình phát sinh chấtthải của bệnh viện và các khoa điều trị hệ Nội Chất thải phát sinh tại các khoa này

chủ yếu là chất thải nhiễm khuẩn và chất thải từ các hoạt động phẫu thuật

Trang 32

Tại Nghệ An, theo khảo sát cơ bản của Sở Y tế năm 2015, mỗi ngày cácbệnh viện, trung tâm y tế trong tỉnh Nghệ An phát sinh khoảng 10,7 tấn CTRYTtrong đó có 1986 kg CTRYTNH (chất thải lây nhiễm khoảng 1789 kg/ngày vàchất thải hóa học khoảng 179 kg/ngày), ước tính tổng CTRYTNH khoảng18,3% Lượng CTRYT phát sinh trung bình là 1,14 kg/giường bệnh/ngày, trong

đó CTRYTNH phát sinh khoảng 0,211 kg/giường bệnh/ngày LượngCTRYTNH trong tỉnh thay đổi từ 0,03 – 0,4 kg/giường bệnh/ngày tùy từng loạibệnh viện Khối lượng CTRYT phát sinh từ các nguồn thải nhỏ chưa được khảo

sát (Quyết định số 2399/QĐ-UBND.ĐTXD của UBND tỉnh Nghệ An, 2015)

2.4.2.2 Thực trạng quản lí chất thải rắn y tế ở Việt Nam

Theo báo cáo của Vụ Khoa học và Đào tạo – Bộ Y tế, hiện nay việcquản lý CTRYT chưa được đồng bộ, chưa có cơ chế rõ ràng, chưa phân công,phân cấp cũng như phối hợp hiệu quả Việc tổ chức nhân lực trong quản lý và

áp dụng công nghệ xử lý chất thải còn nhiều hạn chế, bất cập Việt Nam đangthiếu và yếu về phương tiện, dụng cụ chuyên dụng cho việc thu gom và xử lý

chất thải.(Bộ Y tế, 2015)

a) Tình hình công tác phân loại, thu gom, vận chuyển CTRYT ở Việt Nam

Công tác thu gom, lưu trữ CTRYT nói chung đã được quan tâm bởi cáccấp từ trung ương đến địa phương, thể hiện ở mức độ thực hiện quy định ởcác bệnh viện khá cao CTRYT phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh trựcthuộc sự quản lý của Bộ Y tế, phần lớn được thu gom và vận chuyển đến cáckhu vực lưu giữ sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sởhoặc ký hợp đồng vận chuyển và xử lý đối với các cơ sở xử lý chất thải đã

được cấp phép tại địa bàn cơ sở khám chữa bệnh đó (Bộ Tài nguyên và Môi

trường, 2011)

Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do Sở Y tế quản lý,công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTRYT chưa được chú trọng, đặcbiệt là công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn (chất thải y tế thông

Trang 33

thường, chất thải y tế nguy hại ) Tỷ lệ bệnh viện thực hiện phân loạiCTRYT là 95,6% và thu gom hàng ngày là 90,9% Có 63,65% bệnh viện sửdụng túi nhựa là bằng nhựa PE, PP, tuy nhiên chỉ có 29,3% sử dụng túi cóthành dày theo đúng quy chế Trong vận chuyển CTRYT, chỉ có 53% số bệnhviện sử dụng xe có nắp đậy để vận chuyển chất thải y tế nguy hại; 53,4 %bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải có mái che, trong đó có tới 54,7% bệnh

viện chưa đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải y tế.(Bộ Tài nguyên và

được an toàn (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011)

Tại Hà Nội, nơi tập trung nhiều bệnh viện lớn, mạng lưới cơ sở y tế dàyđặc, công tác môi trường y tế còn nhiều tồn tại

Trang 34

Bảng 2.10: Hiện trạng thu gom, phân loại CTRYT tại các bệnhviện trên

địa bàn thành phố Hà Nội năm 2010

(%)

Túi đựng chất thải đúng quy cách về bề dày và dung tích 66,67

Túi đựng chất thải đúng quy cách về màu sắc 30,67

Túi đựng chất thải đúng quy cách về buộc đóng gói 82,33

(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011)

Khảo sát 74 bệnh viện ở Hà Nội ta thu được kết quả về hiện trạng thugom, phân loại CTRYT tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Hà Nội năm

2010 Theo kết quả thu được có 93.9% bệnh viện có hộp đựng vật sắc nhọnđúng quy cách, 81,33% bệnh viện có túi đựng CTR đúng quy cách về buộcđóng gói, 58,33% bệnh viện có thùng đựng chất thải rắn có nắp đậy, 66,67%bệnh viện có túi đựng chất thải rắnđúng quy cách về bề dày và dung tích vàthùng đựng chất thải rắn có ghi nhãn, số bệnh viện có túi đựng CTR đúng quy

cách về màu sắc chỉ chiếm 30,67%.(Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011)

b) Tình hình xử lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam

Ở Việt Nam, việc xử lý chất thải chủ yếu do các công ty môi trường đôthị thực hiện Đây là cơ quan chịu trách nhiệm thu gom và tiêu hủy chất thảisinh hoạt đồng thời cũng là cơ quan chịu trách nhiệm xử lý chất thải côngnghiệp và y tế trong hầu hết các trường hợp

Thực tế, bên cạnh việc thiếu về nhân lực cho quản lý và xử lý chất thải,thì công nghệ xử lý CTRYTcủa nước ta còn hết sức lạc hậu, kém chất lượng.Khảo sát của Bộ Y tế cho thấy, tỷ lệ lò đốt có hệ thống xử lý khí rất thấp, dẫnđến tình trạng xử lý chất thải này lại phát sinh khí độc hại khác làm ô nhiễmmôi trường Xử lý bằng phương pháp chôn lấp cũng có nguy cơ tiềm tàng gây

Trang 35

ô nhiễm môi trường nước và nguy cơ không còn diện tích để chôn lấp.

(Nguyễn Thị Kiều Oanh, 2015)

Theo kết quả điều tra 36 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế của Cục quản lýkhám chữa bệnh năm 2013 cho thấy:

+ Đối với CTRYTTT có 34/36 bệnh viện có hợp đồng thuê công ty môitrường đô thị vận chuyển và xử lý, chỉ có 2 bệnh viện (5,6%) tự xử lý

+ Đối với CTRYTNH: trong số 36 bệnh viện chỉ có 8 bệnh viện có lòđốt nhưng chỉ có 7 bệnh viện (19,4%) đã xử lý CTRYTNH bằng lò đốt tại chỗcủa bệnh viện và 28 bệnh viện (77,8%) có hợp đồng cho thuê xử lýCTRYTNH bằng lò đốt tập trung của cơ sở tiêu hủy chất thải trên địa bàn.Chỉ có 1 bệnh viện hiện nay chưa có cơ sở xử lý CTR, vẫn sử dụng phươngpháp đốt ngoài trời và chôn lấp Hiện nay, các bệnh viện và viện có giườngtrực thuộc Bộ Y tế chưa có cơ sở nào có phương pháp xử lý khác ngoài lò đốt

(Vũ Thị Hoa, 2013)

Để thực hiện được mục tiêu quản lý và xử lý CTRYT bảo đảm yêucầu, đặc biệt là CTRYTNH một cách có hiệu quả, cần có sự nỗ lực của chínhquyền, ngành y tế, các ban ngành có liên quan với chi phí được đầu tư mộtcách phù hợp

 Công tác xử lý chất thải rắn y tế tại tỉnh Nghệ An

Trên địa bàn Nghệ An hiện có 40 bệnh viện các loại với 6.651 giườngbệnh.Trong đó, có 8bệnh viện ngoài công lập với 756 giường bệnh; bệnh việnTrung ương, ngành đóng trên địa bàn như bệnh viện: Phong Quỳnh Lập, Giaothông vận tải, Quân y 4 và 20 trung tâm y tế dự phòng huyện, 480 trạm y tế

xã, phường với 2.400 giường bệnh và gần 360 cơ sở hành nghề tư nhân

khác (Hiến Chương, 2015)

Hiện nay, tỉnh Nghệ An đang áp dụng đồng thời 2 mô hình xử lýCTRYTNH cho các bệnh viện: mô hình xử lý tại chỗ và mô hình xử lý theocụm cơ sở y tế Trên địa bàn tỉnh có 18 công trình xử lý CTRYT, tất cả đềuđặt trong khuôn viên của các bệnh viện, đã được cấp giấy phép hành nghề xử

Trang 36

lý chất thải nguy hại (Quyết định 2339/QĐ-UBND.ĐTXD, 2015)

Nhìn chung, việc xử lý CTRYTNH của các cơ sở y tế phần lớn đềukhông đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường Các cơ sở y tế chủ yếu nằm trongkhu vực dân cư, cho nên CTRYTNH không được xử lý đúng quy trình kỹthuật đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Một số bệnh viện xử lý bằngcông nghệ lò đốt (lò đốt không có hệ thống xử lý khí thải) nên đã tạo ra khóibụi, các chất độc hại gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe con

người.(Minh Thư, 2012)

Theo Sở Y tế Nghệ An, CTRYTNH từ các bệnh viện được vận chuyểnđến xử lý tập trung tại lò đốt Hovalcông suất 400-500 kg/giờ của Bệnh việnhữu nghị đa khoa Nghệ An Tuy nhiên, do lò đốt được lắp đặt từ năm 2004 và

xử lý cho các bệnh viện trên địa bàn thành phố Vinh dẫn đến quá tải, lò đốt xuốngcấp, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ảnh hưởng đến đời sống của ngườidân Theo kế hoạch của UBND tỉnh thì thời gian tới sẽ xây dựng khu vực xử lýCTR nguy hại tập trung tại địa bàn huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An Khi dự ánnày được thực hiện sẽ giải quyết được những khó khăn về tình hình xử lý

CTRYTNH nói chung và CTRYT nói riêng.(Sở Y tế Nghệ An, 2014)

Trang 37

Phần 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Hệ thống quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi thời gian : tháng 9/ 2015 – tháng 1/ 2016

- Phạm vi không gian : Bệnh Đa khoa Thành phố Vinh

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Tổng quan về bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh.

3.2.2 Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh.

3.2.3 Hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh.

3.2.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh việnĐa khoa Thành phố Vinh.

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

- Thu thập và thống kê các tài liệu, các văn bản, sách báo, tạp chí, luậnvăn, các báo cáo của bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh và một số tài liệu tìmtrên mạng internet có liên quan đến đề tài để biết được tổng quan về hiệntrạng quản lý chất thải rắny tế Cụ thể, một số tài liệu, báo cáo của bệnh viện

Đa khoa thành phố Vinh như sau:

+ Báo cáo đánh giá tác động môi trường cuả Bệnh viện Đa khoa Thànhphố Vinh năm 2009

+ Báo cáo quan trắc giám sát chất lượng môi trường 6 tháng cuối năm

2013 bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh

Trang 38

+ Báo cáo kết quả quan trắc môi trường tháng 12 năm 2014 bệnh viện

Đa khoa Thành phố Vinh

+ Báo cáo kết quả quan trắc môi trường tháng 6 năm 2015 bệnh viện

Đa khoa Thành phố Vinh

+ Báo cáo kết quả quan trắc môi trường tháng 9 năm 2015 bệnh viện

Đa khoa Thành phố Vinh

+ Báo cáo quản lý chất thải của Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinhnăm 2015

+ Báo cáo tình hình khám chữa bệnh của bệnh viện năm 2015 - phòng

Kế hoạch tổng hợp

+Đề tài nghiên cứu khoa học “Thực trạng quản lý và xử lý chất thải

rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh”của Khoa Kiểm soát nhiễm

khuẩn – bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh, năm 2015

3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

- Phương pháp khảo sát thực địa: tiến hành đi khảo sát, quan sát, chụp ảnh và

thu thập thông tin tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh về:

+Công tác phân loại, thu gom, vận chuyển CTRYT

+ Các trang thiết bị vật tư phục vụ công tác quản lý CTRYT hiện cócủa bệnh viện;

+ Hệ thống xử lý rác thải, các nhà kho lưu giữ CTRYT của bệnh viện Thực hiện phương pháp này không chỉ để thu thập thông tin mà cònnhằm kiểm chứng sơ bộ lại những thông tin đã thu thập được

- Phương pháp cân định lượng:

Cân định lượng toàn bộ CTRYT phát sinh hàng ngày của bệnh viện.Cân riêng 2 nhóm chất thải: CTRthông thường và CTRnguy hại

Tiến hành cân 3 đợt, mỗi tháng cân 1 đợt, 1 đợt cân 7 ngày liên tục tạikhu vực tập kết CTRYT của bệnh viện, cân vào cuối buổi chiều mỗi ngày,thời gian điều tra tập trung vào 3 tháng 10, 11, 12.Nhằm mục đích thu thập

Trang 39

khối lượng CTRYT phát sinh trung bình trong ngày tại bệnh viện Đa khoaThành phố Vinh.

- Phương pháp điều tra, phỏng vấn: phỏng vấn cán bộ chủ chốt, nhân viên y

tế tại bệnh viện, bệnh nhân điều trị nội trú và người nhà bệnh nhân để biếtthêm thông tin về hiện trạng quản lý CTRYT của bệnh viện Phiếu điều tradược xây dựng dựa trên Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT,trọng tâm vào cácvấn đề:

+ Cơ cấu tổ chức của bệnh viện

+ Hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý CTRYT

+ Nhận thức của cán bộ, công nhân viên bệnh viện, bệnh nhân và ngườinhà bệnh nhân về công tác quản lý CTRYT tại bệnh viện hiện nay

Phiếu điều tra tập trung vào 3 nhóm đối tượng:

+ Nhóm 1: Cán bộ chủ chốt của khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn Sốlượng 1 phiếu nhằm thu thập thông tin chung về bệnh viện: số khoa phòng, sốcán bộ nhân viên bệnh viện, công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện

+ Nhóm 2: Cán bộ, nhân viên y tế, nhân viên vệ sinh môi trường tạibệnh viện Số lượng 45 phiếu (3 phiếu/khoa*15 khoa phòng) Trong đó, tạimỗi khoa, có 2 phiếu để phỏng vấn bác sỹ, y tá còn 1 phiếu phỏng vấn hộ lý(mỗi khoa có 1 hộ lý thu gom) Nhằm mục đích thu thập thông tin về hiệntrạng phát sinh, hoạt động thu gom, phân loại, vận chuyển CTRYT tại bệnhviện và so sánh với Quy chế quản lý chất thải ban hành kèm theo quyết định

số 43/2007/QĐ-BYT

+ Nhóm 3: Bệnh nhân và người nhà bệnh nhân Số lượng 30 phiếuđược điều tra ngẫu nhiên tại các khoa phòng của bệnh viện Để thu thập thôngtin về ảnh hưởng của chất thải rắn y tế phát sinh tại bệnh viện đến sinh hoạthàng ngày của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân trong bệnh viện, cũng nhưnhân thức của người dân trong công tác phân loại CTRYT tại phòng bệnh

- Cách điều tra: Phỏng vấn trực tiếp

Trang 40

3.3.3 Phương pháp tổng hợp phân tích và xử lý số liệu

- Các thông tin thu thập được phân tích, tổng hợp, lập bảng biểu, sơ đồ

- Xử lý số liệu bằng phần mềmMicrosof Excel

3.3.4 Phương pháp so sánh với tiêu chuẩn, quy chuẩn và các văn bản pháp luật quy định.

Tiến hành so sánh các khâuquan trọng trong quy trình quản lý chất thảirắn y tế tại bệnh viện với Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007của Bộ trưởng Bộ Y tế - về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế nhằmđánh giá mức độ tuân thủ theo quy định của pháp luật về quản lý chất thải tạibệnh viện

Ngày đăng: 29/07/2017, 16:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh (2009), Báo cáo đánh giá tác động môi trường, tr 4-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tác độngmôi trường
Tác giả: Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh
Năm: 2009
2. Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh (2013), Báo cáo quan trắc giám sát chất lượng môi trường 6 tháng cuối năm, tr1-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quan trắc giám sátchất lượng môi trường 6 tháng cuối năm
Tác giả: Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh
Năm: 2013
3. Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh (2014), Báo cáo kết quả quan trắc môi trường tháng 12 năm 2014, tr9-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả quan trắc môitrường tháng 12 năm 2014
Tác giả: Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh
Năm: 2014
4. Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh (2015), Báo cáo kết quả quan trắc môi trường tháng 6 năm 2015,tr 9-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả quan trắc môitrường tháng 6 năm 2015
Tác giả: Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh
Năm: 2015
5. Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh (2015), Báo cáo kết quả quan trắc môi trường tháng 9 năm 2015, tr9-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả quan trắc môitrường tháng 9 năm 2015
Tác giả: Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh
Năm: 2015
6. Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh (2015),Báo cáo quản lý chất thải của Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh năm 2015, tr 12-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quản lý chất thải củaBệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh năm 2015
Tác giả: Bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh
Năm: 2015
7. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia năm 2011 về chất thải rắn, chương 5,tr. 83-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Hiện trạng môi trườngquốc gia năm 2011 về chất thải rắn
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2011
9. Bộ Y tế (2007), Quy chế quản lý chất thải y tế, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế quản lý chất thải y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2007
11. Bộ Y tế (2015), Báo cáo chung tổng quan về ngành y tế năm 2014, NXB Y học, Hà Nội tr. 9-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chung tổng quan về ngành y tế năm 2014
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Yhọc
Năm: 2015
12. Bộ Y tế (2015), Báo cáo tổng kết công tác y tế năm 2014, một số nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm năm 2015, giai đoạn 2016-2020, Hà Nội, tr.7-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác y tế năm 2014, một số nhiệm vụvà giải pháp trọng tâm năm 2015, giai đoạn 2016-2020
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2015
13. Bộ Y tế (2015), Quản lý chất thải y tế cho nhân viên thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải y tế, NXB Y học, Hà Nội, tr. 13-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất thải y tế cho nhân viên thu gom, vận chuyển,lưu giữ chất thải y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2015
14. Phạm Ngọc Châu (2004), Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý chất thải, NXB Thế giới, tr 45-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lýchất thải
Tác giả: Phạm Ngọc Châu
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2004
15. Nguyễn Thị Giang (2013), Điều tra, đánh giá các biện pháp quản lý rác thải rắn và nước thải bệnh viện đa khoa huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội, luận văn thạc sĩ, tr. 20-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, đánh giá các biện pháp quản lý rácthải rắn và nước thải bệnh viện đa khoa huyện Sóc Sơn thành phố HàNội
Tác giả: Nguyễn Thị Giang
Năm: 2013
16. Nguyễn Võ Hinh (2013), Nguy cơ môi trường ô nhiễm ảnh hưởng sức khỏe do chất thải y tế, NXB Thế giới, tr. 60-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguy cơ môi trường ô nhiễm ảnh hưởng sứckhỏe do chất thải y tế
Tác giả: Nguyễn Võ Hinh
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2013
17. Vũ Thị Hoa (2014), Đánh giá công tác quản lý chất thải tại bệnh viện Quân y 103 quận Hà Đông – thành phố Hà Nội, luận văn thạc sĩ nông nghiệp, tr. 12-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá công tác quản lý chất thải tại bệnh việnQuân y 103 quận Hà Đông – thành phố Hà Nội
Tác giả: Vũ Thị Hoa
Năm: 2014
18. Nguyễn Đức Khiển (2003), Quản lý chất thải nguy hại, NXB Xây dựng, Hà Nội, tr 10-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất thải nguy hại
Tác giả: Nguyễn Đức Khiển
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2003
19. Phan Thị Hải Liên (2015), Thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh, đề tài khoa học, Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn - Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn y tếtại bệnh viện Đa khoa thành phố Vinh
Tác giả: Phan Thị Hải Liên
Năm: 2015
20. Hoàng Thị Liên (2009), Nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố liên quan đến quản lý chất thải y tế tại BV Đa khoa T.Ư Thái Nguyên, luận văn thạc sĩ y học, tr. 15-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố liên quanđến quản lý chất thải y tế tại BV Đa khoa T.Ư Thái Nguyên
Tác giả: Hoàng Thị Liên
Năm: 2009
21. Nguyễn Huy Nga và cộng sự (2010), Quản lý chất thải rắn và chất thải phát sinh, NXB Y học, Hà Nội, Tr. 114-122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất thải rắn và chất thải phátsinh
Tác giả: Nguyễn Huy Nga và cộng sự
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2010
22. Nguyễn Thị Kiều Oanh (2015), Quản lí chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn thành phố Vinh. Thực trạng và giải pháp, luận văn thạc sĩ kinh tế, tr. 17-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí chất thải rắn y tế tại một số bệnhviện trên địa bàn thành phố Vinh. Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Thị Kiều Oanh
Năm: 2015

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Thành phầnCTRYT được thống kê ở Việt Nam - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Bảng 2.2 Thành phầnCTRYT được thống kê ở Việt Nam (Trang 16)
Hình 4.2: Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Hình 4.2 Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh (Trang 42)
Sơ đồ 4.1: Cơ cấu tổ chức của bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Sơ đồ 4.1 Cơ cấu tổ chức của bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh (Trang 47)
Bảng 4.3: Khối lượng CTRYT phát sinh tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh 9 tháng đầu năm 2015 - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Bảng 4.3 Khối lượng CTRYT phát sinh tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh 9 tháng đầu năm 2015 (Trang 53)
Bảng 4.4: Khối lượng CTRYT phát sinh trung bình trong ngày tại bệnh - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Bảng 4.4 Khối lượng CTRYT phát sinh trung bình trong ngày tại bệnh (Trang 55)
Bảng 4.5: Kết quả phân loạiCTRYTtại Bệnh viện Đa khoa - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Bảng 4.5 Kết quả phân loạiCTRYTtại Bệnh viện Đa khoa (Trang 56)
Sơ đồ 4.3: Sơ đồ tổ chức quản lý CTRYT tại bệnh viện Đa khoa - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Sơ đồ 4.3 Sơ đồ tổ chức quản lý CTRYT tại bệnh viện Đa khoa (Trang 60)
Sơ đồ 4.4: Quy trình quản lý kỹ thuật CTRYT tại bệnh viện Đa khoa - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Sơ đồ 4.4 Quy trình quản lý kỹ thuật CTRYT tại bệnh viện Đa khoa (Trang 66)
Hình 4.5: Thùng rác loại lớn - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Hình 4.5 Thùng rác loại lớn (Trang 71)
Bảng 4.8: Hiện trạng phân loại CTRYT của NVYT - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Bảng 4.8 Hiện trạng phân loại CTRYT của NVYT (Trang 73)
Bảng 4.9: Kiến thức về mã màu sắc trong phân loại CTRYT - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Bảng 4.9 Kiến thức về mã màu sắc trong phân loại CTRYT (Trang 74)
Hình 4.7: Hình ảnh CTRYT thu gom không đúng quy định - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Hình 4.7 Hình ảnh CTRYT thu gom không đúng quy định (Trang 77)
Bảng 4.12: Hiện trạng nơi lưu giữ CTRYT tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh so với quyết định số 43/2007/BYT về quản lý chất thải y tế - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Bảng 4.12 Hiện trạng nơi lưu giữ CTRYT tại bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh so với quyết định số 43/2007/BYT về quản lý chất thải y tế (Trang 79)
Hình 4.8: Hình ảnh nhà kho lưu giữ chất thải sinh hoạt, chất thải tái chế - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Hình 4.8 Hình ảnh nhà kho lưu giữ chất thải sinh hoạt, chất thải tái chế (Trang 81)
Hình 4.9: Lò đốt CTRYT của bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
Hình 4.9 Lò đốt CTRYT của bệnh viện Đa khoa Thành phố Vinh (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w