1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

THỰC TRẠNG ĐÓNG GÓP CỦA LAO ĐỘNG, VỐN CON NGƯỜI VÀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHO TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

17 254 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 666,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU --- THỰC TRẠNG ĐÓNG GÓP CỦA LAO ĐỘNG, VỐN CON NGƯỜI VÀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHO TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ NÂN

Trang 1

1

VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG

TRUNG TÂM THÔNG TIN – TƯ LIỆU

-

THỰC TRẠNG ĐÓNG GÓP CỦA LAO ĐỘNG, VỐN CON NGƯỜI VÀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHO TĂNG

TRƯỞNG KINH TẾ VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH

CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

Nguyễn Mạnh Hải, Ngô Minh Tuấn và Hoàng Văn Cương

Ban Nghiên cứu chính sách dịch vụ công Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

1 Đóng góp của lao động, vốn con người vào tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

1.1 Đóng góp của lao động, vốn con người vào tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2000-2015

Mặc dù xu hướng chuyển dịch lao động từ ngành nông, lâm và thủy sản sang công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng lên, tỷ trọng lao động ở nước ta vẫn chủ yếu tập trung trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản Trung bình hàng năm, cơ cấu lao động trong ngành nông, lâm và thủy sản giảm 2,1%/năm, trong đó giảm mạnh nhất là giai đoạn 2001-2005, trung bình giảm 2.4%/năm, nhưng giai đoạn 2011-2014 tốc độ giảm chỉ còn ở mức -1,5% Tốc độ tăng tỷ trọng lao động trong ngành công nghiêp và xây dựng trung bình hàng năm là 3,4%, lớn nhất là giai đoạn 2001-2005 là 6,2% Tuy nhiên, giai đoạn 2011-2014 tốc độ tăng không có sự thay đổi Trong ngành dịch vụ, tỷ trọng lao động mặc dù có tăng nhưng không nhiều, trung bình khoảng 2,0%/năm, và là ngành có tỷ trọng tăng duy nhất trong giai đoạn 2011-2014

Hình 1: Tỷ trọng lao động theo ngành giai đoạn 2000-2014

Trang 2

2

Trong giai đoạn 2001-2015 vai trò của lao động cho tăng trưởng chưa nhiều, mà vẫn chủ yếu phụ thuộc vào vốn Những năm gần đây đóng góp vào tăng trưởng của vốn có xu hướng giảm nhiều, thay vào đó là tăng vai trò của TFP Nếu như năm 2001 đóng góp của vốn cho tăng trưởng là 71,94%, của TFP là 14,64%,

và của lao động là 13,42% thì đến năm 2015 tỷ lệ đóng góp của vốn giảm xuống còn 45,82%, TFP tăng lên mức 32,95% và lao động tăng lên 21,23%

Tính theo giai đoạn, cơ cấu đóng góp của các nhân tố có sự thay đổi không đồng nhất Nếu như giai đoạn 2001-2005 đóng góp của vốn chiếm tỷ trọng trung bình 66,73%, của TFP là 11,89%, và lao động là 21,38% thì đến giai đoạn

2006-2010 do tăng mạnh nguồn vốn đầu tư, đóng góp của vốn tăng lên trung bình là 78,16%, của lao động tăng nhẹ lên 26,36%, của TFP giảm mạnh và có giá trị âm 4,52% Ngược lại, giai đoạn 2011-2015 vai trò của TFP tăng mạnh lên trung bình 28,94%, của lao động là giảm nhẹ còn 19,78% và đóng góp của vốn giảm mạnh còn 51,28% Tỷ lệ đóng góp của TFP trong tăng trưởng GDP còn ở mức thấp phản ánh trình độ, ý thức tổ chức và quản lý trong sản xuất kinh doanh của lao động Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất hiện đại

Hình 2: Đóng góp của các nhân tố vào GDP giai đoạn 2001-2015

Với chuỗi số liệu trên, dự báo đến năm 2025 vai trò của vốn vẫn chiếm tỷ trọng lớn, nhưng giảm còn 54,51%, TFP là 24,63% và lao động là 20,85%, đến

2030 tỷ lệ này là 52,23%, 26,68% và 21,09%

Năng suất lao động của toàn nền kinh tế năm 2015 theo giá hiện hành ước tính đạt 79,3 triệu đồng/lao động (tương đương khoảng 3.657 USD/lao động), tăng

1

Tổng cục Thống kê (2016): “Thực trạng và giải pháp nâng cao năng suất lao động của Việt Nam”

2

Tổng cục Thống kê (2016): “Thực trạng và giải pháp nâng cao năng suất lao động của Việt Nam”

Trang 3

3

6,4% so với năm 2014, bình quân giai đoạn 2006-2015 tăng 3,9%/năm Cùng với quá trình đổi mới và phát triển kinh tế, năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua đã có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm, khoảng cách tương đối về năng suất lao động với các nước ASEAN được thu hẹp dần (TCTK, 2016)

Hình 3: Năng suất lao động và tốc độ tăng năng suất lao động của Việt Nam

giai đoạn 2006-2015

Năng suất lao động cao hơn tập trung ở các nhóm ngành chế tạo và dịch vụ công nghệ cao Năm 2012, nhóm có thu nhập cao nhất là dịch vụ công nghệ cao và dịch vụ tài chính sử dụng nhiều trí thức (khoảng trên dưới 400 triệu/năm); tiếp theo là ngành chế tạo công nghệ từ trung bình đến cao và dịch vụ sử dụng nhiều trí thức khác (trên dưới 200 triệu/năm); nhóm còn lại dịch vụ thị trường và ngành chế tạo công nghệ trung bình thấp và thấp (trên dưới 100 triệu/năm) (VASS và UNDP, 2015)4

Mặc dù năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua đã có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm, khoảng cách tương đối về năng suất lao động với các nước ASEAN được thu hẹp dần Tuy nhiên, năng suất lao động của nước ta hiện vẫn còn ở mức thấp so với các nước trong khu vực, khoảng cách tuyệt đối tính bằng chênh lệch giữa năng suất lao động của Việt Nam với hầu hết các nước ASEAN ở trình độ phát triển cao hơn lại gia tăng Đáng chú ý là nếu so với Trung Quốc và Ấn Độ, năng suất lao động của Việt Nam tăng hơn, dẫn tới sự gia tăng cả về khoảng cách tuyệt đối và tương đối với hai nước trên Điều này cho

3

Tổng cục Thống kê (2016): “Thực trạng và giải pháp nâng cao năng suất lao động của Việt Nam”

4

VASS và UNDP (2015): “Tăng trưởng vì mọi người: báo cáo phát triển con người Việt Nam

2015 về tăng trưởng bao trùm”

Trang 4

4

thấy, khoảng cách và thách thức nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt trong việc bắt kịp mức năng suất của các nước (TCTK, 2016)

1.2 Nút thắt về lao động, vốn con người đang cản trở nâng cao CLTT, NSLĐ và NLCT

Cơ cấu nguồn nhân lực chưa phù hợp với nhu cầu thực tế, chưa cân đối giữa các ngành đào tạo Nhân lực được đào tạo trong các ngành kỹ thuật-công nghệ còn chiếm tỷ trọng thấp Lao động có trình độ kỹ thuật cao, công nhân lành nghề, đặc biệt là các ngành trọng điểm như cơ khí, điện tử, kỹ thuật điện, các lĩnh vực tác động mạnh tới tốc độ tăng trưởng cao và bền vững trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế còn thiếu hụt

Lao động chưa được đào tạo chuyên môn kỹ thuật chiếm tỷ lệ rất lớn là một trong nguyên nhân chính cản trở chất lượng tăng trưởng Trong giai đoạn 2007 –

2014, lao động chưa được đào tạo chiếm tỷ trọng khoảng 81,8% – 85,5%, trung bình khoảng 83,5%; nhóm lao động được dạy nghề nằm trong khoảng 3,8%-6,0%; trung cấp chuyên nghiệp 2,7%-5,4%; cao đẳng thấp nhất, khoảng 1,5%-2,1%; và lao động có trình độ đại học chiếm khoảng 4,7%-7,6% Mặc dù vậy, vẫn có một điểm sáng trong xu hướng thay đổi tỷ lệ lao động có trình độ đại học trở lên tăng trung bình 4,7%/năm, cao đẳng tăng 2,2% nhưng còn chậm Các nhóm còn lại có

xu hướng giảm, như lao động có trình độ trung cấp chuyên nghiệp giảm -5,3%/năm, nhóm lao động được dạy nghề và chưa đào tạo chuyên môn kỹ thuật có giảm nhưng không đáng kể, tương ứng là -0,8% và -0,2%/năm (TCTK, 2016) Lao động đã được đào tạo cũng có sự khác biết giữa thành thị và nông thôn cũng là rào cản lớn cho việc cải thiện năng suất lao động Tỷ lệ lao động được đào tạo ở thành thị chiếm 36,3%, trong khi ở nông thôn chỉ có 12,6% (TCTK, 2016) Bên cạnh đó, chất lượng giáo dục và đào tạo của Việt Nam cũng còn nhiều bất cập Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới năm 2012 cho thấy, tỷ lệ các doanh nghiệp phàn nàn về những kỹ năng công nhân được đào tạo tại trường không phù hợp với những kỹ năng mà doanh nghiệp cần còn rất lớn, trong đó gần 65% chủ doanh nghiệp FDI cho rằng những kỹ năng mà Trường dạy nghề và Trung học chuyên nghiệp đào tạo không đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp Tỷ lệ này

ở các doanh nghiệp trong nước thấp hơn, khoảng 35% (TCTK, 2016)

Trang 5

5

Hình 4: Cơ cấu lao động có việc làm theo trình độ chuyên môn kỹ thuật

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2016)

Lao động trong nông nghiệp và lao động khu vực phi chính thức còn chiếm

tỷ lệ cao, trong khi năng suất lao động của đối tượng này ở nước ta thấp Mặc dù

tỷ lệ lao động khu vực phi chính thức giảm dần trong giai đoạn 2000-2013 (bình quân giảm khoảng 1%/năm), nhưng vẫn chiếm tới 70,8% tổng số lao động có việc làm trong năm 2013

Xu hướng chuyển dịch nông nghiệp sang lĩnh vực khác, nhưng chủ yếu lại chuyển sang làm trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có năng suất thấp, hay chuyển sang các ngành dịch vụ có thu nhập thấp, chưa tạo được sự chuyển biến nâng cao năng suất lao động chung của toàn nền kinh tế

1.3 Dư địa/tiềm năng chưa được khai thác từ lao động, vốn con người

Việc khai thác và sử dụng nguồn nhân lực đã qua đào tạo cũng chưa hiệu quả Tỷ lệ người thất nghiệp đã qua đào tạo tăng từ 18,6% năm 2010 lên 40% năm

2014, trong khi tỷ lệ lao động qua đào tạo của Việt Nam chỉ tăng từ 14,6% lên 18,2%

Xét tổng thể nền kinh tế, khu vực ngoài nhà nước đóng góp lớn nhất vào GDP lại là khu vực có năng suất lao động thấp nhất và rất thấp5 Hơn nữa, đầu tàu tăng trưởng của khu vực ngoài nhà nước là kinh tế tư nhân thì lại chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong GDP, trung bình 8,8% từ 1995-2008 Cho dù các doanh nghiệp này đạt tốc độ tăng trưởng cao thì ảnh hưởng của khu vực kinh tế tư nhân đối với tăng trưởng năng suất của nền kinh tế không thể lớn do qui mô hinh tế nhỏ của khu vực này Đó cũng là một nguyên nhân làm cho năng suất lao động của nước ta

đã thấp, lại chậm cải thiện (TCTK, 2016)

5

Năm 2008, bình quân một lao động trong khu vực ngoài nhà nước tạo ra được 17,7 triệu đồng giá trị gia tăng,, chỉ bằng 14,2% của một lao động trong khu vực nhà nước và 10,7% của một lao động trong khu vực có vốn nước ngoài (tính theo số liệu của TCTK)

Trang 6

6

Ở Việt Nam, khu vực phi chính thức chiếm 2/3 lao động nhưng đóng góp chỉ 30% GDP cả nước trong 10 năm qua Các doanh nghiệp dịch chuyển từ chính thức sang phi chính thức thường là các doanh nghiệp yếu kém không có tiềm năng

mở rộng hoặc các doanh nghiệp đang tìm cách né tránh các quy định của chính phủ (VASS và UNDP, 2015)6

Tỷ trọng lớn của người nhập cư làm việc trong bốn ngành chế tạo sử dụng nhiều lao động và định hướng xuất khẩu-đó là dệt may, giày dép, điện tử và chế biến đồ gỗ Tỷ trọng người nhập cư vượt quá 40% ở ba ngành đầu tiên và gần 35%

ở ngành chế biến đồ gỗ (Hình 2.10) (Phạm Minh Thái và Vũ Thị Vân Ngọc, 2015) Việc mở rộng thêm các ngành này có thể tạo thêm nhiều cơ hội về việc làm

có hiệu suất cao, và góp phần vào quá trình tăng trưởng bao trùm (VASS và UNDP, 2015)7

Quá nhiều người vẫn đang mắc kẹt trong công việc dễ bị tổn thương, ảnh hưởng đến năng suất Tỷ trọng việc làm dễ bị tổn thương (làm việc tại gia không được trả lương và lao động tự làm) giảm đáng kể từ 66% năm 2007 xuống còn 61,7% năm 2009, nhưng lại tăng nhẹ lên 62,8% năm 2010 và sau đó ổn định quanh con số này trong giai đoạn tăng trưởng suy giảm từ 2011 đến 2014 (Hình 5) Mặc dù sự dịch chuyển lao động ra khỏi ngành nông nghiệp nhưng phần lớn chuyển sang khu vực phi chính thức (không bao gồm nông nghiệp) và vẫn chiếm

tỷ lệ cao, với mức thu nhập thấp, điều kiện làm việc tồi tàn và không có khả năng tiếp cận hệ thống an sinh xã hội chính thức (VASS và UNDP, 2015)8

Khu vực phi chính thức tồn tại bên rìa so với phần còn lại của nền kinh tế, rất

ít được Nhà nước quan tâm Giao dịch mua từ khu vực phi chính thức và bán cho khu vực chính thức chỉ ở mức độ khiêm tốn, và không có sự hỗ trợ của các định chế tài chính, dẫn tới tình trạng thiếu vốn và do đó tỷ lệ đầu tư thấp Những rào cản này cản trở người lao động tham gia đầy đủ và hạn chế lợi ích từ quá trình tăng trưởng kinh tế rộng lớn hơn, ngay cả trong những thời điểm thuận lợi (VASS

và UNDP, 2015)9

Trong khu vực công, lao động chất lượng cao còn được sử dụng chưa hiệu quả Số lượng cán bộ công chức có trình độ học vấn cao ngày càng tăng lên nhất là

ở các cơ quan Bộ, ngành ở trung ương, cũng như ở các địa phương là các thành phố lớn Tuy nhiên, việc sử dụng đội ngũ cán bộ này vẫn còn theo lối cũ nên năng suất lao động chưa cao, năng lực cạnh tranh của khu vực công còn hạn chế và điều này góp phần vào kết quả chất lượng tăng trưởng chưa cao trong những năm vừa

6

VASS và UNDP (2015): “Tăng trưởng vì mọi người: báo cáo phát triển con người Việt Nam

2015 về tăng trưởng bao trùm”

7

VASS và UNDP (2015): “Tăng trưởng vì mọi người: báo cáo phát triển con người Việt Nam

2015 về tăng trưởng bao trùm”

8

VASS và UNDP (2015): “Tăng trưởng vì mọi người: báo cáo phát triển con người Việt Nam

2015 về tăng trưởng bao trùm”

9

VASS và UNDP (2015): “Tăng trưởng vì mọi người: báo cáo phát triển con người Việt Nam

2015 về tăng trưởng bao trùm”.

Trang 7

7

qua Đây cũng chính là dư địa, tiềm năng về vốn con người chưa được khai thác

trong tương lai

1.4 Những chủ trương, chính sách, yếu tố thể chế gây nút thắt và hạn chế sự đóng góp của LĐ, vốn con người vào CLTT, NSLĐ, NLCT trong mô hình phát triển hiện tại

Một số nút thắt chính về lao động và vốn con người của Việt Nam đang cản trở nâng cao CLTT, NSLĐ và NLCT hiện nay là:

- Đội ngũ nhân lực chất lượng cao, công nhân lành nghề vẫn còn rất thiếu

so với nhu cầu xã hội để phát triển các ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam, nhất

là để tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu cũng như nâng cấp vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị đó Chất lượng đào tạo, cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực, sự phân bố theo vùng, miền, địa phương của nguồn nhân lực chưa thực sự phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội, gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã hội

- Hệ thống giáo dục quốc dân-lực lượng nòng cốt trong đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đất nước bộc lộ nhiều hạn chế Công tác đào tạo, giáo dục nghề nghiệp chưa thực sự dựa trên cơ sở nhu cầu xã hội, chưa thu hút được sự tham phát triển nguồn nhân lực từ các đơn vị sử dụng lao động;

- Nguồn lực quốc gia và khả năng đầu tư cho phát triển nhân lực của phần lớn các gia đình còn hạn chế, chưa đáp ứng điều kiện tối thiểu để bảo đảm chất lượng các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao Nguồn lực tài chính

từ ngân sách nhà nước cho phát triển nhân lực còn hạn chế; chưa huy động được nhiều các nguồn lực trong xã hội (nhất là các doanh nghiệp) để phát triển nhân lực

- Trong khu vực công: Việc tuyển dụng lao động ở nhiều cơ quan chưa hoàn toàn minh bạch, việc sử dụng lao động chưa hoàn toàn hợp lý, công tác bổ nhiệm cán bộ còn dựa nhiều vào các tiêu chuẩn và tiêu chí hình thức dẫn đến việc thu nạp và sử dụng nguồn lực lao động, nhất là lao động chất lượng cao còn chưa hợp lý Đây cũng chính là dư địa, tiềm năng về vốn con người chưa được khai thác hiện nay

- Hợp tác và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng về kinh tế, xã hội, văn hoá nước ta với thế giới Còn nhiều sự khác biệt trong các quy định về giáo dục nghề nghiệp, đào tạo nhân lực của hệ thống pháp luật Việt Nam so với pháp luật của các nước; mô hình hệ thống giáo dục và đào tạo, nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo nhân lực chưa tương thích và chưa phù hợp với các tiêu chuẩn phổ biến của các nước trong khu vực và thế giới

1.5 Kiến nghị các chủ trương, chính sách lớn đến năm 2020 và các năm sau

- Khuyến khích các cơ sở đào tạo chuyển sang chế độ tự chủ hoàn toàn cả

về tài chính và nhân sự để đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động

- Đẩy mạnh xã hội hoá để tăng cường huy động các nguồn vốn cho phát triển nhân lực Nhà nước có cơ chế, chính sách để huy động các nguồn vốn của

Trang 8

8

người dân đầu tư và đóng góp cho phát triển nhân lực bằng các hình thức: Trực tiếp đầu tư xây dựng cơ sở giáo dục, đào tạo, cơ sở y tế, văn hoá, thể dục thể thao; Góp vốn, mua công trái, hình thành các quỹ hỗ trợ phát triển nhân lực

- Thực hiện cải cách hệ thống giáo dục và đào tạo theo hướng mở, hội nhập, thúc đẩy phân tầng, phân luồng, khuyến khích học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập Chú trọng cải cách giáo dục đại học Đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước

về giáo dục theo hướng hiệu quả và phù hợp với phương thức quản lý giáo dục tiên tiến trên thế giới

- Cần có một chuyển biến mạnh mẽ trong việc tuyển dụng và sử dụng lao động trong khu vực công bằng việc thực hiện thật nghiêm túc các chính sách hiện

có, đồng thời có cơ chế giám sát độc lập quá trình tuyển dụng cán bộ trong khu vực công Trong sử dụng và bổ nhiệm cán bộ, cần minh bạch và công khai hóa đến mức tối đa để thực sự sử dụng đúng chỗ, đúng khả năng những cán bộ, chuyên gia có trình độ cao ngay trong khu vực nhà nước Thực hiện liên thông lao động giữa khu vực công và khu vực tư để đảm bảo sử dụng hiệu quả lực lượng lao động

xã hội

- Cần tận dụng triệt để các cơ hội từ quá trình hội nhập thông qua việc thực hiện đầy đủ các cam kết về việc sử dụng lao động, lao động di chuyển ra nước ngoài và ngược lại, đảm bảo các chính sách an sinh xã hội cho người lao động

2 Đóng góp của khoa học và công nghệ vào tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

2.1 Đóng góp của KHCN cho tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh (NLCT) giai đoạn 2000-2015

Để đánh giá KHCN đóng góp cho tăng trưởng, trong phần này sẽ xem xét đánh giá năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP)10 Số liệu về đóng góp của các yếu tố vào tăng GDP từ 2002 đến nay cho thấy đóng góp của TFP vào tăng GDP đang dần cao lên Từ năm 2002 đến 2007 đóng góp của tăng TFP và tăng GDP chỉ khoảng 12% Năm 2008 – 2009, TFP không có vai trò đóng góp vào tăng trưởng kinh tế (đây

là giai đoạn tăng cường vốn cao, đóng góp của vốn lên tới hơn 90% vào năm 2009) Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư thường có độ trễ một vài năm, vì vậy bắt đầu từ năm

2010, TFP đã có vai trò trong tăng trưởng kinh tế và tăng dần lên vào những năm tiếp theo Đến năm 2013, tăng TFP đã đóng góp lên tới 32,5% vào tăng trưởng kinh tế và đến năm 2014 đã đóng góp tới 36,8% Theo các số liệu ước tính và dự đoán của năm

2015 thì đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP năm 2015 sẽ vào khoảng 48,5%, đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP của cả giai đoạn 2011 – 2015 sẽ vào khoảng hơn 30% (Viện Năng suất, 2016) Tuy nhiên, so sánh với các nước về đóng góp vào

10

Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) phản ánh sự đóng góp của các yếu tố vô hình như kiến thức- kinh nghiệm- kỹ năng lao động, cơ cấu lại nền kinh tế hay hàng hoá-dịch vụ, chất lượng vốn đầu tư mà chủ yếu là chất lượng thiết bị công nghệ, kỹ năng quản lý Tác động của nó không trực tiếp như năng suất bộ phận mà phải thông qua sự biến đổi của các yếu tố hữu hình, đặc biệt là lao động và vốn

Trang 9

9

tăng trưởng kinh tế của TFP trong giai đoạn 2001-201011 cho thấy Việt Nam đạt mức thấp với 19,59%, trong khi Hàn Quốc là 51,32%; Ma-lai-xi-a đạt 36,18%; Thái Lan đạt 36,14%; Trung Quốc đạt 35,19%, Ấn Độ đạt 31,01% (TCTK, 2014)

Xem xét ảnh hưởng của KHCN đối với năng lực cạnh tranh của Việt Nam, thì Việt Nam đứng ở vị trí 56, đạt 4,3 điểm về năng lực cạnh tranh so với mức điểm dao động từ 5,43-5,76 của 10 nước đứng đầu bảng xếp hạng12 Vị trí này cho thấy sự tăng vượt bậc của nền kinh tế Việt Nam so với vị trí 68 trong báo cáo về năng lực cạnh tranh 2014-2015 của WEF Năm 2014 -2015, đánh giá về sẵn sàng

về công nghệ của Việt Nam là 3,12 điểm trên điểm tối đa là 7, đứng thứ 99 trong tổng số 144 nước Báo cáo năm 2015-2016, sự sẵn sàng về công nghệ của Việt Nam là 3,32 điểm, đứng thứ 92 trong 140 nước

Về chỉ số đổi mới, theo đánh giá của WEF, năm 2014 -2015, Việt Nam đạt 3,12 điểm, đứng thứ 87 trong bảng xếp hạng Năm 2015-2016, chỉ số đổi mới của Việt Nam là 3,25, đứng thứ 73 trong tổng số 140 nước Mặc dù cũng có sự cải thiện đáng kể, nhưng đánh giá về góc độ KHCN Việt Nam vẫn đứng ở mức dưới trung bình so với thế giới Đây là yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam trong việc nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong những năm tới thông qua phát triển hoạt động khoa học và công nghệ

2.2 Chủ trương, chính sách, yếu tố thể chế gây nút thắt và hạn chế sự đóng góp của KHCN vào CLTT, NSLĐ, NLCT trong mô hình hiện tại

Khoa học và công nghệ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội Điều 62 Hiến pháp năm 2013 xác định: “Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nước” Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã bổ sung, phát triển Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ, đề ra Chiến lược phát triển kinh tế-xã

11

Theo Báo cáo của Tổ chức Năng suất Châu Á (APO)

12

Chỉ số cạnh tranh toàn cầu (GCI) đánh giá năng lực cạnh tranh của các nền kinh tế dựa trên

114 chỉ tiêu tác động tới vấn đề tạo việc làm, tăng NSLĐ và tăng GDP Những chỉ tiêu này được nhóm lại thành 12 trụ cột gồm: thể chế, cơ sở hạ tầng, môi trường kinh tế vĩ mô, sức khỏe và giáo dục phổ thông, giáo dục và đào tạo bậc cao hơn, hiệu quả thị trường hàng hóa, hiệu quả thị trường lao động, phát triển thị trường tài chính, sự sẵn sàng về công nghệ, qui mô thị trường, tinh tế kinh doanh và sự đổi mới Trong số 12 trụ cột quan trọng để đánh giá chỉ số cạnh tranh GCI, có 2 trụ cột liên quan đến khoa học và công nghệ: Trụ cột số 9-Sự sẵn sàng về công nghệ: Đánh giá sự nhanh nhạy của một nền kinh tế tiếp nhận các công nghệ hiện có để nâng cao NSLĐ của những ngành kinh tế, nhấn mạnh cụ thể vào khả năng ứng dụng đầy đủ công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) trong hoạt động hàng ngày và các quá trình sản xuất để tăng hiệu quả và tạo điều kiện cho sự đổi mới nâng cao khả năng cạnh tranh Không quan trọng công nghệ sử dụng được phát triển trong hoặc ngoài biên giới quốc gia miễn là nâng cao được NSLĐ Trụ cột số 12 – Sáng tạo đổi mới: Trụ cột cuối cùng của chỉ số cạnh tranh GCI tập trung vào đổi mới công nghệ Đổi mới đóng vai trò đặc biệt quan trọng cho nền kinh tế khi đã tiếp cận biên giới kiến thức và khả năng tạo ra nhiều giá trị hơn bằng cách chỉ đơn thuần tích hợp và thích ứng công nghệ ngoại sinh không còn tác dụng Trong những nền kinh tế này, doanh nghiệp phải thiết kế và phát triển sản phẩm và quá trình mới để duy trì lợi thế cạnh tranh, đồng thời chuyển sang các hoạt động có giá trị gia tăng cao hơn

Trang 10

10

hội giai đoạn 2011-2020, trong đó đã xác định: "Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên, môi trường, nâng cao năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển

và sức cạnh tranh của nền kinh tế” Chiến lược Phát triển Khoa học và Công nghệ giai đoạn 2011-2020, khẳng định Việt Nam quyết tâm coi khoa học và công nghệ

là nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước Chiến lược này qui định việc tăng đầu tư cho khoa học và công nghệ ở mức 1,5% GDP vào năm 2015 và trên 2% vào năm 2020 Đồng thời, Nhà nước cũng ban hành các Luật để hỗ trợ chuyển giao công nghệ, cũng tạo nguồn nhân lực KHCN như: Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 (Quốc hội, 2006) và Luật Công nghệ cao từ năm 2008 (Quốc hội, 2008) đặt ra khuôn khổ pháp lý cho sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài và các hoạt động công nghệ cao, từ lĩnh vực chế tác, sản xuất đến lĩnh vực giáo dục

và đào tạo Quyết định số 677/QĐ-TTg ngày 10/05/2011, phê duyệt Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020 Theo đó, một trong những mục tiêu đặt ra bao gồm: nâng cấp công nghệ với tốc độ 15% mỗi năm; làm chủ công nghệ sản xuất tiên tiến và đào tạo 80.000 kỹ sư, kỹ thuật viên và nhà quản lý đang làm việc trong các doanh nghiệp nhỏ trong quản lý công nghệ và quản trị13

Ngoài ra, Nhà nước còn ban hành các chính sách hỗ trợ cho các hoạt động khoa học và công nghệ được thể hiện trong Luật Khoa học và Công nghệ ngày 18/06/2013 (Quốc hội, 2013a) và Nghị định số 87/2014/NĐ-CP ngày 22/09/2014

về thu hút các nhà khoa học từ nước ngoài (Quốc hội, 2014a) Luật Khoa học và Công nghệ (2013) quy định việc hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước để thực hiện các hoạt động khoa học và công nghệ Doanh nghiệp có thể nhận được hỗ trợ tài chính lên tới 30% tổng vốn đầu tư nếu họ thực hiện các dự án ứng dụng các kết quả khoa học để tạo ra các sản phẩm mới hoặc để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh sản phẩm Các hoạt động này cũng có thể được hỗ trợ đến 50% vốn đầu tư cho các dự án thực hiện ở vùng kinh tế-xã hội khó khăn hoặc hỗ trợ 50% vốn đầu tư cho các dự án thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia thuộc lĩnh vực ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước

Tuy nhiên, quá trình thực thi các chính sách trên vẫn còn nhiều bất cập, thể hiện:

- Thứ nhất, ngân sách đầu tư cho KHCN vẫn còn khiêm tốn, chưa đạt được

mục tiêu đề ra Năm 2012, ước tính ngân sách đầu tư cho KHCN là 13,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,46% tổng chi ngân sách Nhà nước và có xu hướng giảm dần trong những năm gần đây (Tỷ lệ chi KHCN so tổng chi NSNN năm 2006 là 1,85%;

2010 là 1,60%; năm 2011 là 1,58%) Hơn nữa, mức đầu tư của xã hội và doanh nghiệp ngoài nhà nước cho KHCN còn rất thấp, khoảng 0,3-0,4% GDP Như vậy, tổng đầu tư của Việt Nam cho KHCN hằng năm vẫn dưới 1% GDP, thấp hơn Chiến lược đề ra Trong khi đó, mức đầu tư của Trung Quốc năm 2010 là 2,2%

13

Hoàng Văn Cương (2012): Đánh giá cơ chế chính sách khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam đầu tư đổi mới công nghệ: Bằng chứng từ điều tra doanh nghiệp 2000 – 2011, Đề tài khoa học cấp Viện năm 2012

Ngày đăng: 29/07/2017, 15:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w